Trị Tâm Sân Hận
Năng Lực Nhẫn Nhục Theo Quan Điểm Của Phật Tử.
Nguyên
bản: "Healing Anger" by His Holiness Dalai Lama
Dịch giả: Thích Hằng Đạt
_____________________
Ngày thứ hai. Buổi
thứ nhất.
T rong
kinh Ba La Đề Mộc Xoa (giới luật giành cho người xuất gia), đức Phật
dạy rằng chớ làm việc xấu mà phải luôn làm những việc lành. Để hành
được như thế, phải điều phục và chuyển hóa tâm niệm; đây là yếu chỉ
Phật pháp. Tóm tắt, hành vi có lành hay xấu tùy thuộc vào tâm niệm
có được điều phục hay chưa.
Cũng vậy, kinh điển
thường dạy rằng nếu nội tâm được điều phục và được thanh tịnh, thì
nó sẽ dẫn đến hạnh phúc an vui. Ngược lại, nó sẽ mang đến khổ đau
buồn bã. Tựu chung, tâm niệm là yếu tố quyết định.
Tổng quát, công phu tu
hành được biểu lộ qua những oai nghi bên ngoài như cách ăn mặc, an
trí bàn thờ trong nhà, tụng niệm, v.v... Tuy vậy, chúng chỉ là thứ
yếu vì kẻ tà tâm cũng có thể đóng kịch qua những vai đó. Ngược lại,
tất cả công đức lành của tâm niệm vốn là phạm hạnh nội tại chân thật
vì chúng không thể đi chung với những tà niệm.
Điều phục nội tâm là
yếu chỉ của sự tu hành; nghĩa là có điều phục nội tâm thành thục mới
thật sự sống đời tu hành.
Để thật sự chuyển hóa
nội tâm, theo đạo Phật, cách thức căn bản là kết hợp trí huệ và
phương tiện. Điển hình, chúng ta hãy bàn về quyển luận Nhập Bồ Tát
Hạnh của ngài Tịch Thiên. Chương thứ chín trong quyển luận này trình
bày về khía cạnh phát triển trí huệ; những chương còn lại bàn về
khía cạnh phát triển phương tiện thiện xảo. Theo phương tiện thiện
xảo của Đại Thừa, hạnh chủ yếu là phát tâm từ bi. Để hỗ trợ đức tánh
từ bi, phải có khả năng đề kháng những chướng duyên. Trong phạm vi
này, hạnh nhẫn nhục rất quan trọng đối với hành giả tu hạnh Bồ Tát.
Theo Đại Thừa, khi tu
đạo, trí huệ và phương tiện thiện xảo hỗ trợ cho nhau. Cũng vậy,
lòng từ bi và hạnh nhẫn nhục tăng cường cho nhau.
19. Tâm của các bậc
thức giả vẫn sáng suốt thanh tịnh khi gặp khổ đau. Đã
chống với phiền não, thì phải chịu bao điều tổn hại.
20. Xem thường khổ đau
và diệt trừ kẻ thù sân hận, v.v... mới là anh hùng chân thật. Ngược
lại, chiến sĩ phàm phu chỉ giết những xác chết.
Hành hạnh nhẫn nhục
nghĩa là khởi chiến với sân hận. Dù có muốn thắng trận, nhưng chúng
ta cũng phải chuẩn bị tinh thần vì có thể bại trận. Trong cuộc chiến,
phải có khả năng kiên nhẫn gánh vác và giải quyết những vấn đề gian
nan. Nhờ khổ tu mà chiến thắng sân hận mới là anh hùng chân thật.
Ngược lại, nếu nhờ lửa sân và vọng tình thúc đẩy mà thắng trận, thì
họ không phải là anh hùng chân thật. Dù có giết được kẻ thù, nhưng
họ chỉ giết các xác chết, vì thân người giả tạm sớm muộn gì những kẻ
thù đó hoặc là chết trận, hoặc là chết trong một ngày nào đó; nghĩa
là anh hùng thế gian chỉ giết các xác chết, còn anh hùng chân thật
là những vị chiến thắng sân hận.
Với sự nỗ lực tinh tấn,
phải nhất quyết đảm bảo có khả năng chiến thắng phiền não như tham
lam sân hận.
Nếu xem xét kỹ, chỉ
cần nhận ra những phiền não đó; tiếng Tây Tạng gọi phiền não là 'nyon
mongs', nghĩa là 'làm phiền muộn nội tâm'. Nguyên từ tiếng Tây Tạng
mang lại cảm giác rằng chúng là những vọng niệm gây phiền muộn cho
nội tâm, hủy hoại sự an lạc. Hiển nhiên, nếu cẩn thận chú ý sự phát
sanh của phiền não, chúng ta sẽ nhận ra bản chất của chúng qua xu
hướng hủy hoại nội tâm an lạc. Tuy nhiên, điều khó khăn là chúng ta
hãy xem coi có khả năng dùng lực đề kháng để điều phục hay loại trừ
chúng chăng? Vấn đề này liên hệ trực tiếp hoàn toàn với việc chúng
ta có khả năng chứng đắc Niết Bàn hay giải thoát khỏi cõi Ta Bà
chăng? Đây là câu hỏi rất nghiêm chỉnh và khó khăn.
Khái niệm Niết Bàn hay
giải thoát được đức Phật nhấn mạnh trong bài pháp đầu tiên, giáo lý
Tứ Diệu Đế. Tuy nhiên, trong lần chuyển pháp luân thứ hai và thứ ba,
đức Phật giải thích rõ ràng về chúng hơn.
