|
Tôn giả A Để Sa (982-1054)
Thích Hằng Đạt
Chương
II. Sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh quảng đại
Từ Kim Châu trở về
Ấn Độ, Tôn Giả trú tại chùa Đại Bồ Đề mà chuyên tu hành. Trong chùa
có thánh tượng Bồ Tát Quán Tự Tại. Bấy giờ, có hai bà lão thường
cúng dường thánh tượng Bồ Tát Quán Tự Tại rất nhiều phẩm vật. Đêm nọ,
một bà lão mộng thấy Bồ Tát Quán Tự Tại bảo:
- Chớ cúng dường
cho Ta. Nơi đây có tỳ kheo Kiết Tường Nhiên Đăng Trí; bà nên cúng
dường cho vị đó, thì phước đức rất nhiều.
Sáng hôm sau, bà
lão đến chùa của phái Căn Bổn Bộ hỏi thăm về Tôn Giả, nhưng không ai
biết đến. Về sau, một vị trưởng lão của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ bảo:
- Hôm qua có một vị
khách tăng. Hiện đang trú tại khách đường. Bà có thể hỏi thăm vị đó.
Bà lão đến hỏi thăm
và biết rằng vị đó chính là Tôn Giả. Bà lão bèn cầu thỉnh Tôn Giả
thọ sự cúng dường. Tôn Giả hứa khả cho, và sang trú tại chùa Kim
Cang Tọa.
Lúc Tôn Giả đến
cúng dường các phẩm vật và trú tại chùa Kim Cang Tọa, có một cặp vợ
chồng sống gần vùng đó. Vào đêm nọ, ông chồng được chư Thiên báo
mộng rằng tỳ kheo Nhiên Đăng Thắng Kiết Tường (1) đang trú tại chùa
Kim Cang Tòa, vậy hãy nên đến đó đảnh lễ cúng dường. Hôm sau, ông
chồng y theo lời báo mộng của chư Thiên mà đến chùa Kim Cang Tòa, và
thấy Tôn Giả đang làm lễ tại đó. Thế nên, ông chồng bèn lễ bái cúng
dường Tôn Giả. Dẫu tiếp thọ sự cúng dường, nhưng sau này Tôn Giả lại
cảm thấy chẳng chân chánh. Tôn Giả suy nghĩ: "Nay đã học hết mọi
pháp của chư sư trưởng, và thấy rất nhiều Bổn Tôn, lại đạt được
nhiều loại thành tựu, tự thân cũng thấy rất nhiều mật chú đàn luân (tức
là thấy Mạn Đà La Ni, cung điện của Bổn Tôn và chư quyến thuộc viên
mãn), Ta nên chuyên nhất tâm tu trì, để sớm chứng chánh giác."
Tôn Giả vừa khởi
niệm này, thì ngài La Hầu La Cấp Đa ở núi Hắc Sơn, dùng lực thần
thông mà đến, bảo Tôn Giả:
- Tuy thấy Bổn Tôn
Đàn Luân, hiển hiện thần thông, đắc tam ma địa (thiền định), nhưng
thật ra hoàn toàn chưa đạt đến đâu. Thay vì lãng phí thời giờ trong
núi rừng tịch tĩnh, hãy nên tu tập tâm từ bi, và phát tâm Bồ Đề (2).
Bồ Tát Quán Âm ngàn tay vốn là vị Bổn Tôn của tâm từ bi. Phải nương
y theo vị Bổn Tôn đó cho đến đời vị lai, để hộ trì chánh pháp, làm
lợi ích loài hữu tình.
Xưa kia, dưới tòa
của đại sư Kim Châu, Tôn Giả đã đắc được sự quyết đoán, nay lại càng
thêm được sự quyết đoán. Lúc Tôn Giả đi nhiễu Kim Cang Tòa của đức
Như Lai, một thánh tượng nọ bèn đứng dậy, hỏi một thánh tượng khác:
- Muốn mau chứng
thành đẳng chánh giác, phải nên học pháp nào ?
Thánh tượng khác
đáp:
- Muốn mau thành
chánh giác, phải nên học pháp phát tâm Bồ Đề.
- Phải tu tâm Bồ Đề
như thế nào ?
- Phải y theo môn
thiện phương tiện của Hiển giáo mà tu tâm Bồ Đề.
Tôn Giả đứng nơi đó,
nghe xong bèn hiểu rõ cả, và tự bảo: "Hai thánh tượng này thật là do
pháp thân ứng hóa. Vì muốn khiến cho tâm Ta đạt sự quyết đoán, nên
hiện thân giả vấn đáp, mà kẻ khác chẳng hề biết đến."
Ngày khác, lúc đang
đi nhiễu quanh Kim Cang Tòa, Tôn Giả thấy trên hư không ở phía nam
của Kim Cang Tòa có hai Thiên nữ, tướng hảo trang nghiêm thù thắng
hơn người thế tục. Một Thiên nữ nọ hỏi:
- Muốn sớm chứng
đẳng chánh giác, phải nên học pháp gì ?
Thiên nữ khác đáp:
- Phải nên học theo
tâm Bồ Đề.
- Tu như thế nào ?
- Phải y phương
tiện thiện diệu của chú quỹ Bồ Đề Tâm.
Tôn Giả nghe xong
bèn lãnh hội hết. Tôn Giả tự bảo rằng đây là Độ Mẫu và Nộ Tướng Mẫu.
Lúc đi nhiễu quanh
nơi Hàng Ma Tốt Đô Bỉ, Tôn Giả cũng y theo hai bà lão (3) mà nghe về
pháp Bồ Đề Tâm. Tôn Giả lại thấy trước điện của Độ Mẫu có hai phụ nữ
trẻ và già; họ cũng vấn đáp như thế. Lúc Tôn Giả đi nhiễu quanh chùa
Kim Cang Tọa, thánh tượng Phật chợt hạ nghiêng mũ xuống. Lúc Tôn Giả
đi nhiễu quanh Kim Cang Tu Di do Bồ Tát Long Mãnh tạo, thì tượng
Phật Thích Ca Mâu Ni bằng ngà voi cũng phó chúc cho pháp phát Bồ Đề
Tâm:
- Này vị Tỳ Kheo !
Nếu Ông muốn mau chóng chứng đắc đạo giác ngộ thì phải tự tu tập tâm
từ bi và tâm Bồ Đề.
Tôn Giả thọ vô
lượng lời giáo huấn của chư Phật, chư Bồ Tát, chư sư trưởng, rồi suy
nghĩ: "Muốn viên mãn tất cả ý niệm của chư Phật chư Bồ Tát, tùy
thuận tất cả lời giáo huấn của chư sư trưởng, thành tựu biện tài lợi
ích viên mãn cho mình và người, trừ Bồ Đề Tâm, chẳng có pháp nào
khác. Nay chỉ nương theo Bổn Tôn Đại Bi, tu Bồ Đề Tâm."
Lần nọ, lúc Tôn Giả
đang tu tâm từ trước điện A Di Đà phía tây chùa Kim Cang Tọa, thì Bồ
Tát Quán Tự Tại hiện thân an ủi:
- Lành thay ! Này
Thiện Sĩ ! Phải hành những gì nên hành ! Tất cả Mật Tạng của ba đời
chư Phật, nay Ông đều đã tinh thông thấu suốt. Từ nơi này, về phía
bắc (4) có quốc độ của Ta. Thiên nữ Độ Mẫu cũng trú tại nơi đó, và
đang làm lợi ích cho loài hữu tình. Sự giáo hóa của Ông, đa phần
cũng tại nơi đó. Vì vậy, Ông hãy nên qua phương bắc !
Tôn Giả y định lực
từ bi, đạt được tam ma địa, thần thông quảng đại, thấy vô lượng chư
Phật chư Bồ Tát đang làm lợi ích cho vô biên hữu tình. Tôn Giả
thường lập chánh phá tà, nên danh truyền khắp chốn. Bấy giờ, tại
nước Ma Kiệt Đà, tất cả chùa chiền, vô lượng chúng xuất gia và tại
gia, chư Du Già Sư, đại thiện xảo, đều đảnh lễ tôn kính Tôn Giả như
hạt châu Như Ý Ma Ni.
