
|
 |
 |
 |
 |
|
Vô
ngã, Vô ưu
Ni sư Ayya Khema
Diệu Ðạo Việt dịch
Nguyên tác: "Being
Nobody, Going Nowhere"
Wisdom Publications, 1987 |

|
|
 |
|
|
Tứ Vô
Lượng Tâm
T rong mỗi chúng
ta có bốn người
bạn tốt (tứ vô
lượng tâm), sẵn
sàng giúp đỡ ta.
Tuy nhiên cạnh
đó ta cũng có
năm kẻ thù chực
chờ nhảy ra tấn
công bất cứ lúc
nào. Chúng không
bao giờ để ta
yên. Nhưng vấn
đề là có mấy ai
trong chúng ta
đủ sức mạnh để
đánh đuổi kẻ thù,
bảo vệ cho những
người bạn tốt
của mình. Lại có
người còn không
biết rằng đó là
việc tốt, nên
làm.
Bốn người bạn đó
là bốn tánh tốt
của ta: Từ, Bi,
Hỉ, và Xả. Ta
phải tìm kiếm
chúng trong trái
tim mình. Nếu
không thể tìm ra,
và tự biết đó là
một thiếu sót
của mình, ta
phải bắt đầu lo
tạo ra chúng,
phát triển chúng.
1. Từ
Ngôn từ thật
nguy hiểm. Chúng
tạo cho chúng ta
một cảm giác của
sự trường tồn,
bất biến. Chúng
ta bị phủ lấp
bởi ngôn từ,
nhưng chúng
chẳng khác gì
hơn là những
khái niệm. Chúng
không có thật.
Hãy tưởng tượng
ra một dòng sông
: danh từ "dòng
sông" không phải
là thực thể của
một dòng nước
chảy. Từ "dòng
sông" cố định:
nhưng bản thể
của dòng sông
thì lưu chuyển.
Từ tâm chỉ có
thể xuất phát từ
trái tim. Lòng
từ sẽ trở nên
trống rỗng, vô
nghĩa, nếu nó
chỉ nằm trong
ngôn từ. Tự nó
không có nghĩa
gì, giống như từ
"dòng sông" chỉ
gợi cho ta một
cái gì đó, khi
ta đã kinh
nghiệm qua. Nếu
ta bảo với một
đứa trẻ thơ về "dòng
sông", nó không
biết ta nói gì.
Nhưng nếu bạn bỏ
tay em xuống
nước, để em cảm
nhận dòng nước
chảy, thì em sẽ
thật sự biết
dòng sông là như
thế nào, không
kể em có biết
đến danh từ "dòng
sông" hay không.
Ðối với Lòng Từ
cũng thế. Danh
từ ấy không có
nghĩa gì. Chỉ
khi nào bạn cảm
được nó từ trong
tim mình, thì
bạn mới hiểu
những điều Phật
đã nói về lòng
Từ trong các bài
thuyết pháp của
mình. Cuộc đời
sẽ thiếu sót
biết bao khi
không chứa đựng
cả lý trí và tấm
lòng. Nếu chỉ
sống bằng traí
tim, con người
dễ trở thành
tình cả, một bản
tính thường được
đồng hóa với
người phụ nữ.
Tình cảm có
nghĩa là ta phản
ứng với mọi thứ,
điều đó không
tốt. Lý trí cũng
có chỗ đứng của
nó. Con người
cũng cần hiểu
những gì xảy ra
quanh họ. Nhưng
nếu chỉ hiểu với
cái đầu, nó có
thể vượt bực về
kiến thức, nhưng
con tim sẽ thiếu
đồng cảm. Tình
và lý phải luôn
đi đôi với nhau.
Ta phải hiểu
bằng lý trí và
phải dùng tình
cảm một cách
khôn ngoan, tình
cảm tràn đầy,
mang đến sự an
lạc và hoà đồng
của trái tim.
Lòng Từ hay tình
thương, không
phải là tình cảm
tạo nên bởi sự
có mặt của một
người dễ thương,
hay vì ta đang
sống bên cạnh
những người thân
của mình, hay
một người đáng
yêu. Uy quyền
hay những phản
ứng bản năng
cũng không liên
quan gì đến loại
tình thương nầy.
Yêu thương con
cháu của mình,
yêu thương cha
mẹ mình không
khó khăn gì.
Phần đông chúng
ta đều làm được,
trừ một số ít.
Nhưng tình
thương đó không
phải là lòng Từ
(metta).
Khi Phật nói về
lòng Từ, Ngài
muốn nói đến thứ
tình cảm không
có sự phân biệt
trong trái tim
ta. Tình cảm cao
thượng đó đòi
hỏi chúng ta
phải yêu thương
tất cả mọi người
như thể người mẹ
yêu thương đứa
con duy nhất của
mình. Tất cả
những ai có con
sẽ biết được sự
khác biệt khi họ
yêu thương con
mình và người
khác. Nhưng đó
chính là điều ta
phải sửa đổi.
Nếu không, ta
khó thể hiểu về
lòng Từ và sự
quan trọng của
nó.
Nếu bạn thấy một
em bé bị té xe,
ngồi khóc, tự
nhiên là ta sẽ
đỡ em dậy, dỗ em.
Lòng Từ đó cũng
không khó thực
hiện. Khó là sự
thể hiện lòng từ
trong tâm ta với
tất cả mọi người,
kể cả những kẻ
đáng ghét nhất.
Không phải tất
cả chúng ta đều
dễ thương, trừ
bậc A la hán.
Ngay chính ta
cũng không hoàn
toàn dễ thương,
thì sao lại mong
mỏi điều đó ở
người khác. Tại
sao ta phải phân
biệt giữa người
ta có cảm tình
và người ta
không ưa. Chúng
ta tự cho mình
có lý khi không
ưa những người
mà theo sự đánh
giá của chúng ta,
họ đã hành động
sai quấy. Nhưng
ngay chính ta,
đâu phải lúc nào
ta cũng hành
động đúng. Suy
cho cùng trong
chúng ta có ai
không từng làm
những chuyện
đáng hối tiếc.
Tôi không biết
về bạn, nhưng
chỉ cần soi lại
chính mình, tôi
cũng hiểu bạn
thế nào. Ai cũng
lầm lỗi, thì tại
sao lại đòi hỏi
người khác phải
hoàn toàn, muốn
người khác làm
chuyện ta không
thể làm được.
Có ba loại lòng
Từ. Thứ nhất là
lòng tốt (good
will). Chúng ta
phải có lòng tốt
đối với nhau. Ðó
là điều kiện
tiên quyết để
sống với nhau.
Nếu chúng ta
không tốt với
nhau, ta không
thể cùng ngồi
thiền với nhau.
Ta sẽ đứng dậy,
đi lung tung. Sẽ
làm ồn ào khi
mọi người quanh
ta cần yên tĩnh.
Sẽ không có xứ
sở nào tồn tại,
nếu người ta
không có lòng
tốt với nhau.
Bạn có nhận thấy
chúng ta lệ
thuộc vào nhau
rất nhiều không?
Chúng ta cậy vào
người phát thư
để có thông tin,
nhờ người bán
rau cải, nhờ nhà
nông để có lương
thực. Chúng ta
lệ thuộc vào
lòng tử tế của
các nhà hàng xóm.
