
|
 |
 |
 |
 |
|
Vô
ngã, Vô ưu
Ni sư Ayya Khema
Diệu Ðạo Việt dịch
Nguyên tác: "Being
Nobody, Going Nowhere"
Wisdom Publications, 1987 |

|
|
 |
|
|
Mười Ðức hạnh
Cao thượng
Bố thí, Giới
hạnh, với Xuất
ly
Trí tuệ, Tinh
tấn nữa là năm
Nhẫn, Chân,
Kiên định, Từ
bi,
và Xả bỏ nữa
là mười.
(Lời Phật dạy,
Buddhavamsa
II , kệ 76)
M uốn
tu Thiền, hành
giả cần có ba
đức tính: độ
lượng, đức hạnh
và từ tâm. Nhưng
cuộc sống tâm
linh cao đẹp còn
cần đến những
đức hạnh khác
nữa và chúng
cũng cần được
vun trồng.
Những đức hạnh
này là Paramis,
từ chữ Parama (Ba-la-mật)
có nghĩa là tối
thượng hay siêu
việt, là bản
tánh chân thật
đã có sẵn trong
chúng ta. Nếu
không, có khác
nào ta vun trồng
từ mảnh đất
hoang. Vì chúng
đã có sẵn trong
ta , ta có thể
bắt đầu từ đó.
Tuy nhiên nếu ta
không có ý muốn
thực hành những
điều thiện này,
ta sẽ không có
được một tâm
mạnh mẽ và ổn
định, là điều
tôi cần để làm
chủ nghiệp mình.
Chúng ta luôn
phải dựa vào
tình cảm và lòng
tốt của người
khác, phải dựa
vào môi trường
chung quanh và
sự thoải mái của
thân. Chừng nào
chúng ta còn
phải dựa vào một
hay tất cả những
thứ kể trên , là
ta còn phải nô
lệ chúng. Mà
phải sống kiếp
nô lệ thì chẳng
thú vị gì. Phải
luôn sống trong
sự sợ hãi. Dĩ
nhiên, ai cũng
có những nỗi sợ
hãi, nhưng phải
tùy thuộc vào
người khác, hay
hoàn cảnh thì
không thể có
được sự tự do
suy nghĩ hay
hành động. Những
thứ tự do sẽ
giúp chúng ta
được giải thoát.
Nói như thế
không có nghĩa
là chúng ta muốn
làm gì cũng được.
Tự do tư tưởng
có nghĩa là ta
có những suy
nghĩ độc lập, cá
biệt và có thể
tự quyết định
hành động của
mình.
1. Bố
Thí
Ðiều thiện đầu
tiên ta cần bắt
đầu với là Bố
thí, chìa khóa
mở mọi cánh cửa.
Không có nghĩa
là những đức
hạnh khác kém
quan trọng,
nhưng nếu lòng
bố thí không
được vun trồng,
thì con đường
tiến đến một đời
sống đạo đức khó
thể khai thông.
Chúng ta phải
bắt đầu cuộc
hành trình và đó
là bước đầu tiên,
là đức hạnh đầu
tiên ta cần phải
có.
Ðức Phật nói về
ba loại bố thí:
loại cho người
ăn xin , loại
cho bằng hữu và
loại vương tước.
Loại bố thí cho
người ăn xin là
khi ta bố thí
những thứ ta
không cần đến -
những thứ khi
dọn dẹp nhà cửa
ta cần vất đi.
Bố thí những thứ
này, dầu có tốt
hơn là không bố
thí, nhưng không
được rộng rãi
lắm, vì ta không
làm giảm bớt
những tham muốn
và bám víu của
mình.
Loại bố thí thứ
hai là khi ta
chia sẻ những gì
ta có với người
quanh ta. Ta bố
thí có chừng mực,
bố thí phần này
và giữ lại phần
khác.
Loại bố thí
vương tước là
khi ta cho nhiều
hơn ta giữ lại.
Rất hiếm thấy có
phải không? Phần
đông chúng ta
không làm thế.
Bố thí cần phải
có động lực
chính đáng. Nếu
ta bố thí vì
muốn đánh đổi
lại một thứ gì
đó - lợi lộc,
lời khen tặng,
lòng biết ơn -
thì sẽ chẳng lợi
ích gì. Ðiều này
nghe có vẻ
nghịch lý: Bố
thí không phải
để được nhận trả
lại điều gì đó.
Bố thí chỉ vì ta
muốn bố thí.
Nhưng nếu suy
xét kỹ ta sẽ
thấy sự thật rất
rõ ràng. Nếu ta
bố thí chỉ vì
muốn bố thí, ta
chắc chắn sẽ
được hạnh phúc,
vui vẻ, tâm an
bình và sung
sướng. Người ta
có thể bố thí vì
cảm thấy mình dư
dả. Hay vì muốn
chia sẻ với
người khác sự
sung túc, giàu
có của mình.
Hoặc bố thí vì
lòng từ bi đối
với người khác.
Ðức Phật bố thí
vì lòng từ bi
đối với chúng
sanh.
Bố thí không chỉ
bằng tài vật.
Không phải ai
cũng có của cải
vật chất để ban
phát, dầu phần
lớn đều có khả
năng đó. Thật ra
phần đông chúng
ta không nhớ
mình có gì nữa,
cho đến khi phải
dọn nhà, lúc đó
ta mới thấy mình
có quá nhiều.
Chúng ta qua có
nhiều những đồ
dùng trong nhà
đến nỗi ta có
thể cho bớt đi
mà vẫn không
thấy thiếu thốn.
Nhưng của cải
không phải là
thứ duy nhất ta
có thể san sẻ.
Ta có thể chia
sẻ thời gian, sự
quan tâm chăm
sóc của mình
cũng như chia sẻ
tài năng khả
năng của mình.
Ðó là mặt quan
trọng của bố thí
, và sự bố thí
này được chính
phủ cũng như các
cơ quan từ thiện
thực hành rộng
rãi. Chỉ có một
điều là với
những hình thức
từ thiện này,
đôi khi người
trực tiếp làm
các công tác này
chỉ làm vì đồng
lương chứ không
vì lòng từ bi
thật sự, nên
công việc làm
của họ có tính
cách thương mại.
Nhưng nếu ta bố
thí khả năng,
tài năng của
mình, mà không
nghĩ gì đến việc
trả ơn thì ta bố
thí vì lòng từ.
Ðức Phật đã bố
thí Pháp với
lòng thương xót
cho chúng sanh.
Sự bố thí này
không chỉ có đi
mà cũng có lại.
Ta càng bố thí
vì lòng từ bi,
lòng từ bi trong
ta càng tăng
trưởng. Ðiều này
cũng dễ hiểu
thôi nhưng ít ai
nghĩ đến. Có
người bố thí để
được người khác
tử tế lại với
mình. Nhưng nếu
ta bố thí thật
sự vì lòng tốt
phát ra từ trái
tim, thì rõ ràng
ta phải có nhiều
lòng tốt hơn thế
để an phát cho
người khác.
