Chướng Ngại
Phần
lớn chúng ta đều
nghe danh hiệu
Ma Vương, đều
biết nó bằng
cách này hay
cách khác. Nó
chính là sự cám
dỗ. Nó cám dỗ
chúng ta vào các
con đường tội
lỗi. Ma Vương
đến khi Ðức Phật
ngồi dưới cây bồ
đề tĩnh tâm tìm
sự giải thoát.
Rõ ràng Ma Vương
không phải là
hình ảnh của lũ
quỷ với lửa đỏ
tuôn tràn ra hai
lỗ tai, lôi kéo
ta xuống địa
ngục. Ma Vương
là sự cám dỗ
đang ngự trong
lòng ta. Nếu Ma
Vương có thể đến
quấy rầy Ðức
Phật trước khi
Ngài nhập Niết
bàn - dấy khởi
cám dỗ trong
lòng Ngài - thì
kể gì đến chúng
ta?
Ðiều khác biệt
là Phật biết đó
là Ma Vương - Sự
cám dỗ. Ngài
biết, trong khi
chúng ta thì
không. Chúng ta
lý giải và biện
hộ cho nó. Tôi
đã nhìn thấy
những dòng chữ
dán trên một
chiếc xe hơi như
sau: "Cái gì đem
lại cho ta sự
thoải mái cái đó
đúng". Nhưng có
bao nhiêu điều,
bao nhiêu thứ
đem lại khoái
lạc cho ta mà
hoàn toàn sai,
có người coi
việc sát hại
người khác là
niềm vui.
Sự cám dỗ trong
lòng ta là ô
trược của chính
chúng ta, chúng
ẩn nấp ở đó để
sẵn sàng tạo ra
thêm tội lỗi. Vì
chúng ta không
thích nhận tâm
thân ta ô uế cần
được tẩy sạch,
ta tìm đủ mọi lý
lẽ để biện hộ
cho các hành
động của mình: "Tôi
cũng có quyền
được hưởng thụ
chứ", "Ðó là
điều tôi ước
muốn, nên hẳn là
tôi rất cần".
Sự cám dỗ có thể
nói là luôn có
mặt trong ta,
nhưng vì không
nhận ra nó, ta
luôn ở trong
tình thế bối rối,
khó xử. Ta luôn
bị nó lôi kéo
vào thứ này, thứ
kia. Thí dụ ngay
bây giờ: ta biết
tốt hơn hết là
ngồi đây nghe
Pháp, nhưng cám
dỗ bảo: giấc ngủ
cũng tốt vậy?
Nếu không có
người chung
quanh chắc là ta
đã trèo lên
giường ngủ rồi.
Ma Vương luôn kề
cạnh bên ta. Nó
kêu gọi ta làm
những gì mang
lại sự thoải mái,
khoái lạc, mà
không nhận ra
rằng tất cả các
khoái lạc do ngũ
dục mang đến chỉ
tạm thời, không
thực có.
Ðức Phật bảo
rằng có 5 trạng
thái tình cảm là
kẻ thù của mọi
người: năm
chứơng ngại hay
năm triền cái.
Tất cả chúng ta
đều có, tất cả
chúng ta đều bị
chúng cám dỗ.
Hai trạng thái
đầu là tồi tệ
nhất, đem đến
những hậu quả
trầm trọng nhất.
1. Ái
dục
Kẻ thù đầu tiên
là ái dục. Là kẻ
thù khó nhận
diện nhất vì nó
được chấp nhận
rộng rãi trong
xã hội. Tất cả
các mục quảng
cáo, trên truyền
hình, trong các
cửa hiệu, các
cửa kính đều
nhắm vào lòng
khơi dậy ham
muốn trong ta.
Thật vậy con
người càng thỏa
mãn được các ham
muốn có xe to,
nhà mới, quần áo
đẹp, họ càng
được xem là
thành công trong
xã hội. Vì việc
thỏa mãn các ham
muốn đem lại
những sung sướng
nhất thời, nó
làm ta lầm tưởng
nó là điều tốt.
"Ðiều gì đem lại
cho ta sự thoải
mái, điều đó hẳn
là đúng". Nó có
hào quang giả
tạo của nó.
Không ai trách
được người luôn
cố gắng để thoả
mãn ham muốn của
họ. Chính chúng
ta còn chưa biết
mình đang làm gì.
Thật kỳ lạ khi
con người hoàn
toàn không biết
mình đang làm gì.
Với kẻ thù thứ
hai - sân hận -
thì trái ngược.
Nó luôn bị trách
móc. Nó không
mang lại lạc thú
gì. Mọi người
đều chối bỏ nó.
Tuy rằng đôi khi
chúng ta cũng
tìm cách biện hộ
cho nó. "Tôi tức
giận vì cô đó,
anh kia, họ...
làm những chuyện
đáng giận quá".
Nhưng Sân không
được xã hội chấp
nhận, nó không
đem sự thoải mái,
do đó nó không
tạo ra ảo giác
nó là điều tốt.
Sân hận, ghét bỏ,
oán giận, sợ hãi,
bứt rứt, thảy là
phiền não, và
người có tánh
hay giận dữ
thường bị kẻ
khác phiền trách.
Lòng ái dục khi
được thỏa mãn ít
nhiều gì cũng
mang đến cho ta
sung sướng khoái
lạc. Dù vậy nó
cũng là kẻ thù
đáng ghê sợ như
sân hận. Chúng
chỉ là hai mặt
của một đồng
tiền. có thứ này
thì phải có thứ
kia đi kèm theo.
Dục vọng dấy
khởi những ham
muốn thường khó
thoả mãn được.
Chúng ta không
thể có tất cả
những gì ta muốn.
Càng có nhiều
ham muốn, càng
dễ bị thất vọng.
Từ đó người ta
trở nên sân hận
vì không thể có
được điều mình
ước muốn. Không
ai lúc nào cũng
có thể thoả mãn
hết tất cả các
ước muốn của
mình. Ðiều đó
thật là không
tưởng.
Ái dục và sân là
hai kẻ thù gây
nhiều khốn khó
cho chúng ta
trong đời sống
hàng ngày cũng
như gây nhiều
trở ngãi cho
việc tu Thiền
của ta. Nếu có
ai đó tự hỏi -
mà tôi chắc là
có rất nhiều -
tại sao họ
thường gặp trở
ngại khi tu
thiền, nhất là
với người mới tu
tập, thì đây là
những lý do.
Dục vọng là kẻ
nói "Tôi thích
ngồi thoải mái
hơn". Dục vọng
là kẻ nói: "Tôi
muốn đi ngủ".
Dục vọng là kẻ
nói: "Tôi muốn
chuyện vãn. Tôi
thích đi dạo một
chút. Nóng quá.
Tôi phải đi tắm.
Ðói quá. Tôi cần
ăn môt thứ gì đó.
Khát quá. Tôi
phải uống gì đó.
Tôi khó chịu quá,
làm sao ngồi
thiền". Ðó là
tiếng nói của
dục vọng, lúc
nào cũng đòi hỏi
thứ này thứ nọ.
Dục vọng sẽ
ngưng đòi hỏi
khi kinh nghiệm
thiền định sẽ
mang lại cho ta
nhiều thích thú
hơn sự thỏa mãn
các dục vọng.
Khi Thiền định
mang đến hạnh
phúc và sự tĩnh
lặng. Lúc đó các
dục vọng sẽ biến
mất khi ta ngồi
thiền, không
phải là mãi mãi,
mà chỉ là trong
khoảng thời gian
ngắn đó.
Vì khi sinh ra
chúng ta đã có
các giác quan,
nên ta muốn nuôi
dưỡng chúng.
Giống như ta
muốn nuôi dưỡng
thân. Nếu không,
ta sẽ bệnh.
Trước khi các
nhà phi hành đầu
tiên được gởi
lên phi thuyền,
một trong những
phương pháp được
dùng để huấn
luyện họ ở Mỹ là
một căn phòng
nơi đó không có
sức hút nên
không có xúc
giác. Phòng cách
âm và không có
gì để nhìn. Mọi
thứ đều có màu
xám. Những món
đồ ăn vô vị được
chuyển tới bằng
những ống dẫn.
Họ được dặn là
khi nào không
chịu đựng nổi
nữa, họ có thể
rung chuông ra
hiệu. Hình như
người chịu đựng
lâu nhất là tám
tiếng.
Thực phẩm sẽ
ngon hơn nếu có
sự kích thích
của các giác
quan, ta đã quen
như thế. Sự quen
thuộc bám víu
này tạo cho ta
cái ảo giác rằng
đây là điều tối
hệ trọng, đây là
hướng ta phải
theo - nhìn cảnh
đẹp, nghe những
âm thanh dễ chịu,
nếm mùi vị ngon,
ngửi mùi thơm,
những xúc chạm
mang đến sự dễ
chịu và nghĩ đến
những điều làm
ta thích thú.
Một cách sống
như thế - và tất
cả những người
chưa được nghe
pháp, không tu
tập thiền đều
vướng phải -
không thể mang
đến thành công.
Ðó là châu báu
của kẻ dại khờ.
Nó nhấp nháy
sáng nhưng nó
chẳng có giá trị
gì vì nó quá
ngắn ngủi.
Hãy tưởng tượng
bạn được ăn một
buổi thật ngon,
bạn tấm tắc: "Ngon,
thật là ngon".
Một ngừơi bạn
nói: "Nếu ngon
vậy, xin mời bạn
cứ tiếp tục ăn.
Bạn có thể ở đây
ăn đến sáng hôm
sau". Lúc đó cái
ngon thành khổ
thân khổ tâm.
Một bữa ăn dù
ngon mấy chỉ có
thể thưởng thức
trong 20 hay 25
phút là cùng.
Cũng vậy, vào
một ngày nóng
nực bạn muốn
được tắm mát.
Khi được tắm bạn
thích thú nói: "Tuyệt
quá. Tôi thấy
mát mẻ dễ chịu
làm sao". Lúc đó
người bạn lại
nói: "Nếu thế,
sao bạn không ở
trong đó thêm 5
hay 6 tiếng nữa?"
Nếu làm thế thì
hành xác còn gì.
Không ai muốn
làm thế. Mười
phút, mười lăm
phút tắm là cùng.
Ðối với tất cả
mọi ham muốn
khác cũng thế.
Sự thích thú sẽ
biến mất khi nó
được kéo dài ra.
Nó biến thành
cực hình. Vậy mà
tất cả chúng
sanh đều chạy
đuổi theo các
lạc thú ngắn
ngủi đó. Người
ta tìm lạc thú
trong rượu,
nhưng khi say
rượu làm sao còn
có được cảm giác
vui thú nào. Tất
cả những hạnh
phúc con người
tìm kiếm qua
thỏa mãn các
giác quan của
mình đều dần đến
sự thất bại. Các
cảm giác chỉ là
sự biểu lộ cụ
thể của các giác
quan có cảm giác
như tai, mắt,
mũi, lưỡi, thân.
không có gì đặc
biệt về chúng,
không có gì tội
lỗi hay không
tội lỗi. Các cảm
giác không tạo
ra nghiệp tốt
hay xấu. Nghiệp
xấu được tạo ra
bên trong ta khi
tâm muốn duy trì
hoặc tìm lại các
cảm giác khoái
lạc.
Có người tìm các
cảm giác khoái
lạc qua các hành
động như uống
rượu, hành hung
người khác, hút
sách, tình dục.
