Chướng Ngại
Phần
lớn chúng ta đều
nghe danh hiệu
Ma Vương, đều
biết nó bằng
cách này hay
cách khác. Nó
chính là sự cám
dỗ. Nó cám dỗ
chúng ta vào các
con đường tội
lỗi. Ma Vương
đến khi Ðức Phật
ngồi dưới cây bồ
đề tĩnh tâm tìm
sự giải thoát.
Rõ ràng Ma Vương
không phải là
hình ảnh của lũ
quỷ với lửa đỏ
tuôn tràn ra hai
lỗ tai, lôi kéo
ta xuống địa
ngục. Ma Vương
là sự cám dỗ
đang ngự trong
lòng ta. Nếu Ma
Vương có thể đến
quấy rầy Ðức
Phật trước khi
Ngài nhập Niết
bàn - dấy khởi
cám dỗ trong
lòng Ngài - thì
kể gì đến chúng
ta?
Ðiều khác biệt
là Phật biết đó
là Ma Vương - Sự
cám dỗ. Ngài
biết, trong khi
chúng ta thì
không. Chúng ta
lý giải và biện
hộ cho nó. Tôi
đã nhìn thấy
những dòng chữ
dán trên một
chiếc xe hơi như
sau: "Cái gì đem
lại cho ta sự
thoải mái cái đó
đúng". Nhưng có
bao nhiêu điều,
bao nhiêu thứ
đem lại khoái
lạc cho ta mà
hoàn toàn sai,
có người coi
việc sát hại
người khác là
niềm vui.
Sự cám dỗ trong
lòng ta là ô
trược của chính
chúng ta, chúng
ẩn nấp ở đó để
sẵn sàng tạo ra
thêm tội lỗi. Vì
chúng ta không
thích nhận tâm
thân ta ô uế cần
được tẩy sạch,
ta tìm đủ mọi lý
lẽ để biện hộ
cho các hành
động của mình: "Tôi
cũng có quyền
được hưởng thụ
chứ", "Ðó là
điều tôi ước
muốn, nên hẳn là
tôi rất cần".
Sự cám dỗ có thể
nói là luôn có
mặt trong ta,
nhưng vì không
nhận ra nó, ta
luôn ở trong
tình thế bối rối,
khó xử. Ta luôn
bị nó lôi kéo
vào thứ này, thứ
kia. Thí dụ ngay
bây giờ: ta biết
tốt hơn hết là
ngồi đây nghe
Pháp, nhưng cám
dỗ bảo: giấc ngủ
cũng tốt vậy?
Nếu không có
người chung
quanh chắc là ta
đã trèo lên
giường ngủ rồi.
Ma Vương luôn kề
cạnh bên ta. Nó
kêu gọi ta làm
những gì mang
lại sự thoải mái,
khoái lạc, mà
không nhận ra
rằng tất cả các
khoái lạc do ngũ
dục mang đến chỉ
tạm thời, không
thực có.
Ðức Phật bảo
rằng có 5 trạng
thái tình cảm là
kẻ thù của mọi
người: năm
chứơng ngại hay
năm triền cái.
Tất cả chúng ta
đều có, tất cả
chúng ta đều bị
chúng cám dỗ.
Hai trạng thái
đầu là tồi tệ
nhất, đem đến
những hậu quả
trầm trọng nhất.
1. Ái
dục
Kẻ thù đầu tiên
là ái dục. Là kẻ
thù khó nhận
diện nhất vì nó
được chấp nhận
rộng rãi trong
xã hội. Tất cả
các mục quảng
cáo, trên truyền
hình, trong các
cửa hiệu, các
cửa kính đều
nhắm vào lòng
khơi dậy ham
muốn trong ta.
Thật vậy con
người càng thỏa
mãn được các ham
muốn có xe to,
nhà mới, quần áo
đẹp, họ càng
được xem là
thành công trong
xã hội. Vì việc
thỏa mãn các ham
muốn đem lại
những sung sướng
nhất thời, nó
làm ta lầm tưởng
nó là điều tốt.
"Ðiều gì đem lại
cho ta sự thoải
mái, điều đó hẳn
là đúng". Nó có
hào quang giả
tạo của nó.
Không ai trách
được người luôn
cố gắng để thoả
mãn ham muốn của
họ. Chính chúng
ta còn chưa biết
mình đang làm gì.
