|
Tôn giả
A Để Sa (982-1054)
Thích Hằng Đạt
Chương IV. Sơ lược về phái Ca Đương (Bkah-gdams)
Trước
và sau thời vua Lãng Đạt Ma hủy diệt Phật pháp, Tây Tạng chưa có
phân chia tông phái. Từ lúc tôn giả A Để Sa đến, tại Tây Tạng mới
bắt đầu có nhiều tông phái xuất hiện. Đó là thời kỳ sau đời ngài
Tịch Hộ và Liên Hoa Sanh vào khoảng ba trăm năm. Trừ phái Ninh Mã ra,
sáu tông phái lớn đều có mối liên hệ chặt chẽ với tôn giả A Để Sa.
Đương thời, ở Tây
Tạng, do sự hỗn tạp của tư tưởng Phật học, nên Tôn Giả y cứ vào học
thuyết đang được thông hành ở Ấn Độ, mà giúp cho tư tưởng Phật học
của Tây Tạng được thống nhất. Thế nên, đối với sự cách mạng giáo chế
của Phật giáo Tây Tạng, bất quá chỉ là dùng tư tưởng mới của Phật
giáo Ấn Độ để hoán cải tư tưởng thần học hỗn tạp ở Tây Tạng vào thời
đó.
Sau khi Tôn Giả thị
tịch, đồ chúng theo đại đệ tử của Tôn Giả là Chủng Đôn Ba (Hbrom-ston-pa)
sang Đóa Lũng (Stod-luns). Tại chùa Nhạ Trân (Rwa sgren), được thí
chủ Huân Ba (Hdam-pa) ngưỡng thỉnh, đại sư Chủng Đôn Ba cùng chư
huynh đệ an định hoằng pháp và sáng lập phái Ca Đương. Đại sư Chủng
Đôn Ba nói:
- Bkah: Ca, tức là
lời vàng ngọc hy hữu của đức Phật trong ba tạng giáo điển. Gdams:
Đương, tức là lời truyền dạy của Tôn giả A Để Sa về pháp Tam Sĩ Độ
trang nghiêm (pháp môn tu hành dành cho ba hạng người: Thượng căn,
trung căn, hạ căn). Ca Đương như châu báu vàng ngọc, khiến người
người đều được lợi ích.
Đại sư Chủng Đôn Ba
lại bảo:
- Nhiếp thọ được
hết tất cả thánh giáo, dùng đó để tu trì, chỉ có thầy của Ta (1).
Ngài Cống Ba Bảo (Sgom-parin-chen
ba-ma) nói:
- Hiểu biết rõ ràng
giới luật hỗ trợ cho minh chú, cũng như minh chú hỗ trợ cho giớI
luật, trừ thầy của Ta (2) ra, chẳng có ai biết đến.
Tôn giả A Để Sa
hoàn toàn ban truyền tất cả giáo pháp Hiển-Mật cho Chủng Đôn Ba, Du
Già Sư, A Lan Nhã Giả. Hơn sáu mươi đồ chúng của Tôn Giả theo đại sư
Chủng Đôn Ba chân thật tu hành, nên phái Ca Đương được người sau
xưng tán là tông phái chuyên chú trọng phẩm chất chứ không chú trọng
về số lượng. Đại sư Chủng Đôn Ba hoằng pháp tại chùa Nhạ Trân suốt
chín năm, thường giảng tám ngàn bài tụng Bát Nhã, tám ngàn bài tụng
Đại Sớ và Lược Sớ của Bát Nhã, Nhị Vạn Quang Minh Luận. Tuy đã đắc
thành tựu Hiển-Mật, nhưng đối với Mật pháp, Đại Sư không tuyên
thuyết nhiều cho mấy, mà lại chú thích về quyển mật chú Trí Thành
Tựu Luận. Lúc trú tại chùa Tang Da, tôn giả A Để Sa ban truyền cho
đại sư Chủng Đôn Ba rất nhiều loại mật chú phương tiện, và Đóa Cáp
(3). Do thấy hầu hết mọi người chỉ bám vào ngôn ngữ và nghĩa thô của
Mật pháp nên Đại Sư không truyền cho nhiều người, vì sợ tín chúng
hiểu lầm và hành những tà hạnh ngược với tông chỉ của Mật Pháp, như
các tà sư "Thượng Sư Đỏ, Thượng Sư Xanh".