Ðây là những
khoái cảm thấp
hèn tội lỗi. Kẻ
khác lại tìm cảm
giác thích thú
trong việc ngắm
hoa, nhìn mặt
trời lặn, nghe
âm nhạc. Ðây
cũng là lạc thọ
nhưng cao thượng
hơn.
Khổ đau dấy khởi
khi ta muốn
chiếm hữu, giữ
chặt, hưởng thụ
các cảm giác
khoái lạc đó mãi.
Khi nhìn thấy
một bông hoa đẹp,
ta thường muốn
ngắt hái cho
riêng mình. Sao
không để chúng
đó cho mọi người
ngắm nhìn? Không.
Tôi muốn chiếm
hữu tất cả những
gì đẹp đẽ.
Khi con người
biết sống thanh
cao hơn, các
cách hưởng thụ
cũng sẽ cao đẹp
hơn. Một cảm
giác hưởng thụ
có thể rất bình
thường, nhưng nó
trở nên nguy
hiểm khi đi đôi
với lòng ham
muốn. Sự ham
muốn - lòng khao
khát - mang đến
phiền não vì
lòng ham muốn
không bao giờ có
thể được thỏa
mãn. Chúng ta
luôn cảm thấy
thiếu thốn. Lúc
nào cũng có cái
đẹp hơn để nhìn,
nhiều điều hay
hơn để nghe, để
xúc chạm. Lúc
nào cũng có một
cái gì khác để
ta chạy đuổi
theo. điều này
khiến ta trở nên
chộn rộn, bứt
rứt vì ta chẳng
bao giờ được
hoàn toàn thỏa
mãn.
Khi trong lòng
ta không được an
bình, ta đổ lỗi
cho hoàn cảnh
quanh ta. Ta
nghĩ phải có một
cái gì đó tuyệt
diệu hơn cần
được khám phá.
Vì thế ta đi
khắp thế giới để
tìm kiếm. Một
việc chẳng khó
khăn gì hiện
nay. Chỉ cần cái
vé máy bay.
Người ta đi đó
đi đây để tìm
những xúc cảm
mới, cảnh vật
mới, kinh nghiệm
mới. Thu thập
kinh nghiệm đã
trở nên một
phong trào.
nhưng rồi ta
cũng không vừa
lòng, vì kinh
ngiệm nhanh
chóng qua đi.
Không có kinh
nghiệm gì còn ở
lại. Tất cả đã
qua. Tất cả đã
thành ký ức,
không có gì có
thể được lưu giữ.
Sưu tầm tem thư
có lẽ còn ích
lợi hơn là lưu
trữ kinh nghiệm.
Ái Dục đã được
Ðức Phật ví như
mắc nợ. Nếu bạn
mua nhà, bạn vay
tiền ngân hàng,
mỗi tháng bạn
phải đến đó trả
tiền vay và tiền
lãi. Nhưng với
nợ nhà, dần dần
ta còn trả hết.
Chứ với dục vọng
không có chuyện
sẽ dứt nợ. Dục
vọng dấy lên
tiếp, tiếp nhau.
Chẳng bao giờ
dứt. Ta luôn đói.
Luôn khát. Ta
luôn muốn được
nhìn, nghe, nếm,
xúc chạm thêm
lên nữa.
Ðức Phật cũng ví
nó với một người
lữ hành không
phương hướng.
Anh ta đói khát.
Nhìn thấy trước
mặt là một ngôi
làng, mừng rỡ,
anh thầm nghĩ
"Ồ, kià có ngôi
làng để ta xin
đồ ăn thức uống".
Nhưng khi đến
nơi đó chỉ là
một ngôi làng
hoang vắng. Anh
lại tiếp tục
kiếm tìm. Lại
một ngôi làng bỏ
phế nữa.
Lòng hy vọng và
ước đoán về việc
thỏa mãn các dục
vọng làm dục
vọng thêm hấp
dẫn. Nhưng khi
đã thỏa mãn tất
cả đã qua đi,
ham muốn khác
lại dấy khởi lên.
Ðức Phật cũng so
sánh dục vọng
như một cái hồ
với nhiều màu
sắc được trộn
vào đó. Lòng
khao khát dục
vọng hiện ra
dưới nhiều dạng,
bao trùm cả tâm
trí sáng suốt
của ta. Ðó là
nỗi khổ của ta.
Ta bị cuốn hút
bởi lòng ham
muốn, và không
còn thấy gì khác
có thể quan
trọng hơn. Ta
chỉ thấy có sự
ham muốn và cơ
hội để thỏa mãn
nó. Ta tự đánh
mất mình.
Ðức Phật đã cho
ta rất nhiều ẩn
dụ về lòng tham
dục. Nhưng ẩn dụ
quan trọng nhất,
trước tiên là
phải hiểu rằng
dục vọng là kẻ
thù có thể đánh
qụy tâm ta, tạo
ra nỗi sợ hãi
không đạt được
điều mình mong
muốn, lòng ganh
ghét đối với
người được điều
ta mong muốn -
ghen ghét - ganh
t và những
trạng thái tâm
hồn bất ổn, đau
khổ mà ta không
thể có nếu như
không có lòng
muốn cái người
khác có.
Ta phải hiểu đó
là nguồn gốc của
những phiền não
của con người:
mong muốn được
có cảm giác dễ
chịu thích thú,
mong muốn được
thỏa mãn, nhưng
thường ta không
đạt được chúng,
hay nếu có được
cũng chẳng bao
giờ có thể giữ
chúng mãi. Buông
bỏ ham muốn có
nghĩa là buông
bỏ thất vọng.
Nhưng điều đó
không thể thực
hiện chóng vánh
bằng lời nói,
hay suy nghĩ
suông. Ðó là một
quá trình huân
tập lâu dài.
Bước đầu tiên là
phải biết ngồi
trong tư thế
không được thoải
mái. Không được
nghiêng ngửa,
đổi thế ngồi để
cho bớt khó chịu.
Không thể trốn
tránh sự đau khổ.
Không thể thoát
khỏi đau khổ
bằng cách ấy.
Chỉ có một cách
duy nhất là
buông bỏ ham
muốn. Phải hoàn
toàn dứt bỏ
chúng.
Sự khó chịu
trong tư thế
ngồi thiền là cơ
hội để ta kiểm
soát các dục
vọng của mình.
Nếu ta không tìm
hiểu chúng từ tư
thế này, ta sẽ
khó thể biết về
chúng cách nào
khác. Không thể
học ở trường học,
giảng đường.
Cũng không ai
dạy ta về chúng
ở gia đình. Ở đó,
ai cũng đang tìm
mọi cách để được
sung sướng,
thoải mái. Nếu
bạn có thể ngồi
thoải mái, đó là
điều tốt. Nhưng
nếu bạn ngồi một
cách khổ sở,
điều đó cũng
không xấu. tựu
trung là bạn
đang có cơ hội
để tu tập ngay ở
nơi chân, hay
lưng hay bất cứ
nơi nào.
Ước muốn được
thoải mái và
xoay trở để đạt
được điều này
chính là việc mà
mọi người đang
làm ở khắp mọi
nơi. Và họ phải
mất khá nhiều
thời gian tiền
bạc cho điều đó.
Ðó là lý do tại
sao người làm
tăng ca, đi du
lịch, tìm kiếm
các thú giải trí,
cũng là để xoay
trở ra khỏi sự
đau khổ, phiền
não. Nhưng đó là
điều vô ích, tại
sao ta đi tìm
những cái vô ích?
Vì một khi ta
vừa thoát ra
khỏi các phiền
não, bực bội này,
thì lập tức
phiền não, bực
bội khác lại dấy
lên. Khi một thú
tiêu khiển vừa
dứt, sự chán nản
buồn bã lại đến.
Chân mặt vừa dễ
chịu vì bạn vừa
chuyển thế ngồi,
thì chân trái
lại đau nhức.
Thật là dại khờ
để chạy theo
những điều vô
ích đó. Tốt hơn
là nên làm theo
Pháp. Pháp đã
được chứng
nghiệm là sự
thật. Ðức Phật
đã chứng nghiệm
điều đó và tất
cả những người
giác ngộ sau
Ngài cũng đã
chứng nghiệm
điều đó.
Buổi chiều, khi
bao tử bạn kêu
đói, tâm liền
khởi nghĩ: "Không
biết có nên bỏ
ăn buổi tối
không?" Hoặc tâm
đã lăng xăng
chạy nghĩ đến
nhà bếp với
những món bạn có
thể làm đó là
dục vọng. Nếu
tâm cố gắng
chống cự lại cám
dỗ thì bạn đã bị
dục vọng lôi
cuốn. Nhưng nếu
bạn có thể nhìn
vào sự đòi hỏi
vừa dấy lên, mỉm
cười và nói: "Ðấy
đúng là cám dỗ
của Ma Vương"
thì bạn đã thấy
được Pháp. Không
cần phải nghe
nhiều, đọc nhiều
về Ma Vương. Chỉ
cần nhận biết nó
khi nó xuất hiện
vì nó không có
nơi nào khác để
hoạt động trừ
ngay trong chính
mỗi chúng ta. Nó
rất sung sướng
được ngự trị
trong ấy vì
chúng ta luôn
tòng phục theo
nó.
Một trong những
điều mà Ðức Phật
khuyên răn nhằm
chế ngự sự tham
dục là tiết độ
trong ăn uống.
Và đó là lý do
tại sao có giới
luật không ăn
sau 12 giờ trưa.
Tiết độ ăn uống
không có nghĩa
là không ăn uống
gì. Mà chỉ ăn đủ
để giữ sức khoẻ
cho cơ thể.
Nhưng sự ham
muốn này rất dễ
được thỏa mãn,
vì thế nó liên
tục dấy khởi.
Ðối với một số
người có khi bốn,
năm hay sáu lần
ăn trong một
ngày. Nếu chúng
ta có khả năng
chống lại được
một ham muốn,
chúng ta sẽ có
khả năng để
chống lại những
ham muốn khác.
Vì thế để bắt
đầu, ta nên chọn
sự ham muốn mà
ta dễ dàng chịu
thua và nó luôn
dấy khởi, đó là
tiết chế sự ăn
uống.
Một thứ thuốc
giải độc khác để
chữa trị dục
vọng mà Ðức Phật
khuyên ta nên
theo là nhìn sự
vật từng phần
hơn là tổng thể.
Có lẽ ta chẳng
lạ gì với chuyện
nhìn cơ thể với
ba mươi hai phần:
-- Trong thân
thể này từ gót
chân trở lên, từ
đỉnh đầu trở
xuống đều được
bao bọc bởi dãy
da hôi thối,
trong cơ thể này
có tóc trên đầu,
lông trong người,
móng tay, răng,
da, thịt, gân,
xương, tuỷ xương,
thận, tim, gan,
màng mạc, tỳ
tạng, phổi, ruột
già, ruột non,
cổ họng, phân,
mật, đờm, mủ,
máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, chất
nhờn trên da,
nước miếng, đờm
dãi, dung dịch ở
các khớp, nước
tiểu và óc.
Nếu bạn có lòng
ưa thích một
người nào đó,
thay vì nhìn vẻ
đẹp bề ngoài của
họ, hãy nhớ đấy
chỉ là lớp "giấy
gói quà" màu sắc
bên ngoài, bên
trong con người
đó có bao nhiêu
phần nhỏ khác.
Ba mươi hai phần
của cơ thể với "tóc
trên đầu, lông
trong người,
móng tay, răng,
da, thịt..." Vì
thế, thay vì
nhìn vẻ ngoài
đẹp đẽ, chỉ nên
nhìn răng, nhìn
tóc... là thấy
được sự thật.