Thật kỳ lạ khi
con người hoàn
toàn không biết
mình đang làm gì.
Với kẻ thù thứ
hai - sân hận -
thì trái ngược.
Nó luôn bị trách
móc. Nó không
mang lại lạc thú
gì. Mọi người
đều chối bỏ nó.
Tuy rằng đôi khi
chúng ta cũng
tìm cách biện hộ
cho nó. "Tôi tức
giận vì cô đó,
anh kia, họ...
làm những chuyện
đáng giận quá".
Nhưng Sân không
được xã hội chấp
nhận, nó không
đem sự thoải mái,
do đó nó không
tạo ra ảo giác
nó là điều tốt.
Sân hận, ghét bỏ,
oán giận, sợ hãi,
bứt rứt, thảy là
phiền não, và
người có tánh
hay giận dữ
thường bị kẻ
khác phiền trách.
Lòng ái dục khi
được thỏa mãn ít
nhiều gì cũng
mang đến cho ta
sung sướng khoái
lạc. Dù vậy nó
cũng là kẻ thù
đáng ghê sợ như
sân hận. Chúng
chỉ là hai mặt
của một đồng
tiền. có thứ này
thì phải có thứ
kia đi kèm theo.
Dục vọng dấy
khởi những ham
muốn thường khó
thoả mãn được.
Chúng ta không
thể có tất cả
những gì ta muốn.
Càng có nhiều
ham muốn, càng
dễ bị thất vọng.
Từ đó người ta
trở nên sân hận
vì không thể có
được điều mình
ước muốn. Không
ai lúc nào cũng
có thể thoả mãn
hết tất cả các
ước muốn của
mình. Ðiều đó
thật là không
tưởng.
Ái dục và sân là
hai kẻ thù gây
nhiều khốn khó
cho chúng ta
trong đời sống
hàng ngày cũng
như gây nhiều
trở ngãi cho
việc tu Thiền
của ta. Nếu có
ai đó tự hỏi -
mà tôi chắc là
có rất nhiều -
tại sao họ
thường gặp trở
ngại khi tu
thiền, nhất là
với người mới tu
tập, thì đây là
những lý do.
Dục vọng là kẻ
nói "Tôi thích
ngồi thoải mái
hơn". Dục vọng
là kẻ nói: "Tôi
muốn đi ngủ".
Dục vọng là kẻ
nói: "Tôi muốn
chuyện vãn. Tôi
thích đi dạo một
chút. Nóng quá.
Tôi phải đi tắm.
Ðói quá. Tôi cần
ăn môt thứ gì đó.
Khát quá. Tôi
phải uống gì đó.
Tôi khó chịu quá,
làm sao ngồi
thiền". Ðó là
tiếng nói của
dục vọng, lúc
nào cũng đòi hỏi
thứ này thứ nọ.
Dục vọng sẽ
ngưng đòi hỏi
khi kinh nghiệm
thiền định sẽ
mang lại cho ta
nhiều thích thú
hơn sự thỏa mãn
các dục vọng.
Khi Thiền định
mang đến hạnh
phúc và sự tĩnh
lặng. Lúc đó các
dục vọng sẽ biến
mất khi ta ngồi
thiền, không
phải là mãi mãi,
mà chỉ là trong
khoảng thời gian
ngắn đó.
Vì khi sinh ra
chúng ta đã có
các giác quan,
nên ta muốn nuôi
dưỡng chúng.
Giống như ta
muốn nuôi dưỡng
thân. Nếu không,
ta sẽ bệnh.
Trước khi các
nhà phi hành đầu
tiên được gởi
lên phi thuyền,
một trong những
phương pháp được
dùng để huấn
luyện họ ở Mỹ là
một căn phòng
nơi đó không có
sức hút nên
không có xúc
giác. Phòng cách
âm và không có
gì để nhìn. Mọi
thứ đều có màu
xám. Những món
đồ ăn vô vị được
chuyển tới bằng
những ống dẫn.
Họ được dặn là
khi nào không
chịu đựng nổi
nữa, họ có thể
rung chuông ra
hiệu. Hình như
người chịu đựng
lâu nhất là tám
tiếng.
