
|
 |
 |
 |
 |
|
Vô
ngã, Vô ưu
Ni sư Ayya Khema
Diệu Ðạo Việt dịch
Nguyên tác: "Being
Nobody, Going Nowhere"
Wisdom Publications, 1987 |

|
|
 |
|
|
Mười Ðức hạnh
Cao thượng
Bố thí, Giới
hạnh, với Xuất
ly
Trí tuệ, Tinh
tấn nữa là năm
Nhẫn, Chân,
Kiên định, Từ
bi,
và Xả bỏ nữa
là mười.
(Lời Phật dạy,
Buddhavamsa
II , kệ 76)
M uốn
tu Thiền, hành
giả cần có ba
đức tính: độ
lượng, đức hạnh
và từ tâm. Nhưng
cuộc sống tâm
linh cao đẹp còn
cần đến những
đức hạnh khác
nữa và chúng
cũng cần được
vun trồng.
Những đức hạnh
này là Paramis,
từ chữ Parama (Ba-la-mật)
có nghĩa là tối
thượng hay siêu
việt, là bản
tánh chân thật
đã có sẵn trong
chúng ta. Nếu
không, có khác
nào ta vun trồng
từ mảnh đất
hoang. Vì chúng
đã có sẵn trong
ta , ta có thể
bắt đầu từ đó.
Tuy nhiên nếu ta
không có ý muốn
thực hành những
điều thiện này,
ta sẽ không có
được một tâm
mạnh mẽ và ổn
định, là điều
tôi cần để làm
chủ nghiệp mình.
Chúng ta luôn
phải dựa vào
tình cảm và lòng
tốt của người
khác, phải dựa
vào môi trường
chung quanh và
sự thoải mái của
thân. Chừng nào
chúng ta còn
phải dựa vào một
hay tất cả những
thứ kể trên , là
ta còn phải nô
lệ chúng. Mà
phải sống kiếp
nô lệ thì chẳng
thú vị gì. Phải
luôn sống trong
sự sợ hãi. Dĩ
nhiên, ai cũng
có những nỗi sợ
hãi, nhưng phải
tùy thuộc vào
người khác, hay
hoàn cảnh thì
không thể có
được sự tự do
suy nghĩ hay
hành động. Những
thứ tự do sẽ
giúp chúng ta
được giải thoát.
Nói như thế
không có nghĩa
là chúng ta muốn
làm gì cũng được.
Tự do tư tưởng
có nghĩa là ta
có những suy
nghĩ độc lập, cá
biệt và có thể
tự quyết định
hành động của
mình.
1. Bố
Thí
Ðiều thiện đầu
tiên ta cần bắt
đầu với là Bố
thí, chìa khóa
mở mọi cánh cửa.
Không có nghĩa
là những đức
hạnh khác kém
quan trọng,
nhưng nếu lòng
bố thí không
được vun trồng,
thì con đường
tiến đến một đời
sống đạo đức khó
thể khai thông.
Chúng ta phải
bắt đầu cuộc
hành trình và đó
là bước đầu tiên,
là đức hạnh đầu
tiên ta cần phải
có.
Ðức Phật nói về
ba loại bố thí:
loại cho người
ăn xin , loại
cho bằng hữu và
loại vương tước.
Loại bố thí cho
người ăn xin là
khi ta bố thí
những thứ ta
không cần đến -
những thứ khi
dọn dẹp nhà cửa
ta cần vất đi.
Bố thí những thứ
này, dầu có tốt
hơn là không bố
thí, nhưng không
được rộng rãi
lắm, vì ta không
làm giảm bớt
những tham muốn
và bám víu của
mình.
Loại bố thí thứ
hai là khi ta
chia sẻ những gì
ta có với người
quanh ta. Ta bố
thí có chừng mực,
bố thí phần này
và giữ lại phần
khác.
Loại bố thí
vương tước là
khi ta cho nhiều
hơn ta giữ lại.
Rất hiếm thấy có
phải không? Phần
đông chúng ta
không làm thế.
Bố thí cần phải
có động lực
chính đáng. Nếu
ta bố thí vì
muốn đánh đổi
lại một thứ gì
đó - lợi lộc,
lời khen tặng,
lòng biết ơn -
thì sẽ chẳng lợi
ích gì. Ðiều này
nghe có vẻ
nghịch lý: Bố
thí không phải
để được nhận trả
lại điều gì đó.