Đại Sư có một đại
đệ tử là Phác Khung Ngõa Đồng Tràng (4). Sau khi Tôn Giả thị tịch,
Phác Khung Ngõa Đồng Tràng liền y theo đại sư Chủng Đôn Ba mà thọ
pháp môn Tứ Đế, cùng tất cả giáo pháp bí truyền. Sau khi Đại Sư thị
tịch, Phác Khung Ngõa Đồng Tràng vào núi chuyên tu, tác pháp tu
phước cúng dường Tam Bảo, cùng khai thị pháp Tứ Đế cho đồ chúng, rồi
tịch năm 1126, thọ chín mươi lăm tuổi. Đệ tử nối pháp là Ca Mã Trát
(Karma-grags).
Sau khi đại sư
Chủng Đôn Ba thị tịch (5), Du Già Sư kế vị chức trụ trì chùa Nhạ
Trân. Du Già Sư xưa kia thân cận Tôn Giả tại vùng Ninh Thố (Nan-tsho).
Lúc làm những công việc hằng ngày, do không rời sự tu thiền định,
nên được xưng tán là Đại Du Già Sư (6). Vị này cũng thông đạt về
nghĩa lý Nhị Đế do Tôn Giả giảng giải. Sau này, Du Già Sư tịch vào
năm 1078, và truyền pháp cho đệ tử là Đóa Lũng Bảo Tạng.
Kế thừa chức trụ
trì chùa Nhạ Trân là A Lan Nhã Giả. A Lan Nhã Giả vốn có biệt danh
là Tự Tại Tràng, sanh năm 1016; thuở còn ở Ninh Thố vị này chuyên tu
thiền định và thường đến thân cận thỉnh tôn giả A Để Sa ban truyền
giáo pháp; mỗi lần gặp chướng ngại trên đường tu, vị này đều được
Tôn Giả gia trì giải nạn. Sau này, A Lan Nhã Giả do tu định mà chứng
đắc thần thông, và đã từng nhập định nhiếp thu hơi thở (ngừng thở)
cả ba ngày ba đêm. Lần nọ, một đệ tử vào phòng, thấy A Lan Nhã Giả
nhập định ngưng hơi thở nên tưởng lầm Ngài đã thị tịch. Song, ngay
lúc ấy A Lan Nhã Giả xuất định và bảo:
- Vì thân thể không
được khỏe, nên Ta nhiếp trì hơi thở.
Về sau, A Lan Nhã
Giả tịch vào năm 1082, thọ sáu mươi bảy tuổi. A Lan Nhã Giả có đồ
chúng rất đông, như Tương Ca Mã Ba (Shan Ka-ma-pa) Ninh Nõa Ma Ngõa
(Gna-Sna-mo-ba), v.v...
Bác Đóa Ngõa Bảo
Minh (Po-to ba Rin-chen gsal) sanh năm 1031, xuất gia với ngài Luân
Giới Bồ Đề ở chùa Cổ Tự, trọng nhân quả, trí huệ quảng đại, thông
giải kinh luận. Vị này vốn có ý vào núi chuyên tu để mai danh ẩn
tích. Song, vào năm 28 tuổi, đến tham bái Chủng Đôn Ba, lại sanh tín
tâm cung kính, rồi ở lại chùa Nhạ Trân tu học. Sau khi đại sư Chủng
Đôn Ba thị tịch, ngài Bác Đóa Ngõa Bảo Minh chuyên tu cho đến lúc
năm mươi tuổi, rồi sau này đi đó đây hoằng pháp lợi sanh; vị này có
cả ngàn đồ chúng thường đi theo cầu học và thường chủ yếu giảng
quyển Bồ Đề Đạo Đăng Luận (7), Trang Nghiêm Kinh Luận, Bồ Đề Địa,
Tập Bồ Tát Học Luận, Nhập Hạnh Luận, Bổn Sanh Luận, Tập Pháp Cú Kinh
(8). Lúc giảng giải kinh luận, vị này luôn luôn lấy giáo nghĩa ra
ứng dụng mà tu hành (tri hành hiệp nhất), nên danh tiếng của phái Ca
Đương vang khắp mọi nơi. Bác Đóa Ngõa Bảo Minh lúc về già xây chùa
Bác Ngõa (Po-to), chuyên cư trú nơi đó mà hoằng dương chánh pháp,
rồi tịch vào năm 1105, thọ bảy mươi lăm tuổi, có rất nhiều đệ tử, sự
nghiệp hoằng pháp rất lớn; giữa chư đồ đệ có Lãng Nhật Đường Ba (Glan-ri-thanpa),
Hà Nhạ Ngõa (Sa-ra-ba), Đóa Ba (Dol-pa) là những vị rất tài ba.