Có câu chuyện về
một tăng sĩ, có
lẽ là một vị A
la hán cùng thời
với Ðức Phật. Có
một đôi vợ chồng
cãi nhau rất dữ
dội, và sau đó
người vợ không
còn muốn ở với
chồng mình nữa.
Cô mặc tất cả
những quần áo
đẹp nhất, đeo
các vàng bạc, nữ
trang quý giá
nhất khi bỏ trốn
đi vì cô muốn
đem theo tất cả
của cải. Người
chồng rượt đuổi
theo nhưng không
bắt kịp, có lẽ
vì người vợ đã
bỏ đi sớm hơn
anh ta tưởng.
Khi người đàn
ông chạy trên
đường tìm kiếm
vợ, anh ta gặp
vị sư. Anh liền
đến để hỏi nhà
sư có gặp một
người đàn bà tóc
đen, đẹp đẽ mặc
một chiếc sa ri
đỏ, với rất
nhiều trang sức
quý giá chạy
trên đường không?
Nhà sư trả lời:
"Tôi không trông
thấy người đàn
bà nào, chỉ thấy
một hàm răng
chạy qua thôi ".
Có lẽ nhìn được
như nhà sư hơi
khó cho chúng ta,
nhưng câu chuyện
đã nói lên được
điều Ðức Phật
muốn răn dạy
chúng ta: Ðừng
nhìn toàn bộ,
thì có ai sẽ yêu
đương nổi một
hàm răng. Ai đam
mê nổi một bao
tử? Thí dụ như
khi ta khởi lòng
ham muốn một
chiếc xe đắt
tiền, nếu ta chỉ
nhìn dáng vẻ bề
ngoài của nó,
màu sắc của nó,
ta dễ bị sa ngã
phải mua chiếc
xe ấy, để rồi
phải trả nợ
trong vòng hai
chục năm. Nhưng
nếu ta nhận ra
rằng chiếc xe ấy
cũng chỉ được
tạo ra bởi tay
lái, bàn đạp ga,
bộ máy, ống lọc
không khí, với
bao nhiêu là bù
lon con tán
trong đó, thì
chắc ta không
đến nỗi mê đắm
chiếc xe đó vì
những bộ phận
rời rạc đó, cũng
như không thể mê
đắm một người
nào đó vì từng
bộ phận của họ.
Ðối với người dễ
bám theo các vẻ
đẹp bề ngoài, có
lẽ cần thiền
quán về các bộ
phận của chính
thân mình. Chúng
ta cũng được làm
bởi ba mươi hai
bộ phận đó.
Không ai khác ai.
Nếu bỏ lớp da
bọc ngoài tất cả
mọi người đều
giống nhau.
Liều thuốc giải
độc cho cả năm
chướng ngại -
năm kẻ thù của
ta - là có bạn
tốt và có giao
tiếp tốt. Có
được những người
bạn mà ta có thể
trao đổi về
phương cách để
áp dụng Pháp
Phật vào đời
sống thường ngày,
chứ không phải
loại bạn để nói
về thời tiết,
chính trị, đàm
tiếu về người
khác. Thiện tri
thức rất quan
trọng trong cuộc
đời ta. Khi A
nan, người em bà
con của Ðức Phật
và là thị giả
của Ngài, nói: "Bạch
Thế Tôn! Có được
một người bạn
tốt là có được
nửa cuộc đời
thánh thiện".
Phật bảo: "Không
phải thế A nan.
Một người bạn
tốt là cả cuộc
đời thánh thiện".
Không có gì có
thể thay thế một
người bạn tinh
thần. Ðó là
người quan trọng
nhất trong đời
bạn - người nhắc
nhở ta đi trên
đường chánh đạo.
Vấn đề là phải
nhập tâm. Khi ta
nhớ những điều
này, ta có thể
làm được, nhưng
nhiều lúc ta
quên. Những cuộc
đàm đạo hữu ích
với thiện tri
thức giúp chúng
ta luôn soi lại
lòng mình, và
nhận ra rằng
phần lớn vấn đề
của chúng ta
xuất phát từ
lòng ham muốn,
từ dục vọng của
chúng ta.
Ta không muốn ăn
các chất độc hại.
Ta không muốn cơ
thể ta chứa đầy
những thứ độc
hại. Cũng thế,
ta không nên bỏ
đầy tâm trí ta
với các chuyện
nhảm nhí, độc
hại. Tâm ta chỉ
nên chứa những
chuyện về Pháp,
chuyện tốt,
những câu chuyện
làm ta phấn khởi,
giúp đỡ ta, xoa
dịu ta, làm ta
an lạc, chữa
lành cho ta, và
quan trọng nhất
là giúp ta thấy
được con đường
để thoát ra khỏi
những vấn đề làm
khổ não tất cả
chúng sanh.
Nếu chúng ta may
mắn có được
những người
thiện tri thức ở
quanh ta, thì
cách bày tỏ lòng
biết ơn tốt nhất
là trở thành một
thiện tri thức
đối với người
khác. Là bạn tốt
giống như phản
ứng dây chuyền.
Bạn không nên
chỉ đi tìm bạn
tốt. Chính bạn
cũng nên là
người bạn tốt
cho chính mình
và cho người
khác.
2. Sân
hận
Chúng ta luôn
phải đối đầu với
bao kẻ thù. Vì
chúng trụ ở bên
trong ta, ta khó
nhận ra chúng.
Do đó trước hết
ta phải ngó lơ
chúng để chú tâm
vào việc thanh
tịnh hoá tâm,
dần dần chúng
không còn là một
phần của ta nữa.
Con đường tâm
linh, con đường
thanh tịnh hoá,
xả ly, tự do là
con đường dẫn ta
đến sự thay đổi
bản tánh của
mình. Nếu ta
không bắt đầu
bằng bước đó, ta
sẽ không thể
bước vào thế
giới thanh tịnh.
Mọi thứ khác đều
là ngoại giới,
chỉ có bản tánh
là nội tâm. Mặc
dầu ngoại giới
có thể đẹp đẽ,
có thể mang cho
ta cảm giác
thoải mái, nhưng
chúng không thể
thay đổi nội tâm
ta. Và chỉ có sự
thay đổi đó mới
phân biệt được
một người cao cả
với người bình
thường. Người
bình thường hành
động theo sự sai
bảo của bản năng.
Người cao cả
chuyển hoá chúng.
Chướng ngại thứ
hai cũng như các
tội lỗi khác gây
bao điều tai hại
cho ta đó là sân
hận, nóng giận.
Mức độ nóng giận
có thể nặng, nhẹ.
Khi bùng nổ ra
ngoài khi gặm
nhấm bên trong.
Khi nó được bộc
lộ ra lời,
thường làm người
khác cũng sinh
giận dữ. Từ đó
gây ra cãi vã
trong gia đình,
xích mích ở xóm
giềng. Nảy sinh
ra oán thù giữa
các cộng đồng,
chiến tranh giữa
các quốc gia hay
trên cả thế giới.
Tất cả mọi thứ
đều bắt đầu từ
trong tâm ta,
nên ta phải nhận
ra rằng thế giới
không phải là
tha nhân. Mà mỗi
chúng ta là một
thế giới, do đó
trừ khi ta tìm
thấy an bình
trong chính tâm
ta, ta sẽ không
thể tìm thấy
điều đó ở đâu
khác. Không cần
kể là người khác
đang tức giận,
bực bội, sai
quấy, hay ngã
mạn. Không có gì
đáng kể cả.
Ðiều quan trọng
chính là thái độ
của chúng ta
trong hoàn cảnh
đó. Không thể có
sự an ổn tuyệt
đối trên thế
giới này. Dưới
thời Ðức Phật đã
không có. Dưới
thời các vĩ nhân,
các vị thánh đã
không có. Trái
lại lịch sử đã
bày cho ta thấy
bao nhiêu cảnh
tranh giành thế
lực chính trị,
chiến tranh, anh
em xâu xé nhau.
Sự bình an duy
nhất ta có thể
có được là sự
bình an tự trong
trái tim ta. Sự
an lạc Ðức Phật
đã tìm thấy cho
chính mình, lại
âm vang đến cả
thế giới. Ngài
là người đã tìm
thấy an bình với
chính mình, với
thế giới và sự
an bình đó vẫn
tồn tại cho đến
ngày nay, hơn
hai mươi lăm
ngàn năm sau
trong Pháp của
Ngài. Năm trăm
triệu người trên
thế giới đã thệ
nguyện làm đệ tử
của Ngài.
Rõ ràng là
nghiệp của chúng
ta không giống
nhau. Nhưng nếu
ta có thể truyền
cho người thân
trong gia đình,
sự an bình, tự
tại trong tâm ta,
cũng đã quá tốt.
Ðó cũng là một
thành tích có
phải không? Khi
tất cả mọi người
trong gia đình
đã được truyền
cho sự bình an,
thì an bình cũng
có thể lan
truyền đến hàng
xóm, láng giềng.
Ðược thế càng
tốt hơn. Ta
không cần là
Phật mới có thể
ảnh hưởng sâu xa
đến người khác.
Cái ảnh hưởng
sâu xa đó chỉ có
thể nảy sinh khi
trong tâm ta chỉ
có sự bình an,
tâm không còn
dấy khởi sân hận.
Chỉ có các vị
A-la-hán mới
đoạn diệt được
hết các niệm
sanh ra sân hận.
Dầu vậy nếu ta
có thể kềm chế
sân hận vẫn hơn
lúc nào cũng
giận dữ, cãi lẩy,
hờn oán, thương
tổn, trách móc
người khác.
Sân hận dấy khởi
cho ta cảm thấy
bị thương tổn,
đau đớn, và phản
ứng của con
người lạ lùng
thay, là cũng
gây đau đớn lại
cho người khác.
Ta sẽ không thể
sửa đổi, nếu như
không nhận biết
điều đó. Nhưng
không phải ai
cũng gây đau đớn
cho người khác,
có người tự gây
thương tích cho
mình. Họ nuốt
giận, chôn dấu
nó, nhưng nó vẫn
sôi sục ở bên
trong. Và rồi
tất cả sự giận
dữ đó sẽ phát lộ
ra bằng các
chứng bệnh,
thiếu nghị lực,
trầm uất, tiêu
cực, thiếu hỷ
lạc và bình an.
Rất ít người
chúng ta gặp
trên đường phố
có nét mặt vui
vẻ, hạnh phúc.
Bạn có nhận thấy
không? Không chỉ
ở đây mà ở khắp
nơi: Sydney,
London,
Amsterdam hay
Paris. Bất kể ở
đâu, con người
đều giống nhau.
Những đau đớn ta
đã kinh nghiệm
trong cuộc đời,
mà ta luôn phải
chống trả, tạo
cho ta cái ý
nghĩ là nếu ta
trả đũa lại, thì
sự đau đớn, tổn
thất của ta sẽ
mất đi. Sự thật
thì trái lại,
điều đó chỉ làm
cho sự đau đớn
tăng lên gấp bội.
Ðức Phật đã so
sánh sân hận như
bịnh sôi mật.
Khi bạn giận dữ
- và tôi đoán
chắc rằng không
ai thoát khỏi -
bạn hiểu cảm
giác đó thế nào?
Cảm giác khó
chịu - vậy mà ta
cứ mãi sân hận.
