|
 |
 |
 |
 |
|
Vô
ngã, Vô ưu
Ni sư Ayya Khema
Diệu Ðạo Việt dịch
Nguyên tác: "Being
Nobody, Going Nowhere"
Wisdom Publications, 1987 |

|
|
 |
|
|
Ngũ Uẩn
Khi
mới bắt đầu thực
tập thiền, ai
cũng rất phấn
khởi , "Tôi sẽ
thực tập thiền
thật tốt kể từ
hôm nay". Sau
vài ngày, khi đã
quen quen, thì
tâm bắt đầu suy
nghĩ: "Không
biết tu tập đến
chừng nào đây?
Biết bao giờ mới
chấm dứt?" Nó sẽ
chấm dứt , tôi
bảo đảm với bạn,
vì mọi thứ đều
phải chấm dứt,
không có gì vĩnh
cửu.
Khi tâm bắt đầu
bàn ra, ta cần
nhận biết điều
đó để tự nhủ:
"Ồ, tâm lại sắp
dở trò gì đây?".
Ðừng nghe theo
nó. Ta đã không
nghe nó khi đang
tọa thiền thì
tại sao lại phải
nghe nó lúc khác.
Có tọa thiền hay
không, tâm cũng
thích đùa cợt ta.
Mỗi khi tâm nói
những lời như: "Tôi
bỏ cuộc , tôi sẽ
chẳng bao giờ có
thể giác ngộ"
hay "Tôi tiến bộ
quá rồi, tôi có
thể nghỉ xả hơi",
thì ta phải trấn
an tâm bằng: "hãy
im đi tôi đang
hành thiền đây".
Vấn đề là ta
phải có quyết
tâm, kiên định,
là một trong
mười điều thiện.
Không có lòng
quyết tâm , ta
sẽ chẳng đi tới
đâu cả.
Không chỉ vậy ,
tâm còn biết bao
điều khác để nói.
Không được hưởng
dục lạc, tâm
muốn được tiêu
khiển bằng những
trò chơi khác.
Nó vẫn thường
được giúp vui,
bằng bao nhiêu
trò hấp dẫn. Nó
thường được
chuyện trò, đi
đó đi đây, xem
bao nhiêu cảnh
lạ, đi mua sắm,
chọn lựa những
thứ nó ưa thích.
Nó thường được
gặp, làm quen
với bao nhiêu
bạn bè mới. Còn
ở đây, toàn
những khuôn mặt
quen cũ. Không
có gì mới lạ,
không có gì đáng
bàn cãi, thảo
luận. Nó thường
được thưởng thức
bao nhiêu thức
ăn ngon và có
quyền chọn lựa
món mình thích.
Còn ở đây, chỉ
những gì được
dọn lên.
Tất cả những thứ
này làm tâm bực
dọc, vì nó vẫn
từng được mọi
thứ nó muốn. Cái
TÔI nói: "Tôi
muốn làm theo ý
tôi, không theo
ý ai cả". Chúng
ta đã quá quen
suy nghĩ như thế
đến nỗi ta chẳng
bao giờ ngừng
lại để suy xét
về thái độ này.
Nếu biết suy xét
ta đã thấy rằng
: đó là lòng ham
muốn, tham đắm.
Chính lòng ham
muốn đó sẽ đưa
ta đến khổ đau.
Không thể khác
hơn được.
Khi tâm bắt đầu
"dở chứng" ta
phải biết cách
đối trị tâm. Hãy
làm bà mẹ. Ðể
nói với tâm, như
một đứa trẻ đang
quấy rầy, rằng
bạn chỉ muốn
điều tốt lành
cho tâm, muốn
bảo vệ tâm và
bạn biết điều gì
tốt cho nó. Hãy
vừa làm người mẹ,
vừa là đứa con.
Thông thường ta
là năm mươi hay
cả trăm con
người khác nhau.
