ất cả chúng ta
đều kiếm tìm
hạnh phúc, nhưng
rất ít người bắt
được. Hai điều
trong Tứ Diệu Ðế
của đức Phật đã
nói rằng hạnh
phúc thế gian là
ảo tưởng, vậy mà
ta chẳng bao giờ
từ bỏ hy vọng
tìm thấy nó. Tuy
nhiên điều đó
cũng không hoàn
toàn xấu, vì nếu
không có lòng
mưu cầu hạnh
phúc, ta sẽ trở
nên thối chí,
nản lòng khi
không thể tìm
được hạnh phúc
hoàn toàn.
1. Hỷ
lạc qua các Cảm
thọ
Ðức Phật nói về
bốn loại, bốn
cấp bực của hạnh
phúc. Thứ nhất
là dục giới, do
sự xúc chạm của
các giác quan
mang đến. Ðức
Phật ví đó giống
như một con bò
chỉ có da, trong
khi bọn ruồi đậu
thì cố tìm thịt
sống, nên luôn
tạo ra sự đau
khổ. Ðó là một
cái nhìn sâu sắc
về ngũ dục. Ðức
Phật cũng nói về
ngũ dục là
phương tiện đầu
tiên đem lại cho
ta hạnh phúc. Và
phần đông chúng
sanh trụ ở cấp
bậc này. Nhưng
không phải lúc
nào ta cũng nắm
bắt được dục lạc
ta tìm kiếm,
ngay như ta có
tìm được, thì nó
cũng đến rồi đi,
do đó không thể
có hạnh phúc
trường cửu qua
sự tiếp xúc của
sáu căn với sáu
trần. Khi sự xúc
chạm đem lại cảm
giác dễ chịu ta
thấy hạnh phúc.
Nhưng cũng có
những sự xúc
chạm, đem lại
khó chịu, khi cơ
thể ta không
được thoải mái
hay khi ta không
được nghe những
lời mát lòng mà
ta muốn được
nghe, không được
nếm những mùi vị
ta ưa thích, hay
ngửi phải mùi
hôi thối, hay
nhìn thấy những
cảnh ta không
thích. Không ai
thoát khỏi những
cảnh này. Không
ai có thể sống
mà không kinh
qua những xúc
chạm gây khó
chịu.
Nhưng cũng không
có ai đi qua
cuộc đời mà
không kinh qua
những cảm xúc dễ
chịu. Nếu có
nghiệp thiện ta
có 50-50 cơ hội.
Phân nửa thời
gian ta được
những xúc chạm
dễ chịu, phân
nửa không. Phần
đông chúng ta
tìm cách để tăng
thời gian của
xúc chạm dễ chịu
lên, và muốn
chúng xảy ra
100% lần, là
điều không thể
có. Không thể
nào có chuyện đó,
nhưng người ta
vẫn theo đuổi
chúng. Và lại
trách cho hoàn
cảnh bên ngoài
khi cảm xúc khó
chịu hay cảm
giác đau đớn dấy
khởi làm cho ta
đau khổ. Lý do
thật sự, dĩ
nhiên nằm bên
trong chúng ta,
vì chúng ta phản
ứng lại với các
cảm xúc.
Người càng trong
sạch càng có
nhiều lạc thọ.
Một tâm hồn
trong sáng sẽ
tìm thấy niềm
vui ở nhiều điều
nhỏ nhặt nhất.
Một ngày đẹp
trời, thảm cỏ
xanh, một cuộc
đàm thoại thú vị.
Người không
trong sạch có lẽ
chẳng để ý đến
thứ này. Có thể
họ chẳng bao giờ
biết ngắm bầu
trời đẹp hay một
thảm cỏ xanh. Có
lẽ họ đi tìm cảm
xúc ở những thứ
tầm thường hơn.
Rượu, thuốc
phiện, đồ ăn
ngon, gái đẹp,
có lẽ là những
thứ mang đến cho
lạc thú hơn.
Nếu các cảm xúc
thanh tao, vô
hại thì đâu có
gì là xấu. Tuy
nhiên Ðức Phật
cho rằng chúng
nguy hiểm vì ta
dễ biến chúng
thành mục đích
của đời sống,
con đường ta
phải theo đuổi,
ta cố gắng tìm
thêm, tìm thêm,
và chúng lại bên
ta mãi mãi. Ðó
chính là sai lầm
của ta, vì điều
đó không thể
thực hiện được.