Vì lòng tử tế là
điều kiện tối
cần cho cuộc
sống, chúng ta
không thể thiếu
nó, không có nó
cuộc sống sẽ đảo
lộn.
Thứ hai là tình
bằng hữu. Ta cảm
thấy gần gũi,
thân thiện với
một số người như
bạn bè, hàng xóm,
người quen biết,
người giúp đỡ
chúng ta. Sự
thân thiện là
một bước đến gần
hơn với lòng Từ,
nhưng chưa phải
là lòng Từ thật
sự. Nó làm chúng
ta thấy gần gũi
với người khác,
cũng như đem
người khác lại
gần chúng ta,
nhưng nó cũng có
khía cạnh nguy
hiểm của nó. Ðó
là lòng ưa thích.
Thường ta nghĩ
chẳng có gì xấu
trong đó, nhưng
trong sự ưa
thích, đã có sự
bám víu. Bám víu
vào bạn bè ta,
người quen, kẻ
ban ơn cho ta,
người thân chung
quanh ta. Sự bám
víu đó sẽ khiến
ta đau khổ, sân
hận, không phải
đối với người
thân của ta,
nhưng đối với
cái ý tưởng là
ta sẽ phải mất
họ. Sẽ sinh ra
lòng sợ hãi, vì
ta chỉ có thể sợ
hãi những gì ta
không ưa thích.
Do đó tình
thương thuần
khiết không còn
nữa. Vì chính sự
bám víu đã làm
hoen ố nó, làm
cho nó không còn
hoàn bích. Không
bao giờ ta có
thể tìm được an
vui với thứ tình
cảm đó. Ðiều đó
thường xảy ra
trong các gia
đình. Ðó là lý
do tại sao con
người không thể
tìm được hạnh
phúc trong loại
tình thương đó.
Tuy nhiên tình
thương chúng ta
dành cho người
thân trong gia
đình mình có thể
dùng làm hạt
giống để vun
trồng lòng Từ.
Rồi từ đó ta
phát triển, nhân
rộng nó lên. Chỉ
có như thế tình
cảm gia đình mới
có ý nghĩa. Nếu
không, nó trở
thành nơi ươm
mầm của tình cảm
sân hận - như
vẫn thường thấy
trong các gia
đình - như nước
sôi trong chiếc
ấm đậy nắp. Tình
cảm gia đình cần
được vun trồng
trong tim ta vô
điều kiện, không
cứ phải là chồng
tôi, vợ tôi, con
gái tôi, con
trai tôi, cậu
tôi, mợ tôi. Ðầy
tính cách sở hữu
của cái tôi. Nếu
như chúng ta
không thể vượt
lên và chuyển
đổi những tình
cảm đó thành vô
điều kiện, thì
tình cảm gia
đình đã không
được sử dụng
đúng chức năng
của nó. Trong
trường hợp đó,
nó được dùng để
củng cố cái tôi,
để đảm bảo cho
sự sinh tồn.
Nhưng sinh tồn
không phải là
một vấn đề, ta
không nên phí
thì giờ lo
chuyện đó. Dù có
bom nguyên tử
hay không, chúng
ta cũng không
thể tồn tại mãi
được, có phải
không? Chỉ có
một nơi chốn cho
tất cả chúng ta,
nơi mọi người
cuối cùng rồi sẽ
hội ngộ.
Tình bằng hữu
cũng đưa đến sự
bám víu. Chúng
ra bám víu vào
bạn bè. Sợ mất
họ, ta tốt với
bạn bè vì muốn
họ mãi là bạn
mình. Nhưng nếu
họ đối xử trả
lại không được
tốt, ta lập tức
nghĩ xem có nên
tiếp tục làm bạn
với họ không. Ta
đòi hỏi ở họ một
sự thân thiết,
lo lắng, quan
tâm trả lại.
Giống như kinh
doanh thương mại.
Một sự trao đổi
sòng phẳng. Ðó
là điều hầu như
tất cả chúng ta
đều làm, đến nỗi
ta chẳng bao giờ
để ý đến. Ðối
với bạn bè thì
thế, đối với gia
đình, chúng ta
còn đòi hỏi hơn
thế nữa. Nếu
người thân ta
không thương trả
lại, ta hờn tủi,
thất vọng, trầm
uất. Nếu họ bỏ
rơi ta, tình
thương trong ta
cạn kiệt. Thật
là kỳ lạ, khi
tình thương chỉ
giới hạn trong
một nhóm người.
Tình thương
không thể ẩn
tiềm trong con
người. Con người
chỉ là một đãi
xương bao bọc
bởi da. Làm sao
có thể tìm thấy
tình thương
trong đó. Nhưng
đó là bi kịch
của bao người.
Romeo và Juliet,
Cuốn theo chiều
gió... là những
bi kịch sân khấu
về người này ra
đi vì người kia
không yêu mình,
hay chia tay
nhau bằng cái
chết. Con người
trước sau gì
cũng phải xa
nhau, qua cái
chết hay qua sự
thay đổi tình
cảm, tư tưởng.
Họ cần chi phải
hành động như
thế. Làm sao
tình yêu có thể
ẩn tiềm trong
những người như
thế?
Tình thương tiềm
ẩn trong cảm xúc.
Nếu ta không sử
dụng tình cảm
gia đình làm nẩy
nở thêm cảm xúc
này, ta sẽ bị
mất thăng bằng
khi người ta
thương yêu, bám
víu vào biến mất
đi vì lý do nào
đó. Mục đích
chính của tình
cảm gia đình là
để giúp ta biết
thế nào là cảm
xúc thương yêu,
và từ đó nhân
rộng ra.
Phát triển tâm
Từ không phải
bằng cách dự một
lớp 10 ngày về
thiền hay nghe
thuyết pháp về
lòng Từ. Chúng
ta không thể mở
tắt tình cảm, lý
trí của mình như
một tắt mở bóng
đèn. Ta cần
luyện tập có
phương pháp một
cách kiên nhẫn
và với lòng
quyết tâm.
Trái tim ta cần
được rèn luyện
để yêu thương vì
nó không phải
được tạo ra để
lúc nào cũng
tràn đầy lòng
thương yêu. Nó
có thể yêu mà
cũng có thể ghét.
Nó cũng chứa đầy
ý xấu, sân si,
sợ hãi cũng như
tình thương.
Nhưng nếu như ta
không làm giảm
bớt sự hận thù
và phát triển
thêm tình thương
bằng cách thay
đổi cách cư xử
của ta trong đời
sống hằng ngày,
tâm ta sẽ không
thể an lạc, sự
an lạc mà Từ tâm
có thể mang đến
cho ta.
Khi trong ta đầy
tình thương -
loại tình thương
không có điều
kiện đối với tha
nhân - thì ta
tràn đầy an lạc.
Khi ta có thể
làm chủ được các
hành động của
mình. Trở nên tự
tin. Không sợ
hãi điều gì. Ta
tự biết mình đã
được rèn luyện
đến độ sẽ không
thể có một phản
ứng giận dữ,
ghen ghét, dù
nhỏ đến đâu có
thể xảy ra để
làm ta mất đi sự
bình yên. Ðó là
kết quả đầu tiên
và hoàn thiện
nhất mà ta có
thể có được do
đã ươm trồng
lòng Từ trong
tim ta.
Quan trọng hơn
cả là tình
thương đó đã
được vun trồng
dành cho những
kẻ không "đáng
thương" chút nào.