Nghĩ tốt, nghĩ
xấu, thương
người này, ghét
kẻ kia, tạo bao
lăng xăng lộn
xộn bên trong.
Và ở đây cũng
vậy, ta là mẹ,
mà cũng là con.
Ðứa con muốn tất
cả mọi thứ phải
chiều theo ý nó
, và người mẹ
khuyên lơn: "Không.
Ta phải làm cách
gì tốt nhất,
không hẳn là dễ
chịu nhất, nhưng
khôn ngoan nhất".
Lý do tại sao có
những khó khăn
này đã được Ðức
Phật giải thích
do sự bám víu
vào ngũ uẩn của
chúng ta. Là
những gì ta đã
được cấu tạo
thành. Ngũ uẩn ở
trong chúng ta.
Nhưng ta vẽ vời
thêm cho chúng.
Rồi tin vào
những điều đó
như thật theo
như ý muốn của
tâm.
1. Thân
(Sắc)
Cơ quan lớn nhất,
dễ nhận thấy
nhất của ngũ uẩn
là Thân (sắc).
Không ai không
có, và không ai
không khổ vì nó,
không lúc này
thì lúc khác. "Tôi
không ngồi được.
Ðầu gối tôi đau.
Lưng tôi mỏi.
Bụng tôi khó
chịu. Tôi chóng
mặt. Tôi mệt mỏi".
Ðức Phật nói kẻ
không giác ngộ,
không tu tập có
hai mũi tên làm
đau hắn, và
người giác ngộ,
tu tập thì chỉ
có một. Hai mũi
tên đó là Thân
và Tâm, và một
mũi tên là Thân.
Ðức Phật thỉnh
thoảng vẫn có
bịnh nhưng Ngài
vẫn tiếp tục
thuyết pháp.
Bệnh hoạn không
cản trở được
Ngài. Cuối đời,
Ngài bệnh rất
nặng, khi sắp
sửa ra đi. Ngài
nhập thiền định
rồi tịch.
Các đấng Giác
ngộ có tu tập
cũng không thoát
ra khỏi cái khổ
do thân gây ra.
Thân không hoàn
toàn và luôn
luôn bất như ý.
Ðối với người
không biết tu
khi bị bệnh, bị
ảnh hưởng bởi
căn bệnh, tâm họ
phản ứng bằng
cách kêu lên: "Tôi
không khỏe. Tôi
không thể làm
được điều này,
điều kia vì bệnh;
cơ thể tôi đau
nhức quá, tôi
không ngồi, nằm
hay đứng được,
..." hoặc bất cứ
thứ gì đã làm họ
đau đớn. Tệ hại
nhất là khi ta
phải thay đổi
tất cả các sinh
hoạt của mình
theo sự đòi hỏi
của thân. Có sự
thay đổi nào rồi
làm vừa lòng
thân không? Có
ai đã tìm ra
phương cách gì
để thân luôn cảm
thấy thoải mái
không? Bạn có
thể di chuyển
nơi này, nơi nọ,
thay đổi khí hậu,
dời từ ghế qua
giường, từ
giừơng xuống đất
, rồi trở lại
ghế. Có gì thay
đổi không? Tất
nhiên không. Lúc
nào cũng có vấn
đề. Nên tốt nhất
là cứ ngồi yên
trên gối thiền.
Thân này, một
trong năm uẩn,
có đặc tính là
vô thường, luôn
thay đổi. không
ai chối cãi điều
này, nhưng tính
vô thường mang
đến phiền não.
Nếu ta có thể
ngồi thoải mái
thì cũng năm hay
mười phút sau là
thân thấy khác.
Sự khó chịu đau
đớn lại phát
sinh. Ngay như
tối ngủ, nằm
trên giường êm,
thân vẫn không
chịu yên.