Thế thì dựa vào giả
thuyết hay nền tảng nào để chấp nhận rằng phiền não cuối cùng sẽ bị
loại trừ khỏi tâm niệm? Theo đạo Phật, có ba lý do chính để tin
tưởng việc này có thể xảy ra. Thứ nhất, tất cả vọng tưởng vốn có bản
chất vọng động không thật. Ngược lại, tất cả lực đề kháng lại chúng
như trí huệ, từ bi, v.v... không những chẳng vọng động mà còn có nền
tảng vững chắc qua những kinh nghiệm thực tại.
Thứ hai, nhờ tu hành,
tất cả những lực đề kháng đó cũng có đặc tánh được gia tăng. Do
thường làm quen, chúng ta có thể hỗ trợ tiềm năng vô hạn lượng của
chúng. Thế nên, khi tăng cường hỗ trợ cho khả năng của những lực đề
kháng đó, chúng ta sẽ giảm thiểu hậu quả tác hại của vọng tưởng.
Giả thuyết thứ ba là
bản chất của chân tâm vốn thanh tịnh. Nói cách khác, nơi đó có ý
niệm về Phật tánh hay chân tâm sáng soi thanh tịnh.
Vì thế, dựa vào ba giả
thuyết đó, đạo Phật chấp nhận rằng cứu cánh có thể loại trừ được tất
cả phiền não vọng niệm nhờ tu hành thiền quán.
Những điểm này hoàn
toàn rõ ràng, nếu chú ý kỹ càng. Đồng thời, có vài điểm vẫn còn bí
ẩn khúc mắt. Tuy vậy, nhờ suy luận và khảo sát, chúng ta có thể cảm
nghiệm được tất cả mà không cần kinh điển có thẩm quyền ấn chứng.
Một trong những lý do
có thể chấp nhận lời Phật dạy rất chân chánh liên quan đến những
hiện tượng mơ hồ bí ẩn là đối với những việc trong thực tế, lời dạy
của Ngài đã được chứng minh rất rõ ràng và đáng tin cậy. Điều quan
trọng chủ yếu là hành giả xem coi có khả năng thoát khỏi khổ đau hay
chăng? Về vấn đề này, Phật pháp đã được chứng minh rất hợp lý và
đáng tin cậy.
21. Hơn nữa, khổ đau
có đặc tính tốt: Nhờ chán chường nó, nên
diệt trừ được tâm kiêu ngạo; những ai còn trôi lăn trong vòng luân
hồi sẽ phát tâm từ bi và ngăn ngừa nghiệp xấu, để tạo công đức lành,
mang lại niềm hạnh phúc.
Trong bài kệ này, ngài
Tịch Thiên bàn luận chi tiết về lợi ích của việc suy nghiệm khổ đau.
Trước hết, Ngài dạy rằng khi quán chiếu về khổ đau và khi hiểu rõ
đúng đắn về bản chất bất như ý của cuộc sống, thì tự nhiên chúng sẽ
giúp giảm tâm cống cao ngã mạn. Ngoài ra, sự cảm nhận bản chất khổ
đau của chúng sanh và cá nhân giúp phát tâm từ bi thông cảm nỗi khổ
của tha nhân. Lại nữa, nhờ nhận thấy như thế, chúng ta sẽ quyết tâm
ngừng tạo nghiệp xấu đưa đến khổ đau; niềm hăng say làm những hạnh
lành dẫn đến hạnh phúc an lạc sẽ được tăng trưởng; đó là lợi ích và
công đức của việc suy nghiệm khổ đau.
Tuy nhiên, điều quan
trọng là phải khéo dùng những cách tu hành khác nhau, nhưng tránh đi
thái quá. Ví dụ, nếu quá chấp ngã, và nếu khởi tâm ngã mạn vì cho
rằng có tài năng và được thành công, thì lực đề kháng là nên nghĩ
nhiều về khổ đau, những vấn đề của cá nhân, và bản chất bất như ý
của cuộc đời. Điều này sẽ giúp giảm thiểu ý niệm nghĩ mình cao
thượng và đưa mình về hiện thực.
Ngược lại, nếu do quán
chiếu bản chất bất như ý, khổ đau v.v... của cuộc đời, mà chúng ta
cảm thấy hoàn toàn bị bó tay, thì đó là dấu hiệu đi thái quá; lúc ấy,
chúng ta có thể cảm thấy hoàn toàn thất vọng, bất lực, chán nản, rồi
sẽ suy nghĩ: 'Ồ ! Tôi không thể làm được gì, vì bất tài'.
Sự thái quá đó chính
là một hình thức sân hận. Vì vậy, trong những hoàn cảnh đó, việc
quan trọng là phải phấn chấn tinh thần qua việc quán chiếu về sự
thành tựu, sự tiến bộ tu hành, những phẩm hạnh tốt, v.v... để thoát
khỏi tâm trạng thất vọng, chán nản; nghĩa là nên dùng những phương
pháp quân bình khéo léo.
Như ươm mầm gieo giống,
vào lúc đầu, phải nhẹ nhàng khéo léo: Để nhiều độ ẩm ướt hay nhiều
ánh nắng sẽ hại mầm cây; phải quân bình môi sinh để mầm cây được
phát triển lành mạnh. Cũng vậy, phải hướng về sự phát triển thân tâm
lành mạnh. Do đó, một lần nữa, chúng ta cần dùng cách khéo léo nhẹ
nhàng, bằng không thì sẽ có nguy cơ đi thái quá.
Điều cũng có thể xảy
ra cho những ai chỉ chọn ra một vài đoạn kinh, rồi bảo: 'Đây là
phương pháp của đạo Phật'.
Phải tránh khuynh
hướng nhìn các cách tu hành của đạo Phật theo danh từ chuyên môn
trắng và đen, giống như cách đặc biệt nào đó được ứng dụng phổ cập ở
mọi nơi mà không xem xét phẩm chất.