Bố thí chỉ vì ta
muốn bố thí.
Nhưng nếu suy
xét kỹ ta sẽ
thấy sự thật rất
rõ ràng. Nếu ta
bố thí chỉ vì
muốn bố thí, ta
chắc chắn sẽ
được hạnh phúc,
vui vẻ, tâm an
bình và sung
sướng. Người ta
có thể bố thí vì
cảm thấy mình dư
dả. Hay vì muốn
chia sẻ với
người khác sự
sung túc, giàu
có của mình.
Hoặc bố thí vì
lòng từ bi đối
với người khác.
Ðức Phật bố thí
vì lòng từ bi
đối với chúng
sanh.
Bố thí không chỉ
bằng tài vật.
Không phải ai
cũng có của cải
vật chất để ban
phát, dầu phần
lớn đều có khả
năng đó. Thật ra
phần đông chúng
ta không nhớ
mình có gì nữa,
cho đến khi phải
dọn nhà, lúc đó
ta mới thấy mình
có quá nhiều.
Chúng ta qua có
nhiều những đồ
dùng trong nhà
đến nỗi ta có
thể cho bớt đi
mà vẫn không
thấy thiếu thốn.
Nhưng của cải
không phải là
thứ duy nhất ta
có thể san sẻ.
Ta có thể chia
sẻ thời gian, sự
quan tâm chăm
sóc của mình
cũng như chia sẻ
tài năng khả
năng của mình.
Ðó là mặt quan
trọng của bố thí
, và sự bố thí
này được chính
phủ cũng như các
cơ quan từ thiện
thực hành rộng
rãi. Chỉ có một
điều là với
những hình thức
từ thiện này,
đôi khi người
trực tiếp làm
các công tác này
chỉ làm vì đồng
lương chứ không
vì lòng từ bi
thật sự, nên
công việc làm
của họ có tính
cách thương mại.
Nhưng nếu ta bố
thí khả năng,
tài năng của
mình, mà không
nghĩ gì đến việc
trả ơn thì ta bố
thí vì lòng từ.
Ðức Phật đã bố
thí Pháp với
lòng thương xót
cho chúng sanh.
Sự bố thí này
không chỉ có đi
mà cũng có lại.
Ta càng bố thí
vì lòng từ bi,
lòng từ bi trong
ta càng tăng
trưởng. Ðiều này
cũng dễ hiểu
thôi nhưng ít ai
nghĩ đến. Có
người bố thí để
được người khác
tử tế lại với
mình. Nhưng nếu
ta bố thí thật
sự vì lòng tốt
phát ra từ trái
tim, thì rõ ràng
ta phải có nhiều
lòng tốt hơn thế
để an phát cho
người khác.
Tuy nhiên bố thí
dù dưới hình
thức nào cũng
giúp ta bớt chấp
Ngã, và đó là lý
do tại sao bố
thí được kể đầu
tiên trong mười
điều thiện mà ta
cần vun trồng,
bảo vệ. Khi Ðức
Phật chưa thành
đạo, đó là những
đức tính Ngài
hoàn thiện và có
bao nhiêu câu
chuyện về các
đức tính này của
Ðức Phật trong
quyển Jataka -
Túc Sinh Truyện,
chuyện từ các
tiền kiếp của
Ðức Phật.
Lòng từ bi của
bậc Bồ tát còn
đi xa hơn nữa,
họ còn bố thí cả
thân mình. Hy
sinh tánh mạng
mình cho ai là
cách bố thí cao
cả nhất. Người
tầm thường như
chúng ta khó mà
làm nổi. Tuy
nhiên có nhiều
mức độ bố thí,
mà một sự bố thí
dù nhỏ đến thế
nào, cũng sẽ làm
giảm bớt lòng
chấp Ngã của ta.
Bố thí nhiều hơn
sẽ làm giảm
nhiều hơn nữa
lòng chấp Ngã,
nếu đằng sau đó
là những động
lực chính đáng.
Làm giảm Ngã
chấp là mục đích
trên con đường
thanh tịnh hoá,
dần dẫn ta đến
kinh ngiệm của
sự Vô ngã. Ta
không thể chỉ hy
vọng, cầu nguyện
hay tưởng tượng
mình sẽ được có
kinh nghiệm đó,
trừ khi ta bắt
đầu làm gì đó để
thay đổi sự bám
viú vào tự Ngã.
