Tứ Diệu Ðế và
Bát Chánh Ðạo
Khi
Ðức Phật rời bỏ
gia đình để đi
tìm sự giải
thoát cho chúng
sanh khỏi những
khổ đau, Ngài đã
tìm đến tu học
với hai vị Thiền
sư nổi tiếng.
Ngài Alara
Kalama, vị thầy
đầu tiên, dạy
Ðức Phật về Tứ
Thiền, các tầng
thiền-na trong
sắc giới. Ðức
Phật là người
học trò rất
thông minh, Ngài
học rất nhanh.
Chẳng lâu sau,
vị thầy nhờ Ngài
ở lại dạy vì sự
hiểu biết của
Ngài đã ngang
bằng với thầy.
Nhưng Ðức Phật,
lúc đó hãy còn
là Thái tử
Siddhartha
Gotama (Sĩ-đạt-đa
Cồ-đàm), từ chối
và nói rằng Ngài
chưa đạt được
mục đích của
mình, và từ giã
vị thầy nầy để
đến với vị thầy
thứ hai, ngài
Uddaka Ramaputta.
Người thầy thứ
hai dạy Ðức Phật
về bốn tầng
thiền vô sắc, là
các tầng
Thiền-na vi tế
hơn, khó đạt
được hơn tầng
Thiền trước đó.
Lần nữa, Ðức
Phật lại chứng
tỏ mình là một
người học trò
xuất sắc, và vị
thầy của Ngài
lại yêu cầu Ngài
hãy ở lại hướng
dẫn các đệ tử
khác. Lần nữa,
Thái tử lại từ
chối vì Ngài
nhận thấy rằng
dù Ngài đã đạt
được tầng Thiền
cao nhất, nhưng
khi xả định,
Ngài vẫn thấy
khổ đau, phiền
não như trước.
Không có gì thay
đổi nhiều. Vì
thầy Uddaka
Ramaputta nói
không còn gì nữa
để dạy, Thái tử
biết rằng Ngài
phải tự mình đi
tìm chân lý.
Ngài từ giã năm
người bạn đồng
tu với mình. Họ
không muốn theo
Ngài, mà chọn
lựa ở lại, với
sự an ổn, bảo
đảm của một
người thầy danh
tiếng.
Khi Thái tử đi
đến gốc cây Bồ
đề ở ở một vùng
ngày nay có tên
là Bodhgaya (Bồ
đề Ðạo tràng),
bắc Ấn Ðộ, Ngài
có quyết tâm lớn.
Ngài thề nguyện
sẽ ngồi đó không
nhúc nhích,
không đứng dậy
cho đến khi tìm
được sự giải
thoát, dầu cho
thịt xương của
Ngài có vữa ra.
Thế là Ngài ngồi
và dùng các khả
năng Thiền định
đã học để đi sâu
vào Ðịnh, từ Sơ
Thiền đến Bát
Thiền và trở lại
từ đầu. Trong
lúc ngồi, Ma
vương đến cám dỗ,
nhưng Ngài đã
chiến thắng nó.
Khi tâm hoàn
toàn thanh tịnh,
an định, không
mảy may lay động,
Ngài đã đạt được
sự Giác Ngộ sâu
xa nhất. Khi xả
định, Ngài nhận
ra rằng Tứ Diệu
Ðế và Bát Chánh
Ðạo là một thực
tại nội tâm
thông suốt. Sau
những việc đó,
Ngài nhận ra
mình đã chứng
đắc, trở thành
Ðức Phật, bậc
Ðại Giác Ngộ.
Ðức Phật sau đó
trong niềm hân
hoan của sự giải
thoát, cảm nhận
ơn cây Bồ đề đã
chở che cho Ngài.
Ðức Phật ở đó
một tháng, rồi
theo lời khẩn
cầu của Phạm
Thiên (Brahma
Sahampati), Ðức
Phật quyết định
đi truyền bá
giáo lý của mình.
Lúc đầu nghĩ
rằng giáo lý của
Ngài quá cao
siêu, quá khó
hiểu. Sợ rằng
khi truyền đạt
lại cho chúng
sanh, Ngài sẽ
thất vọng vì sự
không thông suốt
của họ. Nhưng
cuối cùng Ðức
Phật xuôi lòng,
và đồng ý dạy vì
lợi ích của
người và trời.