Nếu đó không là
kỳ quái thì là
cái gì? Giống
như người tự
đánh mình, mỗi
lần đánh đều
thấy đau, nhưng
vẫn cứ lập đi,
lập lại.
Ðức Phật cũng ví
giận dữ cũng như
cầm than đỏ bằng
tay không, chọi
vào người ta
đang giận. Ai sẽ
phỏng trước? Dĩ
nhiên là người
giận.
Ngài cũng ví sân
hận như cái hồ
trong đó nước
sôi sục. Nếu
nước sôi ta
không thể có một
mặt hồ tĩnh lặng
để soi mình vào
đó. Khi ta giận
dữ ta không còn
biết tất cả vì
mục đích gì, sự
tỉnh thức của ta
bị chìm lấp. Ta
quên hết mọi thứ,
chỉ còn biết cơn
giận của mình.
Nếu lúc đó ta có
thể nhìn vào
kiếng thì gương
mặt ta nhìn thấy
sẽ xấu xí biết
bao. Nhưng lúc
đó không ai còn
thì giờ để nhìn
vào kiếng. Họ bị
cuốn lấp trong
cơn giận.
Ðức Phật dạy khi
sân hận dấy khởi,
điều đầu tiên ta
nên nhớ là "Ta
là chủ nghiệp ta".
Sự nhắc nhở đó
rất quan trọng ở
giây phút căng
thẳng nhất. "Tôi
làm chủ nghiệp
của tôi, nên nếu
như tôi tức giận,
tôi sẽ lãnh
nghiệp báo của
hành động đó".
Bất kể người kia
đã làm gì cho
bạn giận.
Có một câu
chuyện rất hay
về Khantivàdin,
vị thầy của sự
kiên nhẫn. Hay
vì nó mô tả được
sự vô lý của
lòng giận dữ.
Vua Kausala là
một vị vua rất
giàu. Ông có rất
nhiều vợ. Một
ngày kia vua báo
cho các bà vợ là
ông muốn đi chơi
ở ngoại thành.
Các người đầu
bếp sửa soạn
thức ăn, đầy tớ
lo sửa soạn voi,
quân lính sửa
soạn quân phục.
Sáng hôm sau cả
triều đình, vua
và đoàn tuỳ tùng
ra đi. Ðến một
khu rừng có
những thảm cỏ
thật đẹp, họ
dừng lại. Nhà
vua ăn và uống
quá nhiều. Ngay
sau bữa ăn, Ngài
thiếp ngủ. Các
bà vợ bảo nhau:
"Ðây là dịp cho
chúng ta dạo
chơi quanh đây,
vì có mấy khi ta
được ra tới bên
ngoài". Nói rồi
họ dắt nhau đi
bắt bướm, ngắm
cây cảnh, tận
hưởng vẻ đẹp của
khu rừng.
Không lâu họ đến
căn lều của vị
Thầy của lòng
kiên nhẫn mà họ
hằng nghe tiếng.
Ngài Khantivàdin
(Khanti - lòng
kiên nhẫn, Vàdin
-Thầy). tất cả
họ đều bái lạy,
xin Ngài ban cho
những lời chỉ
dạy. Vị thầy vui
vẻ nói cho họ
nghe về các hành
động thiện, lòng
từ bi và rộng
lượng.
Trong lúc đó,
nhà vua tỉnh
giấc,không thấy
bà vợ nào ở bên
cạnh mình. Nổi
giận. Ông sai
lính đi kiếm các
bà vợ. Quân hầu
trở về báo là họ
đang ngồi nghe
giảng thuyết.
Nhà vua không
nghe lý lẽ gì,
ông sai quân gọi
các bà vợ về và
bắt vị thầy Kiên
nhẫn trói vào
gốc cây.
Sau đó nhà vua
rút gươm giận dữ
đến nói với
Khantivàdin "Ðồ
khốn kiếp sao
nhà ngươi dám dụ
dỗ các bà vợ của
ta?" Ông chém
vào chân của vị
thầy và hỏi: "Bây
giờ thì lòng
kiên nhẫn của
ông ở đâu?"
Khantivàdin trả
lời: "Thưa Ngài,
nó không nằm ở
chân tôi". Nhà
vua càng tức
giận, càng chém
vị thầy và tiếp
tục hỏi cùng câu
hỏi, trong lúc
vị thầy cứ trả
lời giống như cũ.
Khi Khantivàdin
sắp chết, các
quân lính quỳ
xuống xin
Khantivàdin "Xin
Ngài hãy thương
xót, chúng con
không có lỗi,
chính nhà vua là
người đã ra lệnh".
Và Khantivàdin
trả lời: "Không.
Ta không oán hận
ai. Ta cầu mong
cho nhà vua sống
lâu và hạnh phúc".
Nói rồi vị Thầy
chết. Theo câu
chuyện sau đó
nhà vua bị đất
lấp chết.
Câu chuyện đã
cho ta thấy dù
đã bị cắt ra
từng mảnh, vị
Thầy cũng không
tỏ gì giận dữ.
Có lẽ điều đó
khó chấp nhận
đối với chúng ta.
Rõ ràng
Khantivàdin là
một vị A la hán
vì khi ông nói "Lòng
kiên nhẫn của
tôi không có ở
trong bàn chân
của tôi", ông
muốn chứng tỏ
rằng dù cho sự
đau đớn thể xác
có như thế nào,
tinh thần ông
vẫn không nao
núng. Ðối với
chúng ta, điều
đó thật khó
tưởng tượng. Sự
đau đớn của thân
luôn ảnh hưởng
đến tâm ta. Nếu
như ta có thể
nhớ được câu
chuyện này cũng
như lời Ðức Thế
Tôn dạy:"Kẻ nào
không làm giống
như thế, không
hiểu Pháp của ta",
ta sẽ hiểu rằng
lòng sân hận là
chính là tội
nghiệp ta tự gây
ra cho mình.
Chẳng phải do
hành động của
tha nhân.
Hiểu được như
thế, ta sẽ dễ
sửa đổi nếu như
ta tỉnh thức và
ý thức được khi
nào sân hận dấy
khởi. Sự tỉnh
thức giống như
bàn thắng trên
xe hơi. Thử
tưởng tượng sự
nguy hiểm của
một chiếc xe
không có thắng.
Không có sự tỉnh
thức, cuộc đời
ta cũng nguy
hiểm như thế đấy.
Mỗi khi sân hận
nổi lên, ta đạp
thắng "tỉnh thức",
và ta biết rằng
mình vừa "phạm
tội". Biết rằng
ta vừa làm một
việc chẳng tốt
đẹp, lợi lộc gì.
Dựa vào các nhận
thức này, ta có
thể làm giảm bớt
khá nhiều sức
mạnh của cơn
giận, giống như
khi đạp thắng,
ta đã giảm bớt
được tốc độ của
xe, đi chậm lại.
Biết rằng sân
hận là không tốt,
cũng có thể làm
thay đổi cả quá
trình giận dữ,
đôi khi còn làm
vô hiệu hoá nó.
Ta có thể quan
sát khi một sự
giận dữ đã bị vô
hiệu hoá, để
nhận ra sự vô
ích của cơn giận.
Bạn sẽ nhận ra
sự đau đớn mình
tự gây ra cho
mình, và sự u mê
khi tự mình làm
mình đau khổ.
Sự u mê lớn nhất
của con người là
tự làm khổ mình
bằng chính những
hành động của
mình. Cần phải
có quyết tâm sửa
đổi để một ngày
nào đó - có thể
hôm nay, năm tới
hay một cuộc đời
khác - để không
tự gây đau khổ
cho mình nữa.
Hãy ngưng phản
ứng một cách
tiêu cực đối với
bất cứ việc gì
xảy ra quanh ta,
vì ta biết rằng
tất cả chúng đều
ô trược, tội lỗi,
và chính sự ô
trược đó khiến
cho phiền não
sinh ra.
Cả thế giới này
đều ô trược.
Thật vậy hãy thử
cầm một tờ báo
như Newsweek.
Bạn thấy gì?
Không có gì
ngoài tội lỗi ô
trược. Nếu chúng
ta nhận thấy cả
thế giới đều bị
nhiễm ô uế, thì
tại sao ta không
rẽ vào con đường
chánh định,
không để mình đi
theo đoàn xiếc
tội lỗi? Tại sao
ta không tách ra
khỏi đám đông và
quan sát vạn
pháp dưới mọi
khía cạnh? Chúng
ta chỉ có thể
hành động như
thế khi ta không
còn có những
phản ứng tiêu
cực trong đó tệ
hại nhất là lòng
giận dữ và oán
ghét.
Con người không
bao giờ hết nói
bậy, làm bậy.
Chỉ khi nào ta
có thể huân tập
cho mình luôn
sống trong Pháp
thì ta mới mong
sửa đổi được.
Nếu ta phải đối
mặt với việc làm
sai trái, thái
độ bất nhã, ích
kỷ, đòi hỏi ta
nhiều hơn ta có
thể cho, thì đã
sao? Quan trọng
là sự bình an và
hạnh phúc trong
lòng ta. Tất cả
mọi thứ khác đều
là phiền não,
không nên có, mà
ta lại thường tự
gán vào mình.
Tất cả các phiền
não khổ đau này
phát sinh là do
hành động của
chúng ta, nhưng
ta lại có khuynh
hướng đổ lỗi cho
người khác là
nguyên nhân tạo
tác. Ta nổi giận
nên ta đổ cho
người làm ta
giận. Ta buồn
rầu nên ta đổ
cho người khác
hay hoàn cảnh
làm ta buồn rầu.
Nhưng ta quên
rằng nếu trong
ta không có sẵn
các mầm mống,
khuynh hướng
giận dữ hay buồn
rầu, thì không
thể xảy ra
chuyện gì cả.
Giống như món đồ
chơi trẻ con
Jack in the box,
là một cái hộp
trong đó có một
búp bê hình nộm
mà hễ ta vừachạm
tay tới cái nắp,
lập tức hình nộm
nhảy phóc ra
khỏi hộp. Nhưng
nếu ta lấy hình
nộm ra khỏi hộp,
thì dù ta có
dùng búa để đập
nắp hộp cũng
không có gì xảy
ra. Không có gì
ở bên trong đó,
thì dù có nguyên
nhân tạo tác nào
cũng không có gì
ở bên trong để
bật ra ngoài.
Cách duy nhất để
tìm sự an bình
cho chính mình,
tìm con đường
đưa đến giải
thoát, là tu sửa
mình, không phải
thay đổi thế
giới bên ngoài.
Mọi người phải
tự sửa đổi chính
mình. Ðức Phật
không thể thay
đổi chúng ta.
Nhưng Ngài chỉ
chúng ta phương
cách tu sửa.
Chúng ta phải tự
mình hành động
thôi. Càng bắt
đầu sớm càng
nhanh chóng có
cơ hội tìm hạnh
phúc cho chính
mình mà không
phải phụ thuộc
vào bất cứ thứ
gì ở bên ngoài
chúng ta.
Không mấy ai lại
được tất cả mọi
thứù trong cõi
đời này. Ai cũng
có những điều
bất như ý. Hoặc
là nhà cửa chật
chội, lương bổng
thấp kém hay bà
con bạn bè xích
mích, hay hàng
xóm quá ồn ào,
hay không có
bằng cấp cao...
Lúc nào cũng có
việc gì đó trục
trặc. Không ai
có một hoàn cảnh
hoàn toàn như ý
cả, nhưng nếu
chúng ta không
bắt đầu sửa đổi
mà chỉ ngồi chờ
đợi tốt hơn thì
chúng không bao
giờ xảy ra cả.