Nói cách khác, cách tu
hành chân thật giống như máy quân bình điện thế. Khi điện thế tăng
vọt, chức năng của máy quân bình điện thế là cung ứng dòng điện quân
bình liên tục.
22. Nếu không tức giận
cội gốc khổ đau như tâm sân hận, thì tại sao tôi lại thù hận chúng
sanh? Họ cũng bị chướng duyên thúc đẩy tạo nghiệp xấu.
23. Dù không mong muốn,
nhưng bịnh tật vẫn phát sanh. Cũng vậy, dù họ (chúng sanh) không
thích, nhưng phiền não vẫn nổi lên cuồn cuộn.
24. Con người nổi giận
không cưỡng được, không nghĩ trước rằng 'Ta sẽ tức giận'. Cũng vậy,
cơn giận tự phát không nghĩ rằng 'Ta sẽ phát sanh.'
Trong bài kệ thứ hai
mươi hai, ngài Tịch Thiên trình bày cách tăng trưởng hạnh nhẫn nhục
dựa vào chánh kiến nhìn rõ thực trạng phức tạp của hoàn cảnh đặc
biệt. Chúng ta thường cảm thấy rằng vì kẻ ác gây phiền não đau
thương, nên việc tức giận kẻ đó là hoàn toàn hợp lý.
Ngài Tịch Thiên đáp
rằng nếu xét kỹ càng, có nhiều nhân duyên hữu tình và vô tình tạo ra
cảnh đau thương. Tại sao chúng ta lại đổ lỗi cho những nhân duyên
hữu tình như con người (phải chịu trách nhiệm về việc đó), mà không
chấp về những nhân duyên vô tình (khiến phát sanh những việc đó)? Ví
dụ, chúng ta không tức giận bịnh tật, dù chúng mang lại khổ đau.
Có thể luận biện rằng
điều này hoàn toàn khác biệt, vì trong trường hợp của những nhân
duyên vô tình như bịnh tật, chúng không cố tình gây hại hay tự
nguyện phát sanh.
Ngài Tịch Thiên đáp
rằng nếu như thế, thì khi ai đó gây tổn thương cho chúng ta, dường
như họ không thể tự khống chế vì bị những nhân duyên khác như vọng
niệm sân hận, v.v... thúc đẩy làm việc đó. Hơn nữa, tâm tình tiêu
cực như sân hận cũng phát sanh từ nhiều nhân duyên khác nhau mà
không cố tình tự nguyện phát sanh.
Trong bài kệ hai mươi
lăm và hai mươi sáu, Ngài tóm lược những phương pháp quán chiếu đã
được trình bày lúc trước.
25. Tất cả lỗi lầm và
nghiệp xấu phát sanh từ nhiều nhân duyên: Chúng không thể tự kềm chế.
26. Những nhân duyên
đó không có ý kết hợp hay phát sanh điều gì. Sản phẩm của chúng hoàn
toàn vô chủ đích.
Một lần nữa, từ nhân
duyên này đến nhân duyên khác tạo tác chuỗi dài nhân quả. Chúng
không độc lập hay tự kềm chế.
27. Cũng vậy, cái được
gọi là Tự Tánh,
Bản Ngã, hay bất cứ danh xưng gì, đều không cố tình suy nghĩ: 'Tôi
sẽ sanh khởi (để gây tổn hại)'.
Trong bài kệ thứ hai
mươi bảy, chúng ta nhận thấy biện luận của ngoại đạo tà kiến vào
thời ngài Tịch Thiên, mà đặc biệt là kiến chấp của hai phái Samkhya
và Naiyayika. Quan điểm được trình bày nơi đây là không có sự vật gì
tự chọn lựa phát sanh; chúng không đứng đơn độc. Để luận biện điểm
này, phải dự đoán về những lý lẽ của các luận sư ngoại đạo có lập
luận rằng có vài sự vật đứng độc lập riêng rẽ. Có hai ví dụ điển
hình; thứ nhất, lý luận về Tự Tánh (prakriti) của phái Samkhya. Tự
Tánh đó được diễn dịch như cội nguồn phát sanh muôn pháp, vũ trụ; nó
có bản chất độc lập, vĩnh hằng, tuyệt đối. Thứ hai, phái Naiyayika
lập luận rằng 'Bản Ngã' cũng có thế đứng độc lập, vĩnh hằng.
28. Nếu chúng vô sanh
và không thật có, thì dù có mong muốn gì chúng cũng phải sản sanh (sự
tổn hại cũng không thật có). 'Bản ngã' không bao giờ xả bỏ ngã sở (đối
tượng của nó).
29. Hơn nữa, nếu Bản
Ngã vĩnh hằng thường trụ, thì rõ ràng nó sẽ bất động như hư không.
Thế thì, khi gặp các duyên, bản chất vĩnh hằng của nó bị chi phối ra
sao?
30. Nếu kết hợp với
các duyên khác mà nó vẫn không thay đổi, thì các duyên đó như thế
nào? Do đó, nếu bảo rằng nhân duyên chi phối Bản Ngã vĩnh hằng, thì
hai điều đó liên hệ ra sao?
Từ bài kệ thứ hai mươi
bảy cho đến ba mươi, ngài Tịch Thiên bài bác những kiến chấp đó bằng
cách đưa ra giáo lý nhân quả phổ c?p. Lập luận này hỏi rằng nếu Tự
Tánh hay Bản Ngã là thường hằng vĩnh cửu, thì bản chất của mối tương
quan giữa nó và muôn pháp như thế nào? Làm sao giải thích về nhân
duyên liên hệ giữa muôn pháp và Bản Ngã vĩnh hằng? Nếu Bản Ngã hay
Tự Tánh là thường hằng bất biến, thì làm sao nó sanh ra muôn vật? Để
có khả năng sanh ra vật gì, chính nó phải là sản phẩm dựa vào những
nhân duyên khác. Nếu không được sanh, thì nó không thể sanh ra bất
cứ vật gì. Do đó, theo lý nhân quả phổ cập của đạo Phật, hai kiến
chấp đó đều bị bài bác.