Trước hết Ðức
Phật nghĩ đến
những vị thầy
của mình. Nhưng
khi dùng nhãn
thông để tìm
kiếm họ, Ðức
Phật khám phá ra
họ đã qua đời.
Sau đó Ðức Phật
quyết định dạy
cho năm người
bạn đạo cũ của
mình. Ðức Phật
tìm ra họ đang ở
gần Benares. Ðức
Phật quyết định
đi đến đó để gặp
họ.
Ðức Phật đi bộ
suốt cả chặng
đường. Trong bốn
mươi lăm năm
truyền giáo,
Ngài đi như thế
đến khắp mọi nơi.
Ðức Phật chẳng
bao giờ dùng xe,
vì trong những
ngày ấy xe đều
do súc vật kéo,
và Ðức Phật
không bao giờ
muốn phải làm
khổ con vật nào.
Do đó, một trong
những giới luật
cho tăng ni là
không được dùng
xe do súc vật
kéo. Ngày nay
chúng ta may mắn
hơn, có những
loại xe khác.
Ðức Phật lúc nào
cũng đi bộ.
Hằng ngày, Ðức
Phật đều thuyết
giảng. Nhờ thế
ngày nay ta có
thể thừa hưởng
được gia tài đồ
sộ của Ngài.
Trong các kinh
điển có hơn
17.500 bài giảng.
Khi Ðức Phật đi
đến gần Benares,
năm nhà sư đạo
hạnh trông thấy
Ðức Phật đang đi
đến gần. Họ nói
với nhau, "Nhìn
kìa, ông Gotama
đang đi đến. Ông
ấy đã từ bỏ cuộc
sống đạo hạnh.
Ông ấy không còn
là một tu sĩ nữa.
Trông ông ấy
khỏe mạnh, sạch
sẽ quá. Chúng ta
nhất quyết không
chào hỏi khi ông
ấy đến gần".
Nhưng khi Ðức
Phật đến gần hơn,
họ không thực
hiện được dự
định vì dáng vẻ
oai nghi và
khuôn mặt rạng
ngời của Phật.
Họ chào hỏi Ðức
Phật rất lễ phép.
Lúc đó Ðức Phật
bảo với họ rằng,
"Ta đã thành
Phật và ta sẽ
truyền dạy cho
các người giáo
lý của ta". Ngạc
nhiên, họ hỏi: "Nhưng
làm sao chúng
tôi biết đó là
sự thật? Làm
cách nào để
chứng minh?" Ðức
Phật nói: "Các
người đã biết ta
hơn sáu năm. Có
bao giờ ta dối
gạt các người
điều gì không?"
Họ nói: "Không".
Rồi Ðức Phật nói
"Hãy nghe một
thời pháp của ta".
Các vị đạo sĩ
bằng lòng. Nói
cách khác là họ
đồng ý cho Ðức
Phật một cơ hội.
Họ sửa soạn chỗ
ngồi cho Ðức
Phật trong vườn
nai Isipatanna,
ngoại ô Benares
và ở đó với Ðức
Phật một tuần.
Mỗi ngày họ thay
nhau đi khất
thực.
Lúc đó Ðức Phật
bắt đầu thuyết
giảng bài kinh
đầu tiên sau khi
Giác Ngộ - Kinh
Chuyển Pháp Luân.
Ðức Phật bắt đầu
chuyển bánh xe
Pháp với bài
giảng đầu tiên
và may mắn làm
sao, cho tới
ngày nay bánh xe
Pháp vẫn còn
luân chuyển.
Cũng có nhiều
thời mạt Pháp
xảy ra, lúc đó
thật là khó khăn.
Thí dụ đã có
những lúc ở Sri
Lanka người ta
không thấy bóng
dáng một nhà tu.
Phật Pháp thường
bị đe dọa, chống
đối vì nó đi
ngược lại với
bản năng con
người. Ngược với
dòng chảy, ngược
triều lưu.
Khi Ðức Phật kết
thúc bài Pháp,
một trong năm vị
đạo sĩ đã chứng
đắc. Ðức Phật
nói: "Anna
Kondanno thấy,
Anna Kondanno
biết". Thấy và
biết. Biết thôi
chưa đủ. Thấy là
cái thấy của nội
tâm, bản tánh
của tâm, làm
thay đổi hoàn
toàn cái nhìn và
quan điểm của
con người. Anna
Kondanno (A-nhã
Kiều-trần-như)
là vị A-la-hán
đầu tiên và cũng
là vị tu sĩ Phật
giáo đầu tiên.
