|
Tôn giả A Để Sa (982-1054)
Thích Hằng Đạt
Chương III. Sự nghiệp lưu truyền, giáo pháp lan rộng
Các
đại đệ tử của Tôn Giả đều có mặt tại các nơi như Ấn Độ, Ổ Cẩn, Ni
Bạc Nhĩ, Nga Nhật, Tiền Tạng, Hậu Tạng; mỗi vị đều có các công đức
thù thắng, và có khả năng hoằng dương thánh giáo của Tôn Giả. Song,
vị tối quan trọng nhất là đại sư Chủng Đôn Ba. Lúc trú tại Nhiếp
Đường, Tôn Giả ban truyền cho đại sư Chủng Đôn Ba kinh luận của 157
vị đại sư truyền lại; ưng tụng thì ban truyền pháp tụng; ưng giảng
thì ban truyền pháp giảng; ưng trì Mật chú thì ban truyền pháp mật
chú. Danh đề của các kinh luận đó bằng chữ Phạn có cả 6475 loại. Đại
sư Chủng Đôn Ba dùng ba nghiệp thanh tịnh, mà chí thành thừa sự hầu
cận Tôn Giả như đức Phật. Giáo pháp của Tôn Giả, đại sư Chủng Đôn Ba
đều tiếp thọ hết, như nước từ trong bình này chế sang bình khác. Mỗi
mỗi kinh luận, Tôn Giả đều ban truyền không gián đoạn; được Tôn Giả
gia trì và hành theo giáo pháp, đại sư Chủng Đôn Ba chẳng khởi tâm
phân biệt vọng động. Vì vậy, tất cả giáo pháp của Tôn Giả, có thể
bảo rằng đại sư Chủng Đôn Ba may mắn tối cực, thọ nhận được hết.
Lần nọ, lúc trú tại
chùa Da Bạt, đại sư Chủng Đôn Ba tự nghĩ: "Chư hữu tình đời mạt thế,
cấu uế thâm trọng; nay sư trưởng còn tại thế, phải khiến giáo pháp
của Tôn Giả mãi mãi lưu lại thế gian để làm lợi ích cho thế nhân."
Thế nên, ngày đêm
Đại Sư thường thỉnh hỏi pháp nghĩa, viết thành bài tụng, rồi từ từ
kết tập thành một quyển luận, gọi đó là Vấn Đáp Ma Ni Mạn (1). Đại ý
của quyển luận đó như sau:
"Bồ Đề Tát Đỏa Ma
Ni Hoàn, kính lễ đại bi tôn, kính lễ chư sư trưởng, kính lễ Sở Tín
Thiên (2),
Ưng đoạn tất cả
nghi; ưng ân cần tu hành.
Đoạn hôn mê giải
đãi; thường khuyến tấn tu hành.
Niệm giác chẳng
phóng dật; thường thủ hộ các căn.
Trong ba thời ngày
đêm, phải thường quán tâm niệm.
Phải nhìn lỗi mình,
chớ cầu lỗi của người.
Phải tu mật công
đức; hiển công đức của người.
Đoạn lợi dưỡng cung
kính; phải đoạn tâm cao ngạo.
Phải thiểu dục tri
túc; đền đáp các ân đức.
Phải tu tâm từ bi;
tâm Bồ Đề kiên cố.
Phải đoạn mười việc
xấu; lòng tin thường chắc thật.
Đoạn phẫn nộ ngã
mạn; phải hạ tâm thấp xuống.
Phải đoạn các tà
mạng; giữ huệ mạng tồn tại.
Phải bỏ tham tài
vật; dùng thánh vật trang nghiêm.
Phải đoạn tâm tạp
nhạp; phải trụ A Lan Nhã.
Phải đoạn lời kiêu
xa; phải phòng ngừa lời nói.
Thấy tôn trưởng
thân giáo, phải cung kính thừa sự.
Nơi người đủ pháp
nhãn, cùng các vị sơ nghiệp,
Phải khởi tưởng đại
sư; lúc gặp chư hữu tình,
Khởi tưởng là cha
mẹ; phải tránh các bạn ác.