Ðó chính là cơ
hội thực tập để
thay đổi con tim
và lý trí của
mình. Chúng ta
ai không từng
biết một đôi
người "khó
thương" nhưng
hãy coi họ là
người giúp ta tự
rèn luyện tâm.
Sau khi chuyện
đã rồi, nhìn lại
cũng là dễ chấp
nhận, nhưng ngay
lúc ta phải đối
mặt với người đó
thì tất cả những
tình cảm tiêu
cực ấy lên trong
ta : ghét, giận,
biện hộ cho thái
độ giận ghét của
mình v.v... đó
đúng là lúc ta
cần sử dụng tình
thương của mình.
Ðúng khi ta đang
sân si.
Ðừng bỏ lỡ những
cơ hội đó. Hãy
mang tình thương
đến với mọi
người, dù là
người ta ghét
hay ta thương.
Mỗi người ta
tiếp xúc đều
mang đến cho ta
những cơ hội để
học tập, thực
hành lòng Từ,
bất kể người đó
là ai. Không kể
họ nói gì, không
cần họ có quan
tâm đến bạn hay
không, hay chính
họ có lòng từ
hay không. Không
có gì đáng kể,
cái đáng kể là
những gì đang
xảy ra trong
lòng bạn, và đó
là điều duy nhất
bạn cần nói tới.
"Nếu trong lòng
tôi chỉ có tình
thương, lòng
thương xót, chấp
nhận, nếu tôi có
thể dẹp bỏ sân
si trong lòng,
thì tôi đã đi
được những bước
chân đến gần hơn
với đạo pháp".
Giáo lý đức Phật
dạy cần phải
được hiểu thấu
đáo, rồi đem áp
dụng, thể hiện
chúng trong cuộc
sống của chúng
ta.
Ai cũng có cơ
hội để sửa đổi
các cách ứng xử
của mình với
người khác.
Chúng ta luôn
tiếp xúc trao
đổi với người
khác, và lúc nào
cũng sẽ có người
không đồng ý với
chúng ta. Khi đó
nếu chúng ta làm
thinh, không
thèm trả lời thì
đó không phải là
phản ứng của
lòng Từ. Trái
lại, nó chỉ đem
lại sân hận, bất
mãn, lo âu, rồi
dẫn đến bất cần,
lạnh nhạt. Tất
cả những thứ đó
không ích lợi gì,
và cũng chẳng
giúp chúng ta
thanh tịnh được.
Chỉ khi nào ta
có thể hành xử
với trái tim đầy
tình thương, ta
mới tìm thấy
được sự an lạc,
bình an với
chính mình.
Phật đã nói về
11 điều lợi ích
của lòng Từ. Ba
điều đầu tiên là:
"ngủ ngon, không
ác mộng, và tỉnh
giấc sảng khoái".
Nếu ai bị mất
ngủ, bạn có thể
đoán rằng là ít
nhiều họ đã
thiếu lòng Từ và
thuốc ngủ khó
thể chữa được
bệnh cho họ.
Nhưng lòng Từ có
thể giúp họ dễ
ngủ. Và vì tiềm
thức không có gì
bứt rứt, nên
không có ác mộng,
không ác mộng
thì thức dậy
cũng sảng khoái
như khi họ lên
giường ngủ, đó
chính là nhờ họ
có lòng Từ, tính
nhân ái đối với
tất cả mọi người.
Một cách ứng
dụng là trước
khi đi ngủ,
chúng ta hãy thử
làm một bảng cân
đối (balance
sheet) bằng ý
nghĩ hay viết
xuống trên giấy.
Chia tờ giấy làm
hai cột: hôm nay
tôi đối xử tử tế
với người khác
được bao nhiêu
lần? Cột bên kia
ghi: bao nhiêu
lần tôi cảm thấy
giận dữ, đau đớn,
sợ hãi, bứt rứt
khi đối đầu với
người khác? Rồi
cộng lại hai cột.
Nếu cột tiêu cực
nhiều hơn tích
cực, thì ta cần
phải tu sửa.
Giống như người
bán hàng kiểm
tra hàng hóa của
mình, những món
hàng không ai
mua, tất nhiên
phải đem trả lại.
Ðó là phương
cách tập luyện.
Không có gì là
bẩm sinh, dù
tánh xấu hay
tánh tốt. Ta
phải luôn luôn
huân tập sửa đổi
bản thân cho đến
khi tất cả những
ô uế ở thân tâm
đều được tẩy
sạch. Nhưng
không phải vì
nhờ ai cũng tốt.
Không. Nếu ai
cũng tốt, mọi
người đều đang ở
cõi trời hết cả
rồi. Ðâu phải có
mặt ở đây làm gì.
Ðây là cõi thứ
năm tính từ dưới
lên trong 31 cõi.
Thử nghĩ xem
chúng ta đang ở
cõi thứ 5 trong
31 cõi, cũng khó
thể mong đợi gì
hơn ở con người
trong cõi ấy?
Chúng ta có rất
nhiều điều phải
học trong cõi
này, và có lẽ
mục đích của cõi
này chính là thế,
để con người có
cơ hội rèn luyện
mình thêm. Không
phải để chúng ta
tìm kiếm sự
thoải mái, tiền
bạc, của cải, sở
hữu. Cuộc đời
chính là một
trường học. Ðây
là bài học quan
trọng nhất, bài
học để giúp trái
tim ta thêm bao
la. Không thể có
bài học nào quan
trọng hơn. Giống
như trong một
khu vườn, khi cỏ
dại mọc quanh
một khóm hoa
hồng, thì bao
nhiêu phân bón
cho hoa hồng đều
vô ích, hồng sẽ
không thể ra hoa,
con người sẽ
chẳng được ngửi
mùi hương của
hoa. Dần dần cỏ
dại sẽ phủ trùm
lên hoa. Trái
tim ta cũng thế.
Khóm hoa hồng là
lòng Từ đang
được ươm trồng.
Nếu chúng ta
không nhổ cỏ dại
để cây được ra
hoa, tỏa hương
thì dần dần cây
hoa Từ cũng tàn
lụi. Cỏ dại
chính là lòng
sân si của chúng
ta.
Phần đông chúng
ta đều đi tìm
người yêu thương
mình. Cũng có
người tìm được
một đôi kẻ yêu
thương họ và họ
có thể thương
trả lại. Nhưng
có biết bao kẻ
xấu số khác
không thể tìm
được ai. Họ trở
nên cay đắng hờn
tủi. Trong khi
mọi việc đáng lý
phải làm ngược
lại. Vì nếu
chúng ta là
người đầy lòng
thương đối với
mọi người thì sẽ
có bao nhiêu
người đến với
chúng ta, vì có
ai mà không muốn
được yêu thương.
Ðược người khác
thương yêu không
có nghĩa là ta
cũng đầy tình
thương. Chính kẻ
yêu ta mới có
tình cảm yêu
thương. Trong
khi có thể ta
chẳng có cảm
giác gì cả,
ngoài lòng thỏa
mãn là đã có
người thấy ta dễ
thương. Ðiều đó
chỉ làm cái tôi
của chúng ta
thêm lớn. Trong
khi yêu thương
người khác thì
cái tôi của ta
nhỏ bé lại.
Tình thương của
ta càng bao la,
ta càng có thể
yêu thương nhiều
người, cũng như
được nhiều người
yêu thương lại.