Không có cảm thọ
nào vĩnh viễn cả.
Thật ra nếu
chúng vĩnh viễn
thì chưa chắc
chúng còn cho ta
những cảm giác
thích thú. Hơn
nữa cũng không
thể chắc là ta
có thể tìm được
các khoái cảm.
Việc tìm kiếm
làm chúng ta mất
thì giờ, sức lực,
ta sẽ không còn
thì giờ để làm
những việc có ý
nghĩa hơn.
Thân có các giác
quan. Ðiều đó
hiển nhiên. Tuy
nhiên, nếu có
chánh niệm, ta
có thể thấy rằng
các cảm giác dễ
chịu do sáu căn
mang lại đều là
của báu của
người ngu. Chúng
lấp lánh, nhưng
chẳng có giá. Ta
có thể nhìn ngắm
vẻ hào nhoáng đó,
nhưng chớ bám
víu vào chúng.
Vậy mà chúng
sinh vẫn cứ luôn
đau khổ vì không
thể có được
những gì do sáu
căn đem lại.
2. Hỷ
lạc của chư
Thiên
Hạnh phúc thứ
hai là hạnh phúc
như cõi Trời.
Nói thế không có
nghĩa ta phải là
thành thánh, hay
phải chết trước
đã, mới được vào
cõi Trời Dục
Giới. Ðiều đó xa
vời, không liên
quan gì đến đời
sống hiện tại
của ta. Nhưng
thật ra, người
đã vun trồng
được bốn đặc
tính cao quý (tứ
vô lượng tâm ):
Từ, Bi, Hỉ và Xả
sẽ được hưởng
niềm vui của cõi
Trời Dục Giới.
Thứ hạnh phúc đó
được so sánh
sống trong thiên
đàng ở cõi giới.
Thứ hạnh phúc đó
không tùy thuộc
vào ngũ dục mà
chỉ tuỳ thuộc
vào tâm ta. Ðiều
kiện duy nhất là
phải thanh tịnh
hoá tâm ta để có
thể chứa đựng
được từ, bi. Cả
từ và bi là hai
đặc tính của
trái tim, cũng
như thông minh
là đặc tính của
trí tuệ, chúng
có thể được vun
trồng, nuôi
dưỡng. Khi ta
đạt được những
điều đó, thì
hạnh phúc, an
lạc sẽ ở tại tâm.
Tha nhân cũng sẽ
được nhờ, nhưng
ta là người được
hưởng quả an lạc
trước tiên, vì
lúc đó tâm ta
hoàn toàn không
phụ thuộc vào
những gì xảy ra
quanh ta. Người
khác nói gì, làm
gì, chuyện gì
xảy ra hay không
xảy ra trên thế
giới này, đều
không ảnh hưởng
đến ta. Khi tim
ta được ươm
trồng thanh tịnh
với từ, bi thì
không có gì có
thể đụng chạm
đến nó. Có một
sự an lạc, hài
hòa, dễ chịu,
một cảm giác an
toàn luôn ngự
trị trong tâm
trí ta.
Niềm vui này
thanh cao hơn so
với niềm vui do
ngũ dục mang đến.
Tự nó không dẫn
đến sự giải
thoát, nhưng
chắc chắn nó là
hành trang cần
thiết trên đường
đến giải thoát.
Từ và Bi, tự
chúng không sinh
ra cái thấy bên
trong. Chúng chỉ
làm lắng dịu
những ngọn sóng
tình cảm. Khi
những làn sóng
của đau khổ,
buồn phiền, lo
âu, sợ hãi, ganh
ghét, tiềm, hối
hận, cuối cùng
lắng xuống thì
mặt nước sẽ
trong xanh,
không gợn sóng
giống như một
tấm gương, tấm
gương của tâm.
Tấm gương đó
giúp ta thấy mọi
việc rõ ràng.
Không có sự vun
trồng những tình
cảm tốt đẹp đó,
ta không thể
phát triển hơn.
Ta có thể hiểu
Pháp, nói Pháp
nhưng ta không
thể đoạn trừ đau
khổ. Những ngọn
sóng tình cảm là
vực chắn. Chúng
không chỉ ngăn
trở cái nhìn của
ta được dễ dàng,
mà còn che khuất
chính con đường
ta phải đi. Khi
còn u mê, mờ mịt
ta sẽ không biết
mình đang đi đâu.