Phải y thiện tri
thức; đoạn tâm sân chẳng vui.
Phải hướng nơi an
lạc; phải đoạn các tham dục.
Phải trụ nơi chẳng
tham; tham chẳng được an lạc,
Khiến đoạn đứt huệ
mạng; nếu thấy pháp an lạc,
Phải thường tận lực
hành; lúc sanh tâm trầm tịch,
Phải khởi tâm dõng
mãnh; phải tu tánh Không Quán.
Lúc cảnh tham sân
khởi, phải quán như huyễn hóa.
Khi nghe các lời
xấu, phải quán như âm vang.
Lúc thân bị tổn
hoại, phải quán do nghiệp xưa.
Trụ núi rừng nhàn
tĩnh, như thi thể nai chết.
Phải tự ẩn thân
mình; phải trụ nơi vô tham.
Phải thường trụ chí
nguyện; lúc tâm tình giải đãi,
Phải tự trách tâm
đó; niệm giới cấm tâm yếu.
Lúc gặp những người
khác, phải tịnh hòa chánh ngôn,
Đoạn dung nhan phẫn
nộ, nụ cười thường phải có.
Thường gặp những
người khác, bố thí chẳng keo kiết.
Đoạn tất cả ganh
ghét, vì thủ hộ tâm người.
Phải đoạn tất cả
tranh; thường trụ nơi nhẫn nhục.
Chẳng có mặt tráo
trở; thường phải tự an trụ.
Đoạn lời khinh mạn
người; phải khởi tâm kính trọng.
Lúc dạy dỗ người
khác, phải đủ bi lợi ích.
Chớ hủy báng chánh
pháp; tùy ý thích thắng giải.
Trong mười pháp
hành môn, ngày đêm không sao lãng.
Tích tập thiện ba
đời, hồi hướng vô thượng đạo.
Phước thí chư hữu
tình; phải thường thời phát khởi,
Bảy chi quảng đại
nguyện; phải viên mãn như thế,
Tư lương hai phước
huệ; hai chướng phải mãi đoạn.
Không uổng được
thân người, chứng vô thượng Bồ Đề,
Tín tài cùng giới
tài, xả tài cùng văn tài.
Phải có tâm hổ thẹn,
phước tài cộng làm bảy.
Đây các lợi tối
thắng, là bảy vô lượng tài.
Chớ nghe phi nhân
thuyết; trong chúng quán lời nói.
Độc cư quán tâm
niệm."
Ấn Độ Ổ Ba Đà Da,
Thắng Nhiên Đăng Hiền Trí Tạng thuyết; Bồ Đề Tát Đỏa Ma Ni Mạn Viên
Mãn.
Lúc đại sư Chủng
Đôn Ba đang thỉnh pháp, dịch sư Thiện Huệ cũng đang diễn thuyết yếu
nghĩa Phật pháp cho năm trăm đệ tử tại chùa Tang Phác. Đêm nọ, một
mình độc cư tại núi rừng Tang Phác, Thiện Huệ mộng thấy Bồ Tát Văn
Thù hiện thân dạy:
- Ông tuy thiện xảo
tất cả sở tri, nhưng chưa đắc được yếu chỉ cùng cực của pháp nghĩa.
Nay ông hãy để đồ chúng an nơi văn tư tu, rồi một mình sang chùa Da
Bạt mà nghe pháp nghĩa thậm thâm. Hiện tại Pháp Vương (tức Tôn Giả)
và Chủng Đôn Ba, đang quán chiếu biển cả sanh tử vô biên, ngày đêm
tạo Vấn Đáp Ma Ni Mạn Luận, giống như Kim Mạn trân bảo vô giá.