Đóa Ba thân cận Bác
Đóa Ngõa cả hai mươi lăm năm; lúc ra hoằng pháp, nhiếp thọ rất nhiều
người; đồ chúng vây quanh cả ngàn người. Đóa Ba tịch vào năm 1131,
thọ bảy mươi ba tuổi.
Lãng Nhật Đường Ba
vốn tên là Kim Cang Sư Tử, sanh năm 1054, thường giảng năm bộ luận
của Bồ Tát Di Lặc, đồ chúng vây quanh hơn hai ngàn người, và thường
phát nguyện đời đời làm tỳ kheo, rồi tịch năm 1123, thọ bảy mươi
tuổi.
Hà Nhạ Ngõa sanh
năm 1070, theo Bác Đóa Ngõa xuất gia học pháp, trí huệ quảng đại,
học thuộc hết toàn bộ đại tạng kinh. Lúc ngài Bác Đóa Ngõa tịch, tất
cả đồ chúng đều theo Hà Nhạ Ngõa mà tu học. Hà Nhạ Ngõa nhiếp thọ cả
hơn ba ngàn sáu trăm đồ chúng, thường giảng sáu đại luận của phái Ca
Đương, giúp Bạt Tào Nhật Xưng (Pa-tshab Ni-ma-grags) hoằng dương
giáo pháp Trung Quán, rồi tịch vào năm 1141, thọ bảy mươi hai tuổi.
Đệ tử của Hà Nhạ
Ngõa là Gia Khách Ba Trí Kim Cang (Hchad-kha-pa Ye-ses rdo-rje) viết
quyển Phát Bồ Đề Tâm Thất Nghĩa Luận.
Cẩn Nga Ngõa Giới
Nhiên (9) xuất gia, tín tâm thuần hậu; năm hai mươi tuổi sang chùa
Nhạ Trân thân cận Chủng Đôn Ba học pháp. Lần nọ, Chủng Đôn Ba bảo:
- Tám mươi bốn ngàn
pháp môn, không dễ dàng học hết. Ông hãy cố gắng tu Tánh Không cho
giỏi. Đợi mỗi lần Ta dùng ngọ xong, hãy đến một mình.
Do đó, vào mỗi trưa
Cẩn Nga Ngõa Giới Nhiên đến gặp Chủng Đôn Ba mà học pháp. Về sau,
Cẩn Nga Ngõa Giới Nhiên thọ rất nhiều Mật pháp của tôn giả A Để Sa
do Du Già Sư, A Lan Nhã Giả, Huệ Kim Cang truyền lại, nên đắc được
thần thông, đọc tụng hết tất cả kinh chú, dịch các kinh luận. Sau đó,
vị này tịch vào năm 1103, có rất nhiều đồ chúng.
Điểm đặc biệt của
phái Ca Đương là chẳng bỏ tất cả kinh luận nào, vì cho đó là thuận
duyên của sự thành Phật. Về sau, từ phái Ca Đương xuất hiện ra ba
phái được gọi là phái Giáo Điển, phái Giáo Thọ, phái Giáo Giới.
1/ Phái Giáo Điển,
do Bác Đóa Ngõa lập ra. Đây là phái chuyên bàn về tư tưởng của tôn
giả A Để Sa; thuyết rằng tất cả kinh luận là phương tiện thành Phật,
nên phải y cứ theo tất cả kinh luận. Bàn về các trước tác của tôn
giả A Để Sa, có thể phân làm ba loại:
a/ Trọng tại thuyết
minh chánh kiến, như quyển Nhập Nhị Đế Luận, Trung Quán Giáo Thọ
Luận;
b/ Trọng tại thuyết
minh hạnh Bồ Tát như quyển Nhiếp Hạnh Cự Luận, Nghi Thức Phát Bồ Đề
Tâm Thọ Bồ Tát Giới;
c/ Trọng cả kiến
giải và hạnh giải như quyển Bồ Đề Đạo Đăng Luận.
Lại nữa, phái Giáo
Điển này thường giảng sáu bộ luận lớn như Tập Bồ Tát Học Luận, Nhập
Bồ Tát Hạnh Luận (10), Bồ Tát Địa, Trang Nghiêm Kinh Luận, Bổn Sanh
Luận, Tập Pháp Cú Kinh (11). Ngoài ra còn có cả trăm loại Tiểu Phẩm
Pháp của Tôn Giả; đây là giáo điển của phái Ca Đương. Hệ phái này
nghiêng hẳn về Hiển giáo.