Trong bài kệ thứ ba
mươi mốt, ngài Tịch Thiên đưa ra kết luận.
31. Thế nên, muôn vật
đều tùy thuộc vào nhiều nhân duyên, rồi những nhân duyên đó lại tùy
thuộc vào các nhân duyên khác, nên không có gì đứng đơn độc. Đã hiểu
rõ điều này, chớ sân hận với muôn pháp giống như huyễn hóa.
Thật vậy, sự huyễn hóa
hoàn toàn do nhân duyên từ ý tưởng của nhà huyễn thuật tạo tác, chứ
không tự lập. Cũng vậy, vì muôn pháp bị các nhân duyên khác khống
chế và sanh ra từ kết quả của các nhân duyên đó, nên chúng không
đứng đơn độc. Theo quan điểm này, chúng giống như những vật huyễn
hóa. Do đó, thật lầm lẫn nếu cố tình đối phó với muôn pháp huyễn hóa
không độc lập, vì dường như chúng hoàn toàn bất lực.
Điều quan trọng là
phải hiểu giáo lý và tánh chất cơ bản của lý nhân quả phổ cập. Ngài
Vô Trước trình bày điều này rõ ràng trong quyển A Tỳ Đạt Ma Tập Luận;
Ngài nói rằng giáo lý nhân quả của đạo Phật có ba yếu chỉ: Thứ nhất,
không chấp nhận đấng sáng tạo tự nhiên, vì đức Phật thuyết rằng có
nhân nên sanh quả.
Vì thế, phải hiểu sự
việc thuần trong phạm vi vô thường giả tạm, vì không chấp nhận về
một đấng sáng tạo hay tác nhân độc lập. Kinh thuyết: 'Vì việc này
sanh nên có việc kia'. Đó là yếu chỉ thứ hai; nghĩa là bất cứ vật gì
làm nhân, chính nó phải có tánh chất vô thường giả tạm. Nếu nó là
thường hằng bất biến, thì nó không có khả năng sanh ra bất cứ vật gì.
Yếu chỉ thứ ba là phải
có mối liên hệ độc đắc giữa nhân và quả. Đó là ba yếu chỉ của luật
nhân quả phổ cập trong đạo Phật.
Bàn rộng hơn, đạo Phật
giải thích hai loại nhân quả chủ yếu. Thứ nhất, 'Nhân Thể', tức là
nhân chuyển sang quả. Kế đến, có những trợ duyên chuyển hóa nhân đó
thành quả. Ví dụ, nước, nhiệt độ, phân bón, v.v... làm trợ duyên cho
mầm cây. Nên nhớ rằng ở đây chúng ta dựa vào quan điểm Phật giáo Đại
Thừa, mà đặc biệt là phái Trung Quán Ứng Thành (Prasangika-Madhyamika).
Bàn về lập trường lý luận tánh Không, ngài Tịch Thiên đồng chia xẻ
quan điểm với ngài Nguyệt Xứng. Cả hai ngài đều đồng ý về cách diễn
dịch lý thuyết tánh Không của ngài Long Thọ, mà nhất là các luận sư
hệ phái Trung Quán Ứng Thành. Khi bàn về muôn vật giống như huyễn
hóa, phải hiểu rằng thuyết này đứng trên quan điểm đó.
Nơi đây, có vấn đề là
nếu tất cả sự vật giống như huyễn hóa, thì tại sao chúng ta lại quá
chấp nê vào chúng? Tại sao chúng chi phối chúng ta quá nhiều? Ngài
Tịch Thiên đáp rằng dù muôn pháp và tác nhân cảm nghiệm khổ đau có
như huyễn hóa đến đâu, chúng cũng rất thật. Kinh nghiệm cá nhân xác
định hiện thực, nên chúng ta không thể phủ nhận điều này; nghĩa là
chúng ta đang đối đầu với vấn đề và chịu khổ đau; kinh nghiệm cá
nhân biểu lộ sự hiện hữu của chúng. Vì thế, như trong giấc mộng, tác
nhân như huyễn hóa chịu khổ đau cũng huyễn hóa. Tuy nhiên, không thể
bỏ qua quả báo nhãn tiền vì kinh nghiệm cá nhân xác định sự có mặt
của nó. Do đó, nhờ có chánh kiến về bản chất như huyễn của sự vật,
chúng ta đối phó với chúng dễ hơn.
32. Nếu muôn pháp
không thật vì như huyễn hóa, thì ai là người điều phục sân hận? Chắc
chắn, điều phục sân hận là việc vô lý. Điều hợp lý là tôi phải tạm
giữ lập luận rằng nhờ điều phục sân hận, mà dòng khổ đau được cắt
đứt.
33. Thế nên, khi thấy
kẻ thù hay bạn bè tạo nghiệp xấu, nhờ nghĩ rằng những điều đó phát
sanh từ nhiều nhân duyên, nên tôi vẫn giữ tâm an lạc bình thản.
Bàn về tánh Không, lý
thuyết này được trình bày rộng sâu trong chương thứ chín của quyển
luận này.
Thiền quán.