Vì thân mang
tính cách vô
thường , biến
đổi nên luôn có
sự va chạm. Sự
tuần hoàn của
máu, chuyển động
của phổi, tim,
hơi thở - tất cả
để duy trì sự
sống, nhưng mỗi
chuyển động gây
ra cọ xát, va
chạm. Ðâu có thể
nào khác hơn. Sự
chuyển động gây
ra những khó
chịu nhỏ. Càng
tỉnh thức, ta
càng nhận biết
rõ hơn các cảm
giác khó chịu đó.
Ta càng nhận ra
rằng khi nào còn
có thân là ta
còn có khổ. Dần
dần ta phải tập
bỏ quên thân,
không chạy theo
mọi đòi hỏi của
nó. Vì thân luôn
có những đòi hỏi
mới. Khi đã no
bụng, nó đòi
được bài tiết.
Xong lại đòi ăn.
Thân luôn đòi
hỏi và không bao
giờ chịu thỏa
mãn. Vì thân
luôn thay đổi,
nó cần cho vào ,
cho ra luôn, nếu
không nó không
thể tồn tại.
Ðức Phật luôn
nhắc nhở chúng
ta là con đường
đi đến giải
thoát là phải
biết quán sát
thân với chánh
niệm. Ngài nói
ai không biết
quán sát thân
bằng chánh niệm
sẽ không thoát
khỏi vòng sanh
tử. Ðiều đó
khuyến khích ta
buông bỏ không
chạy theo mọi
đòi hỏi vô lý
của thân, cũng
như giúp ta soi
rọi lại tâm để
thấy câu nói "Ðây
là thân tôi" là
vọng tưởng. Nếu
thật sự đây là "thân
tôi", nếu tôi
thật sự là chủ
thân này thì tại
sao thân không
làm theo những
điều tôi muốn nó
làm? Sao nó
không luôn trẻ
đẹp , mạnh khỏe?
Ngay cả khi trẻ
đẹp, mạnh khỏe,
tại sao thân có
những đòi hỏi ta
không thể thỏa
mãn được như
muốn luôn được
thoải mái? Tại
sao nó chết khi
ta còn muốn sống?
Cho nên hoặc là
tất cả đều đảo
lộn, hay là ta
đã có những quan
niệm sai lầm
trong tâm về
thân, Ngã, và sự
sống chết. Chúng
ta ai cũng tin
tưởng mãnh liệt
rằng thân này là
của ta. Nhưng ta
chẳng có thể làm
được gì với thân
ngoài việc luôn
thoả mãn các đòi
hỏi của nó. Cho
nó vào giừơng
khi nó mệt, cho
ăn khi nó đói,
cho uống khi nó
khát v.vẨTa bám
theo các đòi hỏi
của thân mà
không thật sự
làm chủ nó.
Chánh niệm giúp
ta chú tâm vào
các chuyển động
của thân, các
đặc tính của
thân, để dần dần
nhận rõ ra rằng
thân chỉ là một
tổ hợp của nhiều
thứ mà khi nào
còn có sự sống ,
chúng còn hợp
tác nhau làm
việc. Sự hợp tác
của các thành
phần này cũng
không phải là
luôn ăn khớp,
nếu không ta đã
không cảm thấy
đau nhức chỗ này,
chỗ nọ, và sự
hợp tác đó cũng
chỉ kéo dài một
khoảng thời gian
nào đó thôi.
Ta gọi thân này
là "của Tôi",
tạo ra ảo tưởng
của Ngã. Chúng
ta nghĩ là "Tôi
biết tôi ra sao
mà. Khi nhìn vào
gương, tôi thấy
"Tôi" và tôi
biết "Tôi". Vậy
mà nếu ta quan
sát kỹ hơn, ta
sẽ thấy có cả
ngàn "cái Tôi"
đủ kích cỡ, màu
sắc. Ðôi khi mập
hơn, đôi khi ốm
hơn, trước thấp
, sau cao, tóc
đen rồi tóc
trắng, lúc đau
khổ, lúc mừng
vui. vậy thì câu
hỏi sẽ là "cái
nào là Tôi?" Nếu
câu trả lời là "Tôi
là tất cả những
người khác nhau
đó" thì ít nhất
ta cũng nhận ra
rằng mình không
phải là một, mà
có thể là hàng
trăm ngàn người
như đã nói trước
đây. Ai trong số
cả trăm ngàn
người đó thực sự
là Tôi? Phải có
một người nào đó
thực sự để duy
trì "cái Tôi".
