Ta cần phải thực
tập cả hai
phương cách, An
tịnh và Minh sát,
để đạt được
những kết quả mà
Thiền sẽ mang
đến cho ta. Phần
đông chúng ta
đều muốn được an
lạc. Ai cũng
muốn được bình
yên, muốn được
có cảm giác vui
sướng mãn nguyện.
Trong Thiền định,
nếu ta thoáng
bắt được cảm
giác an lạc đó,
ta sẽ hạnh phúc
biết bao. Nhiều
người đã thoả
mãn khi đạt được
đến trình độ đó.
Nhưng an lạc
không phải là
mục đích của
Thiền. Ðó chỉ là
phương tiện đưa
đến cứu cánh. An
lạc là phương
tiện. Sự tỉnh
thức trong nội
tâm mới là cứu
cánh. Phương
tiện rất cần
thiết nhưng
không thể lầm
lẫn chúng với
cứu cánh. Nhưng
vì phương tiện
đó tạo ra sự
thoải mái, dễ
chịu, ta trở nên
bám víu vào
chúng.
Vấn đề của chúng
ta là luôn chạy
đuổi theo sự dễ
chịu và xa lánh
sự khó chịu. Vì
chúng ta coi mục
đích của cuộc
đời là được dễ
chịu, hạnh phúc,
nên dường như ta
chẳng có mục
đích gì cả trong
cuộc đời. Không
thể nào tước bỏ
hết tất cả những
điều khó chịu,
đau khổ trong
đời, mà chỉ giữ
lại những gì ta
ưa thích. Chừng
nào ta còn coi
đó là mục đích
của mình thì ta
không có mục
đích gì cả.
Trong Thiền cũng
thế.
Như thế thì làm
cách nào chúng
ta có thể đạt
được sự an lạc,
và điều đó ảnh
hưởng đến chúng
ta như thế nào?
Bằng cách thực
tập chú tâm vào
hơi thở, dần dần
ta sẽ tìm được
sự an lạc. Tâm
ta sẽ ngưng suy
nghĩ trong một
giây phút nào đó,
và ta sẽ cảm
thấy hoàn toàn
thư thái, dễ
chịu. Tâm suy
nghĩ không bao
giờ được thư
thái, vì suy
nghĩ là một quá
trình chuyển
động, và bất cứ
sự chuyển động
nào cũng tạo ra
ma sát. Tuy
nhiên ta có thể
tìm được sự an
lạc trong một
giây phút nào đó,
hay dài hơn, nếu
ta tiếp tục tu
tập và tăng thời
gian tham Thiền
lên. Ðiều đó
không có gì khó.
Có thể lúc đầu
ta thấy khó khăn,
nhưng với sự
kiên trì, nhẫn
nại, một chút
duyên lành và
một nơi yên tĩnh,
ta có thể làm
được điều đó.
Chắc rằng chúng
ta đều có duyên
lành, nếu không
ta đã không có
mặt nơi này.
Những người có
ác nghiệp sẽ
không tìm được
đến với Thiền,
hoặc giả như có,
họ cũng không
trụ lại. Do đó
nói ta có sẵn
duyên lành là
vậy.
Về lòng kiên
nhẫn, bạn cũng
không thiếu, nếu
như bạn đã chịu
khó đọc đến
những dòng này.
Chỉ cần thêm một
yếu tố nữa đó là
ý chí, sự quyết
tâm. khi ngồi
xuống chiếu
Thiền, bạn cần
tự nhủ : "Tôi sẽ
chú tâm vào từng
hơi thở, nếu tôi
có lơ là, tôi sẽ
bắt đầu trở lại".
Cần làm như thế
để giữ cho tâm
thăng bằng,
giống như người
đi trên dây xiếc.
Mỗi lần lao đao,
ta phải lấy lại
thế cân bằng. Vì
thế ta cần có sự
quyết tâm.
Khi cảm giác an
lạc, thư thái
dấy lên - cái
cảm giác mà Phật
gọi là sự an lạc
ngay giờ phút
hiện tại - rồi
qua đi, không
thể khác được,
vì bất cứ điều
gì đã có thì
phải hoại, phản
ứng đầu tiên mà
tâm phải có là
nhận ra tính
cách vô thường
của sự vật, chứ
không phải để
thất vọng kêu
lên: "Ồ, nó lại
qua mất rồi".