Càng cho bao
nhiêu, thì ta
lại càng được
bấy nhiêu. Ðó là
phép tính cân
đối đơn giản
nhưng ít có ai
thấy ra điều đó.
Ai cũng đi kiếm
thêm người yêu
mình, nhưng
không muốn ban
phát tình thương
cho ai cả. Ðiều
đó thật không
tưởng, thật
nghịch lý. Nhưng
trong đời sống
của ta có biết
bao điều nghịch
lý.
Ðây cũng là điều
đức Phật đã nói
trong 11 điều
lợi ích: "Ta
được con người
và muôn loài yêu
thương". Nếu ta
ban phát tình
thương đến cho
người khác, thì
tự họ sẽ tìm đến
với ta. Không
thiếu người yêu
thương ta. Ta
ban phát cho
người khác tình
thương, không
phải vì ta muốn
cho, không phải
vì họ cần, không
phải vì họ đáng
để cho, nhưng vì
trái tim ta đã
được rèn luyện
để làm như thế.
Giống như người
ta được rèn
luyện về toán.
Khi những con số
được đưa cho họ,
họ sẽ tổng cộng
chúng lại nếu họ
muốn biết tổng
số. Không có
cách gì khác hơn.
Cũng thế, nếu
trái tim ta đã
được rèn luyện
để yêu thương
thì nó sẽ yêu
thương vô điều
kiện.
Chắc sẽ có người
lên tiếng phản
đối rằng: "Nếu
người khác cộc
cằn thô lỗ với
mình, mà mình
đối xử với họ
đầy tình thương,
họ sẽ lợi dụng
ta sao?". Nếu
người khác có
làm như thế,
điều đó có thể
xảy ra lắm vì
bản tính người
đời là thế.
Nhưng đó là
nghiệp ác của họ
có phải không?
Trong khi người
tử tế không có
gì mất cả. Làm
sao bạn có thể
mất được tình
thương vẫn đầy
ắp trong tim
mình? Nếu có bị
lợi dụng, thì đó
cũng là cơ hội
để ta thử kiểm
chứng lại trái
tim mình xem nó
đã được tôi
luyện đến mực
nào, xem chính
mình có trở nên
hờn giận hay vẫn
có thể tiếp tục
đối xử tốt với
kẻ xấu đó. Là
dịp để ta xét
soi mình có hành
động đúng không?
Trong tình
thương có cả sự
quan tâm đến
người khác. Do
đó một kẻ lợi
dụng không thể
có tình thương.
Không nên sợ
tình thương làm
mình có vẻ yếu
đuối,vì tình
thương yêu thật
sự chỉ làm con
người trở nên
mạnh mẽ hơn,
không phải yếu
đuối. Một người
không có gì
ngoaì tình cảm
thương yêu sẽ
luôn cảm thấy an
ổn, hoàn toàn tự
tin vì người đó
biết rằng không
có gì có thể lay
chuyển được tình
cảm của họ. Tình
thương vô điều
kiện tăng thêm
sức mạnh cho con
người, không
phải sự yếu đuối.
Nhưng nếu tình
thương đi đôi
với đam mê như
người ta vẫn
thường mê lầm,
thì tình thương
lúc đó sẽ làm
con người yếu
đuối vì họ trở
nên bám víu, ích
kỷ. Trong khi
nếu tình thương
đến từ trái tim
thì tình cảm đó
bền vững hơn đá.
Một điều lợi ích
khác của lòng Từ
là nó giúp ta dễ
nhiếp tâm. Ðó là
lý do tại sao ta
nên bắt đầu một
buổi ngồi thiền
với những ý
tưởng tốt đẹp về
chính mình. Tâm
không thể trụ
nếu không có ba
điều căn bản :
sự rộng lượng,
đạo đức và lòng
từ. Ðó là ba cột
trụ của thiền,
giúp ta thực tập
thiền. Lòng từ
phát xuất từ
trái tim, không
thể thiếu khi ta
ngồi thiền vì
tình cảm ấy đem
lại cho ta sự
bình an, tĩnh
lặng trong tâm.
Nếu thiếu điều
đó ta cần thực
tập chú tâm vào
từ tâm trước mỗi
buổi ngồi thiền
để phát triển
lòng từ trong ta.
Ta không thể
thương yêu người
khác nếu trước
tiên ta không
biết yêu thương
chính mình.
Nhưng không phải
bằng cách phụng
sự nó. Tìm đủ
cách để cho nó
được êm ấm,
thoải mái không
được có một con
muỗi ở bên cạnh,
đầy đủ thức ăn
mà ta ưa thích.
Ðó không phải là
thương yêu mà là
phục dịch. Giống
như tình thương
của người mẹ
dành cho con của
mình phải sáng
suốt. Nếu người
mẹ chỉ biết cưng
chiều đứa trẻ,
thì nó và cả mẹ
nó, sẽ phải trả
giá cho sự cưng
chiều đó. Nhưng
nếu người mẹ yêu
thương con thực
sự, bà sẽ không
nuông chiều nó
thái quá. Bà sẽ
dạy con với lòng
thương và trí
sáng suốt, uốn
nắn tánh tính nó.
Ðó chính là điều
ta phải làm đối
với bản thân ta.
Vì thương chính
mình, ta phải
bắt mình tuân
theo một số điều
lệ hành động.
Thực tập thiền
là một cách
thương yêu mình.
Sự chú tâm ta có
thể đạt được
trong lúc toạ
thiền tùy thuộc
vào lòng từ
trong tim ta.
Ðồng thời cũng
tùy thuộc vào sự
thực tập. Nếu
thiếu thực tập,
lòng từ khó thể
giúp cho sự chú
tâm đến với
chúng ta.
"Da dẻ hồng hào"
có nghĩa là trên
gương mặt ta
biểu lộ sự an
bình. Không có
thứ thuốc sửa
sắc đẹp nào có
thể sánh kịp. Ðó
là nét đẹp từ
bên trong. Người
trẻ tuổi có thể
chỉ có cái đẹp
bề ngoài, nhưng
trống rỗng bên
trong. Nếu quan
sát, người ta
cũng dễ dàng
nhận được vẻ đẹp
toát ra bên
trong. Phật
thường được tả
như thế. Có
người chỉ cần
nhìn thấy Phật
một lần, đi trên
đường là đã phát
sinh lòng yêu
kính Ngài, muốn
được theo Ngài
để trở thành đệ
tử của Ngài. Có
lần Rahula, con
trai của Ngài tỏ
ra hãnh diện vì
được giống Ngài.
Phật liền quở
dạy : "Phải coi
tất cả hình
tướng bề ngoài
như thế này. Ðây
không phải là
của tôi, không
phải là tôi, tất
cả chỉ là giả
tưởng".
Một điều lợi ích
nữa của từ tâm
là "Lửa thuốc
độc làn tên
không thể hại
tới ta". Ngày
nay người ta
không dùng tên
nữa, mà dùng
súng đạn, dùi
cui, còn lửa và
thuốc độc muôn
thưở vẫn là
những thứ dùng
để tấn công. Nói
thế không có
nghĩa là ta trở
nên bất khả xâm
phạm nhưng những
người đầy từ tâm
hiếm khi rơi vào
những hoàn cảnh
đó. Và dù có lâm
vào những hoàn
cảnh như thế,
lòng họ cũng
không hề bị xao
xuyến. Của cải
họ có thể bị hao
hụt, nhưng trái
tim của họ thì
không. Trái tim
không thể bị
khuất phục khi
trái tim chỉ có
tình thương,
không còn lòng
hờn ghét.