Không thể một
người mà là hàng
trăm người khác
có phải không?
Chúng ta có thể
nghĩ: "Tôi sẽ
chọn 'Tôi' ở
ngay lúc này".
Nhưng còn những
giây phút đó thì
sao? Mười năm
sau thì thế nào?
Luôn luôn ở giây
phút hiện tại,
đó là tôi. Cuối
cùng với cái Tôi
luôn thay đổi ta
trở thành khó
nhận diện nổi.
Vậy mà ta cứ
nghĩ thân này là
của tôi, và coi
nó quan trọng
xiết bao. Tất
nhiên là ta phải
chăm sóc thân
này. Nếu không
ta có khác nào
kẻ khờ. Nhưng để
thân làm chủ
cuộc đời ta thì
thật vô vọng, vì
thân chẳng bao
giờ biết thỏa
mãn. Cho tới giờ
lâm chung, thân
luôn đòi hỏi sự
thoải mái. Trong
các bài thuyết
giảng về nền
tảng của Chánh
niệm, Ðức Phật
có nhắc đến một
số phương pháp
thiền định có
thể giúp ta
buông bỏ sự bám
víu vào thân, ảo
tưởng chấp Ngã.
Phải có sự hài
hoà giữa bình an
và trí tuệ. Trí
tuệ là điều tiên
quyết và có thể
đạt được vô điều
kiện. Sự bình an
sẽ phát sinh khi
ta có khả năng
chú tâm. Nếu vì
lý do gì đó,
thân không thể
ngồi yên, thì sự
bình an, tĩnh
lặng cũng biến
mất và trí tuệ
đã không phát
sinh. Trí tuệ về
thân phải là một
phần, là trang
bị của con đường
tâm linh.
Cách quán thân
Ðức Phật đã dạy
chúng ta trong
các bài giảng về
chánh niệm gọi
là quán thây ma
hay cách quán về
cái chết của
chính mình. Ai
rồi cũng phải
chết, nên tốt
nhất là chúng ta
nên chấp nhận nó
ngay từ bây giờ,
chứ đừng đợi đến
khi nó xảy ra.
Hôm nay có thể
ta còn thấy sợ
hãi mỗi khi tim
ta đập sai nhịp
hay khi ta cảm
thấy không được
khỏe mạnh như
hồi còn trẻ. Một
trong những cách
quán về sự chết
là tự nhìn mình
như là một bộ
xương. Hãy tưởng
tượng ra một bộ
xương đang ngồi
trong tư thế tọa
Thiền. Kế tiếp
lấy từ bộ xương
ra những mảnh
xương nhỏ xếp
từng cái bên
nhau. Hãy để bộ
xương tan rã
thành cát bụi.
Phép quán này
làm tan đi những
mộng tưởng về
ngã và sự bám
viú vào thân xác
này.
Một trong những
yếu điểm của ta
là lòng ưa thích
được thoải mái
tấm thân. Chúng
ta không dám
thức khuya vì sợ
nó mệt. Lo bảo
vệ nó khỏi muỗi
mòng, khỏi thời
tiết nóng lạnh,
khỏi tất cả
những gì có thể
gây cho thân sự
khó chịu. Chúng
ta luôn bận rộn
bảo vệ thân và
mất quá nhiều
thì giờ quý báu
cho việc này.