Ðức Phật cũng
được gọi là một
vị A-la-hán: "Namo
tassa bhagavato
arahato samma
sambuddhassa".
Ngài là A-la-hán
mà cũng là Phật.
Ðiều khác biệt
là Ðức Phật tự
tìm ra Tứ Thánh
đế và Bát chánh
đạo, không có
thầy dẫn dắt,
trong khi một vị
A-la-hán giác
ngộ nhờ nương
theo Ðức Phật.
Khi Phật Pháp
không còn hiện
hữu, sau nhiều a
tăng kỳ kiếp một
Ðức Phật khác sẽ
xuất hiện, để
tìm ra được đúng
những giáo lý về
Tứ diệu đế và
Bát chánh đạo.
Ðức Phật là
người có khả
năng thuyết Pháp.
Ðó là một khả
năng hiếm có. Có
các Ðức Phật
được gọi là
Paccekabuddha (Ðộc
Giác Phật, Bích
Chi Phật, Duyên
Giác Phật). Họ
đạt Giác Ngộ
nhưng họ không
có tài giảng
Pháp.
Khi chúng ta đọc
tụng kinh pháp,
ta thường ngỡ
ngàng trước việc
Ðức Phật nhiều
lần lập lại cùng
những từ ngữ.
Dầu trong tiếng
Pali ta nghe du
dương, nhưng
được lập đi, lập
lại nhiều lần,
ta không hỏi tự
hỏi tại sao.
Nhưng không có
gì đáng ngạc
nhiên cả. Khi
nói, ai cũng
thường lập đi,
lập lại. Hơn nữa,
Ðức Phật nhận ra
rằng rất khó suy
nghĩ sâu xa về
một sự thật thậm
sâu bằng thính
giác, vì lẽ đó
Ðức Phật đã nhấn
mạnh bằng cách
lập đi, lập lại.
Tứ Diệu
Ðế
Tứ Diệu Ðế bắt
đầu bằng sự thật
của khổ đau. Năm
người bạn mà Ðức
Phật giảng bài
Pháp đầu tiên là
năm đạo sư đã tu
khổ hạnh trong
sáu năm. Ðức
Phật cũng đã làm
như thế, nhưng
sau đó Ðức Phật
nhận thấy rằng
sự hành xác
không đem lại
Giác Ngộ. Trái
lại, cách sống
buông trôi hưởng
lạc như Ðức Phật
đã từng sống khi
còn là Thái tử
trong cung điện,
cũng không mang
lại hạnh phúc.
Ðức Phật nhận ra
rằng chỉ có con
đường duy nhất -
con đường Trung
Ðạo. Không có sự
cực đoan nào là
tốt cả. Các vị
đạo sư này đã tu
ép xác. Họ hiểu
về những đau khổ
của thân. Ðức
Phật không cần
phải nhấn mạnh
về điều đó. Họ
có thể hiểu dễ
dàng.
Nhưng đối với
chúng ta không
dễ. Dầu khi ngồi
Thiền ta có kinh
nghiệm về những
đau đớn, khó
chịu ở thân,
nhưng sau khi xả
Thiền, về nhà,
đau đớn cũng
không còn nữa.
Như thế đó chỉ
là những đau đớn
tạm thời, ta có
thể chịu đựng
được. Ðiều chúng
ta có thể không
biết là thân
không chỉ có
những đau đớn,
mà chính thân là
một cái khổ. Nói
một cách là có
thân là có khổ.
Phải lo cho thân
là khổ. Ở đây
không chỉ nói về
cái khổ khi ta
phải hứng chịu
một tai họa nào
đó. Tai họa là
một chuyện, sự
thật khổ đau là
một chuyện khác
nữa. Ðức Phật
nói:
- Sanh khổ
- Tử khổ
- Hoại diệt
khổ
- Không được
cái mình muốn
thì khổ
Ðây là những nỗi
khổ lớn cho cả
chúng sanh, còn
bao nhiêu cái
khổ nữa bên cạnh
sinh, già, bệnh,
chết. Rõ ràng là
lúc vui vẻ an ổn,
ta không biết
đến cái khổ
trong ta. Ta có
thể thương hại
ai đó, vui mừng
vì mình không ở
trong cùng cảnh
khổ, quên rằng
cái khổ luôn có
mặt trong ta.