Hoặc là "cảm
giác vừa rồi dễ
chịu quá, làm
sao để có lại
cảm giác ấy",
như cách ta vẫn
phản ứng lâu
nay.
Sống theo Pháp,
làm theo Pháp,
là những hành
động không bình
thường. Khác với
mọi người chung
quanh. Khi Phật
còn ngồi dưới
cây bồ đề, trước
khi giác ngộ,
khi Sujata mang
dâng sữa trong
tô vàng đến Ngài,
cô cũng cúng
dường luôn chiếc
tô quý. đức Phật
sau khi uống
xong, đã thả
chiếc tô vàng
xuống dòng sông
trước mặt, và
nói nếu như cái
tô chảy ngược
với dòng nước
sông, Ngài sẽ
giác ngộ. Và cái
tô đã chảy ngược
dòng. Ðiều đó có
thể xảy ra không?
Có lẽ pháp thoại
đó muốn nhắn nhủ
với chúng ta
rằng khi ta sống
với Pháp, chúng
ta phải đi ngược
lại với dòng
chảy của bản
năng, của các
khuynh hướng tự
nhiên. Chúng ta
phải đi ngược
lại với những sự
dễ dãi, thoải
mái, những gì
tất cả mọi người
khác đều theo
đuổi. chảy ngược
dòng bao giờ
cũng khó hơn là
thuận, xuôi theo
dòng.
Cảm giác thoải
mái tự tại mà ta
cảm nhận được
trước hết ở thân,
rồi đến tâm,
cũng sẽ qua đi.
Chúng ta phải
nhận ra tính
cách vô thường
của nó, để ta có
thể sử dụng nó
cho một mục đích.
Nếu không, ta
chỉ sử dụng cảm
giác an lạc đó
cho sự thoải mái
của riêng ta. Mà
chỉ để thoải mái
cho thân ta là
ta đã ích kỷ,
chỉ biết đến
riêng mình,
không phải là để
tiến tới vô ngã,
là cái gốc của
những điều Phật
dạy.
Giaó lý của Phật
hướng ta đến vô
ngã. Ngài nói:
"Ta chỉ dạy một
điều, đó là Khổ
và sự giải thoát,
chấm dứt khổ đau".
Ðiều đó không có
nghĩa là tất cả
khổ đau trên đời
đều chấm dứt.
điều đó có nghĩa
là nếu không có
một cái Tôi để
đón nhận khổ đau,
thì không có khổ
đau. Cái Tôi sẽ
biến mất. Nếu
không có ai ở
đây có vấn đề,
thì làm gì có
vấn đề? Nếu dùng
cảm giác tự tại
chỉ cho riêng
mình, thì ta đi
ngược lại với
lời Phật dạy.
Luôn luôn trở về
với hơi thở sẽ
giúp ta đạt đến
trạng thái an
lạc. Chánh niệm,
trong Bát chánh
đạo, dạy ta sự
chú tâm đúng,
đưa đến Thiền
định. Theo dõi
hơi thở là việc
cần làm, nhưng
không có ai đạt
được thiền định
chỉ bằng ao ước
hay một vài buổi
ngồi thiền. Tất
cả cần có thời
gian. Do đó khi
ngồi thiền, ta
cần đưa bất cứ
vọng tưởng nào
dấy lên trở về
với sự tỉnh thức.
Bất cứ ý tưởng
nào cũng thế,
chúng không phải
đến để phá rối
chúng ta, cũng
không phải là
dấu hiệu chứng
tỏ ta không
thích hợp với
Thiền, cũng
không phải cảm
giác làm ta thấy
quá nóng hay quá
lạnh. Không có
gì giống như thế
cả. Vọng tưởng
không phải là kẻ
phá rối trật tự
của chúng ta.
Chúng là ông
thầy của chúng
ta.
Mỗi vọng tưởng
là một ông thầy,
"dạy" cho ta
biết tâm ta lăng
xăng, không thể
nương tựa, không
thể tin cậy được.
Nó suy nghĩ về
cả những điều ta
không muốn nghĩ
đến, cả khi ta
chỉ muốn được
hoàn toàn yên
tĩnh và tự tại.
Ta biết được
trước hết là tâm
không phải là
một phần tuyệt
vời của chúng ta,
dù rằng nhờ nó
ta có thể thu
thập được kiến
thức, có thể hồi
tưởng, có thể
hiểu một số khái
niệm và phạm trù.