Thậm chí có thể
quên rằng mình
đang dự vào cuộc
hành trình nào
đó.
An lạc ở cõi
Trời Dục Giới
không tùy thuộc
vào luân hồi,
sinh tử. Nó có
thể xảy ra ngay
ở đời sống hiện
tại. Ðó là sự tu
tâm và ai cũng
có thể tu được.
Không cần phải
khóa thiền nào,
hay phải là
người đặc biệt
gì, ai cũng có
thể làm được.
Ðây là một niềm
vui có thể tìm
thấy do chính sự
tu tập không
cầụn phải tìm
kiếm đâu xa.
3. Hỷ
lạc trong Ðịnh
Tâm
Niềm vui thứ ba
đến từ sự nhiếp
tâm trong thiền
định. Niềm vui
này cũng chỉ có
được khi ta
thanh tịnh há
hành động của
mình, đã có được
sự độ lượng,
lòng từ ái trong
tâm hồn. Nó cũng
không đòi hỏi ta
phải là người
hoàn toàn, chỉ
có bậc A la hán
mới được như thế.
Nó chỉ đòi hỏi
chút khoáng đạt
trong tâm.
Ngừơi tu thiền
thường tìm được
niềm vui như thế.
Nhưng ta cần
phải huân tập sự
chú tâm, thường
xuyên thực hành
tọa thiền để đạt
được sự lắng sâu
trong thiền định.
Có rất nhiều mức
độ của niềm vui,
thanh thoát, dễ
chịu khi thiền
định. Chúng giúp
cho tâm được an
lạc ngay cả sau
khi đã xả thiền.
Người mà có thể
lắng tâm trong
thiền định và
tìm được hỷ lạc
trong đó là
người có thể tìm
thấy niềm vui
ngay cả trong
những hoàn cảnh
bất như ý. Người
đó biết rằng bất
cứ lúc nào mình
cũng có thể được
sự an lạc của
trong thiền định.
Biết được như
thế, tạo cho họ
cảm giác dễ chịu
trong tâm vì
không có gì còn
là quan trọng
với họ nữa. Khi
một người có thể
nhập định lúc
nào họ muốn,
trong bao lâu
tùy họ, thì đó
là thực tại của
họ, không phải
những tranh
giành, cãi cọ,
chiến tranh,
tương lai, quá
khứ làm họ bận
tâm như bao
nhiêu người khác.
Những thứ đó
không còn quan
trọng đối với họ.
Thực tại trụ ở
trong niềm vui
của thiền định.
Nhiếp tâm hay
chánh niệm cũng
sửa soạn cho tâm.
Nó mang đến cho
tâm không những
chỉ khả năng
hạnh phúc, mà cả
khả năng duy trì
niềm vui đó. Tâm
có thể ổn định
theo ý mình, là
tâm kiên cố. Tâm
chúng sinh khó
ổn định. Nó luôn
dao động mà
không cần một
động lực nào tác
khởi, vì đó là
bản thể của nó.
Nó không đủ sức
mạnh để xuyên
qua bức tường ảo
tưởng. Trước bất
cứ trở ngại nhỏ
bé, hoặc một lời
chê bai nhẹ
nhàng, hay hơi
khó chịu của cơ
thể, tâm yếu
đuối như bún lập
tức tan thành
mảnh vụn. Nó còn
làm đựơc gì khác
hơn chứ?
Tâm kiên cố cứng
như đá tảng,
không thể lay
chuyển. Một tảng
đá kiên cố chắc
chắn là một dụng
cụ tốt hơn cọng
bún để đập bể
bức tường. Tâm
kiên cố sẽ không
lay chuyển trước
những khó khăn
nào. nó có đủ
sức mạnh để
xuyên qua thực
tại của cuộc
sống, tiến đến
một thực tại
tuyệt đối hơn.
Có tám mức độ
của sự nhiếp tâm
trong thiền định,
giống như tám
căn phòng trong
một ngôi nhà.
Nếu cuối cùng ta
có thể tìm được
đúng chìa khóa
để mở căn phòng
thứ nhất ở cửa
ngoài, thì không
có lý do gì ta
cũng không thể
đi vào những căn
phòng khác.
Không có gì khó
để tìm ra chìa
khoá và căn
phòng đầu tiên.
Chìa khóa là sự
chủ tâm và hơi
thở, và cánh cửa
phòng ngoài được
mở khi ta tiếp
tục hành thiền
với lòng kiên
trì và quyết tâm.