"Ta sẽ được chết
bình an". Tất cả
chúng ta ai rồi
cũng chết. Giờ
phút lìa khỏi
đời rất quan
trọng, vì đó
chính là giây
phút của tái
sinh, đúng ra đó
là ngày sinh
nhật. Nhưng ta
thường nói về
cái chết với sự
đau buồn mất mát.
Thực ra nếu ta
có thể đón chờ
cái chết với
tỉnh thức, với
từ tâm thì đó
chính là ngày
sinh tốt đẹp của
ta. Tất cả đều
không khác, trừ
khi bạn là một A
la hán. Thói
quen suy tưởng,
xúc cảm hằng
ngày sẽ theo ta
đến tận cuối đời,
giây phút lâm
chung. Các thói
quen đó không
thể thay đổi đột
ngột. Vì thế nếu
các thói quen đó
xuất phát từ
lòng từ thì ta
sẽ rất tỉnh thức,
không thấy sợ
hãi, lòng đầy
bình an, và vững
niềm tin. Giây
phút lià đời
phải là giây
phút tốt đẹp vì
đó là bước khởi
đầu của sự tái
sinh.
Lòng từ nuôi
dưỡng trong tâm
sẽ đem lại lợi
ích cho chính
chúng ta. Ai đó
đã nói rất đúng.
Từ tâm chính là
lòng thương yêu
chính mình. Ðúng
thế, nhưng tình
thương này không
phải là tình
thương tầm
thường ích kỷ,
mà nó là bàn đạp
để đưa chúng ta
đến cái đích
cuối cùng: Vô
Ngã. Thật thế
khi trái tim ta
càng có nhiều
lòng từ, ta càng
như thể không
còn nghĩ đến
chính bản thân
mình, đến cái
tôi của mình. Và
khi cái tôi trở
nên nhỏ bé hơn
thì tình thương
yêu càng dễ phát
triển hơn. Khi
ta nghĩ đến
người khác nhiều
hơn, thì Ngã
phải nhường chỗ
cho họ trong
trái tim. Dĩ
nhiên họ là
người được lợi
nhưng đó chỉ là
thứ yếu. Chỉ có
ta mới có thể tự
giải thoát cho
chính mình. Ai
cũng phải ra đi
một mình. Nhưng
nếu có những
người bạn đồng
hành cùng muốn
đi theo con
đường của ta,
thì ta cũng mở
rộng vòng tay
đón mời họ, vì
con đường,
chuyến xe này
hãy còn vắng vẻ
làm sao.
2. Bi
Người bạn thứ
hai là Bi. Ðối
nghịch với Bi là
sự ác độc. Ðừng
lầm Bi với lòng
thương hại. Lòng
thương hại dấy
khởi khi ta cảm
thấy tội nghiệp
cho ai đó. Bi là
khi chúng ta
chia sẻ lòng xót
thương với họ.
Bi là cùng cảm
thông với một
người khác.
Bi phát sinh khi
ta cảm nhận được
sự đau khổ,
không như ý của
người khác trong
chính bản thân
ta. Chỉ có như
thế ta mới thực
sự cảm thông
được với người
khác. Nếu không,
ta sẽ tiếp tục
sống với ảo
tưởng là đối với
ta, mọi việc đều
bình thường, chỉ
có người khác là
có vấn đề là đau
khổ. Nếu ta có
thể nhận diện
được tất cả
những trạng thái
bất như ý, dồn
dập xảy ra trong
ta, sự không ưa
thích và chán
ghét, hối hận và
hờn trách, sợ
hãi và lo lắng,
căng thẳng, thì
ta hiểu rằng tất
cả chúng ta đều
cùng một số phận.
Ðể khi người
khác gặp chuyện
khó khăn, ta có
thể thông cảm
với họ, vì ta
biết rằng chính
mình cũng có khổ
đau.
Sự cảm thông
(Bi) là bước đầu
dẫn đến tình
thương. Nếu ta
có thể thực sự
dấy lên tong
lòng một cảm xúc
chân thành cho
ai đó, cảm thông
sâu sắc nỗi khó
khăn của họ,
những gì họ phải
hứng chịu, thì
sự thương cảm
đối với họ cũng
tự nhiên đến
trong lòng ta.
Tuy nhiên ta
không nên có sự
phân biệt giữa
người này, kẻ
kia theo thói
thường tình.
Thường chúngta
dễ cảm thông với
những người có
liên hệ gì đó
với ta. Như
người đồng tôn
giáo cùng nhóm
bạn, đồng quê
hương láng giềng
hay gì gì đó mà
ta cũng quan tâm
đến. Một cái gì
đó để ta có thể
nói "của tôi"
thì ta chọn lựa
cái đó. Sự lựa
chọn này đẩy con
người ra xa nhau,
và dầu họ đi đến
đâu tên thế giới
này tinh thần
chia rẽ đi theo
đến đó. Làm con
người sâu xé
nhau.
Sự chia rẽ này
do quan niệm
chấp "Ngã" mà ra.
Ðây là cái tôi,
tôi phải bảo vệ
cái tôi của mình.
Cái tôi bị đe
doạ, cái tôi
thường xuyên cảm
thấy đe doạ, đến
nỗi tôi cũng
không biết rõ về
mình, không thực
sự biết "cái tôi"
này là gì. Tất
cả cái ta biết
là sự đe doạ đến
cái tôi làm tôi
sợ hãi. Nơi nào
có sự sợ hãi,
nơi đó không có
cảm thông (Bi)
vì sợ hãi xuất
phát từ sân hận.
Chúng ta chỉ sợ
những gì ta ghét.
Những gì ta ưa
thích, ta không
sợ. Trái tim nào
càng có nhiều sự
sợ hãi, trái tim
đó càng ít có sự
đồng cảm (Bi).
Sợ hãi luôn núp
dưới bóng của
ngã. Một vị A
lán hán hoàn
toàn không có sự
sợ hãi. Không có
sự sợ hãi ở
người đã giác
ngộ. Không có sự
sợ hãi, vì không
có gì để được
hay mất. Tất cả
đều trở thành
tầm thường không
đáng kể. Càng
nhiềuu ngã chấp,
sự sợ hãi càng
tăng. Sợ bóng
tối, sợ trộm
cướp, sợ thời
tiết xấu, sợ
tương lai, đủ
thứ sợ. Sự sợ
hãi xuất phát từ
lòng muốn bảo vệ
cái tôi giả tạo.
Và càng muốn bảo
vệ cái tôi bao
nhiêu, lòng cảm
thông (Bi) càng
bị giới hạn.
Tuy nhiên sự cảm
thông dễ trở
thành những điều
nói ở đầu môi.
Ta có thể không
thật. Phần lớn
chúng ta đều rất
giỏi "đóng kịch".
Một lần Pessa,
con của người
dạy voi, đến gặp
Phật và nói với
Ngài; "Con chẳng
gặp khó khăn gì
với lũ voi. Hình
như chúng nghĩ
sao, làm vậy.