Tuy nhiên nó là
một cái tâm lăng
xăng, luôn thay
đổi và nó sẽ làm
những gì chúng
ta đòi hỏi ở nó.
Ðiều thứ hai, ta
cần nhớ, là khó
thể tin vào tâm.
Ta không nên tin
vào tất cả mọi
tư tưởng qua đầu
ta. Chúng đã đến
không mời mọc,
thì tự chúng
cũng sẽ ra đi.
Chúng chẳng có
ích lợi gì, nhất
là khi ta đang
ngồi thiền.
Chúng có thể làm
những gì đã xảy
ra trong quá khứ.
Hay chỉ thuần là
vọng tưởng. Ðôi
khi chúng làm ta
khó chịu hay chỉ
nhẹ nhàng như
một giấc mơ. Có
khi chúng đến
lộn xộn không
đầu đuôi. Chúng
nhanh chóng đi
qua đầu ta,
trước khi ta kịp
nhận mặt chúng.
Vậy tại sao ta
lại tin vào
những điều mình
thường suy nghĩ?
Trong lúc ngồi
Thiền, chúng ta
có cơ hội để
quan sát tâm -
tư tưởng đi qua
trong đầu - và
luyện tập không
để bị chúng lôi
kéo. Thế thì tại
sao trong đời
sống hàng ngày,
ta lại tin vào
chúng và để
chúng lôi kéo ta
theo? Khi tâm
nói "Người này
thật xấu", "Người
kia nói láo", ta
tin theo những
điều đó. Khi tâm
nói "Tôi chán
quá. Mệt mỏi quá",
"Tôi cần thứ này"
hay "Tôi phải có
thứ kia", ta
nghe theo. Ta
tin theo tất cả
- nhưng tại sao
ta phải tin
chúng? Trong khi
tất cả mọi suy
tưởng đều xảy ra
theo một tiến
trình, trong đời
thường cũng như
lúc hành thiền.
Tư tưởng dấy
khởi lên, dừng
lại trong chốc
lát, rồi qua đi
không theo một
mẫu mực nào hay
lý do nào.
Khi đã thực sự
nắm bắt được ý
nghĩa của tiến
trình này, ta có
thể thay đổi
những suy nghĩ
hiện lên trong
đầu và các tư
tưởng ta muốn
nghĩ tới. Ðiều
đó có thể thực
hiện được khi ta
không còn tin
vào những điều
Tâm nói nữa, mà
chỉ quan sát
tiến trình của
chúng. Cũng như
với không khí
chung quanh ta.
Ta không nắm
không khí trong
tay và bảo rằng
không khí là của
riêng mình, dầu
rằng không có nó
ta không thể nào
sống nổi. Ðơn
giản là không
khí có mặt ở mọi
nơi. Tư tưởng
cũng thế. Tiến
trình của tư
tưởng xảy ra tự
nhiên trong tâm
ta, và khi nào
chúng ta còn
sống, tiến trình
đó triền miên
tiếp tục, dầu
rằng chúng không
đáng tin, không
thể dựa vào. Bởi
thế, nếu ta có
thể gạt bỏ phần
lớn các suy
tưởng trong đầu
mình, thì lại
tốt hơn.
Ta còn có thể
quan sát về tâm
ở một khiá cạnh
khác. Là khi ta
ngồi thiền,
nhưng không thể
tập trung tư
tưởng. Khi ta
buồn ngủ, không
chú tâm. Ta hiểu
rằng khi tâm
không được "Giải
buồn", nó muốn
ngủ. Tâm luôn
muốn được tiêu
khiển. Nó cần
đọc sách, coi
tivi, thăm hàng
xóm, nó cần được
làm một thứ gì
đó, bất cứ thứ
gì để giải buồn,
để được bận rộn.
Nó không chịu
ngồi yên. Ðó là
một điều thú vị
để biết về chính
mình.
Hãy tưởng tượng
bạn phải ở một
mình trong một
tuần, chỉ ở một
mình, không có
bất cứ thứ gì để
tiêu khiển. Bạn
sẽ coi đó là cực
hình. Mà thực
vậy, vì tâm
không thể chịu
đựng nổi. Nó
luôn cần được "Cho
ăn", giống như
thân cần được ăn,
tâm cũng vậy. Nó
cần một thứ gì
đó từ bên ngoài,
vì chính tự nó
không thể thỏa
mãn với chính
mình. Khi ngồi
thiền, ta sẽ
khám phá ra điều
đó về tâm.