Vào thời ấy, bốn
ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Ấn Độ là Na Lan Đà (Nalanda), Tỳ Trát Ma
Thi La (Vikramasila), Kim Cang Tọa (Vajrasana), Âu Đơn Đạt Phú Lê (Odantapuri).
Giữa bốn ngôi chùa này, chùa Tỳ Trát Ma Thi La là nổi tiếng nhất.
Chùa Tỳ Trát Ma Thi
La (5) do vua Hộ Pháp (Dharmapala) xây cất (6) để cúng dường cho chư
đại đức của bốn bộ phái; mỗi bộ phái có hai mươi bảy vị; cộng lại
thành 108 vị. Lại nữa, có mười hai viện dành cho khách tăng, những
vị thường đến chiêm bái thánh tích. Ngoài ra còn có các viện tu tập
Thanh Minh, Nhân Minh; trong những viện đó, có khoảng hai trăm vị
tăng; các ngài đều là những bậc tam tạng pháp sư, nhân tài ngũ minh.
Đến thời vua Trà Na
Ca (955-983), sự giảng học ở chùa Siêu Giới được xưng là rất tối
thắng. Bấy giờ, ngài Hiều Cự Đức thường được cung thỉnh làm tọa chủ
giảng thuyết. Nhất thời, hộ chùa có sáu vị đại sư, được xưng là "Sáu
Hiền Môn", như phía đông là ngài Bảo Tác Tịch (Santi-pa); phía tây
là ngài Trí Sanh Huệ (Prajnakaramati); phía nam là ngài Tự Tại Ngôn
Ngữ Xưng (Vagisvarakirti); phía bắc là ngài Na Lạc Ba (Naropa);
trung tâm là ngài Bảo Kim Cang (Ratnavajra) và Trí Kiết Tường Hữu (Jnanasri);
kế đến là ngài Giác Hiền; tất cả đều là những vị bác học tinh thông
Ngũ Minh, chuyên hoằng Mật Thừa, chú trọng nơi học thuyết Vô Thượng
Du Già Thượng Lạc Luân. Song, bảy bộ Nhân Minh của Hiển Giáo, năm bộ
luận của Bồ Tát Di Lặc, và Nhập Bồ Tát Hạnh của ngài Tịch Thiên cũng
được hoằng bá. Bấy giờ, học phong của Vô Thượng Du Già đạt tới tối
cực, nên có xu thế dung hợp Hiển-Mật. Đây là sự biến hóa lớn lao kỳ
lạ vi diệu của Phật giáo Đại Thừa. Từ đó, pháp thống của chùa Siêu
Giới được duy trì không gián đoạn. Đương thời, có năm mươi bảy vị
đại thành tựu trứ danh cũng đều cung kính đảnh lễ Tôn Giả.
Lúc trú tại chùa
Kim Cang Tòa, thanh danh của Tôn Giả lan truyền khắp Ngũ Thiên (Ấn
Độ) vì luôn hàng phục được các luận sư ngoại đạo ở vùng Ma Kiệt Đà.
Lúc Tôn Giả trú tại
chùa Kim Cang Tòa, vua nước Ma Kiệt Đà là Nayapala và vua ngoại đạo
dòng Kalachuri ở miền tây Ấn Độ, khởi sự gây hấn chiến tranh với
nhau. Vào buổi đầu, vua dòng Kalachuri tấn công nước Ma Kiệt Đà. Vì
chẳng chiếm được thành Ma Kiệt Đà, nên quân của vua dòng Kalachuri
tàn phá chùa chiền, giết bốn vị tăng và một cư sĩ, cùng cướp bóc đồ
đạc của tăng chúng. Bấy giờ, Tôn Giả chẳng khởi niệm quan tâm hay
oán giận đến họ, mà chỉ điềm tĩnh thiền quán về tâm từ bi, tâm Bồ Đề
đến với chúng sanh. Sau này, quân của vua Nayapala thắng lại và tàn
sát quân của vua dòng Kalachuri. Lúc ấy, Tôn Giả che dấu bảo vệ rồi
tìm cách giúp vua dòng Kalachuri cùng quân sĩ của ông chạy trở về
lại cố quốc. Từ đó, vua dòng Kalachuri tín phụng và trở thành đệ tử
của Tôn Giả. Nhà vua cung thỉnh Tôn Giả sang vương quốc của ông ta ở
miền tây Ấn Độ. Trừ thực phẩm bị phá hoại trong các cuộc chiến, tất
cả đồ vật của tăng chúng ở trong vùng chiến sự đều được trả lại hay
được bồi thường. Chẳng quan tâm đến sức khỏe và sự an nguy của tánh
mạng, Tôn Giả thường đi qua lại các con sông của hai vương quốc để
điều đình việc đình chiến. Cuối cùng, hai vương quốc đồng ký kết
hiệp nghị đình chiến dưới sự cố vấn của Tôn Giả.
Bấy giờ đại thí chủ
của chùa Tỳ Trát Ma Thi La là vua Đại Hộ (7), chí thành ân cần cung
thỉnh Tôn Giả sang ngôi chùa đó làm vị trụ trì và thọ sự cúng dường
(8). Dưới sự giáo thọ của Tôn Giả, rất nhiều tỳ kheo đến tu viện tu
học. Do đó, Tôn Giả lo xây cất thêm phòng ốc của tăng chúng, thiết
lập chương trình giảng dạy cho chư tăng. Khi ấy, trong chánh điện
của chùa Tỳ Trát Ma Thi La, nhà vua cho vẽ tượng Bồ Tát Long Mãnh ở
bên phải, và vẽ tượng của Tôn Giả ở bên trái, với ý nghĩa là Tôn Giả
sánh bằng Bồ Tát Long Mãnh. Hai bên vách tường của ngôi chánh điện,
đều có những bức tranh của các vị thiện xảo thông đạt Ngũ Minh, cùng
các vị đại thành tựu. Trên đó, đều có bức tượng của Tôn Giả, với ý
nghĩa là Tôn Giả có đầy đủ hai đức. Đương thời, Tôn Giả được cung
thỉnh trụ trì tám trăm ngôi đại tự viện ở Ấn Độ, bao gồm chùa Âu Đơn
Đạt Phú Lê (Odantapuri), và hoằng pháp lợi sanh vô cùng tận. Tất cả
chư học giả đều cung kính Tôn Giả làm bậc sư trưởng. Theo Phật giáo,
vị tăng nào có một trong bốn lực như Định Lực (Yoga-sakti), Tài Lực
(Aisvarya-sakti), Sanh Lực (Kula-sakti), Học Lực (Vidya-sakti) thì
sẽ hộ trì chánh pháp. Song, Tôn Giả có đủ hết bốn lực này, nên trở
thành vị sư trưởng cao cả.
Trước khi Tôn Giả
vào Tây Tạng, ngài Na Lạc Ba (Naropa) đến viếng thăm chùa Siêu Giới.
Tất cả chư tăng trong chùa đều bước ra ngoài cung nghinh ngài Na Lạc
Ba. Tôn Giả cũng bước ra, cầm tay trái của ngài Na Lạc Ba, và dẫn vị
này vào chánh điện. Bấy giờ, giữa đại chúng, ngài Na Lạc Ba bảo Tôn
Giả:
- Từ đây về sau,
trách nhiệm của tăng đoàn và Phật pháp sẽ do Ngài gánh vác.
Tôn Giả khiêm tốn
đáp:
- Khi Ngài còn ở
đây thì làm thế nào con gánh vác trọng trách lớn như thế ! Việc này
cũng giống như một đóm lửa nhỏ cố chiếu sáng toàn thế giới, thay gì
ánh mặt trời hay mặt trăng.
- Chẳng phải thế !
Đây chính là lúc mà Ngài phải nhận rõ khả năng chân thật của mình.
Chỉ có Ngài mới đủ tư cách đảm nhận trọng trách đó. Tôi đã già rồi,
và chẳng bao lâu sẽ rời cõi đời này. Vì vậy, Ngài phải chấp nhận
trọng trách này.