Khi chúng có một
ý định gì đó,
con hiểu ngay,
và chúng làm
đúng theo ý định
đó. Nhưng sao
con người khó
hiểu quá. Họ nói
một đường và làm
một nẻo". Phật
nói: "Ðúng vậy,
voi sống trong
rừng cây, còn
con người thì
sống trong rừng
tâm tưởng". Con
người nói một
điều, nhưng ý
nghĩ hành động
lại khác. Tệ hại
hơn nữa là ta
không hề ý thức
chuyện đó là
không tốt. Ta
tưởng đó là việc
phải làm. Là
luật ứng xử,
phong tục,
truyền thống nên
chúng ta không
xét lại kỹ lưỡng
ý tứ, lời nói và
hành động của
mình.
Chỉ nghĩ nào ta
soi lại mình một
cách thấu đáo,
với lòng thiết
tha thành khẩn,
ta mới có thể
thật sự hiểu
được những điều
Phật dạy. Phật
đã giảng nghĩa
rõ ràng về bản
tánh của chúng
ta. Ngoài mặt,
tất cả chúng ta
đều như khác
nhau nhưng bên
tong tất cả đều
giống nhau.
Chúng ta giống
như từ một khuôn
ra, chạy đuổi
theo cùng thứ,
đi theo cùng con
đường. Sự khác
nhau chúng ta
thấy chỉ là giả
tạo. Tuỳ thuộc
vào cái nhìn của
bản Ngã.
Tất cả những
người có ý thức
đều than phiền
về chiến tranh
giữa các quốc
gia. Ai cũng
muốn nhìn thấy
thế giới được
hoà bình. Dĩ
nhiên là điều đó
không thể có. Ở
thế kỷ này hình
như lúc nào cũng
có chiến tranh ở
nơi này nơi khác.
Các xứ sở đua
nhau thành lập
những hàng phòng
thủ kiên cố, đổ
vào đó bao nhiêu
là năng lực,
tiền bạc, và con
người. Chính các
hệ thống phòng
thủ này biến
thành hệ thống
tấn công ngay
lập tức nếu như
có ai tuyên bố
lời nào không
thân thiện hay
hơi có vẻ đụng
chạm đến không
phận hay hải
phận của họ.
Hành động này
được giải thích
biện hộ bằng "chúng
ta phải bảo vệ
biên giới của
mình để bảo vệ
dân cư ở đó".
Việc bãi bỏ vũ
khí chỉ là ước
vọng, một lời
cầu nguyện,
không phải là
thực tế. Tại vì
sao? Vì việc bãi
bỏ vũ khí phải
bắt đầu từ trái
tim của mọi
người, nếu không
việc bãi bỏ vũ
khí đại trà sẽ
không thể nào
xảy ra.
Việc phòng thủ
và tấn công nói
rộng ra luôn xảy
ra trong chính
mỗi chúng ta.
Chúng ta không
ngừng bảo vệ cái
tôi của mình.
nếu ai đó nhìn
chúng ta một
cách không thân
thiện, hoặc tỏ
ra không biết ơn,
không thương yêu
ta giống như ta
mong muốn, hay
trách cứ chúng
ta điều gì thì
sự phòng thủ đó
biến thành sự
tấn công. Lý
luận rằng ta
phải bảo vệ
người này "xứ sở"
nọ, là bảo vệ "cái
tôi" để bảo vệ
dân cư là bảo vệ
cái ngã của mình.
Vì hầu hết mọi
người đều hành
động như thế,
nên các quốc gia
cũng làm như thế.
Không thể hy
vọng có sự thay
đổi xảy ra trừ
khi mỗi cá nhân
biết tự sửa đổi.
Do đó, mỗi người
chúng ta phải tự
phấn đấu để tìm
hoà bình cho
chính nội tâm
mình. Ðiều đó có
thể xảy ra nếu
mỗi cái tôi có
thể thu nhỏ lại
bớt, và vấn đề
ngã chấp chỉ có
thể giảm thiểu
khi chúng ta có
thể thật lòng
soi rọi lại mình.
Một cách để làm
việc đó là đặt
tên cho các tư
tưởng của mình (labelling).
Có thế ta mới
khám phá ra các
tư tưởng xấu của
mình, từ đó bớt
quan trọng hóa
mình, hay tư
tưởng của mình.
Ðó là hành Thiền.
Một cách khác để
soi mình cặn kẽ
là biết chấp
nhận sự thật khi
trong ta dấy lên
những tư tưởng
xấu và không thể
đè nén chúng.
Phải nhận ra
rằng con người
luôn khao khát
thoả mãn các ngũ
dục. Sự thành
thật cặn kẽ này
giúp cho cái tôi
của chúng ta bớt
trương phồng lên.
Khi ta làm được
như thế, lòng
cảm thông (Bi)
trở nên là một
hiện thực - lòng
cảm thông chân
thật, không chỉ
là lời nói đầu
môi. Nói thì dễ
thôi, ai cũng
làm được điều đó.
Từ 6 tuổi trở
lên là đã có thể
học thuộc lòng
bài thiền quán
về lòng từ.
Những lời này
rất hay, nhưng
thực sự chúng
giúp được gì cho
ta? Sự lập đi
lập lại những
lời này khiến ta
đánh mất xúc cảm
ban đầu, trong
khi ta sống tùy
thuộc vào xúc
cảm của mình.
Ðừng hiểu lầm
rằng ta sống
theo lý trí. Sự
thật là mọi việc
bắt đầu bằng xúc
cảm, rồi phát
sinh ra hành
động. Sau cùng
tiến trình tư
tưởng mới xuất
hiện để lý giải
cho hành động
của mình.
Hiểu được cảm
xúc của mình là
một điều tối
quan trọng. Ðó
là điều cơ bản.
Làm sao chúng ta
"tri thức" biết
thế nào là tình
thương, lòng cảm
thông nếu chúng
ta không có
những xúc cảm đó?
Chúng ta có thể
biết về chúng
nhưng làm sao
thể hiện chúng,
nếu ta không có
xúc cảm đó? Giải
thoát không phải
là một "tri thức",
nó là ột cảm xúc.
Lòng cảm thông
(Bi) là một tình
cảm xuất phát từ
trái tim , không
cần có lý do hay
điều kiện gì đặc
biệt. Ta không
cần phải đợi một
dịp nào để cảm
nhận được rằng
ai đó đang phải
đối mặt với một
bi kịch trong
đời hay cơ thể
họ đang làm họ
đau đớn. Nếu
lòng cảm thông
của ta phải được
kích thích gọi
mời thì lòng cảm
thông không phải
luôn luôn có mặt
trong tim ta mà
lúc có lúc không
nhưng phần nhiều
là không. Ðó
không phải là
một trái tim đầy
cảm xúc. Một
trái tim đầy cảm
xúc - cũng giống
như một trái tim
đầy tình thương
- luôn đầy
thương cảm vì
biết rằng ai
cũng có nỗi khổ.
Sự đau khổ đã
được nhắc đến
trong đế đầu
tiên của tứ đế (khổ
đế) của Phật
pháp. Không có
ai thoát khỏi sự
đau khổ vì cuộc
đời - sự hiện
hữu của ta -
chính là sự khổ
đau. Nhưng nó
không phải là bi
kịch. Nó chỉ có
nghĩa là vạn
pháp trên đời
đều ẩn chứa
trong đó sự xung
đột, bất như ý,
bực dọc, lòng
mong muốn được
có nhiều hơn,
muốn không bị
mất mát, thay
đổi hay hoại
diệt. Trừ các vị
A la hán, bản
tánh con người
không phải dễ
dàng buông xả,
vì thế lòng cảm
thông (Bi) cần
luôn có mặt,
không đợi đến
khi người khác
bị cảnh long
đong.