Môi trường lý
tưởng chỉ có thể
hiện hữu trong
tâm chúng ta.
Ðiều đó có thể
thực hiện được.
Ðức Phật bảo cõi
người là cõi tốt
nhất để tu giải
thoát. Vì chúng
ta có những nỗi
khổ, bất như ý
để thúc đẩy ta
phải làm một
điều gì đó. Mặt
khác ta cũng có
những niềm vui,
hạnh phúc để ta
không đến nỗi
hoàn toàn tuyệt
vọng vì những
đau khổ của mình,
nên ta còn có
thể hy vọng.
Ðiều tai hại là
ta chỉ hy vọng
hão huyền, hy
vọng rằng hoàn
cảnh sẽ thay đổi,
hy vọng người
không yêu ta sẽ
yêu ta hay người
ta yêu sẽ ở mãi
mãi bên ta, hy
vọng ta sẽ giàu
có. Hy vọng ta
sẽ khôn ngoan để
không mắc phải
lỗi lầm nào. Tất
cả chỉ là những
hy vọng hão
huyền.
Lòng hy vọng này
có thể được sử
dụng một cách
tích cực hơn. Ta
hy vọng vì ta
biết có gì đó
không ổn với ta,
nhưng ta không
bó tay. Chúng ta
chỉ biết điều
không ổn đó là
xấu xa, ô trược.
Nhưng không biết
phải làm gì.
Chúng ta cần hy
vọng có thể sửa
đổi chúng ngay
bây giờ, không
phải trong tương
lai, vì tương
lai chỉ là tưởng
tượng. Có ai
biết ngày mai sẽ
xảy ra chuyện gì?
Có lẽ không có
ai, nhưng ta có
thể biết ngay
lúc này khi nào
phiền não, ô
trược dấy khởi
trong lòng ta.
Khi ta nổi giận,
ta biết ta đang
giận. Ta chỉ có
thể sửa đổi cái
ta biết.
Khi bạn giận dữ
về bất cứ điều
gì, điều đầu
tiên phải nhớ là
"Tôi làm chủ
nghiệp căn tôi".
Thứ hai là đừng
tự trách mình vì
đã nổi giận. Thứ
ba là thay đổi
thái độ.
Tình cảm khó
chịu, bực bội
nhất làkhi ta
nổi giận với ai
đó. Nếu ta giận
một vật gì đó,
thì cái giận
cũng nhỏ, không
đáng kể, không
sâu xa. Trước
khi để sự tức
giận ai đó bùng
nổ, không thể
thay đổi được
nữa, ta có thể
cố gắng thay
tình cảm đó bằng
lòng từ. Chắc
bạn sẽ phản đối
rằng "Làm sao
tôi từ bi với
con người đó
được?" Ðiều đó
cũng đúng.
Việc ta cần làm
là phải đảo lộn
tình thế như làm
xiếc vậy. Nói rõ
ra là phải nhận
biết giận dữ là
vô ích. Nó chỉ
làm cho ta đau
khổ. Làm người
khác đau khổ.
Không chỉ thế nó
còn tạo cho ta
thói quen hay
nóng giận, khiến
càng ngày ta
càng dễ nổi giận
hơn. Ðó là lý do
tại sao nhiều
người càng già
càng hay càu
nhàu, giận dữ.
Không có gì làm
họ vừa lòng. Họ
không bao giờ có
hạnh phúc vì
thói quen giận
dữ đã hằn nếp
trong tâm họ, họ
không thể sửa
đổi nữa.
Biết được sự
nguy hiểm này,
lần sau khi ta
giận dữ với ai,
ta nên tìm điều
gì tốt về họ:
việc họ làm tốt,
lời nói lành của
họ. Ðiều đó có
thể thực hiện
được nếu ta biết
về người đó. Ai
mà không có điều
gì tốt.
Nhưng nếu ta đã
quá giận dữ,
không còn tìm
thấy điều gì tốt
ở tha nhân, thì
hãy nhớ là chỉ
những kẻ khổ đau
mới làm việc độc
ác xấu xa. Người
hạnh phúc, vui
sướng sẽ không
hành động, nói
năng như thế, họ
sẽ không làm cho
người khác phải
giận dữ. Do đó,
người đang làm
ta giận hẳn là
đang trải qua
một sự đau khổ
nào đó. Chính họ
đang đau khổ.
Hãy thương xót
người đang đau
khổ vì một vết
thương thể xác
hay vì họ chẳng
bao giờ được
nghe Pháp. Hay
vì điều gì đó ta
không rõ lý do
xác thực. Nhưng
điều đó không
quan trọng, hãy
tỏ lòng thương
xót họ.
Hơn thế nữa, nếu
chúng ta đã quá
giận dữ, không
còn nhớ điều gì
tốt về tha nhân,
cũng không thể
xót thương họ,
thì hãy cố nghĩ
ta như là cha mẹ
đối với đứa con
của ta. Cha mẹ
của người ấy thì
phải thương yêu
họ rồi. Nếu
chúng ta nhớ lời
Phật dạy, như
trong bài về
lòng từ đã nói,
ta sẽ nhớ là
người mẹ phải
thương con mình,
để cố gắng khởi
lên tình thương
đó trong ta.
Tất cả những sửa
đổi đó trong tâm
ta sẽ mang lại
kết quả. Cần
phải có thời
gian để có kết
quả như mong
muốn. Nhưng nếu
ta cứ tiếp tục
thực hành, nó sẽ
trở thành thói
quen hay quán
tính. Sân hận
vẫn còn dấy khởi,
nhưng đã mất
tính chất mãnh
liệt, cuồng nộ,
vì ta đã luyện
tập cách để
chuyển đổi nó.
Người có
thể kềm giữ
cơn giận đang
dấy lên.
Như người đang
cầm cương xe
tuấn mã
Ðúng là một
người giữ
cương giỏi -
tôi nghĩ
Những người
khác chỉ là
giữ dây cương
cho nai. (Pháp
Cú, 222)
Sân không nhất
thiết phải là
một tình cảm
mãnh liệt. Nó có
thể là sự hờn
dỗi ai đó. Có
thể là sự chống
báng những người
không cùng suy
nghĩ, niềm tin
hay hành động
giống như ta.
Ðiều đó vẫn
thường xảy ra
trên đời. Nạn kỳ
thị chủng tộc
hay tín ngưỡng
là những ví dụ.
Sự chống báng
người khác đồng
nghĩa với lòng
thù ghét.
Khi ta thiếu
thốn vật chất,
gặp các cơ hội
không thuận lợi
ta cũng có thể
oán trách người
khác, nghĩ là họ
đã cản trở bước
tiến của ta. Ðó
cũng là sân,
nhưng được đè
nén. Ðôi khi ta
không dám chấp
nhận sự thật với
chính mình, điều
đó càng làm ta
khó sửa đổi, trừ
khi ta biết chấp
nhận sự thật. Ðè
nén có thể đem
đến cho chúng ta
những nội kết,
khiến ta không
thể phán xét sự
việc bằng công
tâm. Mọi thứ đều
được nhìn dưới
con mắt của sự
đè nén, của lòng
sân hận.
Ðức Phật khuyên
ta có các hành
động từ ái,
thiền quán về
lòng từ bi để
chữa trị căn
bệnh này. Tập
quán tưởng như
thế cũng tốt,
nhưng tựu trung
lại nó cũng chỉ
là lời nói, và
phần đông chúng
ta đều có nghe
qua những lời
nói này nhiều
lần.Có người
nhiếp tâm những
lời này, nhiều
người không. Ðó
là sự nguy hiểm
của lời nói. Sự
nguy hiểm của
ngoại giới.
Chúng ta thường
mắc phải lỗi lầm
là vì chúng ta
đã nói những lời
ấy, nhiếp tâm
chúng, đã trì
tụng chúng, đã
nghe chúng được
trì tụng, ta
tưởng là mình đã
thực sự hành
chúng. Tất cả
chỉ là do ta đã
sửa soạn tự
trong lòng những
tình cảm dào dạt
tình thương để
thể hiện ra
ngoài. Tình cảm
đó là lòng từ ái
nhưng chúng
không giúp ta
sửa đổi được gì.
Những lời nói
chỉ là các dấu
mốc, một bảng
chỉ đường. Chúng
chỉ cho ta một
phương hướng
phải đi tới. Lời
dạy của Ðức Phật
cũng chỉ vạch
cho ta con đường
đúng phải đi.
Chúng không giúp
ích gì cho ta,
nếu như ta không
tự thay đổi tâm,
trí. Và ta biết
rằng ta có thể
thay đổi tâm trí
của mình. Hằng
ngày ta vẫn
chẳng thường nói
"Tôi đã đổi ý...
" đó sao? Sao
không thêm một
lần đổi ý?
Hành động từ ái
là việc ta có
thể làm với chủ
tâm, nhưng chúng
cũng chỉ là
phương tiện giúp
ta thay đổi tâm
trí. Không phải
là cứu cánh.
Chúng chỉ là
phương tiện.
Quán tưởng về
lòng từ cũng như
hành thiện, cả
hai chỉ là các
phương tiện,
công cụ. Chúng
không phải là
mục đích. Mục
đích cuối cùng
là sự thay đổi
từ bên trong tâm
trí chúng ta.
Hành động từ ái
-mà ta biết chỉ
là phương tiện -
là chăm sóc
người đau yếu,
thăm hỏi sức
khỏe, viếng thăm
họ ở bệnh viện,
mang cho họ thực
phẩm khi họ
không có khả
năng tự lo, quan
tâm về người
khác, giúp đỡ
người khác. Càng
giúp được ai
càng nhiều càng
tốt, dĩ nhiên là
ta có thể bắt
đầu từ chính
trong gia đình
mình. Nhưng đó
chỉ là bước đầu.
Vì giúp cho gia
đình mình thì
cũng giống như
giúp cho cái Tôi
của ta được nhân
rộng ra. Có rất
nhiều cách để
giúp đỡ người
khác. Không nên
thu hẹp hành
động từ ái cho
chỉ một nhóm
người nào, hành
động này phải
cần được trải
rộng ra khắp nơi,
tới khắp mọi
người.
Ðây là những vị
thuốc Ðức Phật
cho ta để chữa
trị bịnh sân hận,
bên cạnh các
phương thức khác
như kết bạn với
thiện tri thức,
nói điều tốt
lành, để giúp
cho tâm hồn ta
được trong sạch
hơn.
3. Hôn
trầm và Thụy
miên
Tôi đã nói các
bạn về hai kẻ
thù của chúng ta,
bất hạnh, thay
ta còn ba kẻ thù
khác nữa. Hai kẻ
thù đầu: tham và
sân, là chướng
ngại lớn nhất
của con người.
Nói vậy không có
nghĩa là ta
không có cái đối
trị. Ðó là sự
rộng lượng và
lòng từ bi. Vấn
đề là ta phải
biết gieo trồng
cái tốt và trừ
bỏ cái xấu.
Nói thì dễ nhưng
hành khó lắm
thay. Nhưng nếu
ta không cố thực
hành chúng thì
ta đã không đi
theo con đường
Phật dạy. Ðó là
những công việc
ta phải làm
không ngừng nghỉ.
Những công việc
này không liên
quan gì đến việc
ngồi thiền.