Nhưng các vọng
tâm thì vô
thường. Chúng
dấy lên, rồi qua
đi. Chúng không
luôn có mặt như
hơi thở của ta.
Nếu chú tâm ta
sẽ nhận biết khi
nào vọng tưởng
dấy khởi. Khi
chúng qua đi, dễ
nhận biết hơn là
khi nào chúng
đến. Ta không
thể giữ chúng
lại phải không?
Tất cả những suy
nghĩ nửa giờ
trước đây đã qua
đi phải không?
Vô thường và vô
sở hữu : Ta đâu
có làm chủ được
chúng phải không?
Và chúng cũng
chẳng đáng để ta
giữ lại phải
không? Vậy tại
sao ta muốn làm
chủ chúng? Muốn
nghĩ chúng là ta?
Sao không nghĩ
chúng chỉ là một
hiện tượng tự
nhiên hiện ra,
rồi tan mất. Chỉ
có thế. Cũng thế,
với thân này -
nó có thực là ta
không? Nó cũng
chỉ là một hiện
tượng tự nhiên
phát sinh ra
bằng khái niệm,
và tan biến đi
qua cái chết,
một định luật tự
nhiên, một sự
kiện tự nhiên mà
nếu còn chấp Ngã
ta không thể nào
chấp nhận được
điều đó.
Chấp Ngã hay Ngã
mạn không có
nghĩa là ta tự
cao, kiêu mạn.
Chấp ngã đồng
nghĩa với u mê,
chưa giác ngộ.
Chỉ có các vị A
la hán là không
có ngã mạn. Ngã
mạn có nghĩa là
ta đang nhìn thế
giới và chính ta
từ quan điểm của
"cái Tôi", qua
cái nhìn đó, thế
giới bên ngoài
cũng như người
chung quanh ta
trở nên là mối
đe doạ của chúng
ta, vì "cái Tôi"
của ta dễ vỡ, dễ
bị chạm, và dễ
đau khổ.
Tất cả các vọng
tâm dấy lên, khi
ngồi thiền sẽ
giúp cho chúng
ta hiểu về chính
mình hơn, về
tính cách vô
thường của các
hiện tượng của
thân, tâm về
tính vô sở hữu
của chúng. Nếu
ta thật sự làm
chủ những suy
nghĩ của mình,
thì tại sao ta
lại không làm
chủ những suy
nghĩ đáng có? Ai
muốn làm chủ một
đống rác? Như
tôi sẽ cố gắng
để những vật
thuộc sở hữu của
tôi trở thành
quí báu.
Ðiều thứ ba ta
rút ra được từ
sự quán tâm là:
đây là Dukkha (đau
khổ) hay sự
không vừa lòng,
thỏa mãn. Dukkha
không chỉ có
nghĩa là sự khổ
đau mà còn bao
gồm cả tất cả
những điều không
như ý, là một
khái niệm bao
quát hơn gồm tất
cả những gì ta
đã kinh nghiệm
qua, cả những
việc vừa ý cũng
làm ta khổ vì
chúng sẽ qua đi
(vô thường). Sự
không như ý của
quá trình tư duy
sẽ hiện ra rất
rõ trong thiền
quán, vì ở đây
trong lúc ta
thực sự muốn chú
tâm, ta lại chỉ
toàn ngồi suy
nghĩ vẩn vơ.
Ta phải nhận
biết về tính
cách vô thường,
không như ý và
vô ngã bằng
chính kinh
nghiệm bản thân
của mình. Không
ai "biết" ba
điều này mà
chẳng từng kinh
qua chúng. Nếu
ta không thực sự
hiểu một cách
trực tiếp bằng
nội tâm của mình
thì chúng chỉ là
những lời hoa mỹ,
ở đầu môi. Vì
nhiều người vẫn
kinh nghiệm
những điều này
từng giây phút,
nhưng chẳng hề
nhận ra được
chúng.
Chúng ta đang
chết từng giây
phút, nhưng
chúng ta cũng
chẳng để ý đến
điều đó. Cần
phải có chánh
niệm để nhận
biết chúng, và
chánh niệm là
điều ta có thể
đạt được trong
quá trình tu tập
thiền. Hãy quan
sát sự không như
ý trong tiến
trình tư duy như
là một đặc tính
không thể thiếu
của nó.