Tuy nhiên bố thí
dù dưới hình
thức nào cũng
giúp ta bớt chấp
Ngã, và đó là lý
do tại sao bố
thí được kể đầu
tiên trong mười
điều thiện mà ta
cần vun trồng,
bảo vệ. Khi Ðức
Phật chưa thành
đạo, đó là những
đức tính Ngài
hoàn thiện và có
bao nhiêu câu
chuyện về các
đức tính này của
Ðức Phật trong
quyển Jataka -
Túc Sinh Truyện,
chuyện từ các
tiền kiếp của
Ðức Phật.
Lòng từ bi của
bậc Bồ tát còn
đi xa hơn nữa,
họ còn bố thí cả
thân mình. Hy
sinh tánh mạng
mình cho ai là
cách bố thí cao
cả nhất. Người
tầm thường như
chúng ta khó mà
làm nổi. Tuy
nhiên có nhiều
mức độ bố thí,
mà một sự bố thí
dù nhỏ đến thế
nào, cũng sẽ làm
giảm bớt lòng
chấp Ngã của ta.
Bố thí nhiều hơn
sẽ làm giảm
nhiều hơn nữa
lòng chấp Ngã,
nếu đằng sau đó
là những động
lực chính đáng.
Làm giảm Ngã
chấp là mục đích
trên con đường
thanh tịnh hoá,
dần dẫn ta đến
kinh ngiệm của
sự Vô ngã. Ta
không thể chỉ hy
vọng, cầu nguyện
hay tưởng tượng
mình sẽ được có
kinh nghiệm đó,
trừ khi ta bắt
đầu làm gì đó để
thay đổi sự bám
viú vào tự Ngã.
Bằng cách nào?
Bố thí là một sự
khởi đầu tuyệt
vời.
2. Giới
hạnh
Kế đến là giới
hạnh, liên quan
đến việc giữ gìn
năm giới. Ðức
hạnh này làm
giảm bớt và dần
giúp ta chế ngự
được lòng tham
và sân. Làm giảm
bớt lòng sân
tham cũng là một
cách để làm giảm
Ngã chấp vì sân
tham chỉ có thể
phát sinh do có
các ảo tưởng về
Ngã.
Tất cả các Pháp
của Ðức Phật
cũng là như thế.
Ðôi khi ta cảm
thấy bối rối
trước các giáo
lý của Ðức Phật
về sự giải thoát
tâm linh. Nhưng
các giáo lý này
giống như những
mảnh rời của một
bản hình xếp
khổng lồ. Khi ta
có thể đặt một
vài mảnh vào
đúng vị trí của
chúng, thì các
mảnh còn lại sẽ
được an bài thôi.
Tất cả Pháp đều
nhắm đến việc
trước tiên làm
giảm lòng chấp
Ngã, rồi dần dần
đến chỗ phá bỏ
hoàn toàn ngã
chấp, để đi đến
Vô ngã.
Tuân giữ các
giới luật là một
phần của bức ảnh
tổng thể đó. Khi
chúng ta không
làm hại đến các
sinh vật khác,
thì lòng ta bớt
sân hận. Ta chỉ
có thể làm hại
hay huỷ hoại
những gì ta
không thích. Khi
ta không lấy
những gì không
phải của mình,
thì lòng tham
được giảm xuống.
Chỉ khi có lòng
tham , ta mới
lấy lại của cải
của người. Cũng
thế đối với
những sai phạm
trong tình dục.
Ác ngữ là do
lòng tham hay
sân mà ra. Các
thứ độc hại như
rượu, ma túy là
do lòng tham
muốn thỏa mãn
nhục dục mà
những thứ này có
thể dễ dàng mang
đến cho ta.
3. Xuất
ly
Xuất ly thường
được nghĩ đến
như một đức tính
của riêng các
tăng ni, các
hành giả hay
những người sống
ẩn dật trong các
hang núi, nhưng
đó không phải là
một suy nghĩ
hoàn toàn đúng.
Xuất ly có nghĩa
là buông xả
những ảo tưởng
về tự Ngã. Nếu
trong khi toạ
Thiền ta không
cố gắng phần nào
làm được như thế,
thì ta khó mà
đạt được Thiền
định. Cái Ngã
của ta thích
được nuông chiều,
chú ý đến luôn.
Khi bị bắt phải
im lặng, và
không được làm
điều gì thú vị,
nó phản ứng lại
dữ dội, và cố
thoát ra khỏi
tình trạng đó
bằng những việc
làm như trò
chuyện, đọc sách,
mơ màng hay bất
cứ thứ gì vừa
lòng nó. Trừ khi
chúng ta có thể
phá bỏ những
thói quen này,
việc tọa Thiền
của ta khó thể
thành công.
Cũng thế tất cả
các thiện tánh
đều giúp cho sự
tọa thiền của ta.
Chúng nâng đỡ
cột sống của ta.
Thiền định cần
có một cột sống
vững mạnh, không
phải chỉ do ngồi
thẳng, mà còn
phải có tâm
chánh niệm.
Muốn bước trên
con đường tâm
linh, ta cần
phải biết xuất
ly. Ðiều đó có
nghĩa là buông
bỏ mọi ý niệm về
cái tôi, mọi
tham vọng, ước
muốn của cái tôi.
Tất cả những suy
nghĩ đó chỉ cũng
chỉ củng cố thêm
lòng chấp Ngã,
đưa ta đến chỗ
sai lầm. Những
gì ta nghĩ ta sở
hữu - cái nhà "của
tôi" bàn ghế "của
tôi", chồng "của
tôi", vợ "của
tôi", con cái "của
tôi" thân quyến
"của tôi", xe "của
tôi" , nghề
nghiệp "của tôi",
văn phòng "của
tôi", bạn bè "của
tôi" - làm cho "cái
tôi" cảm thấy an
toàn hơn vì tất
cả hợp thành một
hệ thống bảo vệ.
Tạo cho tự Ngã
những ảo tưởng
về một sự vững
bền. Nhưng không
có người nào hay
sở hữu nào
thường hằng,
vĩnh viễn cả,
tất cả đều luôn
biến đổi.
Nếu thật sự có
sự bền vững đó,
thì cái nhà ,
cái xe càng to,
càng có nhiều
bạn bè con cái,
nhiều vợ, nhiều
chồng , thì con
người càng cảm
thấy thêm an tâm.
Thực tế thì càng
có nhiều những
thứ kể trên, con
người càng thêm
phiền não, lo âu.
Thử tưởng tượng
xem nếu ai đó có
mười ông chồng
hay bà vợ thay
vì một. Hãy dẹp
bỏ ngay tư tưởng
đó! Ðó chỉ là
một trong những
tà kiến về những
gì có thể mang
đến cho con
người sự an tâm.