Bằng cách nào?
Bố thí là một sự
khởi đầu tuyệt
vời.
2. Giới
hạnh
Kế đến là giới
hạnh, liên quan
đến việc giữ gìn
năm giới. Ðức
hạnh này làm
giảm bớt và dần
giúp ta chế ngự
được lòng tham
và sân. Làm giảm
bớt lòng sân
tham cũng là một
cách để làm giảm
Ngã chấp vì sân
tham chỉ có thể
phát sinh do có
các ảo tưởng về
Ngã.
Tất cả các Pháp
của Ðức Phật
cũng là như thế.
Ðôi khi ta cảm
thấy bối rối
trước các giáo
lý của Ðức Phật
về sự giải thoát
tâm linh. Nhưng
các giáo lý này
giống như những
mảnh rời của một
bản hình xếp
khổng lồ. Khi ta
có thể đặt một
vài mảnh vào
đúng vị trí của
chúng, thì các
mảnh còn lại sẽ
được an bài thôi.
Tất cả Pháp đều
nhắm đến việc
trước tiên làm
giảm lòng chấp
Ngã, rồi dần dần
đến chỗ phá bỏ
hoàn toàn ngã
chấp, để đi đến
Vô ngã.
Tuân giữ các
giới luật là một
phần của bức ảnh
tổng thể đó. Khi
chúng ta không
làm hại đến các
sinh vật khác,
thì lòng ta bớt
sân hận. Ta chỉ
có thể làm hại
hay huỷ hoại
những gì ta
không thích. Khi
ta không lấy
những gì không
phải của mình,
thì lòng tham
được giảm xuống.
Chỉ khi có lòng
tham , ta mới
lấy lại của cải
của người. Cũng
thế đối với
những sai phạm
trong tình dục.
Ác ngữ là do
lòng tham hay
sân mà ra. Các
thứ độc hại như
rượu, ma túy là
do lòng tham
muốn thỏa mãn
nhục dục mà
những thứ này có
thể dễ dàng mang
đến cho ta.
3. Xuất
ly
Xuất ly thường
được nghĩ đến
như một đức tính
của riêng các
tăng ni, các
hành giả hay
những người sống
ẩn dật trong các
hang núi, nhưng
đó không phải là
một suy nghĩ
hoàn toàn đúng.
Xuất ly có nghĩa
là buông xả
những ảo tưởng
về tự Ngã. Nếu
trong khi toạ
Thiền ta không
cố gắng phần nào
làm được như thế,
thì ta khó mà
đạt được Thiền
định. Cái Ngã
của ta thích
được nuông chiều,
chú ý đến luôn.
Khi bị bắt phải
im lặng, và
không được làm
điều gì thú vị,
nó phản ứng lại
dữ dội, và cố
thoát ra khỏi
tình trạng đó
bằng những việc
làm như trò
chuyện, đọc sách,
mơ màng hay bất
cứ thứ gì vừa
lòng nó. Trừ khi
chúng ta có thể
phá bỏ những
thói quen này,
việc tọa Thiền
của ta khó thể
thành công.
Cũng thế tất cả
các thiện tánh
đều giúp cho sự
tọa thiền của ta.
Chúng nâng đỡ
cột sống của ta.
Thiền định cần
có một cột sống
vững mạnh, không
phải chỉ do ngồi
thẳng, mà còn
phải có tâm
chánh niệm.
Muốn bước trên
con đường tâm
linh, ta cần
phải biết xuất
ly. Ðiều đó có
nghĩa là buông
bỏ mọi ý niệm về
cái tôi, mọi
tham vọng, ước
muốn của cái tôi.
Tất cả những suy
nghĩ đó chỉ cũng
chỉ củng cố thêm
lòng chấp Ngã,
đưa ta đến chỗ
sai lầm. Những
gì ta nghĩ ta sở
hữu - cái nhà "của
tôi" bàn ghế "của
tôi", chồng "của
tôi", vợ "của
tôi", con cái "của
tôi" thân quyến
"của tôi", xe "của
tôi" , nghề
nghiệp "của tôi",
văn phòng "của
tôi", bạn bè "của
tôi" - làm cho "cái
tôi" cảm thấy an
toàn hơn vì tất
cả hợp thành một
hệ thống bảo vệ.