Nếu ta có thể
nhìn mọi sự vật
như chúng hiện
hữu, bằng con
mắt tỉnh thức
thì ta đã hiểu
điều Phật dạy.
Thiệt là vô ích
để ngồi đó nghĩ
"Giá mà tôi
không suy nghĩ",
"Giá mà tôi có
thể chú tâm", "Giá
mà ngồi thiền
không khó thế
này", hay "Giá
mà chân phải tôi
không đau đến
thế". Ðó là mộng.
Ðó là ước mơ.
Chúng ta không
thể chỉ ngồi mơ
mộng hay ước mơ
nếu chúng ta
muốn thấu đạt
được nguyên nhân
đã làm ta đau
đớn.
Phật đã nói tất
cả chúng sinh
đều bệnh, và
Pháp là thuốc
chữa. Phật có
danh hiệu là Ðức
Y Vương. Như với
mọi thứ thuốc
chữa bệnh khác,
nếu chúng ta chỉ
biết về chúng
hay đọc toa
thuốc thì không
thể hết bệnh.
Nhân loại đã đọc
toa thuốc hàng
ngàn năm nay.
Hãy ngưng đọc
toa thuốc, để
bắt đầu uống
thuốc. Khi đã
phân biệt được
sự khác biệt
giữa đọc toa
thuốc và uống
thuốc, ta sẽ dễ
dàng biết mình
phải làm gì.
Khi cảm giác khó
chịu dấy lên vì
phải ngồi chuyên
một chỗ, tâm
thức sẽ lên
tiếng phản đối,
cằn nhằn. Nó vội
nói "Tôi không
thích chút nào.
Thiệt khó chịu
hết sức. Tôi sẽ
không chịu nổi
nữa. Tôi cần
ngồi lên ghế",
hay "Tại sao
phải ngồi như
thế này? Tự cực
hình mình à?"
hay "Biết có
đáng không. Biết
có đáng để chịu
bao cực khổ ngồi
thiền không?",
và nhiều thứ nữa...
Tâm có khả năng
nói với ta bất
cứ điều gì. Nó
có thể nói về
mọi vấn đề, và
mọi khía cạnh
của vấn đề. Nó
vừa đề cao một
vấn đề đã quay
ra hất đổ nó.
Bất cứ tâm của
ai cũng làm thế
được. Tâm có thể
xoay ngang xoay
ngửa.
Ðừng ngồi đó
nghĩ "Tôi không
thích chút nào,
chân phải của
tôi, lưng tôi,
cổ tôi - hay bất
cứ thứ gì - đau
quá". Không. Hãy
dùng các cảm thọ
vừa dấy lên như
một cách để tỉnh
thức. Cảm xúc là
nền tảng của
cuộc sống. Nhưng
chúng ta phản
ứng thế nào là
do sự tiếp xúc
với các căn của
ta: Sắc, thanh,
hương, vị, xúc
và thức (Ðức
Phật nói về tâm,
quá trình tư duy
như là giác quan
thứ 6 của ta).
Thí dụ như nếu
ta không nhìn
thấy, thế giới
sẽ khác hơn bây
giờ. Hay điếc,
hay câm... thiếu
một giác quan
nào cũng thay
đổi cái nhìn của
ta về thế giới
bên ngoài. Nhưng
khi có đủ sáu
căn, tiếp xúc
với sáu trần, từ
đó sinh ra các
phản ứng, các
cảm thọ. Ðiều đó
không thể tránh.
Chúng ta không
thể không có cảm
xúc. Một vị
A-la-hán cũng có
cảm thọ dễ chịu,
khó chịu hay
trung tính. Ai
cũng có cảm thọ.
Cảm thọ trung
tính có thể ta
không biết đến
vì ta chưa có sự
chú tâm đủ.
Chúng ta chưa đủ
chánh niệm.
Nhưng với cái
cảm thọ dễ chịu
ta nhận biết
ngay, ta bám víu
vào chúng, và
tìm mọi cách để
giữ chúng lại.
Mọi nền kinh tế
trên thế giới
đều dựa vào việc
tạo nên các cảm
thọ dễ chịu, và
tìm cách làm cho
người ta càng
muốn thụ hưởng
chúng nhiều hơn.