Ngay chính trong
lúc vui, ta cũng
khổ vì không thể
kéo dài niềm vui.
Dục lạc biến mất
khi ta muốn duy
trì nó mãi. Mỗi
khi ta muốn bám
viú vào chúng,
chúng lại qua đi
, và ta lại phải
bỏ công đi tìm.
Ngay chính thân
ta cũng không
thể duy trì được
sự sống nếu như
nó không luôn
được bồi dưỡng ,
tắm rửa, vận
động và chữa trị.
Ðủ loại chữa trị:
kính, răng, máy
trợ thính, thuốc
bổ, thuốc ho,
dầu gội, v.v...
Bao nhiêu tiền
đã phải đổ ra để
giữ thân thể
tiếp tục hoạt
động, chứ chưa
nói đến việc làm
cho nó tốt hơn.
Ta không thể làm
cho nó trẻ ra,
dầu có bao nhiêu
người đã cố gắng
làm việc đó. Bao
công sức, năng
lực, tiền tài đã
đổ ra chỉ để giữ
cho thân thể
hoạt động. Nếu
không thân thể
sẽ hoại diệt. Ta
sẽ không thể sử
dụng được nó nữa.
Việc nó không
nghe lời ta van
cầu được trẻ mãi
, có sức khỏe,
đẹp đẽ, sống lâu,
mà chỉ làm trái
ngược, cũng có
thể coi là một
cái khổ.
Cái khổ nhất của
thân là nó luôn
đòi hỏi nọ kia,
mà đôi khi ta
phải bỏ hết cả
đời chỉ mong
thỏa mãn nó. Tất
cả những tiền
của người ta tạo
ra, bao nhiêu
công sức người
ta phải tổn hao,
là chỉ để giữ
cho thân được an
toàn sung sướng.
Ta phải làm việc
cực nhọc để có
ăn, có nhà cửa,
quần áo, thuốc
men. Nếu không
có thân ta đâu
phải vất vả như
thế. Vậy mà
nhiều người còn
bỏ ra bao nhiêu
thì giờ, tiền
bạc để làm cho
thân thoải mái,
sung sướng hơn
thế nữa. Ðó có
lẽ là nỗi khổ
nhất - phải
hoang phí cuộc
đời cho những
mục tiêu như thế.
Nhưng không chỉ
có thân là khổ.
Tâm cũng thế.
Tâm đâu có nghe
theo ta. Nó chỉ
làm theo ý nó,
thay vì ở yên
theo ý ta. Nó
luôn nghĩ về
những điều làm
ta thêm đau khổ.
Nếu đó không gọi
là đau khổ, thì
gì mới là đau
khổ? Nó còn u mê
nữa. Và đó cũng
là một cái khổ.
Tâm nhảy từ việc
này qua việc
khác. Chính quá
trình tư duy
cũng là một cái
khổ, ngay cả
những tư tưởng
khôn ngoan, khéo
léo cũng có mầm
bất tịnh trong
đó. Khi còn phải
suy tư về bất cứ
điều gì thì
không thể thực
sự có an tĩnh.
Cả thân và tâm
đều là khổ. Ðức
Phật nói chỉ có
một lý do, một
nguyên nhân
chính ta đau khổ
đó là ái dục,
lòng ham muốn.
Có ba loại ái
dục chính mà
những ham muốn
khác đều từ đó
mà ra. Ðó là ham
sống, ham muốn
được thỏa mãn
dục lạc và ham
muốn bỏ thân này.
Vì ba điều ham
muốn đó, ta trầm
luân trong khổ
đau bởi chúng ở
ngoài tầm tay ta.
Khó thể đạt được,
khó thể làm ta
thoả mãn. Chúng
ta ở trong một
cuộc chiến không
có hy vọng thắng,
và đó là cái khổ.
Ta chiến đấu để
được trường tồn,
nhưng không có
ai còn hiện hữu
khi cuộc sống
của người ấy đã
chấm dứt. Muốn
được có dục lạc,
ta cũng phải
tranh đấu vật vã
không kém, nhưng
điều đó cũng vô
vọng vì dục lạc
thế gian chỉ tạm
thời, chóng qua.