Biết về cái chết
là một chuyện,
nhưng có thể
tưởng tượng ra
cái chết của
chính mình trong
đầu và chấp nhận
nó với tinh thần
xả bỏ là một
chuyện khác nữa.
Hãy thử phép
quán này trong
lần tọa Thiền
tới. Hãy quan
sát cái chết của
mình, và ghi
nhận các phản
ứng của mình. Có
thể phản ứng đầu
tiên sẽ là: "Không,
tôi không thể
thực hiện được,
tôi không muốn
làm điều đó" Hãy
cố gắng lên. Các
bài giảng căn
bản về chánh
niệm nổi tiếng
vì nó giúp ta
đạt được trạng
thái không còn
sanh tử, gọi là
giải thoát. Phần
đông chúng ta
thực hành Thiền
quán vì ta cần
tìm sự an bình,
tĩnh lặng. Vì ta
muốn trốn chạy
những phiền não,
tìm niềm vui
trong thiền định.
Tốt thôi. Nhưng
đó chỉ là một
khía cạnh của
Pháp. Ðức Phật
gọi đó là "hạnh
phúc thường hằng"
do những điều
kiện thuận lợi
mang tới. Tuy
nhiên có nhiều
người không thể
ngồi Thiền do
những điều kiện
của thân thể
không cho phép.
Có người đã bỏ
cuộc ra về, vì
tâm họ không
chịu được sự khó
chịu của thân.
Tất cả chúng ta
đều có thể phản
ứng như thế. Hãy
cẩn thận trước
khi nó xảy ra,
và sửa đổi bằng
cách nhìn thân
đúng hơn.
2. Cảm
thọ
Kế tiếp là Thọ
uẩn, gồm các cảm
giác vui buồn
của chúng ta.
Thọ uẩn cũng góp
phần quan trọng
về việc tạo ra
ảo tưởng về cái
Tôi, vì chúng ta
thường nghĩ rằng
các cảm giác là
Ta. Tôi cảm thấy
vui, cảm thấy
buồn, thấy bình
an, thấy bất an.
Tuy nhiên nếu
chúng là của ta,
thì sao ta không
có quyền hạn gì
đối với chúng cả?
Sao ta không thể
lúc nào cũng
được vui, được
hạnh phúc? Tại
sao không? Ai là
người có quyền
quyết định sự
vui buồn của ta?
Ảo tưởng về Ngã
chấp phát sinh
vì ta tin rằng
thân này, các
cảm thọ này là
của ta. Tuy
nhiên khi thật
sự quán xét về
chúng, ta thấy
rằng ta chẳng có
quyền hạn gì với
chúng cả. Mọi
việc chỉ xảy ra
như thế. Thì tại
sao ta nghĩ
chúng là ta? Khi
có cảm giác khó
chịu, buồn khổ,
bực bội, tuyệt
vọng thì ta trở
nên khó chịu ,
buồn bực, chán
nản, tuyệt vọng.
Chúng ta phản
ứng bằng cách
đeo bám vào các
cảm thọ, thay vì
chỉ nhận biết là
chúng đã dấy
khởi, rồi chúng
sẽ qua đi như
tất cả mọi cảm
thọ khác.
Ngay giây phút
ta có thể bỏ
qua, không chú
tâm đến các cảm
thọ vui buồn,
chán nản, tưởng
chừng không thể
chịu đựng được,
thì chúng sẽ
biến mất qua đi.
Nhưng thay vì
thế, ta lại tin
rằng những cảm
thọ này sẽ ở lại
với ta, để bị
chúng lôi cuốn
theo. Khi cảm
giác sân giận
dấy khởi, ta trở
nên sân giận,
thay vì chỉ nói:
"Ồ, đúng rồi đó
là cảm giác giận
hờn. Nó sẽ qua
thôi. Tôi sẽ
không để ý đến
nó". Sẽ không có
gì tạo ra cái
Tôi, nếu như
không có niềm
tin rằng: " Thân
này là tôi. Các
cảm giác này là
tôi ".