Tạo cho tự Ngã
những ảo tưởng
về một sự vững
bền. Nhưng không
có người nào hay
sở hữu nào
thường hằng,
vĩnh viễn cả,
tất cả đều luôn
biến đổi.
Nếu thật sự có
sự bền vững đó,
thì cái nhà ,
cái xe càng to,
càng có nhiều
bạn bè con cái,
nhiều vợ, nhiều
chồng , thì con
người càng cảm
thấy thêm an tâm.
Thực tế thì càng
có nhiều những
thứ kể trên, con
người càng thêm
phiền não, lo âu.
Thử tưởng tượng
xem nếu ai đó có
mười ông chồng
hay bà vợ thay
vì một. Hãy dẹp
bỏ ngay tư tưởng
đó! Ðó chỉ là
một trong những
tà kiến về những
gì có thể mang
đến cho con
người sự an tâm.
Ta chỉ thích bao
bọc mình với
những gì tạo nên
"cái tôi", "cái
của tôi". Tư duy
của ta khiến ta
trở nên như thế,
dầu rõ ràng ta
không thể làm
chủ ai khác được.
Con người có thể
ra đi không định
trước, có thể
chọn lầm người
phối ngẫu, hay
bỏ rơi nhau
không lời từ giã.
Mỗi người tự tạo
ra nghiệp của họ.
Vậy mà ta vẫn
gọi họ là "của
tôi", và thật sự
tin rằng họ
thuộc về chúng
ta. Một khi ta
tin như thế ta
bám viú vào họ
suốt đời. Họ
phải lúc nào
cũng là "của tôi".
Ðó là quá trình
tự đồng hóa cái
Ngã với gia đình
của chúng ta,
với công việc
của chúng ta và
với tất cả những
sở hữu của chúng
ta. Thay vì với
chỉ một "cái tôi",
giờ chúng ta
bành trướng, bao
gồm thêm nhiều
người khác nữa.
Như thế chúng ta
trở nên to lớn
thêm.
Xuất ly khỏi sự
đồng hóa này là
một bước quan
trọng khởi đầu:
chỉ khi nào ta
có thể tự đứng
một mình, ta mới
có thể thực sự
tu tập theo con
đường đạo. Không
có nghĩa là ta
phải đuổi mọi
người ra khỏi
nhà. Nhưng khi
ta còn tùy thuộc
vào ý kiến, hành
động của người
khác, thì làm
sao ta có thể
thực tập cho sự
tự do, giải
thoát của chính
mình? Không có
sự dựa dẫm này,
cái Tôi sẽ trở
về kích thước
bình thường, của
chỉ cái tôi,
không có gì hơn.
Như thế dầu tự
Ngã vẫn chưa
được phá bỏ,
nhưng ít nhất nó
cũng nằm trong
khả năng chế ngự
của ta. Một thân,
một tâm, không
sở hữu, không
bám viú vào bao
nhiêu người, bao
nhiêu thứ khác.
Ngay đối với một
thiền sư, nếu
vẫn muốn đạt
được điều gì đó
hay trở nên thế
này thế nọ, thì
cũng chỉ là một
cách củng cố
thêm Ngã chấp.
Thay vì có mặt
trong giờ phút
hiện tại, chánh
niệm trong từng
giây phút, ta
muốn trở nên, là
một cái gì thuộc
về tương lai. Có
thể nói gì về
tương lai chứ?
Không có gì.
Tương lai thì
hoàn toàn trống
không. Nhưng có
mặt , ngay trong
hiện tại, là
điều ta có thể
làm được với tất
cả chánh niệm.
Trở nên, trở
thành một thứ gì
hơn chính chúng
ta - một thiền
sư đạt đạo, một
ông chủ có danh
vọng giàu có,
được mến mộ - sẽ
làm cho lòng
chấp Ngã của ta
thêm nặng. Trở
nên, trở thành
không ích lợi gì,
là như thế nào
là ích lợi hơn.
Lúc đó ta sẽ dễ
đối trị ngã chấp
hơn. Ta có thể
chánh niệm về sự
có mặt đích thực
của mình. Nhưng
ta không thể
chánh niệm về
cái ta sẽ trở
thành. Nó không
có thực. Nó chỉ
là những giấc mơ
ban ngày. Nó chỉ
là ước mơ và hy
vọng. Nó là điều
ta muốn xuất ly.