Thực phẩm sẽ
ngon hơn nếu có
sự kích thích
của các giác
quan, ta đã quen
như thế. Sự quen
thuộc bám víu
này tạo cho ta
cái ảo giác rằng
đây là điều tối
hệ trọng, đây là
hướng ta phải
theo - nhìn cảnh
đẹp, nghe những
âm thanh dễ chịu,
nếm mùi vị ngon,
ngửi mùi thơm,
những xúc chạm
mang đến sự dễ
chịu và nghĩ đến
những điều làm
ta thích thú.
Một cách sống
như thế - và tất
cả những người
chưa được nghe
pháp, không tu
tập thiền đều
vướng phải -
không thể mang
đến thành công.
Ðó là châu báu
của kẻ dại khờ.
Nó nhấp nháy
sáng nhưng nó
chẳng có giá trị
gì vì nó quá
ngắn ngủi.
Hãy tưởng tượng
bạn được ăn một
buổi thật ngon,
bạn tấm tắc: "Ngon,
thật là ngon".
Một ngừơi bạn
nói: "Nếu ngon
vậy, xin mời bạn
cứ tiếp tục ăn.
Bạn có thể ở đây
ăn đến sáng hôm
sau". Lúc đó cái
ngon thành khổ
thân khổ tâm.
Một bữa ăn dù
ngon mấy chỉ có
thể thưởng thức
trong 20 hay 25
phút là cùng.
Cũng vậy, vào
một ngày nóng
nực bạn muốn
được tắm mát.
Khi được tắm bạn
thích thú nói: "Tuyệt
quá. Tôi thấy
mát mẻ dễ chịu
làm sao". Lúc đó
người bạn lại
nói: "Nếu thế,
sao bạn không ở
trong đó thêm 5
hay 6 tiếng nữa?"
Nếu làm thế thì
hành xác còn gì.
Không ai muốn
làm thế. Mười
phút, mười lăm
phút tắm là cùng.
Ðối với tất cả
mọi ham muốn
khác cũng thế.
Sự thích thú sẽ
biến mất khi nó
được kéo dài ra.
Nó biến thành
cực hình. Vậy mà
tất cả chúng
sanh đều chạy
đuổi theo các
lạc thú ngắn
ngủi đó. Người
ta tìm lạc thú
trong rượu,
nhưng khi say
rượu làm sao còn
có được cảm giác
vui thú nào. Tất
cả những hạnh
phúc con người
tìm kiếm qua
thỏa mãn các
giác quan của
mình đều dần đến
sự thất bại. Các
cảm giác chỉ là
sự biểu lộ cụ
thể của các giác
quan có cảm giác
như tai, mắt,
mũi, lưỡi, thân.
không có gì đặc
biệt về chúng,
không có gì tội
lỗi hay không
tội lỗi. Các cảm
giác không tạo
ra nghiệp tốt
hay xấu. Nghiệp
xấu được tạo ra
bên trong ta khi
tâm muốn duy trì
hoặc tìm lại các
cảm giác khoái
lạc.
Có người tìm các
cảm giác khoái
lạc qua các hành
động như uống
rượu, hành hung
người khác, hút
sách, tình dục.
Ðây là những
khoái cảm thấp
hèn tội lỗi. Kẻ
khác lại tìm cảm
giác thích thú
trong việc ngắm
hoa, nhìn mặt
trời lặn, nghe
âm nhạc. Ðây
cũng là lạc thọ
nhưng cao thượng
hơn.
Khổ đau dấy khởi
khi ta muốn
chiếm hữu, giữ
chặt, hưởng thụ
các cảm giác
khoái lạc đó mãi.
Khi nhìn thấy
một bông hoa đẹp,
ta thường muốn
ngắt hái cho
riêng mình. Sao
không để chúng
đó cho mọi người
ngắm nhìn? Không.
Tôi muốn chiếm
hữu tất cả những
gì đẹp đẽ.
Khi con người
biết sống thanh
cao hơn, các
cách hưởng thụ
cũng sẽ cao đẹp
hơn. Một cảm
giác hưởng thụ
có thể rất bình
thường, nhưng nó
trở nên nguy
hiểm khi đi đôi
với lòng ham
muốn. Sự ham
muốn - lòng khao
khát - mang đến
phiền não vì
lòng ham muốn
không bao giờ có
thể được thỏa
mãn. Chúng ta
luôn cảm thấy
thiếu thốn. Lúc
nào cũng có cái
đẹp hơn để nhìn,
nhiều điều hay
hơn để nghe, để
xúc chạm. Lúc
nào cũng có một
cái gì khác để
ta chạy đuổi
theo. điều này
khiến ta trở nên
chộn rộn, bứt
rứt vì ta chẳng
bao giờ được
hoàn toàn thỏa
mãn.