Nói xong, Bồ Tát
Văn Thù thuật lại toàn bộ ý nghĩa của bộ luận đó, rồi trong khoảng
sát na liền biến mất. Tỉnh dậy, Thiện Huệ biết việc này thật hy hữu,
và âm thanh vẫn còn nghe văng vẵng bên tai, nên sanh tâm vui mừng vô
hạn, như đăng Sơ Địa, nên bảo đồ chúng:
- Các ông hãy tự
tinh tấn hành hạnh văn, tư, tu. Ta nay muốn đến Da Bạt, thỉnh hỏi
pháp nghĩa trong hai ba tháng. Nếu có việc quan trọng, hãy tự giải
quyết. Từ đây cho đến lúc Ta trở về, chớ nên tạo nhiều việc đa sự,
qua lại cầu kiến, tăng thêm sự tán loạn. Nay Ta đã già, nên chỉ cầu
việc hậu sự. Nếu có lòng tín kính, thì hãy hành theo lời Ta. Hôm nay
cử Huệ Tràng đi theo Ta; tất cả việc quan trọng, chỉ do Huệ Tràng
thưa thỉnh. Lúc Ta chưa trở về, chớ có khi luống, vọng nói có việc
quan trọng mà cầu gặp; đó là nghiệp ma, phải nên chế phục.
Khi ấy, năm trăm đồ
chúng sanh tâm nghi hoặc. Hôm trước tâm tình thầy họ từ bi hiền hòa;
đêm qua tự trụ nơi núi rừng vắng vẻ, rồi hôm nay lại chợt có lời răn
nhắc cứng rắn; ngôn lời chưa quyết đoán, thế khó lưu giữ, nên họ chỉ
biết y theo lời của Thiện Huệ mà hành.
Ngày hôm sau, khi
mặt trời vừa chiếu đỉnh núi Tây Sơn, Thiện Huệ cùng Huệ Tràng lên
đường. Lúc Thiện Huệ đi ra khỏi núi, dân làng thấy thế sanh nghi,
bảo:
- Trước kia, mỗi
lần xuất hành cỡi ngựa đều có năm trăm đồ chúng đi theo, chẳng thiếu
một người. Vì việc gì mà ngài Thiện Huệ phải đi một mình như thế này
?
Dân làng bèn trở về
Tang Phác, truyền cáo cho nhau. Dịch sư Thiện Huệ lần hồi tới Da Bạt,
khải bạch Tôn Giả về lời giáo huấn của Bồ Tát Văn Thù, và nhân duyên
đến đó. Thiện Huệ lại y theo Ma Ni Hoàn Tụng, mà thỉnh hỏi bổn tích
của đại sư Chủng Đôn Ba. Thiện Huệ lại thỉnh hỏi rằng làm thế nào để
đoạn trừ nghi vấn, làm thế nào để ân cần kính trọng sự tu hành ?
Thiện Huệ xem qua quyển Ứng Quán Vi Tích Nghiệp Cú, biết được nhân
duyên của hai mươi đời trước. Lúc Thiện Huệ hỏi về nhân duyên của
câu thứ tư "Trụ núi rừng nhàn tịnh", thì có Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại,
dịch sư Giới Thắng, v.v... vừa đến nơi đó. Bấy giờ, trên có Tôn Giả,
dưới có các huynh đệ, dị khẩu đồng lời xưng tán công đức của đại sư
Chủng Đôn Ba; đại chúng cũng đồng trách mắng Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh
Trung; ngay nơi cảnh giới thù thắng lại khởi sanh tội phi lý. Đại sư
Chủng Đôn Ba ngược lại tán thán công đức của Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh
Trung, khiến đại chúng dứt lời trách móc. Khi ấy Giới Thắng bảo Ca
Ngõa Thích Ca Tự Tại:
- Thầy nên khuyên
Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Ba sám hối tội lỗi; Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Ba sẽ
nghe lời của Thầy.
Ca Ngõa Thích Ca Tự
Tại tự bảo chẳng kham nhận việc đó, nên thỉnh ngược lại Giới Thắng
rằng hãy khuyên Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung. Giới Thắng cũng cảm thấy
chẳng kham nổi, nên cầu đại sư Chủng Đôn Ba từ bi phương tiện chỉ
dạy.