Sau khi nói xong,
ngài Na Lạc Ba rời chùa, rồi đi vào miền nam. Hai mươi ngày sau,
ngài Na Lạc Ba nhập tịch. Lúc đến Tây Tạng, Tôn Giả có mang theo xá
lợi của ngài Na Lạc Ba.
Bàn về vương thống
Tây Tạng, vị vua đầu tiên hiệu là Ni Xích Tán Phổ (Nya-tri-Tsenpo,
sanh vào khoảng năm 127 tr.TL); tương truyền vị này từ Ấn Độ sang
Tây Tạng lánh nạn; vị này thuộc dòng dõi vương gia đời thứ năm của
vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) ở nước Kiều Tát La (Kosala), và được
người Tây Tạng tôn xưng làm vua).
Vào thế kỷ thứ tư,
vua thứ 28 là Lạp Thác Nhật Ninh Thán (Lha-Tho-Ri-Xlyen-Tsen, thường
được xem là hóa thân của Phật Dược Sư), bắt đầu xiển dương chánh
pháp, sau khi bốn hộp Pháp Bảo (9) từ trên hư không rơi xuống.
Vua thứ 33 là Tùng
Tán Cam Phổ (Srong-Tsen-Gampo (569-650), được xem là hóa thân của Bồ
Tát Quán Âm), lấy công chúa Văn Thành của Trung Quốc (vào năm 641),
và công chúa Bạch Lợi Ty Bố (Bhrikuti) của Ni Bạc Nhĩ (Nepal) làm
vương phi. Nhà vua hộ trì chánh pháp, thiết lập mười điều luật tôn
giáo và mười sáu điều luật phổ thông cho dân chúng. Nhà vua phái đại
thần Đoan Mỹ Bồ Đề (Thonmi-Sambhota) cùng mười sáu thanh niên thông
minh sang Ấn Độ du học Phật pháp và tiếng Phạn. Lúc trở về, đại thần
Đoan Mỹ Bồ Đề soạn ra mẫu tự Tây Tạng dựa vào mẫu tự chữ Phạn. Theo
ông Kim Sơn Chánh Hảo (người Nhật) trong quyển Đông Á Phật Giáo Sử
(10) thì những nhà phiên dịch kinh điển từ chữ Phạn sang chữ Tây
Tạng, trừ đại thần Đoan Mỹ Tam Bồ Đề ra, còn có học giả người Ấn Độ
là Câu Tát La (Kusara), Bà La Môn Tang Già La (Samkara), học giả Ni
Bạc Nhĩ là Tức Lạp Mông Khải (Silamanju), hòa thượng người Hán là
Đại Thiên Thọ, hai người học trò của ông Đoan Mỹ Tam Bồ Đề là Đạt Ma
Cổ Tát (Dharmakosa) và Đạo Khâu Ba Nhĩ (Rdo-rje dpal).
Vua thứ 37 là Xích
Tùng Đức Thán (Thi-Sron-Detsan, 755-797). Vị vua này thỉnh hơn một
trăm vị đại thiện xảo người Ấn Độ như ngài Tịch Hộ (Santa-rakshita),
đại sư Liên Hoa Sanh (Pama-Sambhava), phiên dịch kinh luận Hiển giáo
và Mật giáo, độ chúng xuất gia (11), kiến lập các đại tự viện như
Tang Da (12), v.v... Tất cả bản văn kinh tiếng Phạn, đa phần đều
được tồn trữ tại chùa Tang Da. Lúc đến Tây Tạng, Tôn Giả duyệt xem
những tàng kinh tạng, bèn tán thán sự hoằng pháp vĩ đại của các vị
tiền bối; công nghiệp của các ngài thật rất hy hữu. Đương thời, dưới
sự chủ tọa của nhà vua, đại sư Liên Hoa Sanh, Tịch Hộ, Vô Cấu Hữu
đại diện Phật giáo, biện luận thắng các đạo sĩ Bổng giáo. Vì vậy,
nhà vua lại hết lòng hộ trì chánh pháp và trục xuất các đạo sĩ Bổng
giáo ra miền biên địa. Nhà vua cũng chủ trì các buổi tranh luận về
giáo nghĩa giữa chư tăng người Ấn Độ và người Hán suốt cả ba năm.
Cuối cùng, đại sư Liên Hoa Giới (13) tranh biện thắng hòa thượng Ma
Ha Diễn (14). Thế nên, nhà vua quyết định rằng Phật giáo Tây Tạng
chánh thức y theo giáo nghĩa truyền thống của Phật giáo Ấn Độ, và
đuổi chư tăng người Hán trở về bổn xứ.
Nhà vua truyền
vương vị cho thái tử là Mâu Ni Tán Phổ (Mu-ne-Tsen-Po). Vị vua này
chỉ trị vì ngôi vua được một năm và bảy tháng (797-798) rồi bị người
mẹ sát hại bằng thuốc độc. Người em của nhà vua là Xích Đức Thán Phổ
(Thi-de-tsen-po, hay Tắc Na Lụy (Se-na-le), 798-814) lên ngôi vua.
Vị này có ba người con, tên là Tạng Mã, Lãng Đạt Mã, Nhạ Bạt Cẩn.
Nhạ Bạt Cẩn (Ral-ppa-cen-tsan-ma, hay Xích Nhã Ba Kiên (Khri-ral-pa-can),
814-836) lên làm vua, cung kính thánh giáo và thừa sự Tam Bảo lại
càng tín thành hơn các triều vua khác. Nhà vua cung thỉnh chư cao
tăng Ấn Độ như Thắng Hữu, Thiên Chủ Giác, Giới Chủ Giác, Giác Hữu,
v.v... cùng với chư tăng Tây Tạng như Pháp Tánh Giới, Trí Quân, Văn
Thù Kiết Tường Khải, Bảo Chủ Giới, v.v... biên soạn quyển Phiên Dịch
Danh Nghĩa Tập, để thống nhất việc đặt định ngôn ngữ phiên dịch kinh
điển từ Phạn văn sang Tạng văn. Nhà vua cũng cho xây hàng ngàn ngôi
chùa và ban sắc lịnh rằng bảy gia đình phải cúng dường cho một vị
tăng. Nhà vua thường trải búi tóc làm tòa ngồi cho chư tăng giảng
kinh thuyết pháp. Nhờ lòng nhiệt thành của nhà vua, đạo Phật được
truyền bá toàn cõi Tây Tạng. Song, chẳng may có một nghịch thần vốn
theo đạo Bổng (15) ám sát nhà vua vào năm 836, rồi đưa Lãng Đạt Mã
lên ngôi vua. Vua Lãng Đạt Mã (Lan-darma) hủy phá chùa chiền, đốt
kinh sách, giết hại chư tăng, khiến chánh pháp bị suy vi. Tuy nhiên,
ba năm sau, vua Lãng Đạt Mã bị ám sát chết. Vua Lãng Đạt Mã có hai
hoàng tử là Quang Hộ (16) và Mẫu Cố (17). Quang Hộ có con là Thắng
Luân Thật. Thắng Luân Thật cũng có hai người con là Thắng Kiết Tường
Tích và An Lạc Nhật Y. Bấy giờ vì có sự bất hòa trong triều đình,
nên An Lạc Nhật Y chạy tới vùng Nga Nhật (18), rồi được dân chúng
tôn làm vua. Vua An Lạc Nhật Y có ba người con là Trát Hỷ Duyệt, Bạt
Cấp Duyệt, Đắc Tổ Duyệt. Nhà vua cắt vùng Nga Nhật làm ba phần, rồi
ban cho Trát Hỷ Duyệt vùng Bổ Nhượng, Bạt Cấp Duyệt vùng Dạng Dong,
Đắc Tổ Duyệt vùng Mang Mãnh. Trát Hỷ Duyệt có hai người con là Trí
Quang (19), Tùng Đắc. Trí Quang có hai người con là Thiên Vương và
Long Vương. Tùng Đắc có một người con là Lạp Đắc. Lạp Đắc có ba
người con là A Đắc, Tĩnh Quang, Lạp Tôn Bạt Bồ Đề Quang. Đầu tiên,
Trí Quang (Jnanaprabha, hay Ye-ses-'od) tiếp thọ ngôi vua. Song, vua
Trí Quang vì muốn hoằng dương chánh pháp, nên truyền ngôi lại cho
Lạp Tôn Bạt Bồ Đề Quang (Bodhiprabha, hay Byang Chub Od), rồi cùng
với hai người con xả bỏ quyền quý danh vọng mà xuất gia.