Khi trong lòng
ta không được an
bình, ta đổ lỗi
cho hoàn cảnh
quanh ta. Ta
nghĩ phải có một
cái gì đó tuyệt
diệu hơn cần
được khám phá.
Vì thế ta đi
khắp thế giới để
tìm kiếm. Một
việc chẳng khó
khăn gì hiện
nay. Chỉ cần cái
vé máy bay.
Người ta đi đó
đi đây để tìm
những xúc cảm
mới, cảnh vật
mới, kinh nghiệm
mới. Thu thập
kinh nghiệm đã
trở nên một
phong trào.
nhưng rồi ta
cũng không vừa
lòng, vì kinh
ngiệm nhanh
chóng qua đi.
Không có kinh
nghiệm gì còn ở
lại. Tất cả đã
qua. Tất cả đã
thành ký ức,
không có gì có
thể được lưu giữ.
Sưu tầm tem thư
có lẽ còn ích
lợi hơn là lưu
trữ kinh nghiệm.
Ái Dục đã được
Ðức Phật ví như
mắc nợ. Nếu bạn
mua nhà, bạn vay
tiền ngân hàng,
mỗi tháng bạn
phải đến đó trả
tiền vay và tiền
lãi. Nhưng với
nợ nhà, dần dần
ta còn trả hết.
Chứ với dục vọng
không có chuyện
sẽ dứt nợ. Dục
vọng dấy lên
tiếp, tiếp nhau.
Chẳng bao giờ
dứt. Ta luôn đói.
Luôn khát. Ta
luôn muốn được
nhìn, nghe, nếm,
xúc chạm thêm
lên nữa.
Ðức Phật cũng ví
nó với một người
lữ hành không
phương hướng.
Anh ta đói khát.
Nhìn thấy trước
mặt là một ngôi
làng, mừng rỡ,
anh thầm nghĩ
"Ồ, kià có ngôi
làng để ta xin
đồ ăn thức uống".
Nhưng khi đến
nơi đó chỉ là
một ngôi làng
hoang vắng. Anh
lại tiếp tục
kiếm tìm. Lại
một ngôi làng bỏ
phế nữa.
Lòng hy vọng và
ước đoán về việc
thỏa mãn các dục
vọng làm dục
vọng thêm hấp
dẫn. Nhưng khi
đã thỏa mãn tất
cả đã qua đi,
ham muốn khác
lại dấy khởi lên.
Ðức Phật cũng so
sánh dục vọng
như một cái hồ
với nhiều màu
sắc được trộn
vào đó. Lòng
khao khát dục
vọng hiện ra
dưới nhiều dạng,
bao trùm cả tâm
trí sáng suốt
của ta. Ðó là
nỗi khổ của ta.
Ta bị cuốn hút
bởi lòng ham
muốn, và không
còn thấy gì khác
có thể quan
trọng hơn. Ta
chỉ thấy có sự
ham muốn và cơ
hội để thỏa mãn
nó. Ta tự đánh
mất mình.
Ðức Phật đã cho
ta rất nhiều ẩn
dụ về lòng tham
dục. Nhưng ẩn dụ
quan trọng nhất,
trước tiên là
phải hiểu rằng
dục vọng là kẻ
thù có thể đánh
qụy tâm ta, tạo
ra nỗi sợ hãi
không đạt được
điều mình mong
muốn, lòng ganh
ghét đối với
người được điều
ta mong muốn -
ghen ghét - ganh
t và những
trạng thái tâm
hồn bất ổn, đau
khổ mà ta không
thể có nếu như
không có lòng
muốn cái người
khác có.
Ta phải hiểu đó
là nguồn gốc của
những phiền não
của con người:
mong muốn được
có cảm giác dễ
chịu thích thú,
mong muốn được
thỏa mãn, nhưng
thường ta không
đạt được chúng,
hay nếu có được
cũng chẳng bao
giờ có thể giữ
chúng mãi. Buông
bỏ ham muốn có
nghĩa là buông
bỏ thất vọng.