Nếu quá chấp Ngã,
người ta khó thể
cảm thông với
người khác. Chấp
Ngã là nguồn gốc
của bao vấn đề
giữa con người
với nhau. Vì nếu
ai cũng bận rộn
lo cho cái tôi
của mình, thì
làm sao còn cảm
xúc cho người
khác. Thường
người quan tâm
đến kẻ khác bị
coi là cá biệt,
không giống ai.
Thật đáng tiếc
vì chính người
có lòng thương
và cảm thông đối
với người khác
mới thật là
người hạnh phúc.
Tuy nhiên, phần
lớn chúng ta
thiếu lòng từ
bi. Hạnh phúc
thực sự khó tìm
thấy ở mọi nơi.
Trong khi chính
hai tình cảm này
(Từ và Bi) đem
lại cho ta niềm
vui vì giúp
chúng ta bớt
nghĩ đến cái tôi
của mình, bớt
chấp ngã. Người
mà quá chấp ngã,
không thể có
niềm vui vì họ
không bao giờ
mãn nguyện trong
việc thoả mãn
cái tôi của mình.
Không bao giờ ta
có thể giải
quyết hết những
vấn đề của mình,
vì hết điều này
thì đã có điều
khác dấy lên.
Nhưng khi ta
buông bỏ nó mà
hướng tất cả chú
tâm vào sự không
toại nguyện, đau
khổ mà mọi chúng
sinh đều phải
đối mặt, ta sẽ
nhận ra được cái
khổ của tất cả
nhân loại. Lúc
đó những nỗi
niềm riêng của
chúng ta trở
thành quá nhỏ
mọn, không đáng
kể. Nỗi đau của
ta chỉ là một
phần của sự hiện
hữu chung. Lúc
đó lòng cảm
thương cho chính
mình và cho tha
nhân sẽ phát
sinh. Và quyết
tâm để tận diệt
mọi khổ đau sẽ
được thêm sức
mạnh cần thiết
để làm điều đó.
3. Hỉ
Người bạn kế
trong bốn người
bạn của ta là sự
biết chia sẻ
niềm vui với
ngươì khác hay
là hỉ. Ðối
nghịch với hỉ là
lòng ganh tị.
Chớ lầm hỉ với
sự đãi bôi, giả
đạo đức, nói một
điều mà nghĩ một
điều. Thí dụ nếu
có ai được may
mắn gì đó, ta
phải chúc mừng
nhưng trong lòng
không có tình
cảm đó, hay tệ
hại hơn nói một
điều mà nghĩ một
điều khác. Giống
như là "Sao tôi
không là người
may mắn đó? Sao
lúc nào cũng là
người khác? "
Chia sẻ niềm vui
với người khác
là liều thuốc
nhiệm mầu, chữa
bệnh trầm cảm.
Ai đang vướng
chứng bệnh này
là vì họ không
biết chia sẻ
niềm vui với kẻ
khác, họ thiếu
hỉ tính. Trong
cuộc đời ta
không có nhiều
dịp để mãn
nguyện, vui mừng,
nhưng nếu ta
biết chia sẻ
niềm vui của kẻ
khác thì chắc
chắn là ta sẽ có
nhiều cơ hội để
hạnh phúc hơn.
Ta có thể chia
sẻ niềm vui với
những người có
khả năng. Nhiều
người khó chấp
nhận sự tài giỏi
của người khác.
Họ sẽ miễn cưỡng
nói rằng: "Ứ,
cho là ngườii đó
có thể làm được
như vậy đi,
nhưng mà ..." và
lập tức chê bai
thay vì chia sẻ
niềm vui với
người tài giỏi
hơn mình. Người
khác có thể làm
bao nhiêu việc
giỏi hơn ta.
Ngươì biết hát,
người biết vẽ,
biết nhảy, biết
phiên dịch,
người có thể làm
ra tiền, người
có thể sống
không cần đến nó.
Mọi người đều có
một khả năng gì
đó. Ta sẽ có
biết bao niềm
vui nếu biết
chia sẻ với họ.
Chia sẻ niềm vui
với người khác
cũng là một cách
tạo nghiệp lành.
Tôi đã ở một
làng nhỏ nơi có
phong tục là khi
có chuyện gì vui
trong làng,
người ta lại ra
chùa đánh chuông
báo với mọi
người. Ðược mùa,
gả vợ gả chồng
cho con , xuất
viện, làm ăn tốt,
sửa được nhà...
bất cứ điều gì
có thể làm cho
người ta vui
mừng. Khi tiếng
chuông vang lên,
mọi người đều
nhìn ra hướng đó
mà nói lời chúc
mừng. Người đánh
chuông đã tạo
nghiệp lành bằng
cách làm cho mọi
người có thể
chia sẻ niềm vui
với mình. Những
người kia cũng
tạo được nghiệp
lành vì đã chia
sẻ niềm vui với
người khác.
Nhiều nơi khác
không có phong
tục đó. Ta phải
tự rung tiếng
chuông hoan hỷ
trong lòng mình.
Ðó là một điều
rất quan trọng
để nhớ, phải nhớ
những điều Phật
dạy trong mọi
hoàn cảnh, để
thực hành chúng.
Không phải chỉ
nhớ trong một
hoàn cảnh nào đó,
hay khi có tai
biến, nhưng phải
luôn luôn nhớ
đến chúng vì đó
là bí quyết để
sống một cuộc
đời hạnh phúc và
bình an. Phật đã
nói: "Ta chỉ dạy
một điều là đau
khổ, và đoạn
diệt khổ". Phật
đã đại nguyện
thệ như thế và
đã thực hiện
được những điều
đó. Ðó là Phật
pháp - đoạn diệt
khổ. Ta phải
luôn nhớ chấp
ngã là nguồn gốc
của mọi vấn đề
và cố gắng sửa
đổi, nếu không
là ta đã quên
lời Phật dạy.
Những lời đó
phải thường trú
trong tâm trí
chúng ta vì lợi
ích của chúng
không chỉ là lợi
ích nhất thời.
4. Xả
Người bạn cuối
cùng của chúng
ta là lòng an
nhiên tự tại (Xả),
một trong những
tình cảm cao
thương nhất. Ðối
nghịch với nó là
sự lo lắng bồn
chồn. Nhưng chớ
lầm xả với sự
thờ ơ lãnh đạm.
Thờ ơ là trạng
thái tâm hồn nói
rằng: "Tôi chẳng
quan tâm khi
việc đó chẳng
xảy ra cho tôi
hay gia đình tôi.
Tôi không muốn
biết chuyện đó.
Tôi không muốn
phải bận tâm vì
nó". Sự thờ ơ là
thaí độ lạnh
nhạt xa lánh.
Thái độ đó không
dung chứa tình
thương, lòng từ.
Ta chỉ muốn bảo
vệ riêng cho
mình, vì thế ta
trở nên thờ ơ
lãnh đạm.