Chúng ta hãy hành
thiền với chút ít pháp quán tưởng. Tưởng tượng gặp người bạn thân
thiết; có thể vì đang trong hoàn cảnh đổ vỡ tình bạn hay đang gặp
nhiều điều rắc rối, họ cau có, nổi lửa sân, mất bình tĩnh, tạo 'làn
sóng' tiêu cực, rồi tự hại bản thân và đập phá đồ vật. Kế đến quán
chiếu về hậu quả của lửa sân đó. Tôi thiết nghĩ chúng ta nên quán
tưởng điều này đang xảy với người khác, vì dễ nhìn thấy lỗi của
người hơn lỗi của mình. Ngoài ra, phải quán tưởng hình dáng của họ
đang thay đổi. Người bạn thân thiết quý mến mang lại niềm hoan hỷ
rào rạt xưa kia, nay lại trở thành kẻ có gương mặt nhăn nhó xấu xa.
Quý vị nên hành thiền và quán chiếu như thế trong vài phút theo cách
suy luận qua sự tưởng tượng. Cuối lúc quán tưởng, hãy liên hệ điều
này với kinh nghiệm cá nhân. Kế đến, phát nguyện: 'Tôi sẽ không bao
giờ để lửa sân đó chi phối. Vì nếu như thế, tôi cũng sẽ gặp hoàn
cảnh khổ đau vì quả báo xấu như mất bình tĩnh, có bộ dạng xấu xa,
v.v...'
Phát nguyện như thế,
rồi duy trì chánh định.
Thế nên, phần thứ nhất
là thiền quán suy luận (tu Quán), rồi phần thứ hai là nhập định (tu
Chỉ).
Nên quán tưởng như thế
vì đây là cách rất hữu hiệu. Ví dụ, trong cuộc sống hằng ngày, chúng
ta gặp nhiều hoàn cảnh và sự kiện như ti vi, phim ảnh, v.v...; trong
đó có những màn ảnh bạo động và tình dục. Tuy nhiên, hãy tỉnh giác
nhìn hậu quả thái quá của chúng. Thay vì để phim ảnh khống chế, quý
vị hãy xem chúng như những bài học. Ngài Bác Đa Ngõa (1031-1106),
thuộc phái Ca Đương (Kadampa) bảo rằng đối với một thiền sư thực tu
thật chứng, mọi kinh nghiệm cá nhân đều là bài học thích đáng. Tôi
thiết nghĩ đều này rất đúng.
Hỏi: Bạch Ngài! Làm
sao chúng con quân bình giữa việc tu tập và hạnh lợi tha?
Đáp: Theo thứ tự thì
trước phải lo tu tập phạm hạnh cá nhân. Đây cũng là giáo lý của pháp
Bồ Đề Đạo Thứ Đệ liên quan với Tam Sĩ Đạo (căn tánh của ba hạng
người); trong đó, hành trì theo ba thứ lớp tùy thuộc vào căn tánh và
tâm nguyện của cá nhân. Mỗi giai đoạn đặc biệt phù hợp với sự tu
hành theo thứ lớp của hành giả. Lần chuyển pháp luân thứ nhất, đức
Phật không bắt đầu bằng giáo pháp về tâm Bồ Đề. Ngược lại, Ngài khởi
đầu bằng giáo lý Tứ Diệu Đế. Khi chuyển pháp luân lần thứ hai, Ngài
giảng rộng sâu về tâm Bồ Đề. Tuy nhiên, về lần chuyển pháp luân thứ
hai và thứ ba, dường như không có dữ kiện lịch sử ghi chép; có lẽ
đức Phật ban bố giáo pháp đó cho những vị có đủ căn cơ.
Hỏi: Có phải tất cả
lỗi lầm đều chỉ là tập khí của tâm niệm. Có thể loại trừ được chúng
bằng các dùng thuốc trị từng tập khí chăng? Hoặc giả phải chăng đó
chỉ là phương tiện thiện xảo và phải được kết hợp với trí huệ hiểu
rõ tánh Không của muôn pháp?
Đáp: Đối với câu hỏi
thứ nhất, nếu xem xét bản chất phiền não trong hiện tại, tất cả
những tâm tình đó đều là sản phẩm của những phiền não trước đó;
nghĩa là có dòng chuyển biến liên tục. Do đó, có thể bảo rằng chúng
là sản phẩm của nhiều nhân duyên khác nhau. Theo quan điểm đạo Phật,
phải hiểu những nhân duyên đó được tạo tác từ quá khứ, rồi kéo dài
cho đến hiện tại; nghĩa là phải xem xét về lý thuyết tái sanh. Tuy
nhiên, cấp độ của phiền não cũng thay đổi nhân duyên ngoại tại. Ví
dụ, trong một gia đình, tuy đồng cha mẹ, nhưng con cái tự nhiên có
nhiều khuynh hướng khác nhau tùy theo nghiệp quả tiền kiếp. Khi
trưởng thành, vì hoàn cảnh và nhân duyên ngoại tại chi phối, trong
tâm của chúng có nhiều phiền não mạnh và yếu v.v... Dù phiền não do
duyên nghiệp quá khứ tạo tác, nhưng duyên nghiệp hiện tại cũng chi
phối chúng.
Bàn về việc làm sao
phiền não phát sanh, theo quan điểm Phật pháp, chúng ta phải chấp
nhận sự giải thích của đức Phật trong phạm trù vô thủy của dòng tâm
thức. Riêng cá nhân, tôi không nghĩ rằng có thể chứng minh hoặc đưa
ra một luận lý hay lý do lô gích xác đáng, dù có thể giải thích việc
này dựa vào việc truy tìm dấu tích của dòng tâm thức chuyển biến
liên tục. Tuy nhiên, sự biện luận mạnh mẽ nhất là nếu chúng ta đứng
vào lập trường đối nghịch, như có điểm phát khởi đầu tiên, thì chúng
ta phải chấp nhận việc có một đấng sáng tạo, rồi lại tạo ra bao vấn
đề, hay chúng ta phải chấp nhận có vài sự kiện không có nhân quả.