Chúng không thể
kéo dài. Ðiều
ham muốn thứ ba,
muốn bỏ thân này,
là cái đối
nghịch với lòng
ham muốn được
sống. Lòng ham
muốn này phát
sinh khi trong
mắt ta cuộc đời
trở nên quá đen
tối. Nhưng điều
này cũng khó thể
thực hiện vì trừ
đấng Giác Ngộ,
không ai có thể
hiện hữu mà
không có thân.
Hai sự thật đầu
tiên trong Tứ
diệu đế cho thấy
ta đang sống một
cuộc đời thiếu ý
nghĩa. Không cần
biết tư tưởng ta
tốt đẹp thế nào,
chúng đều sẽ bị
hoại diệt. Nếu
ta thấy rõ ràng
rằng lòng ham
muốn của ta khó
thể được thỏa
mãn, thì ta phải
tìm phương cách
để thoát ra
những cảnh khổ
mà ai cũng phải
chịu. Không
ngoại trừ một ai.
Hiểu như thế, ta
sẽ thấy thương
cảm mọi người,
dầu họ là người
xấu xa, đáng
ghét hay ngu si.
Không có kẽ hở
nào nhưng có con
đường để thoát
ra.
Con đường thoát
ra hướng vào bên
trong chúng ta.
Nếu suy gẫm, ta
sẽ thấy ta không
thể tìm được gì
ở bên ngoài ta.
Số đông đi tìm
giải pháp ở bên
ngoài, qua những
điều kiện tốt
hơn, người tốt
hơn, ít việc hơn,
ít khổ hơn. Nếu
ta có thể nhìn
thấy được những
điều ấy vô vọng
làm sao, ta sẽ
không còn đi tìm
kiếm ở bên ngoài
nữa. Thay vào đó,
ta sẽ quay nhìn
vào bên trong,
để dần dần đi
đến sự thật thứ
ba, sự chấm dứt
khổ đau, gọi là
giải thoát.
Ðức Phật không
thực sự giải
thích Giải thoát
là gì. Nhưng Ðức
Phật đã nói
những gì không
phải là Giải
thoát. Ðức Phật
biết rằng có
giải thích cũng
vô ích vì khi
người ta chưa
kinh qua Giải
thoát, người ta
không thể hiểu
được điều đó.
Nhưng có thể nói
được thế nào là
không phải Giải
thoát, như thế
ít nhất con
người cũng không
tìm kiếm ở một
chỗ khác.
Câu chuyện sau
đây sẽ minh họa
cho ý tưởng trên.
Xưa có một con
cá và một con
rùa kết bạn với
nhau. Chúng đã
sống trong cùng
một ao hồ một
thời gian dài.
Một ngày kia,
rùa quyết định
đi thăm quang
cảnh quanh hồ.
Rùa đã nhìn được
bao nhiêu cảnh
đẹp, lạ để về kể
cho bạn mình là
cá nghe. Cá rất
thú vị và hỏi
rùa về quang
cảnh trên mặt
đất thế nào. Rùa
trả lời rằng rất
đẹp. Cá muốn
biết là mọi thứ
trên mặt đất có
trong suốt, mát,
bóng bẩy, mịn
màng, trơn láng,
dễ tuột, ướt át
không? Khi rùa
trả lời rằng
trên mặt đất
không có những
gì giống như thế
cả, cá liền nói:
"Vậy thì mặt đất
có gì tốt đẹp
đâu?"
Bát
Chánh Ðạo
Con đường dẫn
đến sự đọan diệt
khổ đau, để được
tự do, giải
thoát, là Tứ
diệu đế và Bát
chánh đạo. Giống
như các lời dạy
khác của Ðức
Phật, Bát chánh
đạo cũng dựa vào
ba phần: cư xử
có đạo đức (Giới),
sự chú tâm (Ðịnh)
và trí tuệ (Tuệ).