Ta chỉ thích bao
bọc mình với
những gì tạo nên
"cái tôi", "cái
của tôi". Tư duy
của ta khiến ta
trở nên như thế,
dầu rõ ràng ta
không thể làm
chủ ai khác được.
Con người có thể
ra đi không định
trước, có thể
chọn lầm người
phối ngẫu, hay
bỏ rơi nhau
không lời từ giã.
Mỗi người tự tạo
ra nghiệp của họ.
Vậy mà ta vẫn
gọi họ là "của
tôi", và thật sự
tin rằng họ
thuộc về chúng
ta. Một khi ta
tin như thế ta
bám viú vào họ
suốt đời. Họ
phải lúc nào
cũng là "của tôi".
Ðó là quá trình
tự đồng hóa cái
Ngã với gia đình
của chúng ta,
với công việc
của chúng ta và
với tất cả những
sở hữu của chúng
ta. Thay vì với
chỉ một "cái tôi",
giờ chúng ta
bành trướng, bao
gồm thêm nhiều
người khác nữa.
Như thế chúng ta
trở nên to lớn
thêm.
Xuất ly khỏi sự
đồng hóa này là
một bước quan
trọng khởi đầu:
chỉ khi nào ta
có thể tự đứng
một mình, ta mới
có thể thực sự
tu tập theo con
đường đạo. Không
có nghĩa là ta
phải đuổi mọi
người ra khỏi
nhà. Nhưng khi
ta còn tùy thuộc
vào ý kiến, hành
động của người
khác, thì làm
sao ta có thể
thực tập cho sự
tự do, giải
thoát của chính
mình? Không có
sự dựa dẫm này,
cái Tôi sẽ trở
về kích thước
bình thường, của
chỉ cái tôi,
không có gì hơn.
Như thế dầu tự
Ngã vẫn chưa
được phá bỏ,
nhưng ít nhất nó
cũng nằm trong
khả năng chế ngự
của ta. Một thân,
một tâm, không
sở hữu, không
bám viú vào bao
nhiêu người, bao
nhiêu thứ khác.
Ngay đối với một
thiền sư, nếu
vẫn muốn đạt
được điều gì đó
hay trở nên thế
này thế nọ, thì
cũng chỉ là một
cách củng cố
thêm Ngã chấp.
Thay vì có mặt
trong giờ phút
hiện tại, chánh
niệm trong từng
giây phút, ta
muốn trở nên, là
một cái gì thuộc
về tương lai. Có
thể nói gì về
tương lai chứ?
Không có gì.
Tương lai thì
hoàn toàn trống
không. Nhưng có
mặt , ngay trong
hiện tại, là
điều ta có thể
làm được với tất
cả chánh niệm.
Trở nên, trở
thành một thứ gì
hơn chính chúng
ta - một thiền
sư đạt đạo, một
ông chủ có danh
vọng giàu có,
được mến mộ - sẽ
làm cho lòng
chấp Ngã của ta
thêm nặng. Trở
nên, trở thành
không ích lợi gì,
là như thế nào
là ích lợi hơn.
Lúc đó ta sẽ dễ
đối trị ngã chấp
hơn. Ta có thể
chánh niệm về sự
có mặt đích thực
của mình. Nhưng
ta không thể
chánh niệm về
cái ta sẽ trở
thành. Nó không
có thực. Nó chỉ
là những giấc mơ
ban ngày. Nó chỉ
là ước mơ và hy
vọng. Nó là điều
ta muốn xuất ly.
Trong quá trình
xả ly, ta có thể
buông bỏ sở hữu,
sự khẳng định
của cái tôi và
các vọng tưởng.
Nếu trong đời
thường, ta không
biết buông xả,
thì ta càng khó
buông xả hơn
trong Thiền. Khi
Thiền định ta
phải buông xả tư
duy , ước vọng,
mọi phán đoán,
lòng mong muốn,
cầu vọng, các
dục lạc. Ta phải
biết buông bỏ
nếu ta muốn hành
Thiền, vì thế ta
cần phải thực
tập sự xả bỏ mọi
lúc, mọi nơi.
Không có nghĩa
là ta phải vứt
bỏ mọi sở hữu
hay xa lánh gia
đình. Tâm chỉ
phải vứt bỏ tâm
bám víu, sự
khẳng định mình
qua những thứ đó.
Xuất ly có nhiều
hình thái. Nó có
thể là sự tự
khắc kỷ như dậy
sớm hơn thường
lệ, xả bỏ khuynh
hướng muốn được
hưởng thụ. Xuất
ly cũng có nghĩa
không phải lúc
nào muốn ăn thì
ăn, mà phải chờ
đến lúc thật sự
đói. Khi từ giã
cuộc đời, ta
phải buông bỏ
mọi thứ. Ta
không thể mang
theo của cải hay
người thân mà ta
coi là của chúng
ta, cũng như
không thể mang
theo thân của
mình. Tốt hơn
hết là ta nên
hiểu về cái chết
trước khi nó đến.
Ðó là lý do tại
sao người ta
thường vật vã
trước giờ ra đi.
Một số ít người
có thể ra đi một
cách bình thản,
nhưng phần đông
không thế, vì họ
chưa sẵn sàng để
buông bỏ tất cả.
Trước đó , họ
chẳng bao giờ
nghĩ đến giờ
phút này.
Tất cả những gì
ta bám viú vào
là một trở ngại,
một vật cản. Thí
dụ như nếu tôi
cứ ôm mãi chiếc
gối này, không
chịu bỏ ra, thì
tôi sẽ gặp trở
ngại khi bước ra
cửa. Thực tế, ta
thường bám víu
vào người khác
và điều đó cần
phải buông bỏ.
Không có nghĩa
là ta phải xua
đuổi người khác.
Nhưng có nghĩa
là ta phải đoạn
diệt thái độ bám
viú của ta với
người khác, đó
mới chính là trở
ngại lớn nhất.
Nếu ta không sửa
đổi theo hướng
đó, việc hành
Thiền của ta
cũng bị trở ngại
thôi, vì ta cũng
sẽ bám viú vào
tư tưởng, hy
vọng, ước muốn
của ta.
Chúng ta có thể
vẫn ở trong căn
nhà của mình,
vẫn mặc quần áo
đó, vẫn không có
gì thay đổi về
hình dáng bề
ngoài, nhưng bên
trong ta đã xả
ly được những
dính mắc của
mình. Không có
nghĩa là ta
không còn thương
yêu gia đình của
mình nữa. Ngược
lại, tình thương
mà không có sự
bám viú, sở hữu
là loại tình
thương không có
lòng sợ hãi,
hoàn toàn thuần
khiết. Trong khi
tình thương với
lòng bám viú, sở
hữu là một cực
hình. Nó bao gồm
những làn sóng
tình cảm và
thường tạo nên
những hàng rào
kẽm gai vô hình.
Tình yêu thật sự
là tình yêu
không có sự sở
hữu, được cho mà
không mong đợi
một sự trả lại.