Chúng đòi hỏi
tất cả thời gian
của ta. Giả thử
ta ngủ nghỉ
khoảng 5,6 hay 7
tiếng một ngày,
ta còn lại 17
tiếng. Nếu ta
nghĩ rằng khi
ngồi thiền một,
hai tiếng sáng
chiều là đã thực
hành được những
điều này, nghĩ
như thế ta chẳng
đi tới đâu cả.
Nếu ta chỉ nhớ
lời Ðức Phật dạy
trong vài tiếng
mỗi ngày, còn
lại không nhớ
tới - điều này
nghe có vẻ lạ,
nhưng vẫn thường
xảy ra - thì ta
khó thể tìm được
sự Giải thoát.
Kẻ thù thứ ba
của ta là hôn
trầm hay thụy
miên, uể oải, và
mê ngủ, hai kẻ
thù của ta lúc
tọa thiền có
phải không?
Chúng ta chắc ai
cũng kinh nghiệm
qua. Ðó là lúc
tâm không ngủ,
nhưng cũng không
thức. Trạng thái
dật dờ khó thể
làm nên chuyện
gì. Chỉ khác với
cái ngủ là ta có
thể dễ dàng ra
khỏi đó hơn.
Nhưng dầu không
mê man như khi
ngủ, nó vẫn đáo
đi, đáo lại.
Tâm trạng này ở
ngoài đời được
coi là không có
phương hướng, từ
đó dẫn đến thiếu
nghị lực. Nó là
một trạng thái
thông thường đến
nỗi, khi một
người nào đó có
nghị lực, ta sẽ
nhận ra ngay. Và
Nghị lực là một
trong bảy yếu tố
dẫn đến sự Giác
Ngộ. Thật là một
điều không thể
thiếu trong việc
rèn luyện tâm.
Nghị lực nẩy
sinh khi ta có
một phương hướng
nhất định. Ta
biết rõ con
đường phải đi và
miệt mài đi tới.
Nhưng khi ta
không có mục
đích gì rõ ràng
hơn là giữ cho
thân thể tứ đại
này sống, thì
không có nghị
lực gì có thể
phát sinh. Sống
như thế không có
gì hứng thú cả.
Không ai có thể
sống được như
thế! Dồn tất cả
sức lực, tâm trí
vào chỉ để sống
không phải là
một việc làm
hiệu quả, ta sẽ
không thể có
nghị lực để sống
như thế. Trái
lại, ta còn cảm
thấy bị đè nén
trì kéo xuống.
Ðức Phật đã so
sánh hôn trầm và
thụy miên giống
như một nhà tù.
Khi ta bị giam
trong một căn
phòng nhỏ, trong
tù ta khó có thể
làm được gì cho
đến khi được tự
do. Khi tâm trí
ta bị sự uể oải,
ngầy ngật (uể
oải ở thân thể,
và ngầy ngật
trong tâm) giam
hãm, tù túng đến
nỗi ta chỉ có đủ
nghị lực để kéo
lê một kiếp sống.
Phần đông chúng
ta không biết
hay không nghĩ
hành thiền là
một việc làm cần
thiết cho ta,
nên tâm ta dễ
dàng đầu hàng
các trở ngại. Ta
phải nắm thật rõ
về sự lợi ích
của việc tọa
thiền. Ta không
chỉ cần ăn ngủ,
tắm rửa, giặt
giũ, là những
chuyện bình
thường trong
cuộc sống, không
cần nhiều đến
năng lực. Chúng
chỉ là các hoạt
động theo bản
năng. Nhưng hành
thiền đòi hỏi ta
phải có nghị lực,
và nghị lực chỉ
có thể phát sinh
khi tâm biết
được tầm quan
trọng của thiền,
nếu tâm ta biết
rõ điều đó thì
ta biết là ta
phải làm gì.
Khi mê đọc một
quyển sách, ta
có thể thức đến
nửa đêm để đọc,
mà không thấy
mệt, ta chỉ ngồi
đó miệt mài đọc.
Hay khi dự đám
tiệc, ta có thể
nói suốt buổi mà
không mệt vì ta
vui thích.
Tu tập thiền
cũng phải làm ta
say mê. Khi đó
không còn lý do
gì mà tâm không
phấn khởi. Lúc
đầu, tập thiền
thật không thú
vị chút nào. Nó
có vẻ phiền phức
quá. Khó quá.
Ðau quá. Nhưng
khi tâm đã hiểu
ra được tầm quan
trọng của việc
ta làm, biết
từng giây phút
tâm khởi niệm,
ta sẽ thấy hứng
thú để tìm hiểu
chính tâm ta.
Còn gì hấp dẫn
hơn thế chứ? Ðọc
một quyển sách
hay trò chuyện
với người khác,
ta chỉ biết về
người khác.
Nhưng nếu ta có
thể theo dõi tâm
từng giây phút,
lúc nó dấy niệm,
lúc nó tĩnh lặng,
rồi lại dấy niệm,
lại tĩnh lặng,
thì đó là một
việc hấp dẫn và
lợi ích nhất mà
ta có thể làm
cho chính mình.
Một lần Ngài
Mahà Moggallàna
(Ðại
Mục-kiền-liên)
đến sám hối với
Phật rằng ông đã
ngủ gục trong
khi tọa thiền.
Ðức Phật đã
khuyên răn ông
điều gì? Phật
dạy rằng khi cảm
thấy buồn ngủ,
hãy mở mắt ra,
nhìn ngọn đèn,
chà xát mặt, kéo
tai, cử động
thân mình để cho
máu chạy đều, và
nếu cần đứng dậy
đi. Gì cũng được
miễn là đừng có
nằm xuống ngủ.
Ðó là cách thức
bên ngoài để
chữa trị bịnh
buồn ngủ, nhưng
ta cũng có những
cách thức khác
để dẫn tâm đi
theo đúng hướng
đã vạch như là
quán tưởng về
cuộc đời thì vô
thường, sự chết
thì bất ngờ. Ðây
là cơ hội tốt
nhất để ta tham
thiền. Ta có bạn
đồng tu, có thầy
dẫn dắt. Có đủ
ăn, có nơi ở,
thân không bịnh
hoạn. Tất cả các
thứ này không
phải ai cũng có
được. Chúng là
kết quả của căn
lành của ta. Ðó
là phương cách
giúp tâm ta tăng
thêm nghị lực.
Hãy nhớ là không
còn lúc nào khác
hơn là lúc này.
Tương lai dường
như chắc chắn
trước mặt nhưng
đó chỉ là ảo
tưởng. Ta có thể
chết bất cứ lúc
nào. Khi ta chết
- điều không ai
tránh khỏi - và
tái sinh - ai
cũng thế trừ khi
ta là các vị A
la hán - để bắt
đầu trở lại tất
cả. Ta phải học
đi, học nói, ăn,
mặc... Phải đi
học trở lại, kết
hôn, có con, gả
con. Ðó là tất
cả những gì ta
vẫn làm đi làm
lại từ kiếp này
qua kiếp khác.
Vì thế, hãy dùng
thời gian còn
lại cho những gì
quan trọng nhất.
Ta đã trải qua
tất cả những thứ
đó. Ðã học đi,
học nói, ăn mặc.
Ðã qua bao nhiêu
trường học. Có
con cái. Ðã
chứng kiến con
mình thành lập
gia đình. Vì thế
ngay bây giờ là
thời điểm để đổi
thay. Không có
lúc nào tốt hơn
lúc này.
Nếu ta dùng
phương cách này
để tăng thêm
nghị lực cho tâm
thiền định, thì
nghị lực sẽ tự
phát sinh, giống
như khi ta bật
công tắc điện
lên, bóng đèn
phát sáng, và
một khi còn có
dòng điện thì
ngọn đèn còn
sáng.
Tu tập thiền cần
rất nhiều năng
lực. Thật là lạ
khi ta ngồi (tọa
thiền) hay đi
chậm rãi (thiền
hành) mà ta vẫn
còn nhiều năng
lực. Lý do tại
sao ta cần nhiều
năng lực vì tâm
ta không ngừng
làm việc. Nếu
tâm không luôn
phát khởi các
vọng tưởng, hy
vọng, ước nguyện,
thì tâm đã không
mệt nhọc chút
nào. Không phải
do các hoạt động
của thân thể
hàng ngày, mà
tất cả chúng ta
ai cũng mệt lử
sau một ngày.
Nhưng là vì tâm
luôn hoạt động
lăng xăng, luôn
phán đoán. Tôi
thích cái này,
tôi không thích
cái kia. Tôi
phải có thứ này,
tôi sẽ vất thứ
kia - chính
những thứ đó làm
mệt mỏi tâm trí
ta. Vì thế người
làm việc bằng
đầu óc cũng mệt
như hay hơn cả
người trồng cây
hay làm đường.
Khi ta có thể
chú tâm, giữ tâm
lắng đọng thì
tâm được nghỉ
ngơi. Nhưng
trước khi ta có
thể làm được như
thế, ta vẫn phải
dùng tâm để tự
nhủ ta không
được bỏ cuộc.
Chịu thua trước
cái đòi hỏi bản
năng là thói
thường tình của
nhân thế. bản
năng ta là muốn
được thoải mái,
dễ chịu. Trong
khi Ðức Phật nói
rằng: "Thắng một
vạn quân, không
bằng thắng lòng
mình". Thắng
lòng mình có
nghĩa là không
chịu thua trước
các đòi hỏi của
bản năng, không
để tâm nghe theo
những điều đó.
Muốn được ngồi
yên tọa thiền
phải có một lý
do chính đáng
nào đó để tâm có
đủ nghị lực làm
điều đó. Vì ước
muốn được chứng
ngộ, không phải
là một lý do
chính đáng. Lý
do đó không đủ
mạnh để giúp ta
tu tập thiền,
nhưng phần đông
chúng ta đều tu
thiền với mục
đích đó. Do đó
ta sẽ dễ bị thất
vọng, vì được
chứng ngộ không
phải là điều dễ
dàng đạt được.
Lúc đó nghị lực
để giúp ta thiền
định sẽ biến mất
vì ta không đạt
được điều ta
muốn, lúc đó
việc thiền quán
cũng là một thứ
phiền não như
bao thứ phiền
não khác.
Thiền chỉ có một
mục đích duy
nhất là sửa soạn
cho tâm thoát
khỏi những đau
khổ, chuẩn bị
cho tâm được
giải thoát. Ðó
là cứu cánh của
phương tiện này,
chứ không phải
là để được chứng
ngộ. Việc đó
cũng sẽ xảy ra,
tại sao không?
Hãy cảm ơn rằng
việc đó có thể
xảy ra, và coi
đó như một động
lực giúp ta tiếp
tục công việc
của mình. Nhưng
khi nó không xảy
ra thì cũng
chẳng làm sao.
điểm chính là
tâm ta phải tu
tập thiền để
được giải thoát.
Ðức Phật đã so
sánh trạo cữ và
hôn trầm giống
như ao hồ mà bùn
đã nổi lên mặt.
Mặt hồ đấy bùn
thì ta không thể
soi mặt vào, chỉ
có bóng đen.
Trong trạng thái
tranh sáng tranh
tối giữa ngủ
thức ta không
thể có sự tỉnh
thức. Ngay trong
đời thường, khi
tâm ta bắt đầu
nói "Tôi chán
ngấy.Khó khăn
quá. Tôi không
thể tiếp tục.
Tôi không muốn
làm nữa. Tại sao
tôi phải làm chứ?