Nếu mọi người
đều từ bỏ các
cảm thọ dễ chịu,
thì có mấy nền
kinh tế trên thế
giới đứng vững
được. Các cảm
thọ dễ chịu phát
sinh ra nhờ quạt
máy, tủ lạnh,
nệm êm, nước
nóng, nước lạnh,
đủ loại thực
phẩm và còn
nhiều, nhiều nữa.
Ai cũng có cảm
thọ: dễ chịu,
khó chịu hay
trung tính.
Chúng dấy khởi
liên tục. Phần
đông chúng ta bỏ
cả cuộc đời mình
để đi tìm, nắm
giữ các cảm thọ
dễ chịu, và xua
đuổi, trốn tránh
các cảm thọ khó
chịu. Một cuộc
chiến đấu vô
vọng. Không
tưởng. Vì không
ai có thể nắm
giữ mãi các cảm
thọ dễ chịu.
Cũng không có ai
có thể trốn
tránh các cảm
giác khó chịu
mãi. Khi ta già
đi các cảm thọ
khó chịu tăng
lên so với lúc
trẻ. Không có sự
ngoại lệ đối với
ai cả. Ðó là
định luật tự
nhiên. Cái chết
sẽ đến, đi kèm
theo với những
cảm thọ khó chịu.
Tuy nhiên các
khổ thọ này
không chỉ dành
cho tuổi già,
cho những người
gần đất xa trời.
Các người trẻ
nhất, mạnh nhất
cũng đầy những
cảm giác, tình
cảm khó chịu đau
khổ.
Nếu ta quyết
ngồi yên giây
lát, tự soi lại
mình, không còn
chạy trốn các
cảm giác khó
chịu, đau khổ,
bám chặt vào các
cảm giác dễ chịu
- có thể chỉ
trong một buổi
thiền - ta sẽ
biết về mình rất
nhiều. Quan sát
các khổ thọ dấy
lên trong khi
ngồi thiền -
điều này sẽ xảy
ra cho nhiều
người trong
chúng ta - cũng
là một cách để
tìm hiểu các
phản ứng hành
động của chính
mình. Ta muốn
thay đổi cảm
giác đó, muốn
chạy trốn nó.
Một phản ứng gần
như phản xạ, lập
tức đối với cảm
giác khó chịu là
di chuyển, thay
đổi thế ngồi để
tránh sự đau đớn
càng sớm càng
tốt.
Trong đời sống
hàng ngày, chúng
ta trốn tránh
các khổ thọ bằng
cách trốn tránh,
xa lánh những
người đã tạo cho
ta cảm giác đó,
chạy trốn hoàn
cảnh, đổ lỗi cho
người khác, thay
vì nhận biết các
cảm thọ của mình
và nói: "Ồ, nó
đã dấy lên. Nó
sẽ ở lại giây
lát, rồi đi qua.
Không có gì tồn
tại. Nếu ta nhận
biết được cảm
thọ của mình, là
ta đang soi lại
nó trong chánh
niệm, thay vì
phản ứng bằng
hành động".
Phản ứng của
chúng ta, bằng
cách xua đuổi
các khổ thọ, bám
giữ các lạc thọ,
là lý do khiến
chúng ta lẩn
quẩn trong vòng
luân hồi sinh tử,
vì ta không có
một phương hướng,
một ngã rẽ nào
khác. Ðó là sự
chuyển động
trong một vòng
tròn. Ta không
thể thoát khỏi
sức hút của nó.
Ðó là một trò
chơi quay vòng.
Không có lối ra.
Chúng ta quay
vòng, quay vòng
theo lạc thọ,
xua đuổi các khổ
thọ, một vòng
tròn không kẽ hở.
Chỉ có một cách
để thoát khỏi
sức hút đó, là
ngưng lại quan
sát các cảm thọ
và không phản
ứng bằng hành
động. Nếu trong
lúc ngồi thiền,
ta có thể làm
được như thế dù
chỉ trong giây
lát, thì ta cũng
có thể làm được
như thế trong
các sinh hoạt
đời thường.
Tất cả chúng ta
ai chẳng từng
buồn phiền, khổ
đau trong cuộc
đời. Người nầy
nói lời trái tai
ta không muốn
nghe. Kẻ khác
làm những điều
ta không muốn
thấ