Nó cho ta cảm
giác có người
đứng cận kề
nhưng không dựa
vào ta.
4. Trí
tuệ
Muốn đi đúng
hướng trong cuộc
đời ta cần có
nghiệp thiện kế
tiếp là trí tuệ.
Bổ sung cho trí
tuệ là đức tin.
Ðức tin và trí
tuệ là hai đức
tính không thể
tách rời.
Ðức Phật đã so
sánh Ðức tin như
một người khổng
lồ mù với một gã
nhỏ bé, tàn tật
với đôi mắt cực
sáng là Trí tuệ.
Ðức tin đã nói
với Trí tuệ
rằng:"Tôi rất
mạnh, nhưng tôi
không thấy đường
đi tới. Còn anh
yếu đuối, nhưng
mắt anh thì tinh.
Hãy đến ngồi lên
vai tôi. Hai
chúng ta hợp lại
thì nơi nào mà
ta không đến
được". Lòng tin
mù quáng có thể
dời non, nhưng
nó sẽ không biết
dời ngọn núi nào.
Trí tuệ không
thể thiếu để chỉ
đường cho lòng
tin. Trí tuệ có
đôi mắt nội tâm
thật sáng suốt.
Trí tuệ là một
đức tin khá đặc
biệt, vì ta
không thể đạt
được trí tuệ nếu
không có tâm
thanh tịnh.
Trí tuệ phát
triển qua ba
giai đoạn. Ðầu
tiên là sự học
hỏi sẽ mang đến
kiến thức. Ta có
thể có được kiến
thức qua nhà
trường, sách vở,
và qua lời nói
của các bậc uyên
thâm. Sau đó ta
phải suy gẫm về
những điều đã
học hỏi được để
chúng trở thành
một phần của nội
tâm ta. Như khi
thực phẩm vào cơ
thể ta, những gì
cơ thể không sử
dụng sẽ bị thải
ra ngoài. Những
thứ khác sẽ được
đưa vào máu, tạo
ra năng lực.
Cũng thế với
kiến thức. Ta có
thể tiêu hoá
kiến thức, thải
bỏ những gì ta
không cần đến và
đưa những cái bổ
ích vào máu.
Chúng sẽ dần dần
chuyển đổi để
tạo nên trí tuệ,
cũng như đồ ăn
được tiêu hoá
dần chuyển đổi
thành nhiên liệu
để giúp cơ thể
sinh tồn. Ðây là
sự chuyển đổi
nội tâm và không
đòi hỏi ta phải
nghiền ngẫm,
tiêu hóa hàng
tấn kiến thức.
Nó không đòi hỏi
số lượng , mà
cần chất lượng,
cũng như đồ ăn
vào cơ thể của
ta vậy.
Suy gẫm, hấp thụ
những điều ta
học hỏi được
trước khi tiêu
hoá chúng. Ðiều
này đòi hỏi phải
có tâm hành, đó
là một phần quan
trọng trong sự
trưởng thành,
cũng như đồ ăn
vật chất đúng
chất lượng là
yếu tố quan
trọng cho cơ thể
tăng trưởng. Nếu
không có sự hoạt
động của nội tâm
đối với những
điều Phật dạy,
thì những điều
đó vẫn là lời
của Phật , của
Tăng. Chúng sẽ
không bao giờ là
của ta, dầu ta
có lập đi , lập
lại biết bao
nhiêu lần. Trừ
khi ta nghiền
ngẫm , hấp thụ,
tiêu hoá được
những điều ta đã
học hỏi, ta mới
có thể chuyển
đổi chúng thành
trí tuệ nội tâm.
Càng có nhiều
trí tuệ, ta càng
dễ có một đời
sống bình an
không có nhiều
biến động lên
xuống. Thiếu trí
tuệ, ta sẽ thấy
lúng túng, khó
xử trước nhiều
hoàn cảnh. Ðôi
khi phải một
thời gian sau ta
mới thoát ra
khỏi. Nếu có trí
tuệ ta đã không
phải lâm vào
cảnh khó xử đó
rồi. Hơn nữa bên
cạnh trí tuệ còn
có thêm lòng tin
thì nó càng thêm
sức mạnh. Lòng
tin rộng lớn đầy
tự tin, không có
gì có thể lay
chuyển được.
Cộng thêm đôi
mắt sáng của trí
tuệ, chúng sẽ
đưa ta đến đích
cuối cùng.
Chỉ có trí tuệ
không có lòng
tin, đôi khi đưa
ta đến cái nhìn
hai chiều. Ðối
với vấn đề gì,
thắc mắc gì ta
cũng nhìn theo
hai chiều. Nó
không có sự gắn
bó bên trong như
đối với lòng
tin. Lòng tin
không cần dựa
vào một thứ gì ở
bên ngoài. Lòng
tin mà dựa vào
yếu tố bên ngoài
nào đó, thì lòng
tin đó không bền
vững, vì nó cần
yếu tố đó để
hiện hữu như một
chứng minh,
không thể nghi
ngờ gì. Không ai
có quyền được
nghi ngờ về
những gì họ tin
vào. Lòng tin
hữu hiệu nhất là
lòng tin vào
chính khả năng
thành công của
mình. Thêm nữa,
lòng tin có thể
phát sinh khi ta
đã chọn được con
đường đi đúng.
Ðó là niềm tin
không thể lay
chuyển vào Pháp,
cộng với con mắt
sáng của trí tuệ.
5. Năng
lực
Kế tiếp là năng
lực hay tinh tấn,
mà ta có thể so
sánh với nhiên
liệu để cho máy
chạy. Chúng ta
phải tự chế ra
nhiên liệu cho
mình. Ðó cũng là
một trong bảy
yếu tố của Giác
ngộ, nên ta có
thể thấy sự quan
trọng của nó như
thế nào.
Năng lực có thể
được sử dụng
dưới nhiều hình
thức. Người ta
có thể bỏ ra rất
nhiều năng lực
để trở thành một
nhà tỷ phú hay
để xây một ngôi
nhà hay để lợi
dụng lòng tốt
của ai. Tất cả
những việc ta
làm đều cần có
năng lực.
Năng lực có thể
khiến ta lăng
xăng. Chạy từ
việc này qua
việc nọ, nghĩ
thứ này, thứ kia.
Nó có thể mang
ta từ nơi này
của thế giới đến
nơi khác, cố tìm
cho được cái gì
có thể làm thoả
mãn nó. Nếu
không sử dụng
năng lực đúng
chỗ, nó sẽ mang
đến những hậu
quả tiêu cực.
Chính tự nó
không toàn diện.
Nó chỉ là nhiên
liệu còn bổn
phận của ta là
tìm cho nó một
chiếc xe đúng
loại.