3. Tưởng
Kế tiếp là Tưởng
uẩn, có nhiệm vụ
cho ta biết về
các sự vật. Khi
mắt nhìn thấy
vật gì, nó chỉ
có thể nhận ra
hình dáng, màu
sắc. Mắt chỉ có
thể thấy là vật
đó vuông, trắng
ở phía trước,
phía sau đen.
Nhưng vì ta đã
nhìn thấy vật đó
nhiều lần trước
đây, ta biết đó
là cái đồng hồ.
Lúc đó trong đầu
ta sẽ nói "đồng
hồ" rồi nói tiếp
theo"không biết
đó là đồng hồ
nội hay ngoại,
có thể là ngoại
ở Úc chăng?
Không biết bên
đó giá bao nhiêu?"
Ðó là sự đối
thoại của tâm.
Nhưng nếu đó là
một em bé ba
tuổi, thì em
không thể biết
đó là cái đồng
hồ, mà tưởng
rằng đó chỉ là
một món đồ chơi.
Là những thứ em
bé đã quen thuộc.
Ðó là cái Tưởng
của bé về chiếc
đồng hồ.
Thị giác chỉ
nhìn thấy hình
thể, màu sắc,
nhưng chính là
cái Tưởng có
những điều kiện
của ký ức cho ta
biết việc này,
việc nọ. Người
không có đồng hồ
sẽ có thể nghĩ:
"Tôi muốn có một
cái như thế".
Trong khi người
có cái tốt hơn ,
sẽ có thể nghĩ:
"Cái của tôi giá
trị hơn nhiều".
Ngã chấp lập tức
dấy khởi, khẳng
định lòng ham
muốn hay cảm
giác hơn người.
Trên thực tế tất
cả chúng ta đều
thấy một cái hộp
vuông, trắng ở
phía trước, phía
sau đen. Nhưng
vì ảo tưởng về
cái Tôi, các
điều kiện hoá
cái Tưởng đã tạo
ra một quá trình
tư duy làm ta
tin rằng thế này
thế nọ. Vì chưa
bao giờ mổ xẻ,
quán sát sự suy
tưởng của mình,
ta tin vào đó.
Sự tin tưởng đó
của ta càng nuôi
dưỡng thêm lòng
chấp Ngã. Lúc
nào ta cũng suy
nghĩ vì ta cần
nuôi dưỡng ảo
tưởng về cái Ngã
của mình. Tự Ngã
rất mong manh,
nó sẽ ngã đổ nếu
không có sự tiếp
sức của ta. Khi
chúng ta luôn
thoả mãn những
đòi hỏi của thân,
và trở thành các
cảm thọ để nâng
đỡ cho ảo tưởng
về Ngã. Nhưng
nếu chúng ta có
thể quán xét các
cảm thọ và nói
rằng: "Ðó chỉ là
một cảm thọ",
thì ngã chấp đã
không được tăng
trưởng.
Tự Ngã luôn cần
được nâng đỡ vì
nó không có thật.
Ta không cần
phải luôn nói: "Ðây
là cái nhà. Ðây
là cái nhà to.
Ðây là cái nhà
cũ". Ðiều đó quá
rõ ràng vì cái
nhà có thật.
Nhưng tự Ngã thì
không , do đó nó
cần khẳng định
về nó luôn luôn.
Sự ủng hộ này do
quá trình tư duy,
cộng thêm các
giác quan, các
cảm giác được
thương , được
yêu, và cái
Tưởng của ta
mang đến.
4. Hành
Hành uẩn được
coi là nguyên
nhân của nghiệp.
Hành tạo ra
Nghiệp. Ngay
giây phút, ta có
tư tưởng suy
nghĩ, ta đang
tạo ra nghiệp
của mình. Nếu
như ai đó thấy
chiếc đồng hồ và
nói: "Ðó là cái
đồng hồ tôi
không có, ước
chi tôi có một
cái", lúc đó
nghiệp đã tạo
hình, đó là
nghiệp tham ái.