2/ Phái Giáo Thọ,
do Cẩn Nga Ngõa lập ra, liên hệ về chánh kiến. Có giáo pháp Tứ Đế
của Cẩn Nga Ngõa truyền, giáo pháp duyên khởi của Phác Khung Ngõa
truyền, giáo pháp Nhị Đế của Du Già Sư truyền. Hai loại giáo pháp Tứ
Đế và Duyên Khởi trọng tại thuyết minh nhân vô ngã. Giáo pháp Nhị Đế
trọng tại thuyết minh pháp vô ngã. Bí pháp của Du Già Sư được truyền
cho Trác Lũng Ba và Cẩn Nga Ngõa; Cẩn Nga Ngõa truyền bí pháp cho
Đóa Lũng Ba. Về sau, Đóa Lũng Ba giảng thuyết trước thuật rất nhiều.
Giáo thọ chủ yếu của Đóa Lũng Ba là thường tu giáo pháp tâm đại Bồ
Đề Tự Tha Tương Hoán. Phái Giáo Thọ thường y theo tất cả kinh điển
Đại Thừa, đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, Bảo Man Luận (12), Tập Học
Luận và Nhập Hạnh Luận (13). Phái này đều y cứ theo quyển Tu Tâm
Kiếm Luân Luận và Khổng Tước Hóa Độc Luận (14), Kim Cang Ca (15), Bồ
Tát Thứ Đệ và Trừ Phân Biệt Luận của đại sư Kim Châu (16). Về sau,
quyển Bát Cú Luận (Tshigs-brgyad-ma) của Lãng Nhật Đường Ba, Tu Tâm
Luận (Blo-sbyun) của Hà Bà Cương Ba, Bát Tọa Luận (Thun-rgyal-ma)
của Khương Lũng Ba, Tu Tâm Thất Nghĩa Luận (Blo-sbyun don bdun-ma)
của Già Khách Ba, Bồ Tát Đạo Thứ Đệ, v.v... được phái Giáo Thọ xiển
dương rộng rãi. Phái Giáo Thọ thuyết minh về kiến giải hạnh giải
song hành như quyển Tam Sĩ Đạo Tứ Đệ. Giáo điển mà phái này dựa vào
là quyển Bồ Đề Đạo Đăng Luận. Các loại giáo thọ kiến giải hạnh giải
ở trên, đều là phân chi của phái Giáo Thọ. Quyển Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
thống nhiếp tất cả giáo thọ, tức gọi là giáo thọ kiến giải hạnh giải
song hành. Hệ phái này nghiêng hẳn về Mật giáo.
3/ Phái Giáo Giới,
vốn là giáo thọ mà tôn giả A Để Sa truyền cho ba vị Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Ba, Thiện Huệ, Chủng Đôn Ba ở Da Ba (Yerpa). Về sau, Chủng Đôn
Ba truyền cho ba huynh đệ khác. Phác Khung Ngõa được toàn bộ; Cẩn
Nga Ngõa được đại bộ phận, Bác Đóa Ngõa được ít phần. Thiện Huệ lại
truyền cho Nga Nhật Ba Huệ Tràng. Nga Nhật Ba Huệ Tràng truyền cho
Phác Khung Ngõa. Từ đó truyền xuống nhiều đời, đến Chủng Đồng Huệ (hbron
Kumaa-mati), rồi được xiển dương rộng rãi. Đến Tăng Thành Đại Sư
(17), thì pháp này lưu truyền khắp Tây Tạng. Nội dung của giáo pháp
này thường trụ trong năm niệm:
- a/ Niệm nhớ sư trưởng mà quy
y.
- b/ Niệm nhớ tự thân là Bổn Tôn.
- c/ Niệm nhớ ngữ ngôn làm chú
tụng.
- d/ Niệm nhớ chúng sanh là cha
mẹ.
- e/ Niệm tâm tánh vốn không.
Pháp Tâm Yếu dựa
vào sự tu pháp Thập Lục Minh Điểm. Lúc tu giáo pháp đó, thì bên dưới
tự trì giới luật, và bên trên hoàn toàn tu pháp Kim Cang Mật Thừa.
Kiến địa càng cao thì hành vi phải càng cẩn thận. Bổn Tôn có Phật
Thích Ca, Bồ Tát Quán Âm, Duyên Độ Mẫu, Bất Động Minh Vương. Pháp là
ba tạng giáo điển. Bốn Bổn Tôn và ba tạng giáo điển, hợp lại thành
Thất Bảo của phái Ca Đương.