Trong khi xả,
hay sự bình an
tự tại dựa trên
trí tuệ, dựa
trên sự hiểu
biết rằng mọi sự
vật đều thay đổi,
đều hoàn toàn vô
thường. Dầu
chuyện gì xảy ra
rồi nó cũng qua
đi. Cái gì sẽ
xảy đến cũng
chẳng quan trọng
gì. Cánh cửa đưa
đến bất tử qua
vô thường là
cánh cửa không
tên, có nghĩa là
không có gì quan
trọng cả. Trong
cả vũ trụ này,
không có gì quan
trọng cả trừ sự
giải thoát. Vì
vậy sự thanh
thản an nhiên (xả)
phải xuất phát
từ ý thức nội
tâm rằng tất cả
mọi vật đều thay
đổi, dù cho
chuyện gì đã xảy
ra, tốt hay xấu,
cũng không làm
ta vui mừng hay
buồn bã. Nó chỉ
xảy ra. Chúng ta
chỉ có mặt ở nơi
này trong 60,
70, hay 80 năm.
Vậy tất cả những
lo lắng, chộn
rộn là cho cái
gì? Có gì để nắm
giữ, có gì để
mong cầu? Sự
việc chỉ xảy ra.
Vì muốn bảo vệ
cái tôi mà ta
không có tâm xả,
hoàn toàn an
nhiên tự tại.
Chúng ta sợ rằng
"tôi có thể bị
nguy hiểm, việc
này việc nọ sắp
ảnh hưởng tới
tôi nên cuộc
sống ta không
yên ổn". Sự yên
ổn mà mọi người
theo đuổi chỉ là
viễn vọng, ảo
tưởng. Không có
sự yên ổn thật
sự. Ai cũng phải
đối mặt với cái
chết. Tất cả
những gì chúng
ta sở hữu đều sẽ
bị hủy diệt. Tất
cả những người
thương của ta sẽ
chết, hoại diệt,
bệnh hoạn, bỏ
rơi ta, thay đổi
tình cảm...
Không có gì có
thể yên ổn trong
những điều kiện
như thế. Sự xáo
trộn, không an
ổn phát sinh khi
những việc không
như ý xảy ra là
do ta ảo tưởng
rằng ta đã đánh
mất cái gì đó
rất quan trọng
cho sự sống còn
của mình. Hành
động như thế là
để bảo ệ cái tôi
của mình. Nhưng
ngay chính sự
sống còn của
chúng ta cũng là
ảo tưởng vì có
gì để bảo đảm
rằng chúng ta sẽ
luôn khỏe mạnh,
luôn an toàn bảo
đảm.
Ðể có được tâm
xả không chỉ có
quyết tâm muốn
an nhiên tự tại
là đủ. Quyết tâm
là cần thiết
nhưng nó dễ đưa
đến sự dồn nén.
Chúng ta thường
đè nén những
tình cảm mãnh
liệt của mình.
Làm vậy cũng
chẳng có ích lợi
gì, vì lần lần
những dồn nén
cũng bị nổ tung.
Ta dồn nén thứ
này thì nó cũng
phát ra thứ khác.
Dồn nén có thể
dẫn đến bệnh
hoạn trầm uất.
Nếu ta không bị
xáo trộn vì việc
này thì cũng sẽ
bị xáo trộn về
việc khác.
Sự an nhiên hay
tâm xả cần xuất
phát từ bên
trong. Khi được
ươm trồng tốt,
tâm xả là một
trong những bảy
yếu tố dẫn đến
giác ngộ. Chỉ có
đấng giác ngộ
mới có được tâm
buông xả vô
lượng. Nhưng nếu
chúng ta không
bắt đầu thực
hành tâm buông
xả ngay từ bây
giờ, thì đến lúc
nào ta mới tiến
hơn, trưởng
thành hơn?
Qua thiền định
ta có thể bắt
đầu thấy được sự
chộn rộn thay
đổi luôn luôn
của tâm, có ai
nhớ được mình
nghĩ gì trong 10
phút trước đây
không? Trong kỳ
ngồi thiền trước?
Hay lần trước đó
nữa? Tuyệt nhiên
không, ta không
nhớ gì cả, không
giữ lại được ý
nghĩ gì. Tất cả
là thoáng chốc,
không phải vì ta
đã có căn nhà
hay người thân
nào đó bên cạnh
mình suốt 30 mấy
năm nay mà ta
nghĩ rằng ta có
thể giữ họ mãi
bên mình. Chỉ vì
những thứ ấy đã
ở bên ta một
thời gian dài,
ta tưởng như các
thứ ấy là vĩnh
cửu. Nhưng những
khi ngồi thiền
ta có thể thấy
là các tư tưởng
của ta đến rồi
đi, không bao
giờ ở lại với ta.
Do đó có gì đâu
để lo phiền, nếu
như mọi vật đều
thay đổi, luôn
đến rồi đi.
Lúc nào còn
những chộn rộn
đó là còn có một
con người đằng
sau đó. Trái tim
còn nhịp thở,
máu còn luân, tư
tưởng, tình cảm
còn thay đổi,
các tế bào còn
sinh diệt, thì
ta còn sống. Khi
tất cả ngưng lại
ta chỉ còn là
một cái xác. Tất
cả những thay
đổi bất ổn định
chính là sự sống.
Vậy mà ta cứ cố
làm cho mọi thứ
vĩnh viễn không
thay đổi. Ta
muốn chúng bất
di dịch. Ðây là
Tôi và tôi muốn
tất cả đều biết
như thế. Tôi có
một cái tên và
có một số người,
một số của cải
thuộc về tôi.
Tôi có những
quan điểm và tôi
muốn tất cả mọi
người đều biết
như thế. Ðó là
sự gán ghép tính
cách vĩnh viễn
vào một con
người. Tuy nhiên
khi còn là con
người, còn có
những thay đổi,
để cuối cùng nó
sẽ biến đổi
thành một xác
chết, lúc đó thì
ta có thể bắt
đầu lại tất cả.
Ðể có được tâm
xả lòng thanh
thản ta còn phải
có những tánh
tốt cơ bản khác.
Như sự chấp nhận
nếu không biết
chấp nhận, ta sẽ
sinh ra khổ đau
chính là sự phản
kháng của mình.
Ðối nghịch với
chấp nhận là
phản kháng,
chống đối và làm
như thế chỉ mang
lại đau khổ. Như
khi ta đẩy ngược
lại với một lực
gì tay ta sẽ đau
nhưng nếu xuôi
theo nó thì sẽ
không đau, chấp
nhận sự việc như
nó xảy ra sẽ đem
lại thanh thản,
an nhiên tự tại
cho ta và sự
thanh thản đem
an lạc lại cho
ta.
-oOo-
Tứ Vô Lượng Tâm
hay bốn trạng
thái tâm cao
thượng vừa nêu
trên (từ, bi, hỉ,
xả) đem lại niềm
vui trong lòng
ta nếu ta biết
vun trồng các
tình cảm này đến
một mức độ nào
đó, ta sẽ cảm
thấy tự tại an
bình thoải mái
vì ta nhận ra
rằng cho dù thế
giới có đảo điên
nghiêng ngả, ta
không hề bị lay
chuyển, như Ðức
Phật đã từng
tuyên bố: "Ta
không tranh chấp
với thế gian,
chính thế gian
tranh chấp với
Ta".
Thật là bình an,
thanh thản!
|
 |
|
|
 |
|
Top |
 |
 |
 |
|
|