Ta sẽ không bỏ
nửa chừng "Ồ, đủ
rồi chân ta đã
đau rồi", hay "Có
ích gì?" hay "Cho
kiếp sau à?" hay
"Khó quá cho tôi",
hay bất cứ lý do
nào khác.
Ðức Phật dạy: -
Kẻ ngu thường
nói: "Sớm quá,
trễ quá. Nóng
quá, lạnh quá.
No quá, đói quá".
Cánh cửa đằng
trước mặt chỉ
chờ ta mở ra. Ta
lại có chìa khoá.
Và ta chỉ cần
tra chìa khoá
vào ổ khoá. Khi
cửa mở ta sẽ
thấy các phòng
đều hoành tráng.
Sự hoành tráng ở
ngay trong tâm
trí ta nhưng
hiện giờ nó còn
bị khóa. Ta sẽ
không thể mở
khoá nếu như ta
không biết tu
thiền. Nhiều
người không bao
giờ có thể mở
được khóa vì họ
không biết chìa
khoá là gì hoặc
không biết có
một cửa vào như
thế. Chúng ta
rất may mắn được
biết lối vào, và
có thể cửa đã hé
mở cho ánh sáng
tràn vào.
Khi sự nhiếp tâm
đã được kiên
định một thời
gian, tâm sẽ trở
nên trong sáng,
và thân thanh
tịnh. Mỗi giây
phút nhiếp tâm
là mỗi giây phút
thanh tịnh.
Những ô trược mà
ta thường đắm
chìm, mang lại
cho ta bao đau
khổ, phiền não
được gạt sang
một bên trong
thiền định. Càng
có cơ hội để gạt
chúng sang một
bên, chúng càng
khó thể trở
thành thói quen
của ta. Ta càng
thường có thể
nhiếp tâm, ta
càng dễ lãng
quên chúng. Lúc
đó việc đạt được
một tâm trong
sạch, xán lạn
chỉ là việc dễ
dàng thôi.
Sự nhiếp tâm bắt
đầu bằng những
cảm giác dễ chịu.
Những cảm giác
này dấy khởi vì
tâm ở trong
trạng thái đó
không bị quấy
nhiễu. Ðiều này
chứng tỏ cho
chúng ta thấy là
nếu ta không
phiền não, và
giữ được tâm
luôn trong sáng,
thanh tịnh thì
ta luôn có những
cảm giác thoải
mái dễ chịu.
Ở đây ta biết về
những thành quả
ta có thể đạt
được, điều đó
làm ta muốn được
ở trong trạng
thái đó lâu dài.
Niềm mong ước
lành mạnh, lợi
ích dần dần đưa
ta đến trạng
thái không còn
mong cầu, do đó
không còn đau
khổ thất vọng.
Sự nhiếp tâm bắt
đầu bằng cảm
giác dễ chịu,
rồi dần dần đưa
ta đến trạng
thái an lạc,
hạnh phúc. Ðiều
này chứng tỏ một
lần nữa là tâm
thanh tịnh chỉ
biết có an lạc.
Khi có phiền não
thì có ô trược.
Hai thứ này đi
với nhau như
hình với bóng.
Người an lạc
không mong đạt
được hạnh phúc
qua các căn trần
vì họ biết chúng
rất ngắn ngủi.
Người hạnh phúc
thật sự là người
luôn an lạc mà
không phụ thuộc
vào ngoại cảnh.
Người như thế sẽ
dễ dàng nhiếp
tâm thiền định,
để tìm cho tâm
mình một chỗ an
trú thanh tịnh,
không còn phiền
não dấy khởi.
còn phiền não là
do tâm ta còn
chưa thanh tịnh.
Khi có phiền não
dấy khởi, nếu ta
nghiệm xét sẽ
thấy rằng do có
sự ô trược ngầm
ẩn chứa trong
tâm. Nếu không
tìm ra được điều
đó, thì do ta
chưa thật sự soi
xét lại mình.
Khi ở trong
thiền định, tâm
không còn bị năm
chướng ngại quấy
nhiễu. Khi các
cảm giác dễ chịu,
an lạc dấy khởi
thì tâm hỉ, xả
cũng theo sau.
Xả bỏ đưa đến
cảm giác không
còn ham muốn
điều gì. Có
người còn có cảm
giác mình hoàn
toàn không còn
tham ái dục nữa
nhưng đó chỉ là
ảo giác. Dầu gì,
ít ra trong
những giây phút
đó, lòng ham
muốn bị cũng bị
hoại diệt.