Một lần nữa, điều lô gích này mâu thuẩn, nghịch lý.
Do đó, sự chọn lựa
khái niệm dòng tâm thức chuyển biến liên tục từ đời vô thủy dường
như ít mâu thuẩn, tương phản. Dựa vào đó, chúng ta cũng sẽ chấp nhận
rằng cội gốc của tập khí xấu xa không thể có điểm khởi đầu.
Tuy vậy, việc có thể
xảy ra là những ai có căn tánh lanh lợi sẽ có khả năng biết về nhiều
tiền kiếp, nhưng không nhất thiết thấu suốt cội nguồn dòng vô thủy.
Bàn về phần thứ hai
của câu hỏi, hầu như tất cả truyền thống Phật giáo đều đồng ý rằng
chúng ta cần dùng trí huệ quán chiếu và loại trừ phiền não vọng động.
Điển hình, ngay cả theo quan điểm của một tông phái chẳng thừa nhận
lý thuyết tánh Không hay tánh vô ngã của muôn pháp, để trị bịnh sân
hận, phải thiền quán về lòng từ bi. Tuy nhiên, pháp đó sẽ không hoàn
toàn loại trừ hết phiền não, mà phải dùng trí huệ thấu suốt tánh vô
ngã. Tất cả tông phái Phật giáo, nhất là Phật giáo Đại Thừa, hầu như
đồng ý rằng cần phải dùng trí huệ quán chiếu các tập khí xấu xa.
Theo phái Duy Thức và Trung Quán, chỉ nhờ phát triển trí huệ liễu
giải tánh Không (hay vô ngã) mới thành công loại trừ hai chướng như
sở tri chướng và phiền não chướng.
Do đó, trí huệ thấu
suốt tánh Không (lý vô ngã) được xem như thang thuốc trực tiếp trị
vọng niệm, tà kiến, tỳ vết, và tập khí dư thừa của phiền não.
Tuy nhiên, theo phái
Trung Quán Ứng Thành, phải dựa vào mối tương quan giữa năng và sở
mới hiểu rõ bản chất của tánh vô ngã về Nhân (con người) vô ngã và
Pháp (hiện tượng) vô ngã; theo phạm vi phủ định, không có điều gì
khác biệt giữa chúng. Một lần nữa, chỉ nhờ phát triển trí huệ thấu
suốt tánh Không mà chúng ta mới có thể chặt đứt cội gốc phiền não
vọng tưởng.
Hỏi: Những ảo ảnh
trong giấc mơ mang lại ý nghĩa và soi sáng dòng tâm thức chúng ta
theo khuynh hướng gì?
Đáp: Bàn về những giấc
mơ bình thường, nói chung chúng được xem như ví dụ điển hình của
những điều ảo huyễn. Do đó, tôi không nghĩ rằng cần phải xem trọng
chúng. Dĩ nhiên, có những nhà tâm lý học như Jung và Freud rất xem
trọng các giấc mơ.
Tuy nhiên, chúng ta
không thể hoàn toàn bỏ qua các giấc mơ. Có thể trong vài trường hợp
có những điềm mang đầy ý nghĩa do nhiều nhân duyên kết hợp; vài giấc
mơ có thể có ý nghĩa sâu sắc.
Bàn chi tiết về cách
hỗ trợ đặc biệt để có những giấc mơ ý nghĩa, Mật tông, đặc biệt là
Vô Thượng Du Già, có trình bày rõ. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh cách tu
Mộng Du Già liên quan đến các giấc mơ trong pháp Vô Thượng Du Già,
vì cách tu trong mộng mang lại ý nghĩa sâu xa khi hành trì vào lúc
tỉnh thức. Một lý do khác nữa là nếu hành trì chân chánh trong cảnh
mộng, thì cảnh đó cho cơ hội tách rời thân vi tế ra khỏi thân thô
trược.
Hỏi: Không thể kềm chế
những nhân duyên phát sanh sân hận và những phiền não khác, thì làm
sao chúng ta trực tiếp phát tâm từ bi và các hạnh lành khác?
Đáp: Điểm tương tự với
điều này là vô minh hoàn toàn tự nhiên. Vừa sanh ra, chúng ta hoàn
toàn ngu si. Kế đến, nhờ có giáo dục và học vấn chúng ta tích lũy
kiến thức và tẩy trừ vô minh. Ngược lại, nếu mãi sống với vô minh mà
không chú tâm phát triển sự học vấn, thì không thể tẩy trừ vô minh.
Ở điểm này, chúng ta không bàn chữ 'Vô Minh' theo thuật ngữ Phật học
mà bàn về nó như sự thiếu chánh kiến. Do đó, nếu không cố gắng dùng
thuốc để tẩy trừ thì nó vẫn y nguyên.
Cũng vậy, dù sân hận
phát sanh tự nhiên, nhưng để điều phục nó, chúng ta phải sáng suốt
quyết chí dấn mình tu tập những pháp môn như từ bi để đạt được niềm
an lạc.
Chữ Niết Bàn hay giải
thoát theo thuật ngữ Phật học thường được diễn dịch như 'Bờ bên kia
(đáo bỉ ngạn), vượt xa hơn'; cảnh giới phàm phu trong cõi Ta Bà được
miêu tả như 'Hiện tại và ở nơi đây'. Phàm phu chỉ thấy hoàn cảnh
hiện thực và những gì hiển nhiên rõ ràng ở xung quanh. Cũng vậy,
điều gợi ý là những nhân xấu khiến chúng ta khổ đau và trôi lăn
trong cõi Ta Bà như các tập khí xấu xa, phiền não vọng tưởng, v.v...
dường như thuộc về 'Phía bên này', nên chúng hoàn toàn đến tự nhiên.