Xưa kia, vào thời
vua Lãng Đạt Mã hủy diệt Phật pháp, có ba vị tỳ kheo trụ tại núi Ba
Khâu Bạch Lý (20) mà tu hành. Ba vị này khi nghe nhà vua hủy diệt
Phật pháp, bèn mau kíp dùng trâu chở tất cả kinh điển sang các vùng
như Thanh Hải. Về sau, các vị tăng từ vùng Vệ Tạng như Lô Mai, Bạt
Giới Huệ, v.v... cũng chạy đến đó tu hành. Sau này chư đệ tử của các
vị đó từ từ trở về Tây Tạng mà truyền pháp, khiến chánh pháp lại
được hưng thạnh.
Sự phục hưng của
Phật giáo, đầu tiên là Mật Thừa, rồi tới Hiển giáo, như sau:
1/ Tại Tiền Tạng có
những vị như ngài Lô Mai; tại Hậu Tạng có những vị như ngài La Đốn
Kim Cang Tự Tại. Họ nỗ lực hoằng dương giới luật, lập lại tăng đoàn,
nên các bậc long tượng xuất sanh, khiến giáo pháp được hưng thạnh.
Về sau, lúc trú tại vùng Nga Nhật, khi nghe Chủng Đôn Ba thuật lại
sự hưng thạnh của Phật giáo nhờ sự nỗ lực của các vị đó, tôn giả A
Để Sa bèn chắp tay tán thán: "Chánh pháp được hưng thạnh như vầy,
tất phải do thánh tăng dựng cột tràng giáo pháp, mà phàm phu tuyệt
chẳng thể làm nổi".
2/ Do sự hoằng
dương luật học ở vùng Nga Nhật. Sau khi xuất gia, vua Trí Quang cung
thỉnh luật sư Pháp Hộ và Huệ Hộ đến vùng Nga Nhật mà truyền giới Tỳ
Kheo, và giảng dạy luật nghi.
3/ Do sự hoằng
truyền của chư sư sau khi lưu học ở Ấn Độ, rồi trở về truyền bá. Lúc
vua Trí Quang thoái vị mà xuất gia (21), nhà vua thấy giáo pháp còn
thừa lại từ thời Tiền Truyền chẳng hoàn chỉnh, và sự đọa lạc của chú
thuật vào đương thời; kẻ tu hành chưa đạt đến chân không pháp tánh,
nhưng thường lấy việc dâm lạc, dùng bùa chú trù ếm giết hại người,
cùng những tà pháp bội ngược chân nghĩa của chánh giáo mà cho là
Phật pháp. Đại đức Trí Quang bèn chuyên cần tu học, hy vọng làm cuộc
cách mạng về giáo chế. Lại nữa, đại đức Trí Quang chọn lựa ra hai
mươi mốt thanh niên tại ba vùng ở Nga Nhật, dạy học về Thanh Minh và
Phật giáo căn bản, rồi sau đó cấp cho lương thực và tiền bạc, để qua
cầu học ở Ấn Độ, hầu mong sau này trở về chỉnh lý những việc tệ hại.
Trong số đó có Bảo Hiền (22) sang Ấn Độ du học Phật pháp. Trước khi
đi, đại đức Trí Quang giao họ sứ mạng:
a/ Phải cung thỉnh
luận sư Bảo Kim Cang (Ratnavajra) ở Ca Thấp Di La, luận sư Đạt Ma Ba
La (Dharmapala) ở đông Ấn Độ, luận sư Ma Ni Châu (Karuna) ở nước Ca
Lỗ.
b/ Phải theo luận
sư Bát Nhã Phược Lê (Prajnabala) ở trung Ấn Độ mà học hai bộ Nhiếp
Tích (23) và Nhiếp Chân Thật Kinh Khánh Hỷ Tạng Thích Luận; phải
theo luận sư Ma Ni Châu và Đạt Ma Ba La mà học Đoạn Trừ Nghiệp
Chướng Tích Cập Chú Thích, Mạn Trà La Tam Bách Tứ Thập Tôn (24), Tập
Mật Mạn Trà La Nghi Quỹ (25); phải theo luận sư Bảo Kim Cang học
Thời Luân và bốn bộ luận về Kim Cang Tọa Thích Thích.
c/ Phải thân cận
hay cung thỉnh 108 vị danh sư và 12 vị đại luận sư ở chùa Tỳ Trát Ma
Thi La (hay chùa Siêu Giới), đặc biệt là ba mươi vị luận sư tối
thắng, một vị tu pháp Quán Châu, tám vị tu pháp Chiêm Bộ Trang
Nghiêm, hai vị tu pháp Tam Giới Nhãn Mục. Trong các vị luận sư này,
bậc thượng phải cung thỉnh đến Tây Tạng; bậc trung phải thân cận tu
học; bậc hạ phải biết họ thông đạt những pháp gì, và cầu họ truyền
pháp, cùng thỉnh kinh thư (26).
Trong số hai mươi
mốt người này, lúc trở về Tây Tạng, chỉ có Bảo Hiền (27) và Thiện
Huệ tu học thành công, còn những người khác đều bị bịnh và qua đời
tại Ấn Độ hay trên đường đi. Lúc đến Ấn Độ, Bảo Hiền theo tu học với
bảy mươi lăm vị đại thiện tri thức như Na Lạc Ba, Liên Hoa Hộ, Thắng
Hữu, v.v..., nên đối với giáo pháp Hiển-Mật thâm sâu tinh thông chí
cực, đặc biệt là Hợp Bộ Đát Trì La Thừa. Lúc trở về Tây Tạng, ngài
Bảo Hiền cung thỉnh chư học giả Ấn Độ là Tức La Đạt Tạp La Phạm Mãnh
(Sraddhakaravarman), Ba Địch Ma Tạp Cấp Đa (Padmakaragupta), Phật Đà
Tức Lợi Tân Đa (Buddhasrisanta), Phật Đà Ba La (Buddhapala, hay Phật
Hộ), v.v... Họ cùng phiên dịch Luật Bộ và bốn bộ Đát Trì La, đặc
biệt là rất nhiều loại Đát Trì La của Du Già Bộ, như Nhất Thiết Như
Lai Kim Cang Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh, v.v...
Đồng thời họ cũng hiệu đính lại các bộ Đát Trì La đã dược phiên dịch
vào các thời khác. Ngài Bảo Hiền cũng xiển dương chân nghĩa của Mật
Thừa (28), mà chẳng công nhận Cựu Mật Pháp.
Xưa kia, kinh điển
về Mật Thừa chưa từng được phiên dịch, mà đến lúc ấy lại được phiên
dịch rất nhiều, như quyển Kiết Tường Thượng Lạc Bổn Tích Vương Lược
Yếu, Hiện Thuyết Vô Thượng Bổn Tích, Du Già Đại Giáo Vương Kinh,
Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại
Giáo Vương Kinh, Thanh Y Kim Cang Thủ Điều Phục Tam Giới Bổn Tích,
Tối Thượng Căn Bổn Đại Lạc Kim Cang Bất Không Đại Giáo Vương Kinh,
v.v...
Nhờ dịch những
quyển kinh luận này mà Mật Thừa đã có một thời kỳ được phục hưng
nhanh chóng. Người có công giúp Mật Pháp được thạnh hành nhiều nhất
là Bảo Hiền. Sau này, lúc tám mươi lăm tuổi, Bảo Hiền được tôn giả A
Để Sa truyền giáo pháp, rồi nhập thất chuyên tu, đắc đại thành tựu.
Bảo Hiền có rất nhiều đệ tử, mà dịch sư Mã Hỷ Huệ là thượng thủ.