Ðó là một kinh
nghiệm qúy báu
khi đạt đến
trạng thái không
còn tham dục. Ðó
là một niềm hạnh
phúc tuyệt đối.
Một hạnh phúc
đáng kiếm tìm.
Khi đã kinh qua
kinh nghiệm đó,
ta sẽ biết được
mình phải theo
đuổi điều gì.
Không phải là
theo đuổi để
được việc gì. Mà
theo đuổi để cởi
bỏ hết mọi thứ.
Ðây là điều
nhiều người đã
lầm tưởng một
cách khá buồn
cười. Khi mới
bắt đầu tọa
thiền, ta mong
tìm được an bình,
vui vẻ, hạnh
phúc tuyệt vời,
là những điều ta
chỉ có thể có
được khi ta đã
buông bỏ những
thứ khác. Như
Chấp ngã và Tham
dục.
Khi ta đã được
nếm - dầu chỉ
trong giây phút
- niềm hạnh phúc
tuyệt vời của
lòng không tham
dục, ta biết
mình phải làm gì.
Không phải để
đuổi theo sự hỷ
lạc, mà cái ta
cần ươm trồng
chính là sự cởi
bỏ, buông xả.
Không có sự
buông xả, đời
sống là một
chuỗi dài của
ham muốn. Sự
buông xả là câu
trả lời cho mọi
chứng bịnh đạt
thành tích; dầu
trong thế gian
hay trong đời
sống tu hành. Cố
gắng để đạt được
cái gì đó trong
đời sống tu hành
thì cũng mê muội
như cố gắng đạt
được điều gì
trong đời sống
thế gian. Không
có gì cần đạt
được. Chỉ cần
tập buông xả.
Càng cởi bỏ
nhiều ràng buộc
với chấp ngã,
lòng ham muốn và
những thứ tương
tự, thì hạnh
phúc tuyệt vời
càng dễ đến hơn.
Niềm an lạc do
thiền định mang
đến dựa vào sự
thanh tịnh. Cũng
vậy, trong đời
thường, nếu ta
biết gieo trồng
thanh tịnh, thì
ta cũng sẽ được
an vui. Tuy các
cảm giác dễ chịu,
an lạc, xả bỏ
trong thiền định
thâm sâu hơn các
lạc thọ thế gian,
nhưng trước hết
ta phải thanh
tịnh trong đời
thường, rồi ta
mới có thể tìm
được sự thanh
tịnh trong thiền
định. Chúng đi
đôi với nhau. Ta
càng khó tìm
được cảm giác dễ
chịu khi tham
thiền, thì ta
càng phải nỗ lực
thực tập thanh
tịnh hoá thân
tâm hơn.
Niềm vui trong
thiền định được
coi là thành quả
tối ưu mà ta có
thể đạt đựơc. Ðó
là một sai lầm
vì niềm vui đó
cũng chỉ tạm
thời, mà không
hoàn toàn độc
lập, hay vô điều
kiện. Có nhiều
điều kiện kèm
theo như là:
phải có nơi yên
tịnh, thân thế
phải khỏe mạnh
để có thể ngồi
yên, và có khả
năng nhiếp tâm.
Dầu niềm vui này
không phụ thuộc
căn trần bên
ngoài, nó vẫn
còn phải tùy
thuộc vào các
điều kiện của
thân, tâm. Niềm
vui đó chưa phải
là tuyệt đối.
4. Hỷ
lạc qua Tuệ Minh
Niềm hạnh phúc
thứ tư ở cấp bậc
cao nhất, là
niềm vui của nội
quán, tuệ minh.
Tuệ minh trong
ngôn từ Phật học,
được dùng khi
nói đến sự hiểu
biết về Vô
thường, Phiền
não và Vô ngã.
Nếu ta có thể
thấy rõ được bản
tánh của một
trong ba đặc
tính này, thì ta
biết tất cả, vì
chúng liên hệ
nhau.
Niềm hạnh phúc
tuyệt vời của
kiến tánh có
nghĩa là ta đã
dẹp bỏ được chấp
ngã. Khi ta có
thể buông bỏ cái
tôi, thì ta sẽ
nhẹ nhàng giải
thoát xiết bao.