Ðức Phật đã nói
về năm yếu tố
tâm linh - Tính,
Tấn, Niệm, Ðịnh,
Tuệ - và so sánh
chúng với một
đoàn ngựa kéo
một toa xe với
một con ngựa đầu
đàn và hai cặp
theo sau. Con
ngựa dẫn đầu là
Chánh niệm và nó
có thể đi nhanh
theo sức của nó.
Nó không cần
phải cân xứng,
chờ đợi ai.
Chánh niệm là
đầu đàn, là điều
quan trọng nhất.
Không có nó toa
xe không thể đi
tới. Nhưng hai
cặp ngựa còn lại
phải cân xứng
nhau. Cặp thứ
nhất là năng lực
phải cân xứng
với sự chú tâm -
Tinh tấn và Ðịnh.
Sự chú tâm giúp
ta ổn định.
Nhưng nếu chỉ
chú tâm mà không
có năng lực, sẽ
khiến ta hôn
trầm. Làm ta trở
nên trơ đá,
không xúc cảm.
Loại chú tâm này
không ích lợi gì.
Nó cần có năng
lực để giữ thăng
bằng. Nhưng có
năng lực mà
không có chú tâm
thì cũng vô ích
vì nó có thể
khiến ta quá
lăng xăng đến
nỗi, lúc nào ta
cũng phải làm
cái gì đó.
Năng lực phải có
định hướng.
Không lợi ích gì
nếu chỉ đổ nhiên
liệu vào xe, nổ
máy nhưng không
biết phải đi đến
đâu. Làm thế chỉ
lãng phí nhiên
liệu thôi phải
không? Trên thế
giới việc khủng
hoảng năng lực
cứ liên tục xảy
ra, vì thế thật
đáng xấu hổ, nếu
ta góp tay vào
việc làm lãng
phí nhiên liệu,
có phải không?
Chúng ta cần
phải biết rõ
chiếc xe của ta
cần đi về hướng
nào. Nó cần có
một hướng đi duy
nhất thôi. Thẳng
tiến đến sự lớn
mạnh để đạt được
sự tỉnh thức cao
hơn, thậm sâu
hơn.
Khi ta lớn lên
cái nhìn của ta
bao quát hơn.
Khi đã đạt được
sự trưởng thành
về trí tuệ và
tâm linh, ta có
thể nhìn mọi thứ
như một người
đứng trên cao
nhìn xuống,
những gì xảy ra
ở dưới đường
không ảnh hưởng
đến ta. Dầu có
lụt lội, hạn hán,
động đất trên
quả đất của ta,
hay có đĩa bay
trên không trung,
sự tỉnh thức của
ta cũng không hề
bị ảnh hưởng. Có
cái nhìn của con
chim ở trên tầng
không , ta có
thể nhìn mọi vật
một cách tổng
quát chứ không
phải cá thể.
Trong khi nếu ta
ở phía dưới, tất
cả những gì ta
có thể thấy được
là căn phòng này.
Cũng thế đối với
cái nhìn bên
trong. Cái nhìn
hạn hẹp chỉ có
thể thấy được
cái gì ngay
trước mắt nó:
cái đau của thân,
sự sợ hãi, lo
lắng cho tương
lai, tiếc thương
cho quá khứ, yêu,
ghét những người
chung quanh ta.
Ta chỉ có thể
thấy những thứ
như thế vì cái
nhìn không được
phát triển.
Nhưng khi cái
nhìn đã thay đổi,
ta có thể thấy
là đau khổ bao
trùm mọi thứ, ta
không còn phải
lo âu, sợ hãi
nữa vì ta biết
rằng tương lai
và quá khứ là
một. Chỉ có giây
phút hiện tại.
Năng lực cần
phải nhằm đến
một hướng, chăm
chăm vào một
việc mới mong có
kết quả. Chúng
ta phải hao hụt
một phần lớn
năng lực tinh
thần trong Thiền
định: năng lực
duy nhất trong
vũ trụ này. Tất
cả mọi vật chất
chỉ là kết quả
của năng lực
tinh thần. Khi
ta đã tu Thiền
một thời gian,
sự tiêu tốn năng
lực không còn
làm ta mệt mỏi.
Trái lại là khác.
Ta cảm thấy như
hấp thụ được
nguồn năng lực
mới qua Thiền
định.
Ðể làm chủ các
bản năng, đòi
hỏi phải có năng
lực. Sống theo
bản năng là cuộc
sống của loài
thú. Con người
hơn loài thú là
có khả năng tư
duy, vậy mà ta
vẫn bắt gặp
không ít những
phản ứng có tính
cách bản năng ở
chính ta và
người. Vì bản
tính con người
là phản ứng theo
bản năng, ta cần
phải có nhiều
năng lực để chế
ngự chúng. Những
gì có vẻ tự
nhiên đối với ta
- đến với ta một
cách dễ dàng -
là những cái ta
cần chế ngự. Chỉ
sống buông trôi
theo bản năng sẽ
đem lại đau khổ
cho ta. Chuyển
đổi từ một người
tầm thường thành
một người cao
quý (ariya) là
những bước đến
với sự giải
thoát. Cần phải
có nhiều năng
lực để chế ngự
cách sống theo
bản năng và phản
ứng một cách tầm
thường trần tục.
Tất cả những gì
ta làm ta đều
cần có năng lực.
Sự quyết tâm là
buớc khởi đầu,
nhưng năng lực
giúp ta tiến
bước. Và ta chỉ
có thể tiến bước
không chùng
chình nếu ta
biết rõ hướng đi
của mình. Người
có thể làm được
như thế là những
người có thể đạt
được nhiều thứ
hơn người khác
và luôn được
người khác
ngưỡng mộ. Không
có gì to tát cả.
Họ chỉ là những
người giỏi điều
khiển năng lực
của mình.
6. Kiên
nhẫn
Kế tiếp là kiên
nhẫn. Nếu trong
cuộc sống hàng
ngày, ta không
có lòng kiên
nhẫn, ta sẽ luôn
âu lo, khó thể
an tâm. Ta sẽ cố
làm những việc
vô ích với hy
vọng thúc đẩy
công việc của ta
mau chóng có kết
quả.
Sự thiếu kiên
nhẫn chứng tỏ có
tâm chấp Ngã vì
ta muốn mọi việc
xảy ra theo như
ta dự định. Hơn
nữa ta lại muốn
chúng xảy ra vào
khoảng thời gian
ta mong mỏi. Ta
chỉ nghĩ đến
những suy nghĩ,
dự định của mình.
Ta quên là còn
có nhiều yếu tố
khác , nhiều
nhân duyên liên
hệ khác. Quên
rằng ta chỉ là
một trong hằng
tỷ người trên
quả đất này, và
quả đất này chỉ
là một chấm nhỏ
trong tinh cầu,
và còn có hằng
hà sa số các
tinh cầu khác
nữa. Vì tư lợi
của mình, ta bỏ
quên những điều
ấy. Ta chỉ muốn
mọi việc xảy ra
theo ý mình ngay
lập tức. Khi mọi
việc không xảy
ra theo sự suy
nghĩ, xếp đặt
của mình, người
thiếu kiên nhẫn
thường trở nên
giận dữ. Ðó là
một vòng tròn
oái ăm của sự
thiếu kiên nhẫn
và sân hận
Sự kiên nhẫn có
một giá trị nội
tâm. Ta nhận
thức được rằng
ta có thể dự
tính nhưng kết
quả không thể
chắc chắn được.