Trưởng tử của vua
Mẫu Cố (29) là Kiết Tường Tích Cứ Lạp Đóa và Kiết Tường Tích đều tín
phụng Phật pháp, nên đến Hậu Tạng cung thỉnh các đệ tử của La Đốn
Kim Cang Tự Tại sang vùng Lạp Đóa kiến lập Phật pháp. La Đốn Kim
Cang Tự Tại sai hai đệ tử là Thích Ca Đồng và Trí Tinh Tấn, ứng theo
lời cầu thỉnh mà sang đó hoằng bá Phật pháp. Tại Lạp Đóa, hai vị này
tuyển ra từ hơn hai trăm đồ đệ, hai vị tăng trẻ có trí huệ uyên thâm
như Trác Di Thích Ca Trí (990-1078) và Đạt La Đồng Tinh Tấn sang Ấn
Độ cầu học (30), và dặn dò rằng phải cố gắng học giới luật, Bát Nhã
(31), và Mật chú.
Đầu tiên, hai vị
này sang nước Ni Bạc Nhĩ, theo luận sư Tĩnh Hiền (32) học Thanh Minh,
rồi sang chùa Tỳ Trát Ma Thi La (tức Siêu Giới) theo học với sáu đại
luận sư (33). Đạt La Đồng Tinh Tấn vì thích đi chiêm bái các thánh
tích, nên học pháp rất ít.
Trác Di Thích Ca
Trí thân cận đại luận sư Bảo Tác Tịch trong tám năm, và cũng theo
các luận sư khác mà tu học. Về sau, Trác Di Thích Ca Trí đến Đông Ấn
theo luận sư Huệ Vương Minh thọ giáo pháp quán đảnh, tu hành, và
giải thích kinh điển, cùng được ban truyền pháp Đạo Quả. Thế nên,
Trác Di Thích Ca Trí đạt rất nhiều thành tựu. Trở về Tây Tạng, Trác
Di Thích Ca Trí phiên dịch kinh luận, như ba bộ luận về Nhị Quán Sát
(34), và Nhị Vạn Bát Nhã Thích (35), cùng rất nhiều loại Mật pháp
khác. Đến năm năm mươi mốt tuổi, Trác Di Thích Ca Trí lại theo luận
sư Già Da Đạt La (từ Ấn Độ sang), học hết giáo pháp của vị đó. Trác
Di Thích Ca Trí sang Ni Bạc Nhĩ và Ấn Độ cầu học suốt mười ba năm;
lúc trở về Tây Tạng, liền thuyết giảng kinh điển, nhiếp hóa đồ chúng,
rồi sau này nhập thất tinh tấn tu hành; vị này tịch vào năm tám mươi
lăm tuổi. Trác Di Thích Ca Trí có rất nhiều đệ tử như dịch sư Mã Nhĩ
Ba, Khuếch dịch sư, v.v... Kế thừa giáo pháp của Trác Di Thích Ca
Trí là Côn Bảo Vương (36).
Dịch sư Mã Nhĩ Ba (Marpa,
1012-1097), người vùng La Lạp Cách (Lho-brag), pháp danh là Pháp Huệ,
năm mười lăm tuổi theo Trác Di Thích Ca Trí học Thanh Minh, rồi sang
Ni Bạc Nhĩ ba lần, học tập pháp Tứ Tọa Tích, lại sang Ấn Độ ba lần
thân cận các đại luận sư như Na Lạc Ba (Naropa), Di Lặc Ba (Matripa),
v.v... học pháp Tập Mật, Thắng Lạc, Hoan Hỷ Kim Cang, Ma Ha Ma Da,
Cứu Cánh Thứ Đệ, v.v... Về sau, Mã Nhĩ Ba có rất nhiều đệ tử, mà
người xuất sắc nhất là Mật Lặc Nhật Ba (Milaraspa), vị sáng lập phái
Cát Cử (Kargydpa).
Dịch sư Khuyếch Khô
Ba Lạp Tắc, đầu tiên thân cận Trác Di Thích Ca Trí, rồi qua Ấn Độ
cầu học ba lần, thân cận bảy mươi hai vị đại luận sư đắc thành tựu,
y chỉ theo luận sư Tĩnh Hiền rất lâu, học Mật pháp của phái ngài
Long Mãnh, dịch quyển Thắng Lạc Kim Cang Bảo Hành Tích, Tứ Tọa Tích,
Ma Ha Ma Da Tích, Hoan Hỷ Kim Cang Tích, v.v..., mà chủ yếu là xiển
dương Tập Mật của ngài Long Mãnh.
Trong bốn vị đại
dịch sư ở trên có ngài Bảo Hiền giảng về Nhị Vạn Bát Nhã Thích, Bát
Thiên Tụng Bát Nhã, và Bát Thiên Tụng Đại Sớ của ngài Sư Tử Hiền. Do
sự hoằng dương của ngài Bảo Hiền mà giáo nghĩa Bát Nhã được lan
truyền khắp Tây Tạng. Ngài Bảo Hiền luôn hoằng dương bốn bộ Mật pháp,
và đặc biệt là dịch rất nhiều nghi thức pháp tắc tu Mật pháp, điển
hình là pháp tu của các kinh luận thuộc Du Già Bộ.
Ngài Trác Di Thích
Ca Trí chủ yếu hoằng dương Du Già Mẫu Tích như Hoan Hỷ Kim Cang, v.v...
Ngài Mã Nhĩ Ba chủ
yếu hoằng dương Du Già Tích và Phật Đảnh Du Già Mẫu Tích của ngài Na
Lạ Ba, Di Lặc Ba.
Khuyếch dịch sư chủ
yếu hoằng bá Tập Mật của ngài Long Mãnh.
Do sự hoằng dương
Phật pháp của bốn đại dịch sư này mà Mật pháp được đem ra thuyết
giảng và hành trì nghiêm mật vào thời kỳ Phật Giáo Hậu Truyền.
Ngoài ra, còn có
Nga Thiện Huệ, Phác Nhung Ba Thắng Huệ hoằng truyền giới học. Tinh
Tấn Sư Tử, Nõa Thố Giới Thắng (37), đệ tử của Bảo Hiền là Trát Giác
Hiệp Nhiêu, Cát Pháp Hiền, Thích Ca Quang, Mã Thiện Huệ, đều là
những dịch sư trứ danh vào đương thời.
Cháu của Nga Thiện
Huệ là đại dịch sư La Đốn Hiệp Nhiêu (1059-1109), lúc nhỏ theo chú
học Phật pháp, năm mười bảy tuổi sang Ni Bạc Nhĩ cầu học với Lợi Tha
Hiền, Thiện Căn Vương về Nhân Minh, rồi theo Tát La Na, Khuyếch Di
Kỳ Mai học năm bộ luận của Bồ Tát Di Lặc và các pháp Hiển-Mật khác.
Lúc trở về Tây Tạng, La Đốn Hiệp Nhiêu dịch Nhân Minh Trang Nghiêm
Sớ, và truyền bá Nhân Minh, Bát Nhã, Nhập Hành Luận, v.v..., rồi hỗ
trợ các đại dịch sư như Banh Trà Tùng Ba mà phiên dịch kinh điển. La
Đốn Hiệp Nhiêu có 23.000 đệ tử, mà Trác Lũng Ba Huệ Sanh và Chỉ Huệ
Nhiên làm thượng thủ.
Dịch sư Bạt Tào
Nhật Xưng sang Ca Thấp Di La lưu học hai mươi ba năm, và luận sư Ca
Na Ca Phược Mã đến Tây Tạng, dịch các bộ luận Trung Quán của ngài
Nguyệt Xưng, rồi hoằng dương rộng rãi.
Lại nữa, dịch sư
Kiết Giác Nguyệt Quang dịch Thời Luân, Phật Đảnh, Kim Cang Cam Lộ,
Thắng Lạc, v.v...
Tang Ca Thánh Huệ,
Ninh Thịnh Xưng, Khắc ổ Cách Ba Luân Xưng, La Giáp Huệ Tích, Mai
Giác Phật Xưng, Trác Huệ Xưng, v.v... phiên dịch rất nhiều kinh luận,
khiến cho đại tạng kinh Tây Tạng ngày một phong phú.
Bên trên là những
vị dịch sư đã từng du học sang Ấn Độ Ni Bạc Nhĩ, Ca Thấp Di La, rồi
trở về Tây Tạng hoằng pháp.