Ramana Maharshi,
một hiền triết ở
miền Nam Ấn Ðộ,
so sánh những
vọng tưởng về
Ngã chấp giống
như một người
hành khách trên
tàu hỏa. Ðã bước
vào toa rồi,
người ấy cứ ôm
chặt các hành lý
trong tay, thay
vì bỏ các hành
lý vào chỗ để
hành lý. Cũng
thế, dầu không
cần thiết, ta
luôn mang mớ
hành lý nặng nề
của Ngã chấp
theo bên mình.
Những vọng tưởng
về Ngã chấp làm
ta thấy mọi việc
có vẻ đe dọa,
tấn công ta, họa
hoằn lắm thì bảo
vệ ta, nhưng khó
đối trị, như
ngọn núi ta phải
vượt qua. Nó làm
cho cuộc đời
thêm khó khăn.
Các món phiền
não, ô trược là
lòng ham muốn,
sân hận, yếu
đuối, lo âu, càn
bướng, bám víu
và quan điểm
riêng của mình.
"Khi ta hoàn
toàn buông bỏ
các quan điểm, ý
kiến của mình,
ta có thể nhìn
thấy bản vẽ của
mọi vật rõ ràng
hơn", đó là đức
tính của bậc A
la hán. Với
chúng ta các
quan điểm, ý
kiến chính là sự
thất bại của ta.
Khi ta bắt đầu
bảo vệ quan điểm,
ý kiến của mình,
thì thực ra ta
đang bảo vệ cho
cái tôi của mình.
Sự tranh cãi về
một quan điểm
cho ta thấy rằng
quan điểm đó
không được thiết
lập dựa trên
kinh nghiệm. Vì
người ta không
cần bào chữa cho
kinh nghiệm.
Giáo lý của Ðức
Phật dựa trên
kinh nghiệm mà
có. Trong khi
các quan kiến
thì lại dựa vào
Ngã chấp. Các
quan kiến nầy
đều không phải
là sự thật tuyệt
đối.
Nhìn thấy rõ
ràng tất cả
những thăng trầm,
biến đổi của vạn
vật, trong đó có
bản thân chúng
ta, giúp ta thấy
rằng không có gì
trong cõi đời
này đáng gìn giữ,
bám víu. Nhờ có
kiến tánh, ta
không chống báng
quan điểm của
ngừơi khác,
tránh nẩy sinh
ra bao nhiêu
phiền phức trong
cuộc đời. Mỗi
người có quan
điểm riêng của
mình. Không có
gì tốt hơn là
chúc phúc cho họ
thay vì tranh
cãi. Sự bám viú
vào quan điểm
của mình cho
thấy là ta vẫn
chưa hiểu rõ
tính cách vô
thường của sự
vật. Nếu hiểu rõ
đượĩc sự vô
thường, ta sẽ
không nói " Tôi
thế này, tôi thế
nọ" để có thể
xem xét sự việc
cẩn trọng hơn.
Tôi là ai? Tôi
có phải là ngừơi
sáng hôm qua
được thiền định?
Hay là người
sáng nay tọa
thiền mà cứ lo
ra? Là kẻ có tâm
nghi hoặc hay
người hết lòng
tin tưởng vào
Phật Pháp? Người
nào là Tôi? Hay
Tôi là tất cả
những người ấy?
Nếu thế, Tôi
thật là hỗn tạp.
Tôi phải là
thiên hạ, chứ
không phải một
người. Vậy thì
ta phải chọn lựa:
Tôi là Tất cả
hay là Không?
Nếu không nhận
là Không thì
phải là Tất cả.
Thử tưởng tượng
cả trăm ngàn con
người khác nhau
trong một con
người. Nói thế
không phải là
khuếch đại đâu,
trong suốt cuộc
đời ta đã có
hằng triệu tư
tưởng, ý nghĩ,
cảm giác, quan
điểm, phản ứng
khác nhau, đó là
chỉ một cuộc đời.
Nếu ta chọn làm
tất cả thì cuộc
đời ta sẽ phức
tạp, đau khổ hơn
nếu ta không là
ai trong họ cả.
Vậy thì tại sao
không chọn cái
Không?
Tuệ Minh không
dung chứa Ngã
chấp. Tại sao?
Vì "cái Tôi"
muốn hiện hữu.
Muốn được là gì
đó. Là gì? Là ai?
Ở đâu? Ðể làm gì?
Tất cả chỉ là
các quan điểm,
được điều kiện
hoá qua quá
trình