Ðâu có ai làm
giống như tôi
đâu", đó là tâm
đầy bùn, không
có sự sáng suốt,
không có một
phương hướng rõ
ràng cho chính
mình.
Một phương hướng
rõ ràng đem lại
cho ta nghị lực
cần thiết. Khi
ta biết đường ta
đi, nơi ta đến.
ta có thể hăng
hái sánh bước.
Khi ta không có
đích đến, ta
không có niềm
say mê, hứng thú
với điều gì.
Thật khó tìm
được một hướng
đi đúng trong
cuộc đời này,
nhưng Ðức Phật
đã chỉ cho ta
con đường mà
Ngài đã chứng
nghiệm, để đi
đến sự tự do,
đoạn tiệt khổ
đau, giải thoát,
Niết bàn.
4. Trạo
cữ
Kẻ thù kế tiếp
là trạo cữ, lăng
xăng lo lắng hay
lo ra. ai cũng
bị đau khổ vì kẻ
thù này, nên nó
rất quen thuộc
với chúng ta.
Thực ra, cả năm
chướng ngại đều
rất quen thuộc
với chúng ta. Ai
cũng mắc chúng ở
những mức độ
khác nhau. Vì
thế ta cần phải
suy gẫm xem
chướng ngại nào
là kẻ thù nguy
hiểm nhất đối
với ta. Tất cả
đều nằm trong ta
chờ cơ hội để lộ
diện. Nhưng có
một hay hai
chướng ngại chỉ
cần ta khẽ động
tịnh là nhảy ra
ngay, làm chủ ta.
Ðó là những
chướng ngại ta
cần đối đầu tu
sửa.
Tâm lăng xăng
khiến thân cũng
chẳng yên. Thân
là tên đầy tớ
ngoan ngoãn của
tâm. Thân chỉ là
một xác chết khi
không có tâm.
Bất cứ thân làm
điều gì cũng là
do tâm điều
khiển, dầu ta có
ý thức về điều
đó hay không.
Thông thường các
phản ứng của ta
xảy ra tức thì,
theo bản năng
nên ta không
biết rằng tâm đã
ra lệnh: "Làm
cái này, làm cái
kia", ta nghĩ là
thân ta hành,
nhưng không thể
có thân hành,
nếu không có tâm
khiển.
Tâm sinh ra lăng
xăng phần lớn là
do những kinh
nghiệm xảy ra
trong quá khứ,
những chuyện ta
đã làm, hay đã
không làm, tất
cả những thứ ta
ước muốn thực
hiện trong đời,
nhưng đã không
thực hiện. tâm
lăng xăng khó
tập trung vì
niệm cứ dấy khởi
liên tiếp.
Ðức Phật đã so
sánh nó với một
mặt hồ đầy sóng
gió. Khi tình
cảm ta đầy sóng
gió, ta sẽ chết
đắm vì nó. Ta
không còn thấy
sự việc rõ ràng
nữa.
Lo lắng thường
vì tương lai, và
nhiều người
trong chúng ta
rất hay lo lắng,
mà quên ngừng
lại để suy nghĩ
sự lo lắng đó
thật vô ích và
kỳ quặc. Lo lắng
về tương lai là
điều vô ích. Vì
có lo lắng về
tương lai, ta
cũng chẳng thể
sống cho tương
lai đó. Vì cuộc
đời là vô thường
luôn có sự thay
đổi, không những
ta sẽ già hơn,
khôn ngoan hơn -
hy vọng là thế -
mà hoàn cảnh
cũng đổi khác,
tình cảm, suy
nghĩ của ta cũng
khác. Thì lo
lắng về tương
lai thật vô ích.
Nếu bạn có những
tấm hình khi bạn
ở lứa tuổi 4, 8,
hay 12,15, hãy
lấy chúng ra và
soi gương, so
sánh gương mặt
nào là của bạn.
Bạn là chú, cô
bé 4 tuổi, 8
tuổi, 15 tuổi
hay là người
đang nhìn vào
kiếng bây giờ,
hay tất cả cũng
là bạn? Nếu tất
cả là bạn, thì
bạn đã là hàng
ngàn con người
khác nhau. Và đó
chính là chúng
ta, luôn biến
đổi. Thì cô, chú
bé 15, 20 tuổi
đi lo về chuyện
gì sẽ xảy ra cho
một người già
60, có phải là
vô ích không? Ta
sẽ không thể nhớ
cô, chú bé đó đã
suy nghĩ, lo
lắng điều gì.
Cũng thế đối với
sự lo lắng cho
ngày mai. Dầu
cho ta cố nhớ
được mình đã lo
lắng điều gì,
cũng chẳng ích
chi. Một con
người hoàn toàn
khác ngày hôm
nay sẽ sống ở
ngày mai.
Ðiều đó không có
nghĩa là ta
không thể dự
định điều gì. Dự
tính và lo lắng
là hai việc khác
nhau. Dự tính sẽ
trở thành lo
lắng khi ta tự
hỏi không biết
những dự tính
của ta có thành
sự thật không.
Không có gì sai
với sự dự tính,
nhưng sau nó hãy
quên nó đi cho
đến ngày ta có
thể thực hiện
được mà không
cần phải lo lắng
với những chuyện
gì sẽ xảy ra ở
tương lai.
Lo lắng làm ta
đau khổ, tâm ta
bấn loạn. Nó
tách ta ra khỏi
thế giới thực
tại, ngay giây
phút này, là
khoảnh khắc duy
nhất ta thực sự
sống trong đó.
Những giờ phút
ta đã đắm chìm
trong lo lắng,
là những giờ
phút bị đánh mất
đi. Nếu ta không
sống cho từng
giây phút hiện
tại, có nghĩa là
ta đánh mất cuộc
sống. Khi ta hối
tiếc dĩ vãng, lo
lắng cho tương
lai, ta không
thực sự sống. Ta
chỉ hoài niệm và
phỏng đoán. Ðó
không phải là
cuộc sống. Cuộc
sống không phải
để suy tưởng về
nó, mà để ta
sống trong đó.
Chỉ có như thế
thì cuộc đời mới
có ý nghĩa, và
kinh nghiệm sống
mới có thể xảy
ra từng giây
phút. Ðó là một
trong những nghệ
thuật, thiền có
thể truyền cho
chúng ta, sống
trong giờ phút
hiện tại mới
thật là sống.
Tâm ta sẽ chẳng
bao giờ được an
bình, hạnh phúc
hay tĩnh lặng
nếu ta không
sống trong giờ
phút hiện tại.
Tâm sẽ đắm chìm
trong đấu tranh
tư tưởng để làm
những việc ta
nghĩ đáng lý ra
ta phải làm, để
đến những nơi ta
nghĩ là ta phải
có mặt, để bảo
vệ những tài sản
ta cho là quý
giá. Một cuộc
chiến đấu gay
go, đau khổ
không ngừng nghỉ.
Hạnh phúc, an
lạc hình như
không thuộc số
phận chúng ta.
nhưng ta có thể
đạt được những
thứ đó nếu ta cố
gắng, nếu ta
biết nhận diện
kẻ thù và đuổi
chúng ra khỏi
nhà tâm của ta.
Căn nhà nội tâm
của ta là nơi có
bao vị khách
không mời mà đến.
Vì lòng hiếu
khách ta để họ
vào. Ðể rồi ta
khám phá ra họ
làm hư bàn ghế,
đánh cắp đồ quý,
phá hỏng cửa nẻo.
Nhưng thay vì
đóng cửa và
không để họ vào
lần nữa, hôm sau
ta lại để họ vào.
Ðó là nội tâm
của ta, bị xâm
chiếm bởi bao kẻ
thù. họ tạo ra
bao rối loạn
trong tâm ta,
không để ta có
được an lạc, hoà
bình mà ta không
biết tại sao. Ta
luôn đi tìm
những lý do ở
bên ngoài để tự
biện hộ. Mỗi
người có những
lý do khác nhau
nhưng đều giống
nhau ở một chỗ.
Chúng không thật,
tất cả đều do ta
tưởng tượng ra.
Lý do chính là
vì ngôi nhà tâm
của ta không
được yên ổn. Bên
trong không an
ổn thì căn nhà
bên ngoài làm
sao yên. Ta phản
chiếu ra bên
ngoài, những gì
chứa đựng bên
trong chúng ta.
Lăng xăng lo
lắng không những
vô ích mà còn là
dại khờ. Ðức
phật bảo chúng
ta hành động u
mê vì không nhìn
thấy sự thật.
Nhưng ta có thể
thay đổi điều đó
có phải không?
Lăng xăng và lo
lắng được gọi
chung là lơ đãng.
Chúng ta lơ đãng
trong công việc
mình làm, như là
thiền quán.
Nhưng điều đó
cũng không chỉ
thu hẹp trong
việc thực tập
thiền, nó còn
ảnh hưởng đến
đời sống thường
ngày của ta. Ta
quên chìa khoá,
không biết để nó
nơi nào. Ta
không nhớ mình
đang làm gì, vì
ta xao lãng, lo
lắng vấn đề gì
đó. Ta khó hoàn
thành công việc
của mình tốt đẹp,
an toàn khi tâm
ta đang ở một
nơi nào khác.
Ðức Phật chỉ cho
ta năm cách để
đối trị những tư
tưởng xao lãng,
lo ra, bằng các
câu chuyện ẩn dụ.
Như một người
thợ mộc đóng hai
khúc gỗ vào nhau
và thấy là chúng
không vừa nhau.
Ông lấy ra và
thay khúc gỗ
khác vừa hơn. Ðó
là nhờ có thay
đổi. Nếu tâm ta
cứ lo lắng về
tương lai, tiếc
nuối quá khứ thì
cũng có sự không
ăn khớp. Không
có hạnh phúc
không có an bình
trong đó. Vậy
thì hãy thay đổi!
Hãy thay bằng
cái vừa vặn, ăn
khớp hơn. Khi tu
thiền hãy để tâm
thiền lắng sâu
vào ta. Trong
đời sống hàng
ngày hãy để cho
tâm được trọn
vẹn hữu ích. hãy
thay đổi!
Ẩn dụ thứ hai là
về một người
thanh niên và
một cô thiếu nữ
ăn mặc đẹp đẽ để
đi ra ngoài. Khi
ra tới đường, họ
mới nhận ra có ở
cổ mỗi người
toòng teng xác
một con thú chết.
Quá xấu hổ, họ
vội vã chạy về
để gội rửa. Ta
cũng nên xấu hổ
khi tâm ta không
trong sạch. Xấu
hổ khi tâm ta
đầy tiêu cực.
Ðức Phật nói sự
xấu hổ và sợ hãi
là những chiến
sĩ bảo vệ cho
thế giới. Không
có chúng, thế
giới sẽ càng tồi
tệ hơn. hầu hết
chúng ta nghĩ
rằng chỉ có bụi
bặm, vết nhơ
trên quần áo,
hay thân thể mới
có thể thấy được,
nhưng đó chỉ là
ảo tưởng. Những
vết nhơ trong
tâm ta cũng có
thể nhìn thấy
được, không phải
bằng con mắt
thường mà bằng
mắt tâm. Ta biết
khi nhìn một
người giận hờn
dù không nói lời
nào. Ta biết khi
một người ngã
mạn. Hành động
của họ, lời nói
của họ đã mách
với chúng ta
điều ấy. Vì hành
động cũng như
lời nói đều xuất
phát từ trong
tâm chúng ta.