Do chư tăng từ
những vùng Ấn Độ, Ca Thấp Di La, Tây Khương, Nga Nhật đem Phật pháp
truyền vào mà Phật Giáo Hậu Truyền của Tây Tạng được hưng thịnh.
Tuy nhiên, vào lúc
chánh pháp bị suy vi (38) có các người tại gia, ngã mạn tự xưng là
trụ trì Mật giáo, thường giải thích tà vạy về Mật pháp; họ cho rằng
hành dâm lạc tức là hành Phật pháp. Lúc ghen ghét người khác, họ
thường tranh cãi hay tụng chú để trù yếm nhau. Lại có một loại người,
tự bảo rằng chỉ cần tu môn Tánh Không, thì tự thân sẽ thành Phật,
không cần phải hành bố thí hay làm việc phước đức chi cho khổ nhọc.
Những tà tri tà kiến vọng giải như thế, chẳng phải có một hai loại.
Những việc này kéo dài suốt mấy trăm năm. Mãi đến khi vua Lãng Đạt
Ma bị ám sát chết, các chư tăng Ấn Độ, Ca Thấp Di La, Tây Khương,
Nga Nhật, đã đem Phật pháp truyền vào Tây Tạng, nhờ vậy Phật giáo
Tây Tạng mới được hưng thịnh trở lại. Tiếc thay, bên cạnh những vị
đại sư giới đức nghiêm túc truyền pháp từ Ấn Độ, Ca Thấp Di La vào
Tây Tạng và những tăng sĩ Tây Tạng có giới đức đầy đủ, lại còn có
những kẻ tu hành chẳng giữ giới luật mà thích tu theo Mật pháp tà
vạy do các tà sư Ấn Độ, Ca Thấp Di La tuyên truyền. Điển hình, từ Ấn
Độ sang Tây Tạng có một số tà sư đắp y ca sa màu đỏ và xanh, tự gọi
là Thượng Sư Đỏ, Thượng Sư Xanh. Họ chỉ nhớ vài đoạn Mật chú, và
cộng thêm bất cứ những gì khởi trong tâm niệm, rồi tự cho đó là chân
ngôn Mật chú, mà quên đi những điểm tinh túy của Mật pháp. Những kẻ
này thường có vợ con, và thường viết những câu Mật chú rất hấp dẫn,
và bảo vợ con: "Hãy chuẩn bị rượu thịt cho Ta. Ta sẽ luận giải về
Mật pháp."
Họ dạy những pháp
tà vạy dưới tên là Du Già (Yoga) và Giải Thoát (Moksa). Họ nói rằng
Du Già nghĩa là phối ngẫu với đàn bà, và Giải Thoát (moksa) nghĩa là
giết chúng sanh như kẻ thù. Bằng cách này, rất nhiều giáo pháp tà
vạy lan truyền khắp Tây Tạng dưới tên Mật pháp. Vì bọn tà sư nầy phá
hoại nên đã khiến cho Phật giáo Tây Tạng bị suy đồi; những vị tu
hành chân chánh không còn được bao nhiêu.
Đối với các sử gia
Tây Tạng, những tà sư đó chịu tránh nhiệm chính cho việc tu hành tà
vạy của quần chúng Phật tử trước khi tôn giả A Để Sa vào Tây Tạng.
Bát Nhã Cấp Đa (Prajnagupta) là đại biểu cho bọn tà sư nầy. Mười tám
đệ tử của ông ta được người Tây Tạng cho biệt danh là ‘Mười tám tên
cướp’, vì chúng thường bắt cóc dân chúng để hiến dâng cho các nữ
thần trong những buổi lễ tu Mật pháp. Ngoài ra, còn có những kẻ
chuyên tu Mật pháp qua những cách thức vô luân lý như hành dâm dục,
uống rượu, v.v...
Đại đức Trí Quang
không khỏi đau lòng nhìn thấy những hiện tượng xấu xa, những việc sa
đọa như vậy nên muốn chấn chỉnh lại chánh giáo. Dẫu Phật giáo Tây
Tạng nhanh chóng được phục hưng sau thời vua Lãng Đạt Mã, nhưng
thiếu sự hợp nhất, nên đã gây ra những việc chống trái giữa các tông
phái Đại-Tiểu Thừa và Hiển-Mật giáo. Do đó, Đại Đức soạn viết một
quyển luận để bài bác những hiện tượng sa đọa và những việc kình
chống lẫn nhau như đã nói ở trên, nhưng đã gặp phải sự chống đối
mãnh liệt của các nhóm tà sư. Nhận thấy chưa đủ khả năng để hoằng
dương chánh pháp, Đại Đức quyết định gởi các nhân tài sang Ấn Độ tu
học đúng chánh ý Phật Tổ, hy vọng lúc trở về họ sẽ chấn hưng giáo
chế cho Phật giáo Tây Tạng. Vì vậy, Đại Đức liền triệu tập thanh
niên ba vùng của Nga Nhật, chọn ra hai mươi mốt người có thượng căn
thượng trí cho xuất gia học Thanh Minh và giáo lý căn bản suốt mười
năm. Sau đó, những người này được cung cấp tiền bạc, lương thực, để
qua Ấn Độ, Ca Thấp Di La (Kasmir) cầu học Phật pháp, hầu mong sau
này trở về Tây Tạng, họ sẽ chấn chỉnh những tập tục tệ hại trong
tăng đoàn. Y theo lời dạy của đại đức Trí Quang, họ dũng mãnh lên
đường sang Ấn Độ và Ca Thấp Di La du học Phật pháp. Dọc đường vì
không chịu nổi khí hậu nóng bức ở vùng Ca Thấp Di La và Ấn Độ, nên
mười chín người bị bịnh cảm mà chết, chỉ còn lại hai vị: Dịch sư Bảo
Hiền (Ratnabhdra, hay Rin-chen Zang-po) và dịch sư Thiện Huệ (Suprajna,
hay Legs-Pahi-Shes-Rab). Sau khi tham học tất cả giáo nghĩa Hiển-Mật,
đoạn hết mọi hoài nghi xong, hai vị bảo nhau:
- Chúng ta phải nên
cung thỉnh những vị cao tăng có khả năng làm lợi lạc cho dân chúng
Tây Tạng trước khi trở về cố hương.
Bàn thảo vớI nhau
xong, hai vị liền bố thí tiền cho các người nghèo và nhờ họ đi tìm
các bậc thức giả, nhưng không đạt được sự mong cầu. Lần nọ, họ đến
chùa Tỳ Trát Ma Thi La, hỏi thăm nơi đây có bậc thức giả nào làm
được lợi ích cho dân chúng Tây Tạng ? Có người đáp:
- Nơi đây có một vị
tăng xuất thân từ dòng vương giả, hiệu là Kiết Tường Nhiên Đăng Trí
(39). Tất cả chư Phật tử đều cung kính đảnh lễ vị này. Đây là vị đệ
nhị Thiên Trí của đời mạt pháp. Song, các vị khó lòng mà cầu thỉnh
được vị này. Ngoài vị này ra, không ai có đủ khả năng làm lợi ích
cho dân chúng Tây Tạng.
Tuy biết oai đức vô
lượng của Tôn Giả, nhưng hai vị này không dám mở lời cung thỉnh, mà
trở về Tây Tạng, đem hết mọi sự tình, thuật lại cho nhà vua:
- Đức Phật nhân căn
tánh lanh lợi hạ độn, phước trí sâu cạn, tu cùng chưa tu của chúng
sanh, mà thi thiết phương tiện, bao loại Đại Thừa Tiểu Thừa, Hiển
giáo Mật giáo theo thứ lớp, nhưng thật nghĩa chẳng khác. Có khả năng
làm lợi ích cho dân chúng Tây Tạng, chúng thần đi khắp cõi Ấn Độ,
nhưng chưa tìm thấy một ai, chỉ trừ tại chùa Tỳ Trát Ma Thi La, có
một vị tỳ kheo xuất thân từ dòng vương gia, được tất cả chư Phật tử
đảnh lễ tôn kính, là vị do vua Đại Hộ thỉnh từ chùa Kim Cang Tọa đến.