Nhưng điều đó
không thể thực
hiện chóng vánh
bằng lời nói,
hay suy nghĩ
suông. Ðó là một
quá trình huân
tập lâu dài.
Bước đầu tiên là
phải biết ngồi
trong tư thế
không được thoải
mái. Không được
nghiêng ngửa,
đổi thế ngồi để
cho bớt khó chịu.
Không thể trốn
tránh sự đau khổ.
Không thể thoát
khỏi đau khổ
bằng cách ấy.
Chỉ có một cách
duy nhất là
buông bỏ ham
muốn. Phải hoàn
toàn dứt bỏ
chúng.
Sự khó chịu
trong tư thế
ngồi thiền là cơ
hội để ta kiểm
soát các dục
vọng của mình.
Nếu ta không tìm
hiểu chúng từ tư
thế này, ta sẽ
khó thể biết về
chúng cách nào
khác. Không thể
học ở trường học,
giảng đường.
Cũng không ai
dạy ta về chúng
ở gia đình. Ở đó,
ai cũng đang tìm
mọi cách để được
sung sướng,
thoải mái. Nếu
bạn có thể ngồi
thoải mái, đó là
điều tốt. Nhưng
nếu bạn ngồi một
cách khổ sở,
điều đó cũng
không xấu. tựu
trung là bạn
đang có cơ hội
để tu tập ngay ở
nơi chân, hay
lưng hay bất cứ
nơi nào.
Ước muốn được
thoải mái và
xoay trở để đạt
được điều này
chính là việc mà
mọi người đang
làm ở khắp mọi
nơi. Và họ phải
mất khá nhiều
thời gian tiền
bạc cho điều đó.
Ðó là lý do tại
sao người làm
tăng ca, đi du
lịch, tìm kiếm
các thú giải trí,
cũng là để xoay
trở ra khỏi sự
đau khổ, phiền
não. Nhưng đó là
điều vô ích, tại
sao ta đi tìm
những cái vô ích?
Vì một khi ta
vừa thoát ra
khỏi các phiền
não, bực bội này,
thì lập tức
phiền não, bực
bội khác lại dấy
lên. Khi một thú
tiêu khiển vừa
dứt, sự chán nản
buồn bã lại đến.
Chân mặt vừa dễ
chịu vì bạn vừa
chuyển thế ngồi,
thì chân trái
lại đau nhức.
Thật là dại khờ
để chạy theo
những điều vô
ích đó. Tốt hơn
là nên làm theo
Pháp. Pháp đã
được chứng
nghiệm là sự
thật. Ðức Phật
đã chứng nghiệm
điều đó và tất
cả những người
giác ngộ sau
Ngài cũng đã
chứng nghiệm
điều đó.
Buổi chiều, khi
bao tử bạn kêu
đói, tâm liền
khởi nghĩ: "Không
biết có nên bỏ
ăn buổi tối
không?" Hoặc tâm
đã lăng xăng
chạy nghĩ đến
nhà bếp với
những món bạn có
thể làm đó là
dục vọng. Nếu
tâm cố gắng
chống cự lại cám
dỗ thì bạn đã bị
dục vọng lôi
cuốn. Nhưng nếu
bạn có thể nhìn
vào sự đòi hỏi
vừa dấy lên, mỉm
cười và nói: "Ðấy
đúng là cám dỗ
của Ma Vương"
thì bạn đã thấy
được Pháp. Không
cần phải nghe
nhiều, đọc nhiều
về Ma Vương. Chỉ
cần nhận biết nó
khi nó xuất hiện
vì nó không có
nơi nào khác để
hoạt động trừ
ngay trong chính
mỗi chúng ta. Nó
rất sung sướng
được ngự trị
trong ấy vì
chúng ta luôn
tòng phục theo
nó.
Một trong những
điều mà Ðức Phật
khuyên răn nhằm
chế ngự sự tham
dục là tiết độ
trong ăn uống.
Và đó là lý do
tại sao có giới
luật không ăn
sau 12 giờ trưa.
Tiết độ ăn uống
không có nghĩa
là không ăn uống
gì. Mà chỉ ăn đủ
để giữ sức khoẻ
cho cơ thể.
Nhưng sự ham
muốn này rất dễ
được thỏa mãn,
vì thế nó liên
tục dấy khởi.