Nhất là hành
động, ta thường
không để ý đến
lời người khác
nói, trong khi
hành động của họ
mới chính là
phản ảnh của nội
tâm họ, tốt hay
xấu. Hãy nhớ là
những vết bẩn
trong tâm ta
cũng giống như
xác thú chết ta
đeo trên cổ.
Nhưng ta có thể
gỡ bỏ nó ra, và
chỉ đi ra ngoài
khi ta đã sạch
sẽ, đẹp đẽ trở
lại.
Một ẩn dụ khác
của Ðức Phật để
ví những tư
tưởng xao lãng,
lo ra giống như
gặp người quen ở
bên kia đường.
Không nên băng
qua đường để
chào hỏi, bắt
chuyện, mà cứ
giữ con đường
mình đang đi.
Không nên để ý!
Ðiều đó hơi khó.
Vì khi ta không
để ý đến chúng
thì ta cũng đã
bắt đầu có sự
thay đổi. Làm
được như thế đòi
hỏi phải có một
tâm cứng rắn.
hai trường hợp
đầu dễ xử hơn.
Người ta có thể
dễ xấu hổ vì ai
cũng có lương
tâm. nhưng bỏ
qua coi thường
các tư tưởng đi
qua đầu không
phải là điều dễ,
nó đòi hỏi nhiều
nghị lực hơn.
Ẩn dụ tiếp theo
kể về một người
đàn ông đang
chạy trên đường,
bổn phận thấy
mình không được
thoải mái, và
nghĩ:"Tại sao ta
phải chạy? Ta có
thể đi mà". Nên
anh ta bắt đầu
đi, vẫn thấy khó
chịu anh đứng
lại. Rồi cũng
không mấy tốt
hơn, anh quyết
định ngồi xuống,
cuối cùng anh
quyết định nằm
xuống, và thấy
thật là thoải
mái.
Hãy nhận biết
những khó chịu
trong tâm, trong
cả con người ta,
khi những ý nghĩ
vô ích, lo lắng,
lăng xăng, xao
lãng dấy khởi
trong ta. Chúng
không mang lại
cho ta niềm vui,
sự thoải mái nào,
trái lại thì có.
chúng làm ta lo
lắng bực dọc.
Hãy nhận ra sự
phiền não này và
biết rằng không
ai ngoài ta trên
thế gian này có
thể đem lại sự
thoải mái cho
chính ta. Ðức
Phật không làm
được, giáo lý
giải thoát của
Ngài không làm
được, cha mẹ ta,
các thầy ta, bạn
bè ta, tất cả
đều không thể
làm thay cho ta
được. Chính
chúng ta phải tự
làm cho tâm mình
được thoải mái,
vui vẻ.
Ðó là bốn phương
cách ta có thể
sử dụng, nếu một
cách không thành
công, ta dùng
cách kia, cách
kia nữa. Nếu tất
cả cách đều thất
bại thì ta phải
dùng đến biện
pháp đè nén. Ðức
Phật dùng ẩn dụ
về một người
mạnh mẽ, to lớn,
nắm cổ một người
yếu hơn, dìm
xuống nước. Cũng
thế ta dùng sức
mạnh của mình để
đẩy các ý nghĩ
vô bổ ra khỏi
tâm mình, và
buộc tâm không
nghĩ về chúng.
Ðó là biện pháp
tối hậu, nhưng
ta có thể thấy
rằng thà là đè
nén những ý nghĩ
xấu, tiêu cực
hơn là tiếp tục
nghĩ về chúng.
Dần dần ta sẽ
học được cách
thay thế chúng
bằng những ý
nghĩ cao đẹp hơn.
Khi đè nén những
tư tưởng thấp
hèn, có nghĩa là
ta không cho
phép chúng tạo
nếp, tạo rãnh
trong tâm ta. Ta
không thể để cho
tâm ta có thói
quen chứa đựng
những tư tưởng
này. Tâm mà cứ
luôn nghĩ lăng
xăng, lo lắng
một cách tiêu
cực, một cách
giận dữ, ích kỷ
thì khó mà bỏ
được thói quen
này. Trong
trường hợp đó,
sự đè nén là
giải pháp tốt
nhất.
Ðể đối trị các
tư tưởng lăng
xăng, lo lắng,
Ðức Phật dạy ta
hãy học Pháp,
học kinh nhiều
hơn. Khi ta thấu
hiểu được lời
dạy của Ngài, ta
có thể hướng tâm
mình đến đó. Nhớ
được lời Phật
dạy, thuộc kinh
điển Phật, khi
ấy hình như ta
dễ tìm ra những
lời giải đáp rõ
ràng, dứt khoát
cho các vấn đề
của ta hơn. Các
câu trả lời của
Phật đều dẫn ta
đến chỗ giải
thoát. Dẫn ta ra
khỏi ngã mạn,
nhưng không phải
dễ dàng để theo.
Ðó là lý do tại
sao ít người làm
theo lời Ngài,
ai cũng muốn
được thoải mái,
cũng dễ dãi với
chính mình.
Cách đối trị
khác nữa là làm
bạn với người
khôn ngoan, đứng
đắn, bên cạnh
những người bạn
đạo. Có nghĩa là
ta phải cẩn thận
trong việc chọn
bạn mà giao tiếp.
Ðiều đó không có
nghĩa là ta phải
bỏ hết những
người bạn cũ của
mình, nhưng ta
phải tìm những
người ta có thể
trao đổi với họ
những câu chuyện
tinh tế, phấn
chấn ta. Ta chọn
bạn như thế nào
cũng nói lên
được con người
ta thế ấy.
5. Nghi
hoặc
Kẻ thù cuối cùng
của ta là lòng
nghi hoặc. Ðức
Phật đã ví nó
giống như một
cuộc hành trình
đến sa mạc mà
không mang theo
vật dụng, không
có bản đồ, do đó
ta cứ đi lẩn
quẩn để rồi bị
cướp, bị đói
khát.
Ngài cũng ví
lòng nghi hoặc
như một mặt hồ
phủ đầy cỏ cây.
Làm sao ta có
thể nhìn thấy
đáy nước với một
mặt hồ như thế.
Lòng nghi hoặc
thường có mặt
như khi ta nghi
ngờ về sự Giác
ngộ của Ðức Phật,
về sự thật của
Pháp, về sự diễn
giảng Pháp của
Tăng đoàn. Nhưng
ảnh hưởng nặng
nề hơn cả cho sự
tiến bộ của bản
thân là nghi ngờ
về chính khả
năng của mình,
về trực giác tâm
linh của mình.
Lòng tự tin sẽ
phát sinh khi ta
có thể làm được
những điều mà ta
đã vạch định.
Trong thiền,
điều đó có nghĩa
là ta có thể
ngồi cho đến khi
tâm ta chìm sâu
trong tĩnh lặng.
Như thế ta sẽ có
thêm lòng tự tin
trong lần tọa
thiền sau, vì ta
biết là ta có
thể làm được
điều ta muốn làm
với tâm. Ta biết
là phần nào ta
đã làm chủ được
tâm.
Lòng tự tin có
nhiều khía cạnh.
Ðó không phải là
sự càn bướng, mà
là một cảm giác
tin tưởng rằng
mình có thể hoàn
toàn dựa vào
chính mình. Sự
nương tựa đó chỉ
có thể xảy ra
khi ta có thể
làm chủ được
tình cảm mình.
Không thể có
lòng tự tin, khi
ta còn lệ thuộc
vào tình cảm của
mình. Khi ta còn
bực tức, giận dữ,
lo âu, sợ sệt,
thèm muốn, ghen
ghét, tham lam,
khi tất cả những
thứ tình cảm này
còn làm chủ ta,
thì khó thể tìm
được sự an bình.
Và khi không an
bình, ta đâm ra
thiếu tự tin.
Chỉ khi nào mọi
thứ tình cảm sân
si trong ta đã
được điều phục,
ta mới có được
nội tâm cứng rắn,
mới chắc rằng dù
bất cứ chuyện gì
xảy ra ta sẽ
phản ứng nhẹ
nhàng, tự chủ,
lúc đó ta mới
thực sự có lòng
tự tin.
Ðó là một khía
cạnh quan trọng
của lòng nghi
hoặc vì chỉ khi
ta có lòng tự
tin về chính bản
thân, lúc đó ta
mới có đủ lòng
tự tin để đi
theo con đường
đạo cho đến tận
cùng. Tóm lại
nhờ vào lòng tự
tin, ta mới có
thể nói: "tôi có
thể làm được,
tôi sẽ theo đuổi
việc đó tới cùng".
Lòng nghi hoặc
thường dấy khởi
trong những
người không có
lòng từ. Nếu
không có từ tâm,
ta không thể
phụng sự một lý
tưởng nào, dốc
lòng tin theo
một con đường
đạo nào. Không
có từ tâm, ta
khó thể dâng
hiến cả đời mình
cho một lý tưởng
nào đó. Nếu ta
không thể dâng
hiến đời mình
cho con đường ta
đã chọn thì cũng
giống như ta đã
thành hôn, nhưng
nghĩ mình sẽ gặp
được một người
tốt hơn người
bạn đời của mình.
Không thể có một
hôn nhân tốt đẹp
được khi ta có
những ý nghĩ như
thế.
Con đường tâm
linh còn đòi hỏi
một sự dốc tâm
hơn thế nữa. Vì
chỉ có ta, không
có người thứ hai
nào bên cạnh góp
sức vào để vun
bồi cho sự hoà
hợp này. Ta phải
hiểu con đường
từ trong trái
tim mình. Như
thế sẽ không có
nỗi nghi hoặc
nào có thể xen
vào. Ta sẽ không
cần tự hỏi: "không
biết Ðức Phật có
Giác Ngộ không?".
Ðó là một câu
hỏi thừa thãi.
Khi chúng ta đi
theo con đường
của Ngài, thì tự
ta sẽ khám phá
ra thôi.
Muốn trọn vẹn đi
theo con đường
của Ðức Phật là
một việc làm
trọn cả cuộc đời.
Ðiều đó không có
nghĩa là ta
không thể có
cuộc sống riêng,
hay làm những
chuyện khác,
nhưng nó có
nghĩa là tất cả
phải làm được
trong tinh thần
của Pháp. Lúc đó
bất cứ ta làm gì
cũng là cơ hội
để ta học hỏi
thêm.
Ðức Phật chỉ
cách đối trị cho
lòng nghi hoặc
cũng giống như
trạo cữ, lo lắng;
đó là học hỏi
thêm Phật Pháp,
giao tiếp với
bạn hiền, bạn
đạo.
-oOo-
Ðức Phật nói
người đã bỏ hết
được năm điều
chướng ngại kể
trên là người đã
hoàn tất cuộc
đời mình, không
còn gì để làm
nữa. Năm chướng
ngại này là tờ
hộ chiếu đưa ta
đến cõi tái
sinh. Chúng là
thông hành vĩnh
cửu của ta. Ta
phải làm một
điều gì đó, nếu
ta muốn thoát ra
khỏi vòng sanh
tử này. Chỉ cần
một sự thay đổi
nhỏ cũng làm
cuộc đời ta dễ
chịu hơn. Và đó
chẳng phải là
điều mà tất cả
chúng đều đang
kiếm tìm sao? Sự
thoải mái, hạnh
phúc. Nhưng
không phải là
thứ lạc thọ ta
có tìm thấy qua
việc thỏa mãn
vật chất. Hạnh
phúc mà ta kiếm
tìm chỉ có thể
có được qua tâm
an lạc và năm kẻ
thù này là nguồn
gốc của tâm
không an lạc.
|