Nếu thỉnh được vị này thì mới chân thật làm lợi ích cho dân chúng
Tây Tạng. Chư đại đức cao tăng trong ngôi chùa đó, cũng đều thọ ký
như thế.
Nhà vua nghe qua,
các mối hoài nghi đều dứt tận, lại nghe tôn đức của Tôn Giả, bèn
thâm sanh tín tâm cung kính, nên quyết chí ngưỡng thỉnh. Nhà vua bèn
nhờ dịch sư Tinh Tấn Sư Tử (Viryasimha) cùng với cả trăm quyến thuộc,
mang vàng sang Ấn Độ, tới chùa Tỳ Trát Ma Thi La mà cung thỉnh Tôn
Giả. Đến nơi, họ cúng dường vàng bạc, và khải bạch ý nguyện cầu
thỉnh. Tôn Giả bảo:
- Các ông mời Ta
đến Tây Tạng để giáo hóa quần chúng Phật tử nhưng Ta thấy chưa đủ
hai nhân duyên: Một là do nhận vàng mà đi, nhưng vàng bạc đối với Ta
thật là vô dụng. Hai là phải có đầy đủ tâm Bồ Đề, xả thân vì người
mà đi, thì Ta thật chưa có đầy đủ. Do đó, Ta không đi !
Nói xong, Tôn Giả
trả lại vàng bạc cho họ. Ngài Tinh Tấn Sư Tử rơi lệ sướt mướt, cầu
khẩn ba lần, nhưng Tôn Giả vẫn chưa hứa khả. Bấy giờ các quyến thuộc
của ngài Tinh Tấn Sư Tử, đa số đều bị cảm nhiệt mà chết. Vàng bạc
cũng bị tiêu tán hết. Thấy vậy, Tôn Giả bảo chư đệ tử:
- Người Tây Tạng
thật đáng thương !
Ngài Tinh Tấn Sư Tử
trở về Tây Tạng, trình với nhà vua rằng chẳng kham nhậm việc cầu
thỉnh Tôn Giả. Nhà vua bảo:
- Xin Ngài chớ từ
nan khổ nạn, xả bỏ thân mạng. Tuy hiện tại chẳng có cách nào để cung
thỉnh Tôn Giả, nhưng do tôn đức thâm sâu của Tôn Giả, nay Ngài có
thể cung thỉnh được.
Ngài Tinh Tấn Sư Tử
bèn vâng mạng, mang sáu quyến thuộc trở lại chùa Tỳ Trát Ma Thi La ở
Ấn Độ, tu học, phiên dịch những luận trước của Tôn Giả cùng các vị
đại thành tựu khác.
Bấy giờ, đại đức
Trí Quang vì muốn việc ngưỡng thỉnh Tôn Giả được thuận lợi, nên đến
vùng biên giới để tìm thêm vàng cho đoàn người đi sang Ấn Độ cầu
thỉnh, nhưng bị vua nước Cát La Lộc (40) bắt giam cầm. Khi ấy, vua
Lạp Tôn Bạt Bồ Đề Quang (41) nghe tin này, mau kíp dẫn quân sang
giải cứu, nhưng không thể đánh bại quân của ngoại đạo. Vua Bồ Đề
Quang muốn trưng thêm quân binh, nhưng sợ gây nhiều việc chết chóc,
và sợ việc bất trắc, nên lập phương tiện bằng cách đem vàng đổi lấy
người. Quốc vương ngoại đạo cũng bảo:
- Một là ông phải
từ bỏ đạo Phật, và làm chư hầu của Ta. Hai là ông phải đúc tượng
người bằng vàng thì Ta sẽ thả chú của ông ra.
Bấy giờ, từ bỏ đạo
Phật là một việc vô lý. Thế nên, vua Bồ Đề Quang bèn hứa là sẽ trả
bằng vàng, và lấy ra hai trăm lượng vàng để trao cho vua ngoại đạo,
nhưng chưa đủ. Về sau, vua Bồ Đề Quang lấy vàng trong cung điện mà
đúc thành hình người giống như đại đức Trí Quang, nhưng thiếu mất
cái đầu. Song, vua ngoại đạo chẳng chấp nhận, mà bảo rằng muốn có
thêm cái đầu (bằng vàng). Vua Bồ Đề Quang chẳng thể kiếm ra đâu để
đủ số vàng đó, nên bèn viết thơ gởi của đại đức Trí Quang: "Ngài là
vị có tâm từ bi rộng lớn. Chẳng may, Ngài bị nghiệp lực trói buộc.
Ác vương kia bảo với con rằng hãy từ bỏ đạo Phật và trở thành chư
hầu của hắn ta. Song, nếu từ bỏ Phật pháp thì tức là lệ thuộc dưới
tay của hắn. Thế nên, con nghĩ rằng việc tốt nhất là chẳng chấp nhận
điều kiện đó. Hắn ta bảo rằng nếu có số vàng bằng thân hình của Ngài,
thì mới chuộc được Ngài ra. Song, con tìm mãi chỉ có số vàng bằng
thân hình mà thiếu đi cái đầu, nên ác vương kia chẳng chấp thuận.
Xin Ngài hãy an lòng, con sẽ trở về vương thành, và cố gắng tìm đủ
số vàng để chuộc Ngài ra."
Nghe việc này, đại
đức Trí Quang viết thư bảo vua Bồ Đề Quang: "Ta đã biết ý tốt của
nhà vua. Hiện tại, Ta cảm thấy an tâm vì biết rằng nhà vua có đủ tài
đức để giữ vững ngai vàng của các đấng tiên vương. Song, Ta thiết
tưởng rằng không chỉnh lý lại Phật pháp ở Tây Tạng thì chẳng thể
được. Ta nay đã già yếu. Tuy hiện tại chưa chết, nhưng có lẽ sẽ
không còn sống đến mười năm. Từ đời vô thủy đến nay chưa từng xả
mạng vì pháp. Nay vì pháp mà chết thì thật là điều hy hữu. Đối với
ác vương tội lỗi kia, chớ đem cho hắn một miếng vàng nào hết. Tất cả
vàng bạc, hãy mang sang Ấn Độ để cung thỉnh tôn giả A Để Sa, và đem
lời của Ta mà cáo bạch với Tôn Giả rằng Ta vì ngưỡng vọng Tôn Giả và
thánh giáo Phật pháp, nên nay thí toàn thân mạng cho ác vương.
Nguyện đời đời đều được chư Phật từ bi tiếp thọ. Tâm nguyện của Ta
là chỉ mong mỏi cầu thỉnh Tôn Giả đến Tây Tạng hoằng pháp, hầu mong
giáo pháp của Phật đà được lan truyền khắp nơi. Lại nữa, xin nguyện
Tôn Giả từ bi gia hộ, đời sau sẽ được gặp Tôn Giả. Nhà vua hãy nên
quên Ta đi mà chuyên tâm vào sự tồn vong của Thánh Giáo."
Vua Bồ Đề Quang trở
về Tây Tạng, muốn tìm thêm vàng, nhưng nghe tin đại đức Trí Quang đã
tự tuẫn tiết trong ngục tối, nên đình chỉ việc đó lại, mà chuyên chú
vào việc cầu thỉnh Tôn Giả. Bấy giờ, các "Thượng Sư" áo đỏ áo xanh
đang lộng hành tuyên truyền tà chú. Vua Bồ Đề Quang thấy tình cảnh
này và sự tuẫn tiết của đại đức Trí Quang, nên âm thầm cầu nguyện
Tam Bảo gia hộ tìm được người có khả năng sang Ấn Độ cung thỉnh tôn
giả A Để Sa vào Tây Tạng để chấn chỉnh giềng mối Phật pháp. Sau bao
lần cầu nguyện, vua Bồ Đề Quang cuối cùng quyết định cung thỉnh tỳ
kheo trì luật là Giới Thắng (Silajaya, hay Chul-Khrims-Gyal-Va), vị
thông suốt tạng luật và tiếng Phạn.