Ngược lại, hầu hết những hạnh lành cần phát triển thuộc về 'Phía bên
kia (đáo bỉ ngạn)' 'vượt xa hơn', tức là bên bờ Niết Bàn giải thoát.
Do đó, những phẩm hạnh đó sẽ không tự nhiên phát sanh ngoại trừ
chúng ta sáng suốt phát triển chúng.
Nếu thành công 'đáo bỉ
ngạn (đến bờ kia)', chúng ta có thể ứng dụng quan điểm xem những tập
khí phiền não xấu xa, v.v... như 'phía bên này'.
Hỏi: Nghiệp xấu do tức
giận tạo tác vì bị hại đôi chút, có nhẹ hơn nghiệp do lạnh lùng hãm
hại gây ra chăng? Như việc người Tây Tạng bị hại, phải chăng trong
đó luôn ẩn tàng sự sân hận?
Đáp: Câu hỏi này thật
rất phức tạp, nhất là phần đầu; tôi thiết nghĩ phải phân biệt sự
khác biệt giữa những hoàn cảnh khác nhau.
Nhiều khi phiền não do
vô minh gây ra chứ không phải sân hận. Ví dụ, vì thích ăn cá, nên
khi câu cá, chúng ta không có cảm giác cá như một loại chúng sanh.
Lúc đó, chúng ta không có sân hận, và giết cá chỉ vì vô minh.
Ngoài ra vì thú vui
tiêu khiển mà đi săn bắn. Một lần nữa, vào lúc đó không có sân hận.
Tôi thiết nghĩ điều này cũng đến từ vô minh, và có lẽ liên quan đến
tâm tham. Lại nữa, có những trường hợp giết hại và săn bắn thú vật
vì vấn đề sanh tồn. Thế nên, có rất nhiều sự khác biệt.
Tuy nhiên, tôi thiết
nghĩ việc Đức Quốc Xã tàn sát tập thể người Do Thái và những người
khác trong các trại tập trung là một trường hợp khác. Có thể trong
những trường hợp đặc biệt đó có vài cá nhân hành sự không vì sân hận.
Vì sự việc phức tạp và bản chất phức tạp của hành vi con người, giáo
lý nghiệp quả của nhà Phật phân biệt rõ bốn loại hành vi chủ yếu:
Hành vi đã làm nhưng không chủ ý; hành vi có chủ ý nhưng chưa làm
hoàn tất; hành vi có chủ ý và đã làm hoàn tất; hành vi không có chủ
ý và chưa làm hoàn tất. Ngoài ra cũng có những việc như 'giết vì
thương hại'. Tôi thiết nghĩ, nghiệp giết hại do sân hận kích thích
nặng hơn nghiệp giết hại do ngu si tạo tác.
Mức độ của nghiệp giết
hại cũng thay đổi tùy theo sự việc có hoàn tất hay chưa. Ví dụ, có
kẻ tạo nghiệp giết hại với chủ ý và tâm niệm xấu xa cực độ, và với
cách giết hại tàn nhẫn. Nếu nghiệp giết hại do sân hận thúc đẩy, thì
dĩ nhiên phương pháp giết hại rất tàn nhẫn. Kế đến, vào lúc kết thúc
nghiệp giết hại, kẻ sát nhân có thể có cảm giác hài lòng. Đó là
trường hợp tạo nghiệp giết hại nặng nề nhất. Tuy vậy, đôi khi kẻ sát
nhân ít vọng động vào lúc động cơ và cách giết hại ít tàn nhẫn, và
hắn có thể cảm thấy hối hận vừa lúc hoàn tất nghiệp giết hại, thì
nghiệp đó tương đối nhẹ.
Ngoài ra, khi tạo
nghiệp giết hại, có nhiều cấp độ sân hận thô thiển hay vi tế. Hơn
nữa, nếu kẻ sát nhân chuẩn bị kế hoạch giết người trong nhiều năm,
thì khi thực sự tạo nghiệp giết hại hắn có thể không nóng giận. Tuy
nhiên, không thể cho rằng trong trường hợp đó không có thù hận; vào
lúc đó, tuy thù hận rất thâm sâu, nhưng trong lúc tạo nghiệp giết
hại, hắn không tức giận mạnh mẽ.
Người Tây Tạng có câu
rằng kẻ xảo quyệt chừng nào thì càng khéo léo che dấu sự thù hận
chừng ấy; càng sân hận nhiều chừng nào thì càng giả dạng hiền từ bấy
nhiêu. Tôi không biết lời này có giá trị gì chăng!
Hỏi: Xin Ngài nói thêm
về mục đích sống. Có lẽ rằng mục đích sống chỉ vì sự hưởng thụ là
điều rất ngu xuẩn. Thật ra, còn nhiều việc cần phải làm, và dường
như chúng không phải an nhàn sung sướng. Có lẽ việc hưởng thụ cá
nhân là ích kỷ trong khi có rất nhiều việc đau buồn đang xảy ra.
Đáp: Tôi tin tưởng
rằng mục đích của cuộc sống là được hạnh phúc. Thế thì hạnh phúc là
gì? Có nhiều loại hạnh phúc. Quả vị Phật là cảnh giới hạnh phúc tối
thượng nhất. Kế đến là cảnh giới hạnh phúc Niết Bàn của các vị A La
Hán. Dĩ nhiên, cảnh giới đó chưa mang lại sự thỏa mãn hoàn toàn vì
vẫn còn vài tỳ vết tập khí trong tâm niệm; nơi đó, chư A La Hán
không còn bị vô minh dày vò, nên đó cũng là một cảnh giới hạnh phúc
của nội tâm. Kế tiếp, nghĩ về hậu thế và được tái sanh vào cõi tốt
lành cũng được định nghĩa như niềm hạnh phúc. Chúng ta nào muốn tái
sanh vào những cõi thấp hèn còn nhiều sự khổ đau, mà chỉ cố gắng đi
đến những cõi tốt lành, vì có nhiều niềm hạnh phúc hơn.