Bấy giờ, Hà Cổn giả
dạng thương nhân, đến Đường Ma Khư tuyên truyền thắng đức của đại sư
Chủng Đôn Ba, và chê bai tội phỉ báng phi lý của Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung. Khi ấy, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung nghe qua, liền biết
rõ, rồi mời Hà Cổn vào chùa để hỏi han về việc đại sư Chủng Đôn Ba
đang trú tại Da Bạt. Lúc ấy, Hà Cổn tường thuật mọi sự việc, và
thiết thiện xảo phương tiện, chiết phục tâm cống cao ngã mạn của Khô
Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung, khiến vị này sanh tâm kính tín, tự hối cải
lỗi khi trước, và muốn sang chùa Da Bạt, để sám hối tội lỗi cùng
nghe pháp. Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung liền vân tập đồ chúng, giả vờ
bảo rằng sẽ nhập thất chuyên tu, không cho yết kiến; nếu ai không
nghe, trọng tội chẳng tha; nói xong liền ban lời giảng dạy đơn sơ.
Đồ chúng nghe thế, chỉ biết y theo lời mà hành. Sáng sớm hôm sau,
Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung cỡi một con lừa mà đi. Đến chùa Da Bạt,
Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung sám hối tội lỗi. Lúc ấy, dịch sư Thiện
Huệ vấn hỏi Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung về nhân duyên của những việc
phỉ báng phi lý khi xưa, v.v...
Sau khi Tôn Giả
viên tịch chẳng bao lâu, Thiện Huệ muốn thỉnh chút phần linh cốt của
Tôn Giả. Đại sư Chủng Đôn Ba bảo:
- Linh cốt của Tôn
Giả, hai chúng ta có thể kiến lập một tháp bằng bạc để cúng dường.
Tháp của Thầy làm xong, thì hãy sai một tỳ kheo tịnh giới, đến đây
thỉnh linh cốt Tôn Giả. Tôi sẽ chia phần cho Thầy. Nay tạm lưu giữ
lại nơi đây.
Lần khác, đại sư
Chủng Đôn Ba dẫn ba con chó của Tôn Giả (3), và hai con trâu trắng
đen, đến vùng Kiệt Ma Lũng. Du Già Sư đem vàng sang Ấn Độ rồi trở về,
y theo đại sư Chủng Đôn Ba mà cư trú tu hành. Kế đến, Đại Sư thọ lời
thỉnh cầu của quan Tràng Khách Bút Khung ở Tiền Tạng đến vùng Nhạ
Trân, kiến lập tự viện, rồi mời thợ đúc Ấn Độ, đúc một ngôi tháp
bằng bạc thờ linh cốt Tôn Giả; ngoài là hình tháp, còn trong là Mạn
Đà La. Dịch sư Thiện Huệ y theo quy thức tạo ngôi tháp bằng bạc của
đại sư Chủng Đôn Ba, kiến lập một ngôi tháp khác, rồi sai một tỳ
kheo tịnh giới, thỉnh linh cốt xá lợi Tôn Giả mà đặt vào đó. Khô Đôn
Tôn Chủng Vĩnh Trung nghe việc này, cũng kiến lập một ngôi tháp bằng
bạc mạ vàng, và cho đắp tôn tượng Phật Thích Ca bằng vàng. Về sau,
các ngôi tháp đó đa số bị hư hoại, nhưng chỉ có ngôi tháp ở chùa Nhã
Trân vẫn còn tồn tại, và là nơi dân chúng thường đến cúng dường.
Đại sư Chủng Đôn Ba
trú nơi chùa Nhạ Trân trong chín năm, làm lợi ích rất nhiều cho
chúng sanh; Đại Sư có hơn năm mươi đại đệ tử; trong đó, những vị nổi
bật nhất là ba huynh đệ Phác Khung Ngõa Đồng Tràng, Bác Đóa Ngõa Bảo
Minh, Cẩn Nga Ngõa Giới Nhiên; những vị này, hoằng dương thánh pháp
khắp cả Tây Tạng. Đến ngày nay, tại Tây Tạng, chỉ có giáo nghĩa của
phái Ca Đương (4) là hưng thạnh nhất. Vì vậy, có người hành trì theo
giáo lý, thì chánh pháp trụ mãi ở thế gian. (5). Thắng đức cộng và
bất cộng của tôn giả A Để Sa, trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng ghi
lại rõ ràng.
|