Hay có người nói:
"Cái đó đẹp quá.
Của tôi không
đẹp bằng" Ðó là
nghiệp ganh tị.
Ngay khi tư
tưởng dấy khởi,
thì một nghiệp
đó liền được tạo
hình. Có nghiệp
trung tính,
không có ảnh
hưởng gì. Như
khi người ta nói:
"Ồ, đó là cái
đồng hồ" đó là
một nhận xét
khách quan.
Nhưng phần đông
chúng ta đều tạo
nghiệp lành hay
nghiệp ác. Nếu
thấy một màu sắc
nào đó, ta có
thể nói: "Tôi sẽ
sơn nhà tôi cũng
màu đó", đó có
thể là trung
tính, không lành,
không ác. Nhưng
đằng sau đó, có
thể ta đã có một
ý muốn có được
cái nhà đẹp hơn
hàng xóm. Thì đó
không phải là
nghiệp lành.
Khi ta tin vào
tất cả những gì
đi qua tâm trí
mình, là ta đã
vô tình nuôi
dưỡng thêm lòng
chấp Ngã. Vì lẽ
đó khi tọa Thiền,
ta khó dẹp bỏ
hết mọi suy nghĩ.
Vì làm thế thì
sự nâng đỡ cho
Tự Ngã không còn.
Ngay như khi ta
có thể ngưng suy
nghĩ trong chốc
lát, và có được
sự an bình, tĩnh
lặng, lập tức tư
tưởng quay trở
về: "Cái gì vậy?
Ồ, cảm giác dễ
chịu quá". Vậy
là sự chú tâm
của ta bị gián
đoạn, lại phải
bắt đầu trở lại.
Vì ta suy nghĩ
không ngừng,
nghiệp của ta đã
được tác tạo
liên tục. Nào là
phán đoán, quyết
định, bám víu,
xô đuổi. Chỉ có
tâm chánh niệm
từng giây phút
mới có thể giúp
ta quán xét đúng.
Lúc đó ta sẽ có
thể biết mình
đang làm gì, và
không phải tin
vào tất cả những
gì trong đầu ta.
Trong khi tham
Thiền, ta có thể
thấy là hầu hết
những suy nghĩ
của ta đều không
chính đáng. Có
thể chúng quá
xưa cũ, đã qua
rồi hay chưa xảy
đến. Hay chỉ
thuần là tưởng
tượng. Phần lớn
các tư tưởng đi
qua trong đầu
thật sự không
dính dánh với
những gì ở quanh
ta. Tâm ta chỉ
chờ có chất xúc
tác nào đó, là
bám lấy để giở
trò đùa với
chúng ta.
5. Thức
Uẩn cuối cùng là
Thức, tức sự cảm
nhận của các
giác quan. Là sự
xúc chạm của các
giác quan. Mắt,
vật thể và thị
giác, tạo nên
cái nhìn. Tai,
âm thanh và cảm
nhận của tai,
tất cả tạo nên
cái nghe v.v...
Chúng ta luôn sử
dụng các giác
quan. Ngay bây
giờ các bạn đang
sử dụng thính
giác, thị giác,
xúc giác và tâm
thức. Thị giác
giúp bạn quan
sát sự vật quanh
mình, thính giác
giúp bạn nghe
được tôi nói, và
xúc giác giúp
được bạn biết
được vị trí chỗ
ngồi của mình.
Trong khi tâm
giải mã những
điều nó đã tiếp
thu được. Chúng
ta luôn cố gắng
tạo ra những
điều kiện, trạng
thái để các sự
xúc chạm sẽ đem
đến cho ta sự dễ
chịu. Nhưng chỉ
hoài công. Khó
thể có được
những cảm giác
xúc chạm hoàn
| |
| |
|