Thực tế, tôi thiết
nghĩ cuộc sống hằng ngày hầu như dựa vào nhựa sống của niềm hy vọng,
dù không có gì đảm bảo cho tương lai. Điển hình, không có gì đảm bảo
rằng ngày mai vào thời điểm này tất cả chúng ta sẽ họp mặt tại nơi
đây. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ làm việc dựa vào niềm hy vọng. Vì
những lý do ấy, tôi tin rằng mục đích sống là được hạnh phúc. Điều
này không nhất thiết là sự ích kỷ; (hiểu rõ) để phục vụ người khác
và chắc chắn không gây khổ đau cho họ. Phục vụ tha nhân nghĩa là tự
hưởng hạnh phúc và giúp người khác được nhiều niềm hạnh phúc hơn.
Tôi thiết nghĩ đó là triết lý căn bản. Vì vậy, hạnh phúc không phải
là việc đơn giản.
Hỏi: Xin Ngài giải
thích chi tiết về việc tại sao trí huệ làm nhân duyên hỗ trợ cho
hạnh nhẫn nhục?
Đáp: Phải dùng nhiều
lý lẽ và suy luận để bàn về các phương pháp được trình bày trong
quyển luận này; nghĩa là dùng trí huệ làm nhân duyên hỗ trợ cho việc
tu hành. Ở mức độ cao, có nhiều loại trí huệ khác nhau. Ở cảnh giới
cao siêu, có thể đó là trí huệ thấu suốt bản chất chuyển biến vô
thường của các pháp, hay trí huệ thấu suốt bản chất rốt ráo (tánh
không) của hiện thực, v.v... Chúng có thể làm nhân duyên hỗ trợ cho
hạnh nhẫn nhục.
Hỏi: Lập trường của
đạo Phật về việc phá thai như thế nào?
Đáp: Bàn về việc phòng
ngừa thai nghén, nói chung đạo Phật tin tưởng rằng mạng người rất
quý báu dù có rất nhiều người tạo bao điều rắc rối! Không phải là
điều đáng cổ vũ nếu hạn chế 'mạng người quý báu (sự sanh sản)'. Tuy
nhiên, lẽ thật là ngày nay có quá nhiều 'mạng người quý báu', tức
hơn năm tỷ người. Ngoài ra vấn đề cũng có phương diện khác. Sự chênh
lệch của nền kinh tế giữa 'Người phương bắc' và 'Người phương nam'
vốn không đúng về mặt đạo đức và thực tế. Nếu tiếp tục xảy ra thì
điều này có thể làm nhân cho nhiều vấn đề rắc rối. Vì sự chênh lệch
kinh tế, nhiều người tị nạn đến những quốc gia công nghiệp hóa. Điều
này cũng tạo ra nhiều vấn đề mà đặc biệt ở châu Âu. Ở Mỹ có thể ít
có vấn đề vì xứ đó rộng lớn, dù có nhiều nạn phạm pháp. Do đó, chúng
ta phải nỗ lực cố gắng giảm thiểu sự chênh lệch kinh tế. Theo các
chuyên gia kinh tế, với dân số năm tỷ người, tài nguyên thiên nhiên
không đủ để cung cấp cho 'Người phương nam' theo tiêu chuẩn như 'Người
phương bắc' đang hưởng. Do đó, toàn thể dân số nhân loại đang đối
đầu với vấn đề đó. Điều lô gích là chúng ta phải suy nghĩ thật
nghiêm chỉnh về việc phòng ngừa thai ghén.
Nói chung, phá thai là
điều xấu xa vì đó là hành vi giết hại. Ngày nọ, tôi đọc về nhân
quyền của bào thai. Theo quan điểm đạo Phật, điều này rất đúng, vì
bào thai cũng được xem như một chúng sanh.
Ví dụ, một trong những
giới luật căn bản của tăng ni là không được giết hại người khác. Nếu
tăng ni nào phá thai, thì phạm giới trọng. Tuy nhiên, một lần nữa,
theo quan điểm căn bản của đạo Phật thì việc quan trọng nhất là phải
phán đoán những điều đó tùy theo hoàn cảnh. Có thể có những quy luật
chung, nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ bao gồm việc giết hại
vì tình thương. Dĩ nhiên, nói chung phải tránh việc phá thai. Tuy
vậy, trong vài trường hợp đặc biệt, phá thai có thể được xem như sự
chọn lựa cảm thông, ví dụ như khi mạng sống của người mẹ và đứa con
bị đe dọa, hoặc có hậu quả nghiêm trọng xảy đến trong một gia đình.
Cũng vậy, bàn về vấn
đề giết người bị bịnh vô phương chữa trị, theo quan điểm đạo Phật,
nếu giữ bịnh nhân lâu rất tốn kém, nếu điều đó gây khó khăn kinh tế
cho gia đình, nếu không có niềm hy vọng vì bịnh nhân vẫn sẽ sống bất
tỉnh trong trạng thái hôn mê, thì điều này có thể chấp nhận. Dĩ
nhiên, nếu gia đình có đủ tiền bạc và muốn giữ bịnh nhân đó sống,
thì đó là quyền của họ. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh ngoại lệ mà điều
này tạo ra nhiều vấn đề, thì việc giết bịnh nhân không thể cứu chữa
có thể được. Cũng vậy, việc phá thai cũng có thể chấp nhận trong
những trường hợp đặc biệt. Nói chung, chúng ta phải phán đoán tùy
theo trường hợp. Đó là giải pháp chung của đạo Phật.
|