Ðôi khi đó lại
là một việc tốt
hay do nghiệp
quả của ta. Ta
cần phải biết
chấp nhận những
trở ngại này.
Nếu ta không thể
chấp nhận những
gì xảy ra trong
cuộc đời mình,
thì ta càng thêm
đau khổ. Ai cũng
từng kinh qua
đau khổ, nhưng
khi ta không
biết chấp nhận,
thì sự chống cự,
phản kháng càng
làm khổ đau tăng
lên gấp bội. Như
khi ta đấm tay
vào một vật cứng
, tay ta sẽ bị
đau. Nhưng nếu
ta tựa tay nhẹ
nhàng vào cánh
cửa hay bức
tường ta vẫn
không thấy đau.
Phản kháng hay
mong muốn đều là
nguồn gốc của
khổ đau.
Người kiên nhẫn
có cái nhìn tổng
thể hơn, họ có
thể nhìn thấy sự
vật thay đổi,
chuyển và trôi
theo dòng chảy.
Có những sự việc
ngày hôm nay ta
thấy khó chấp
nhận, thì ngày
mai, hay tháng
sau, năm sau, ta
thấy chúng cũng
bình thường. Có
những việc năm
ngoái ta thấy
quá cấp thiết,
không thể thiếu
trong cuộc sống,
thì hôm nay
chúng không có ý
nghĩa gì nữa với
ta. Suy nghĩ như
thế giúp ta thản
nhiên trước bất
cứ việc gì có
thể xảy ra. Nếu
sự việc xảy ra
không như ta dự
tính, ta cũng có
thể nhìn chúng
như một phần của
dòng đời lên
xuống.
Những đức tính
này chỉ có thể
vun trồng trên
mảnh đất mầu mỡ
của nội tâm. Nội
tâm ẩn náu bên
dưới sự ươm
trồng của trí
tuệ và năng lực
cần thiết để đi
đúng hướng ,
trong khi kiên
nhẫn và xả ly
cần có để đối
trị với ngã mạn
, vì tất cả đều
vô thường, khổ
và vô ngã.
"Nội quán", hay
"Minh sát",
trong ngôn ngữ
Phật giáo có sự
là sự quán chiếu
thậm sâu về ba
đặc tính trên:
Vô thường, Khổ
và Vô ngã. Chúng
không ngừng xảy
ra. Chỉ có sự
chú tâm của ta
đối với chúng là
có thể ngừng lại.
Ta thường tìm
cách trốn tránh
chúng. Ta không
thích vô thường,
khổ và vô ngã,
nên ta phản
kháng lại chúng.
Ta từ chối sự
hiện hữu của
chúng , và luôn
nghĩ ra đủ mọi
cách để trốn
tránh chúng.
Nhưng cách trốn
chạy hữu hiệu
nhất là chấp
nhận, thấu hiểu
và thâm nhập
chúng vào đời
sống của ta, đó
là cách giải
thoát duy nhất,
vĩnh cửu. Tất cả
những cách khác
đều chỉ là sự
trốn chạy tạm
thời, không đi
đến đâu, ngoài
việc dẫn ta trở
lại điểm bắt đầu.
Trước hết ta cần
phải có kiên
nhẫn với chính
mình. Nếu không,
ta không thể có
kiên nhẫn với ai
cả. Nếu không có
kiên nhẫn với
chính mình, tức
là ta không biết
tự quý trọng
mình. Ta phóng
đại về khả năng
của mình, sự
quan trọng của
mình, rồi khi sự
việc không xảy
ra như ta dự
tưởng thì ta tức
giận. Thí dụ như
ta nghĩ là ta
phải Giác Ngộ
lâu rồi, hay ta
có thể tọa thiền
trong hai tiếng
đồng hồ không
nhúc nhích, hay
có thể Thiền đến
độ không cần ngủ
nghỉ. Ðủ thứ "phải".
Sự mong mỏi đó
ta cũng đem áp
dụng cho mọi
người khác, và
ta trở nên thiếu
kiên nhẫn với sự
thiếu sót của họ.
Tuy nhiên cũng
không nên đồng
hoá tính kiên
nhẫn với sự dễ
dãi. Một người
rất kiên nhẫn có
đức tính đáng
yêu của sự chịu
đựng. Nhưng nếu
không có đủ trí
tuệ và nghị lực
nội tâm, lòng
kiên nhẫn đó dễ
dàng xuống cấp
trở thành sự dễ
dãi, buông xuôi
khi nghĩ rằng có
làm gì cũng vô
ích , là một
điều không đúng
sự thật. Sao cho
rằng vô ích, khi
ta khéo léo, đức
hạnh. Vấn đề là
ta cần phải có
trí tuệ để biến
kiên nhẫn thành
một đức tính.
Dầu cho biết
chấp nhận thực
tế cuộc đời
không như ta dự
tính, ta vẫn
phải có quyết
tâm và năng lực
để chuyển hướng
về những điều
tốt đẹp hơn.
Trong khi một kẻ
buông xuôi có
thể nhìn y phục
của mình và nói:
"Dơ rồi. Nhưng
ta có thể làm
được gì chứ? Tất
cả y phục rồi
cũng sẽ bị dơ".
Ðó là một ví dụ
cực đoan. Giống
như một người
nhìn quanh phòng
rồi nói: "Phòng
dơ quá. Mà phòng
nào rồi cũng dơ".
Hay có người
quan sát nhà
mình rồi nói: "Nước
sơn đã bạc màu
rồi. Mà có sơn
lại rồi cũng bạc
màu". Ðó là thái
độ để mọi việc
xảy ra mà không
có quyết tâm hay
năng lực cần
thiết để chuyển
đổi mọi việc cho
tốt hơn, ở hình
thức hay nội tâm.
Nếu ta tự xét
thấy có điểm yếu
kém rồi ta nói:
"Ôi, còn làm gì
được nữa? Ai mà
lại không tham
lam, sân hận?"
và rồi để mọi
việc buông xuôi.
Như thế chưa đủ
tốt.
Mặt khác, nếu ta
nhận thấy tánh
tham sân trong
con người mình,
ta trở nên thiếu
kiên nhẫn, điều
này cũng chẳng
ích lợi chi. Tất
cả mọi thứ đều
cần thời gian.
Từ vô thủy, ta
đã lập đi lập
lại những tánh
xấu này. Ta cần
phải có thời
gian để thay đổi.
Kiên nhẫn rất
cần thiết, nhưng
buông xuôi thì
không.