Ðối với một số
người có khi bốn,
năm hay sáu lần
ăn trong một
ngày. Nếu chúng
ta có khả năng
chống lại được
một ham muốn,
chúng ta sẽ có
khả năng để
chống lại những
ham muốn khác.
Vì thế để bắt
đầu, ta nên chọn
sự ham muốn mà
ta dễ dàng chịu
thua và nó luôn
dấy khởi, đó là
tiết chế sự ăn
uống.
Một thứ thuốc
giải độc khác để
chữa trị dục
vọng mà Ðức Phật
khuyên ta nên
theo là nhìn sự
vật từng phần
hơn là tổng thể.
Có lẽ ta chẳng
lạ gì với chuyện
nhìn cơ thể với
ba mươi hai phần:
-- Trong thân
thể này từ gót
chân trở lên, từ
đỉnh đầu trở
xuống đều được
bao bọc bởi dãy
da hôi thối,
trong cơ thể này
có tóc trên đầu,
lông trong người,
móng tay, răng,
da, thịt, gân,
xương, tuỷ xương,
thận, tim, gan,
màng mạc, tỳ
tạng, phổi, ruột
già, ruột non,
cổ họng, phân,
mật, đờm, mủ,
máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, chất
nhờn trên da,
nước miếng, đờm
dãi, dung dịch ở
các khớp, nước
tiểu và óc.
Nếu bạn có lòng
ưa thích một
người nào đó,
thay vì nhìn vẻ
đẹp bề ngoài của
họ, hãy nhớ đấy
chỉ là lớp "giấy
gói quà" màu sắc
bên ngoài, bên
trong con người
đó có bao nhiêu
phần nhỏ khác.
Ba mươi hai phần
của cơ thể với "tóc
trên đầu, lông
trong người,
móng tay, răng,
da, thịt..." Vì
thế, thay vì
nhìn vẻ ngoài
đẹp đẽ, chỉ nên
nhìn răng, nhìn
tóc... là thấy
được sự thật.
Có câu chuyện về
một tăng sĩ, có
lẽ là một vị A
la hán cùng thời
với Ðức Phật. Có
một đôi vợ chồng
cãi nhau rất dữ
dội, và sau đó
người vợ không
còn muốn ở với
chồng mình nữa.
Cô mặc tất cả
những quần áo
đẹp nhất, đeo
các vàng bạc, nữ
trang quý giá
nhất khi bỏ trốn
đi vì cô muốn
đem theo tất cả
của cải. Người
chồng rượt đuổi
theo nhưng không
bắt kịp, có lẽ
vì người vợ đã
bỏ đi sớm hơn
anh ta tưởng.
Khi người đàn
ông chạy trên
đường tìm kiếm
vợ, anh ta gặp
vị sư. Anh liền
đến để hỏi nhà
sư có gặp một
người đàn bà tóc
đen, đẹp đẽ mặc
một chiếc sa ri
đỏ, với rất
nhiều trang sức
quý giá chạy
trên đường không?
Nhà sư trả lời:
"Tôi không trông
thấy người đàn
bà nào, chỉ thấy
một hàm răng
chạy qua thôi ".
Có lẽ nhìn được
như nhà sư hơi
khó cho chúng ta,
nhưng câu chuyện
đã nói lên được
điều Ðức Phật
muốn răn dạy
chúng ta: Ðừng
nhìn toàn bộ,
thì có ai sẽ yêu
đương nổi một
hàm răng. Ai đam
mê nổi một bao
tử? Thí dụ như
khi ta khởi lòng
ham muốn một
chiếc xe đắt
tiền, nếu ta chỉ
nhìn dáng vẻ bề
ngoài của nó,
màu sắc của nó,
ta dễ bị sa ngã
phải mua chiếc
xe ấy, để rồi
phải trả nợ
trong vòng hai
chục năm. Nhưng
nếu ta nhận ra
rằng chiếc xe ấy
cũng chỉ được
tạo ra bởi tay
lái, bàn đạp ga,
bộ máy, ống lọc
không khí, với
bao nhiêu là bù
lon con tán
trong đó, thì
chắc ta không
đến nỗi mê đắm
chiếc xe đó vì
những bộ phận
rời rạc đó, cũng
như không thể mê
đắm một người
nào đó vì từng
bộ phận của họ.
Ðối với người dễ
bám theo các vẻ
đẹp bề ngoài, có
lẽ cần thiền
quán về các bộ
phận của chính
|