Bát chánh đạo
cần được xem như
con đường có tám
ngành, tám phần
ngang nhau, mà
ta cần thực hành
tất cả tám phần
đồng đều, chứ
không phải như
một cái thang mà
ta cần phải tuần
tự leo xong cấp
bực này mới bước
lên bậc thang
khác. Bát chánh
đạo cũng có thể
được xem như là
một chuyển động
vòng tròn vì nó
bắt đầu bằng
Chánh kiến và
cuối cùng kết
thúc bằng Chánh
kiến. Dầu Chánh
kiến chỉ được
nhắc ở lúc ban
đầu, nhưng kết
quả của việc đi
qua Bát chánh
đạo phải là
Chánh kiến.
Chánh
Kiến
Chánh kiến là
bước đầu tiên vì
trước hết ta
phải thấy rõ
ràng chẳng có
thể làm gì khác
trong cuộc đời
này hơn là đi
tìm con đường
giải thoát khổ
đau qua những
giới luật tâm
linh. Như thế
chắc chắn là ta
phải tìm cho
được những giới
luật đúng để
giúp ta biết
được mình đã làm
gì sai. Những
chướng ngại của
chúng ta là khổ
đau, thất vọng,
áy náy, cảm giác
không trọn vẹn.
Có một khoảng
trống trong trái
tim ta cần được
phủ lấp bằng một
hay nhiều người,
bằng tư tưởng,
bằng công việc,
hay một niềm hy
vọng. Rút cuộc
không có gì lấp
nó đầy.
Khi một điều
luật có thể giải
thích được tại
sao ta phiền não
và chỉ cho ta
phương cách đoạn
trừ phiền não,
tiến tới sự an
vui, thì các
điều luật đó
phải rất đáng
tin cậy. Hơn nữa,
các lời thuyết
giảng cũng phải
gần gũi với các
kinh nghiệm của
chúng sanh. Pháp
của Ðức Phật có
thể làm được
những điều đó.
Chánh kiến bao
gồm việc nhận
thức được rằng
tất cả chúng ta
đều có thể thực
sự tu sửa để
tiến tới giải
thoát. Chánh
kiến cũng có
nghĩa là hiểu
biết về nghiệp,
biết rằng chỉ có
ta chịu trách
nhiệm về tất cả
những gì đã xảy
ra cho ta, không
đổ thừa hoàn
cảnh, đổ lỗi cho
người khác hay
bất cứ thứ gì ở
bên ngoài ta. Có
nghĩa là ta làm
chủ nghiệp của
ta. Rằng ta có
thể thay đổi.
Biết rằng ta có
thể thay đổi
không chưa đủ,
cần phải có
quyết tâm thay
đổi. Ðó là hai
cách nhìn đúng:
hiểu biết về
nghiệp và ước
muốn thay đổi để
thoát ra khỏi
những khổ đau.
Không phải là
thay đổi thế
giới ta đang
sống , hay người
chung quanh ta
mà là thay đổi
chính chúng ta.
Ta không thể
thay đổi được
vấn đề, nhưng ta
có thể thay đổi
phản ứng của
mình trước một
vấn đề. Ngoài ra
ta còn có thể
dần dần đi hết
con đường Bát
chánh đạo để đạt
được một chánh
kiến về tự ngã,
đó là vô ngã.
Ta cần có trí
tuệ để thực hành
các giới luật
tâm linh. Không
có trí tuệ để
biết mình cần
phải làm gì, ta
sẽ không thể tu
Thiền.
Vì có khổ đau
con người mới có
cơ hội để thực
hành. Thay vì
lúc nào cũng
trốn tránh mọi
phiền não, cố
gạt chúng ra
khỏi mắt ta hay
than khóc, đau
đớn vì chúng, ta
nên mang ơn
chúng. Ðó là
người thầy tốt
của ta. Vị Thầy
duy nhất của ta,
nhưng tiếc thay
không phải ai
cũng biết học
hỏi từ thầy mình.
Có nhiều cách để
đối phó với khổ
đau. Cách đầu
tiên và cũng là
thông dụng nhất
là đổ lỗi cho
người khác. Ðiều
đó thì dễ rồi.
Mọi người không
ít thì nhiều,
đều hành động
như thế, nhưng
cách đó hơi trẻ
con. Cách thứ
hai để đối phó
với khổ đau,
thất vọng là trở
nên chán nản,
đắm chìm trong
khổ đau. Cách
thứ ba là tự
thương hại mình,
cảm thấy như
mình là người
đang mang những
nỗi kh |