7. Chân
thật
Tiếp theo là
chân thật và đức
tính này có
nhiều khiá cạnh.
Ðầu tiên và tiên
quyết là ta phải
nói sự thật. Ðó
là giới luật thứ
tư - không nói
dối. Nhưng còn
hơn thế nữa. Ta
cần phải tự khám
phá mình với sự
chân thật rốt
ráo ở nội tâm.
Ðó là một việc
khó thực hiện.
Ta cần có trí
tuệ để nhận biết
lầm lỗi của mình,
không phải của
người. Tìm lỗi
của người không
khó. Lỗi của
người khá hiển
nhiên. Nhưng để
tìm ra lỗi của
mình, đó là điều
khó làm, ta cần
sự thật thậm sâu
và một nội tâm
chân thật.
Ðiều đó giống
như tự mổ xẻ bên
trong, tự chất
vấn mình. Khi
câu hỏi đầu tiên
được trả lời, ta
lại phải đặt câu
hỏi về câu trả
lời đó "Tại sao
tôi lại hành
động như thế,
tại sao tôi lại
có những cảm thọ
đó? Tại sao tôi
phản ứng như thế?"
Cuối cùng các
câu trả lời đều
đưa về một "cái
Ngã", nếu ta đã
tự phân tích
mình đầy đủ.
Các phản ứng dễ
dãi như "ôi, đó
chỉ là cái tôi,
tôi không thể
làm gì khác hơn"
hay "đó là
nghiệp của tôi
rồi", không ích
lợi gì. Cả hai
thái độ đều vô
hiệu quả, vì nếu
ta đã thật sự tự
phân tích mình
rốt ráo, và đã
nhận ra đó là do
ngã mà ra, thì
ta phải tìm cách
tháo gỡ sự bám
víu vào cái ngã.
Rất khó nhìn ta
như người khác
nhìn ta. Ta phải
đặt một tấm
gương trước mặt,
không phải để
soi hình dáng bề
ngoài, mà là để
theo dõi sự hình
thành của tâm
sinh lý của ta.
Tấm gương đó gọi
là chánh nghiệp.
Ðôi khi cách
người khác đối
xử với ta cũng
tạo nên một tấm
gương, nhưng
không hẳn là một
tấm gương trung
thực vì có cái
tôi của họ nằm
trong đó. Do đó,
công việc chính
của ta là phải
tự chất vấn mình
thôi.
Sự thực có nhiều
mặt khác. Biết
được sự thật tức
là biết điều bốn
sự thật cao quý
(Tứ Diệu Ðế) và
đó là Pháp chân
thật. Nhận biết
được bốn sự thật
cao quý đó có
nghĩa là ta đã
quan sát chúng
bằng cái nhìn
nội tâm: sự thật
về khổ (khổ đế),
sự thật về nguồn
gốc của khổ (tập
đế) là tham sân
; sự thật về
chấm dứt khổ đau
(diệt đế) nghĩa
là sự giải thoát
; và sự thật về
phương tiện chấm
dứt khổ đau (đạo
đế) đó là Bát
Chánh Ðạo. Tóm
lại sự thật chỉ
có nghĩa như thế.
Tất cả các chân
lý cuối cùng
phải dẫn ta đến
sự tự do, giải
thoát. Con người
ta có thể đi tìm
chân lý bằng
nhiều cách khác
nhau, qua nhiều
lý thuyết học.
Có nhiều lý
thuyết đáng kinh
sợ vì nó dạy
người ta đàn áp
tầng lớp người
này và tôn vinh
tầng lớp khác.
Nhóm khác lại
nói về sự đàn áp
và chủ nghĩa tối
thượng. Tất cả
là do tâm con
người tạo ra.
Tâm u mê sẽ đặt
lý thuyết của
mình dựa trên ảo
tưởng về ngã
chấp, do đó
chúng không thể
nào đem lại sự
thỏa mãn hoàn
toàn.
Ði tìm chân lý
là một điều nên
làm, tuổi trẻ
nên đeo đuổi
theo chân lý và
người già không
nên ngừng nghỉ.
Ðáng buồn thay,
sự tìm kiếm chân
lý có bị gián
đoạn. Con người
bị ràng buộc vào
quá nhiều bổn
phận hằng ngày
vì mục đích sinh
tồn, đến nỗi sự
tìm kiếm chân lý
có vẻ vượt quá
khả năng của họ.
Họ không còn đủ
năng lực hay ý
chí. Thật đáng
tiếc, khi người
trẻ không có đủ
trí tuệ để khám
phá ra sự thật
đằng sau mọi
việc, còn người
già thì không
còn đủ năng lực.
Như ông Bernard
Shaw đã nói: "Tuổi
trẻ bị lãng phí
bởi những trẻ
tuổi".
Ta không nên bao
giờ bỏ cuộc
trong việc tìm
kiếm chân lý, dù
chỉ một phút.
Nếu ta tiếp tục
cuộc kiếm tìm,
thì chẳng lâu
sau ta sẽ khám
phá ra rằng chân
lý không thể là
một sản phẩm của
loài người. Chân
lý phải có tính
cách toàn cầu.
Phải được áp
dụng cho tất cả
mọi người, không
phải cho một
loại người nào,
một tầng lớp xã
hội nào, một
giới tính nào
hay một quốc gia,
tôn giáo nào.
Chân lý phải dẫn
đến sự giải
thoát khổ đau
cho con người
tuyệt đối, mãi
mãi - không chỉ
tạm thời cho một
nhóm người nào
đó thôi.
Chân lý phải là
sự thật tuyệt
đối,chứ không
phải tương đối.
Chân lý tuyệt
đối nằm trên
những khổ đau và
kiếm tìm của con
người. Nó nằm
trong những cuộc
kiếm tìm của tâm
linh và chân lý
chỉ có thể tìm
được trên các
con đường tâm
linh. Chúng ta
sống trong một
thế giới tương
đối, hai chiều.
Nó có ngày mai
và hôm qua, tốt
xấu, anh và tôi,
họ và chúng ta,
tôi muốn và tôi
không muốn, tiềm
ẩn trong đó.
Trong đó có cá
tính "của tôi"
và cá nhân "của
tôi" mà "tôi"
muốn khẳng định
và "tôi" muốn
bành trướng.
Ðiều đó chỉ có
tính cách tương
đối và không
phải là chân lý
tuyệt đối, có
thể làm thỏa mãn
mọi người. Ai đó
phải chịu thiệt
thòi trong thế
giới đó. Chân lý
tuyệt đối bỏ qua
tất cả những thứ
đó. Hiểu được
rằng không có cá
tính và cá nhân,
ta sẽ nhận ra
rằng những gì
được coi là "tôi",
"của tôi" là một
sai lầm và những
gì là "anh", "của
anh" cũng là một
hiểu lầm đáng
tiếc. Không có
tha nhân để ta
lo ngại sợ hãi.