Thiện Huệ vốn là đệ
tử truyền Mật pháp bất cộng của tôn giả A Để Sa, và y chiếu theo lời
phó chúc của Tôn Giả mà lập chùa Tang Phác. Cháu của Thiện Huệ là La
Đôn Hy Nhiêu (Blo-ldan ses rad) thọ giáo từ Tôn Giả và tạo quyển
Thánh Giáo Thứ Đệ Luận. Trong số đệ tử của Thiện Huệ, người thiện
xảo về tất cả kinh điển là Trác Lũng Huệ Sanh (Gro-lun-pa ses-rab
hbyun-gnas). Vị thiện xảo về Bát Nhã là Chỉ Cần Ba Huệ Nhiên (Hbre-chen-po
Ses-rab hbar). Vị thiện xảo về Nhân Minh là Cương Ba Hiệp Ổ (Gans-pa
sehu). Vị thiện xảo về Trung Quán là Quỳnh Bảo Xưng (Khyun Rin-chen
grars). Kế thừa pháp vị của ngài Thiện Huệ là Tương Sát Banh (Shan-tshe-pon).
Những vị đại thiện tri thức, kiến lập đạo tràng, trụ trì chánh pháp,
này đều thọ giáo pháp của phái Ca Đương.
Từ lúc tôn giả A Để
Sa đến Tây Tạng, Phật pháp được chỉnh lý sửa đổi, khiến cho nghĩa lý
thanh tịnh của kiến giải và hạnh giải được phổ biến khắp nơi. Do đó,
các giáo phái vào đương thời và về sau đều thọ sự ảnh hưởng của giáo
pháp phái Ca Đương. Điển hình, sơ tổ của phái Cát Cử (18) là La Trát
Mã Nhĩ Ba (Lho-brag mar-pa) trên đường sang Ấn Độ du học, gặp tôn
giả A Để Sa mà nghe giảng về thánh giáo. Đặc biệt là Đạt Bạc Lạp Kết
(Dwags-po lha-rj) theo Cổ Vân Đáp (19) tu học giáo pháp Ca Đương, và
theo Mật Lặc Nhật Ba (Mi-la ras-pa) học Đại Thủ Ấn. Pháp sở truyền
của Đạt Bạc Lạp Kết là dung hội giáo pháp của phái Ca Đương và Đại
Thủ Ấn, rồi tạo quyển Đạo Thứ Đệ Giải Thoát Trang Nghiêm Luận. Đệ tử
của Đạt Bạc Lạp Kết là Bạch Ma Chủ Ba (Phag-mo gru-pa) theo Cách
Thập Đóa Ba (Dge-bses dol-pa) học giáo pháp của phái Ca Đương, và
tạo quyển Thánh Giáo Thứ Đệ Luận. Về phương diện tu trì, họ đều y
chiếu theo giáo pháp của phái Ca Đương mà hành. Pháp Đại Thừa phát
Tâm Bồ Đề (20) đều bắt nguồn từ giáo pháp của phái Ca Đương.
Tổ thứ tư của phái
Tát Ca (Sakya) là Khánh Hỷ Tràng theo Kiết Oa Lôi Ba (21) mà tu học
giáo pháp của phái Ca Đương. Về sau, trong các trước tác của vị này,
đều thuyết minh về pháp tu Đại Thừa cộng đạo, tức y chiếu theo
thuyết của phái Ca Đương. Sau này, các học giả phái Tát Ca đều y
chiếu theo thuyết đó mà tuyên thuyết Phật pháp.
Sơ tổ Hoàng Giáo là
đại sư Tông Khách Ba theo Hư Không Tràng và Pháp Y Hiền mà tu tập
Đạo Thứ Đệ của phái Ca Đương, rồi trước tác hai quyển Bồ Đề Đạo Thứ
Đệ Quảng Luận và Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Lược Luận. Ngoài ra, những pháp tự
tu cùng pháp giáo hóa người khác, đại sư Tông Khách Ba đều y cứ theo
giáo pháp của tôn giả A Để Sa. Do đó, phái Cách Lỗ của Hoàng Giáo
được gọi là phái Tân Ca Đương. Lại nữa, tất cả đại luận được giảng
thuyết ở Tây Tạng đều do tôn giả A Để Sa truyền lại, như Nhân Minh,
Trung Quán, năm bộ luận của Bồ Tát Di Lặc, v.v...
|