Trong quá trình
xả ly, ta có thể
buông bỏ sở hữu,
sự khẳng định
của cái tôi và
các vọng tưởng.
Nếu trong đời
thường, ta không
biết buông xả,
thì ta càng khó
buông xả hơn
trong Thiền. Khi
Thiền định ta
phải buông xả tư
duy , ước vọng,
mọi phán đoán,
lòng mong muốn,
cầu vọng, các
dục lạc. Ta phải
biết buông bỏ
nếu ta muốn hành
Thiền, vì thế ta
cần phải thực
tập sự xả bỏ mọi
lúc, mọi nơi.
Không có nghĩa
là ta phải vứt
bỏ mọi sở hữu
hay xa lánh gia
đình. Tâm chỉ
phải vứt bỏ tâm
bám víu, sự
khẳng định mình
qua những thứ đó.
Xuất ly có nhiều
hình thái. Nó có
thể là sự tự
khắc kỷ như dậy
sớm hơn thường
lệ, xả bỏ khuynh
hướng muốn được
hưởng thụ. Xuất
ly cũng có nghĩa
không phải lúc
nào muốn ăn thì
ăn, mà phải chờ
đến lúc thật sự
đói. Khi từ giã
cuộc đời, ta
phải buông bỏ
mọi thứ. Ta
không thể mang
theo của cải hay
người thân mà ta
coi là của chúng
ta, cũng như
không thể mang
theo thân của
mình. Tốt hơn
hết là ta nên
hiểu về cái chết
trước khi nó đến.
Ðó là lý do tại
sao người ta
thường vật vã
trước giờ ra đi.
Một số ít người
có thể ra đi một
cách bình thản,
nhưng phần đông
không thế, vì họ
chưa sẵn sàng để
buông bỏ tất cả.
Trước đó , họ
chẳng bao giờ
nghĩ đến giờ
phút này.
Tất cả những gì
ta bám viú vào
là một trở ngại,
một vật cản. Thí
dụ như nếu tôi
cứ ôm mãi chiếc
gối này, không
chịu bỏ ra, thì
tôi sẽ gặp trở
ngại khi bước ra
cửa. Thực tế, ta
thường bám víu
vào người khác
và điều đó cần
phải buông bỏ.
Không có nghĩa
là ta phải xua
đuổi người khác.
Nhưng có nghĩa
là ta phải đoạn
diệt thái độ bám
viú của ta với
người khác, đó
mới chính là trở
ngại lớn nhất.
Nếu ta không sửa
đổi theo hướng
đó, việc hành
Thiền của ta
cũng bị trở ngại
thôi, vì ta cũng
sẽ bám viú vào
tư tưởng, hy
vọng, ước muốn
của ta.
Chúng ta có thể
vẫn ở trong căn
nhà của mình,
vẫn mặc quần áo
đó, vẫn không có
gì thay đổi về
hình dáng bề
ngoài, nhưng bên
trong ta đã xả
ly được những
dính mắc của
mình. Không có
nghĩa là ta
không còn thương
yêu gia đình của
mình nữa. Ngược
lại, tình thương
mà không có sự
bám viú, sở hữu
là loại tình
thương không có
lòng sợ hãi,
hoàn toàn thuần
khiết. Trong khi
tình thương với
lòng bám viú, sở
hữu là một cực
hình. Nó bao gồm
những làn sóng
tình cảm và
thường tạo nên
những hàng rào
kẽm gai vô hình.
Tình yêu thật sự
là tình yêu
không có sự sở
hữu, được cho mà
không mong đợi
một sự trả lại.
Nó cho ta cảm
giác có người
đứng cận kề
nhưng không dựa
vào ta.
4. Trí
tuệ
Muốn đi đúng
hướng trong cuộc
đời ta cần có
nghiệp thiện kế
tiếp là trí tuệ.
Bổ sung cho trí
tuệ là đức tin.
Ðức tin và trí
tuệ là hai đức
tính không thể
tách rời.
Ðức Phật đã so
sánh Ðức tin như
một người khổng
lồ mù với một gã
nhỏ bé, tàn tật
với đôi mắt cực
sáng là Trí tuệ.
Ðức tin đã nói
với Trí tuệ
rằng:"Tôi rất
mạnh, nhưng tôi
không thấy đường
đi tới. Còn anh
yếu đuối, nhưng
mắt anh thì tinh.