Tất cả chỉ là
một dòng chảy và
thể chất chiủ là
lớp vỏ bên ngoài.
Chân lý tuyệt
đối không hạn
chế cho một tôn
giáo nào. Nó có
tính cách toàn
cầu và có thể
kinh nghiệm qua
sự thực hành của
con người bát
chánh đạo. Sự
hoàn thiện các
đức tính này tạo
nên sức mạnh bên
trong ta, và để
phá vỡ sự thật
tương đối, tìm
ra chân lý tuyệt
đối, ta cần phải
có rất nhiều sức
mạnh.
8. Quyết
tâm
Hạt giống lành
chúng ta cần ươm
trồng kế tiếp là
sự quyết tâm,
không có quyết
tâm ta chẳng thể
thành tựu được
gì. Ngay cả việc
mỗi sáng thức
dậy cũng cần có
quyết tâm. Tuy
nhiên, có việc
đòi hỏi nhiều
quyết tâm hơn
các việc khác,
thí dụ như là
ngồi Thiền. Lúc
bắt đầu, đối với
đa số, ngồi
thiền không có
gì hứng thú, lại
khó chịu nữa.
Không hấp dẫn và
cũng không mang
lại kết quả tức
thời.
Chúng ta quen
sống trong một
thế giới của kết
quả tức thời.
Nhấn một cái nút,
tức thì các số
tiền mua sắm
được tổng cộng
ngay. Nhấn một
cái nút khác,
máy quạt chạy,
tạo ra không khí
mát mẻ. Nhấn một
nút nữa, đèn
được bật tối,
sáng. Tất cả đều
ngay lập tức. Xã
hội chúng ta hơn
bao giờ hết, đòi
hỏi các kết quả
ngay tức thời.
Ðó là lý do tại
sao các viên
thuốc giảm đau
được người ta ưa
thích hơn các
loại thuốc đông
y thường cần
thời gian lâu
hơn mới có công
hiệu.
Thiền định tuy
chậm nhưng là
một loại thuốc
đảm bảo. Muốn tu
Thiền, ta cần
phải có quyết
tâm, một đức
tính kiên cường.
Tâm yếu đuối
không thể có
quyết tâm. Nhưng
tâm mạnh mẽ,
định tĩnh thì
traí lại. Mỗi
khi ngồi xuống
tọa Thiền, ta
cần phải quyết
tâm ngồi một chỗ
không nhúc nhích,
để giữ tâm ở yên
một chỗ, để chú
tâm vào việc ta
đang làm.
Trong đời sống
hàng ngày, ta
cũng cần có
quyết tâm. Nếu
ta chỉ ngồi chờ
cơ hội, thì cơ
hội khó xảy đến
cho ta. Ta cần
phải làm một cái
gì đó. Phải có
quyết tâm bạn
mới đến Thiền
viện để học
Thiền, vì ở nhà
thì thoải mái
hơn rồi.
Tất cả chúng ta
đều có những
nghiệp thiện
trong ta. Ai
cũng biết điều
tốt xấu. Nếu
không, thế giới
này càng hỗn
loạn hơn thế nữa.
Tất cả chúng ta
đều có tính
quyết tâm, nhưng
ta không có trí
tuệ thậm sâu để
biết rằng những
đức tính này là
những người bạn
tốt của mình. Ta
phải cố gắng gần
gũi chúng, ấp ủ,
phát triển chúng
lớn mạnh trong
ta. Chúng ta là
những nguyên
liệu cần thiết
cho một đời sống
hạnh phúc, bình
an và không thể
thiếu trong sự
phát triển tâm
linh.
Ðó là tất cả
những gì cuộc
đời có thể mang
đến cho ta: sự
phát triển tâm
linh. Ngoài ra,
chỉ có những dục
lạc giả tạm nguy
hiểm vì chúng
lôi kéo ta vào
sự buông xuôi.
Khi ta đã hiểu
rõ ràng như thế,
thì quyết tâm sẽ
phát khởi để ta
đem sự phát
triển tâm linh
làm yếu chỉ
trong cuộc sống.
Ðể làm được điều
đó không cần
phải vào tu viện
hay ẩn náu ở
chốn hang sâu.
Ta có thể tiến
bộ hay tụt hậu ở
bất cứ nơi nào.
Tất cả những gì
xảy ra cho ta
đều có thể được
coi như giúp ta
tu học, dầu đó
là một căn bệnh,
chết chóc, sự ác
tâm của người,
mất tài sản,
thân thọ khổ,
hay mất tình yêu,
danh vọng. Sự
bám víu vào
người khác, lo
lắng cho họ cũng
cho ta một bài
học. Không nên
coi thường gì cả,
mà hãy xử dụng
mọi thứ để tu
học, phát triển.
Quyết tâm sẽ
phát sinh khi ta
nhận thức rằng
cuộc đời này
không có gì giá
trị để cho ta,
trừ sự phát
triển tâm linh
và giải thoát
cuối cùng. Không
cần phải thay
đổi cách sống
của mình, nhưng
cần phải thay
đổi thái độ,
hành động, nhận
thức về những gì
xảy ra quanh ta
và trong ta. Sự
quyết tâm đó
mang đến cho ta
hạnh phúc vì
trong quyết tâm
có niềm vui được
đi trên con
đường đạo. Như
thế quyết tâm tự
nạp năng lực cho
mình. Quyết tâm
bình thường đến
rồi đi, cần phải
có nhiều tranh
đấu để làm sống
lại một quyết
tâm. Nhưng khi
sự quyết tâm là
quyết tâm đi
trên con đường
tâm linh, nó
không cần phải
được tiếp tục
hồi sức. Nó
trường tồn vì nó
mang lại niềm
vui cho người có
quyết tâm.
9-10.
Tâm Từ và Tâm Xả
Hai đức tính
cuối cùng: tâm
Từ và tâm Xả,
bạn đã được nghe
nói đến nhiều.
Ðã được nhắc đến
ở những Chương
trước. Xả là
tình cảm đáng
được trân trọng
nhất. Nó giúp
đoạn diệt ảo
tưởng về Ngã.
Nếu ta không
thực biết rằng
chính Ngã chấp
đã tạo ra những
đau khổ trong
cuộc đời, thì ta
không thể thực
sự phát tâm xả.
Ta có thể đè nén
sự bực bội, lăng
xăng, nhưng ta
không thể có tâm
an bình. Căn bản
của xả là trí
tuệ và nội tâm.
Mười nghiệp
thiện này cần
được phát triển
đời này qua đời
khác, liên tục
cho đến khi
chúng đủ sức
mạnh để đưa ta
đến con đường
cao quí, con
đường giúp ta có
cái nhìn xuyên
suốt về Tứ Diệu
Ðế ngay tại
trọng tâm của
bánh xe Phật
pháp.
|
 |
|
|
 |
|
Top |
 |
 |
 |
|
|