Hãy đến ngồi lên
vai tôi. Hai
chúng ta hợp lại
thì nơi nào mà
ta không đến
được". Lòng tin
mù quáng có thể
dời non, nhưng
nó sẽ không biết
dời ngọn núi nào.
Trí tuệ không
thể thiếu để chỉ
đường cho lòng
tin. Trí tuệ có
đôi mắt nội tâm
thật sáng suốt.
Trí tuệ là một
đức tin khá đặc
biệt, vì ta
không thể đạt
được trí tuệ nếu
không có tâm
thanh tịnh.
Trí tuệ phát
triển qua ba
giai đoạn. Ðầu
tiên là sự học
hỏi sẽ mang đến
kiến thức. Ta có
thể có được kiến
thức qua nhà
trường, sách vở,
và qua lời nói
của các bậc uyên
thâm. Sau đó ta
phải suy gẫm về
những điều đã
học hỏi được để
chúng trở thành
một phần của nội
tâm ta. Như khi
thực phẩm vào cơ
thể ta, những gì
cơ thể không sử
dụng sẽ bị thải
ra ngoài. Những
thứ khác sẽ được
đưa vào máu, tạo
ra năng lực.
Cũng thế với
kiến thức. Ta có
thể tiêu hoá
kiến thức, thải
bỏ những gì ta
không cần đến và
đưa những cái bổ
ích vào máu.
Chúng sẽ dần dần
chuyển đổi để
tạo nên trí tuệ,
cũng như đồ ăn
được tiêu hoá
dần chuyển đổi
thành nhiên liệu
để giúp cơ thể
sinh tồn. Ðây là
sự chuyển đổi
nội tâm và không
đòi hỏi ta phải
nghiền ngẫm,
tiêu hóa hàng
tấn kiến thức.
Nó không đòi hỏi
số lượng , mà
cần chất lượng,
cũng như đồ ăn
vào cơ thể của
ta vậy.
Suy gẫm, hấp thụ
những điều ta
học hỏi được
trước khi tiêu
hoá chúng. Ðiều
này đòi hỏi phải
có tâm hành, đó
là một phần quan
trọng trong sự
trưởng thành,
cũng như đồ ăn
vật chất đúng
chất lượng là
yếu tố quan
trọng cho cơ thể
tăng trưởng. Nếu
không có sự hoạt
động của nội tâm
đối với những
điều Phật dạy,
thì những điều
đó vẫn là lời
của Phật , của
Tăng. Chúng sẽ
không bao giờ là
của ta, dầu ta
có lập đi , lập
lại biết bao
nhiêu lần. Trừ
khi ta nghiền
ngẫm , hấp thụ,
tiêu hoá được
những điều ta đã
học hỏi, ta mới
có thể chuyển
đổi chúng thành
trí tuệ nội tâm.
Càng có nhiều
trí tuệ, ta càng
dễ có một đời
sống bình an
không có nhiều
biến động lên
xuống. Thiếu trí
tuệ, ta sẽ thấy
lúng túng, khó
xử trước nhiều
hoàn cảnh. Ðôi
khi phải một
thời gian sau ta
mới thoát ra
khỏi. Nếu có trí
tuệ ta đã không
phải lâm vào
cảnh khó xử đó
rồi. Hơn nữa bên
cạnh trí tuệ còn
có thêm lòng tin
thì nó càng thêm
sức mạnh. Lòng
tin rộng lớn đầy
tự tin, không có
gì có thể lay
chuyển được.
Cộng thêm đôi
mắt sáng của trí
tuệ, chúng sẽ
đưa ta đến đích
cuối cùng.
Chỉ có trí tuệ
không có lòng
tin, đôi khi đưa
ta đến cái nhìn
hai chiều. Ðối
với vấn đề gì,
thắc mắc gì ta
cũng nhìn theo
hai chiều. Nó
không có sự gắn
bó bên trong như
đối với lòng
tin. Lòng tin
không cần dựa
vào một thứ gì ở
bên ngoài. Lòng
tin mà dựa vào
yếu tố bên ngoài
nào đó, thì lòng
tin đó không bền
vững, vì nó cần
yếu tố đó để
hiện hữu như một
chứng minh,
không thể nghi
ngờ gì. Không ai
có quyền được
nghi ngờ về
những gì họ tin
vào. Lòng tin
hữu hiệu nhất là
lòng tin vào
chính khả năng
thành công c | |
| |
|