Luật Sư Giới Thắng
sanh ra ở vùng Nga Nhật vào năm 1011. Luật sư Giới Thắng vốn đã từng
sang Ấn Độ tu học với tôn giả A Để Sa cùng các vị đại sư khác. Lần
đầu sang Ấn Độ tu học, dẫu chỉ mới hai mươi bảy tuổi, luật sư Giới
Thắng đã thông suốt tạng luật, và đã từng phiên dịch rất nhiều kinh
điển từ Phạn văn sang Tạng văn, nên được xưng tán là một vị luật sư
và một nhà dịch giả (42). Sợ luật sư Giới Thắng từ chối việc sang Ấn
Độ cung thỉnh tôn giả A Để Sa, nên vua Bồ Đề Quang thành tâm cung
thỉnh Luật Sư ngồi trên ngai vàng, rồi cúng dường và tác bạch:
- Bạch đại Luật Sư
! Trải qua bao đời, chư đại Bồ Tát, chư đại thiện tri thức đã định
lập quy củ, xiển dương Phật pháp rộng rãi khắp nơi. Những vì tiên
vương và đại thần trong bao đời cũng từng hộ trì chánh pháp, khiến
đạo Phật hưng thạnh trong bao đời. Song, trong đời nay, Phật pháp
suy vi, tà ma hừng thạnh, tà pháp lan tràn, như có những tà sư áo đỏ
áo xanh truyền bao tà chú dưới tên là Mật Thừa, nên làm tổn hại
Thánh giáo, khiến thâm tâm con đau xót vô cùng. Ngài Đại Thiên (43)
đã từng sai người đi khắp nơi để cầu thỉnh chư vị thực đức, sang Tây
Tạng ban truyền chánh pháp. Vì đại sự của Thánh Giáo, họ mang trăm
nén vàng sang Ấn Độ để cầu thỉnh tôn giả A Để Sa, nhưng chưa thỉnh
được. Ngài Đại Thiên (44), ra vùng biên giới tìm thêm vàng để cung
cấp cho đoàn người sang Ấn Độ cung thỉnh Tôn Giả vào Tây Tạng, nhưng
bị ác vương Cát La Lộc (Garlog) bắt nhốt.... Nay con muốn tìm vàng
để chuộc mạng, nhưng lại nghe ngài Đại Thiên đã tự tuẫn tiết vì đạo
pháp. Nếu đại Luật Sư từ chối việc sang Ấn Độ cầu thỉnh tôn giả A Để
Sa, khiến làm chúng sanh vô minh ở vùng biên địa này thất vọng, thì
Luật Sư có còn được mọi người tôn kính như một vị đại đức có lòng
đại từ bi nữa không ? Xin đại Luật Sư hãy cẩn bạch với tôn giả A Để
Sa rằng chúng sanh ở đất Tây Tạng tuy vô minh, nhưng vẫn còn những
kẻ có tâm lực thiết tha vì đạo. Tôn Giả là vị mà chúng sanh vùng
biên địa quy hướng theo. Nay có bảy trăm lượng vàng xin dâng cúng
Tôn Giả, và cẩn bạch rằng đất Tây Tạng như thành đô của ngạ quỷ. Tìm
kiếm vàng khó khăn như tìm rận trên thân cừu. Tuy chỉ có một chút
vàng, nhưng là đại bảo quý giá. Đó chính là tất cả tài vật của nước
chúng con. Nếu Tôn Giả vẫn khước từ đến Tây Tạng, thì tâm đại bi của
Thiện Sĩ như thế, con cũng chỉ theo tôn ý mà hành (45). Xin đại Luật
Sư hãy kể rõ hiện tình Phật giáo ở Tây Tạng và sự tuẫn tiết vì đạo
của đại đức Trí Quang cho tôn giả A Để Sa hiểu rõ tường tận.
Vua Bồ Đề Quang vừa
nói vừa rơi lệ ướt đẩm cả áo cẩm bào. Luật sư Giới Thắng định mở lời,
nhưng hoàn toàn chẳng còn điều gì để thối từ. Luật Sư lại suy nghĩ
rằng những vị vua dòng quý tộc kia, trân trọng thánh giáo như thế,
mà chẳng tiếc thân mạng, còn tỳ kheo an phận như mình, lương tâm để
ở chỗ nào ? Do đó, Luật Sư chẳng quản đường xa nguy hiểm, đe dọa
tánh mạng, chấp thuận lời thỉnh cầu của vua Bồ Đề Quang mà sang Ấn
Độ để cung thỉnh Tôn Giả (46). Vua Bồ Đề Quang sai cả trăm người đi
theo, nhưng Luật Sư chỉ chọn sáu người mang vàng đi theo. Lúc tiễn
đưa, vua Bồ Đề Quang dặn dò:
- Quý Ngài xả bỏ
thân mạng, chẳng ngại bao gian nan, vì con mà làm Phật sự. Song, lúc
trở về, con sẽ báo đền thâm ân. Xin hãy cố gắng cầu khẩn Tôn Giả
khởi lòng đại bi mà sang đất Tây Tạng.
Đoàn người của luật
sư Giới Thắng đi đến vùng Ni Bạc Nhĩ (Nepal), thì gặp một Không Hành
Nhân, bảo:
- Nay các vị đi
phương xa để làm việc đại sự, vậy nên đọc tụng lời này, thì đại sự
sẽ được thành tựu: "Kính xin Tam Bảo từ bi gia hộ cho chánh pháp thù
thắng được xiển dương rộng rải ở xứ Tuyết Sơn (47)." Hãy đọc tụng
như thế, thì trên đường đi sẽ không gặp các hiểm nạn.
Luật sư Giới Thắng
hỏi:
- Ngài là ai ?
- Từ từ Ngài sẽ
biết !
Lúc vào nội cảnh
của nước Ni Bạc Nhĩ, Luật Sư cùng phái đoàn đến vùng Trúc Lô, rồi
vào nhà dân chúng xin ngủ tạm qua đêm. Có một số người biết phái
đoàn mang theo vàng, nên muốn giết người cướp của. Luật sư Giới
Thắng cùng phái đoàn vì mệt nhọc, lại thêm khí trời nóng bức, nên
chẳng bao lâu đều ngủ say. Bấy giờ, một vị bạch y gõ cửa bước vào hô
to:
- Chớ ngủ ! Chớ
phóng dật ! Hãy mau tỉnh dậy ! Nếu ngủ thì sẽ mất mạng và tài bảo.
Ta vốn là tổng Bổn Tôn của đất Tây Tạng (48).
Luật sư Giới Thắng
và đoàn ngườI kịp thời tỉnh dậy vội vàng ra đi. Đến chiều tối, đoàn
người gặp và cùng tháp tùng với vị tiểu vương nước Ni Bạc Nhĩ mà đến
Ấn Độ. Khi đến Bồ Đề Đạo Tràng (Buddhagaya) luật sư Giới Thắng nhìn
xa tích tận chân trời, thấy vòm kim đảnh của chùa Tỳ Trát Ma Thi La
tỏa sáng dưới ánh nắng hồng, nên lòng tràn đầy niềm xúc động mạnh mẽ
và cảm nhận phong cảnh huy hoàng nầy vốn là một điềm lành, biển hiện
cho việc thỉnh cầu tôn giả A Để Sa sẽ thành công. Song, vẫn còn phải
đi ba ngày nữa mới bờ sông Hằng. Lúc họ đến sông Hằng thì mặt trời
đã lặn về phương tây. Thuyền ít mà người nhiều. Tiểu Vương nước Ni
Bạc Nhĩ vì có quyền thế, nên được đi trước. Luật sư Giới Thắng tự
nhủ thầm hôm nay chưa được qua sông, vậy Ta hãy chôn vàng dưới đất,
rồi tìm nơi khác mà ngủ, nhưng rồi có vị bạch y đúng lúc chèo thuyền
đến. Luật Sư liền hỏi:
- Quý danh của ông
là gì ? Thuyền này đi về đâu ?
Đáp:
- Do đón các quyến
thuộc mà đến. Đại tâm hữu tình đã đến nơi này. Thánh giả nếu không
hiện ra thuyền bè, thì e rằng không kịp nghinh đón. Hãy lên đây để
qua bến Ca Ma La.
Luật Sư và đoàn
người mang vàng lên thuyền, rồi hỏi:
- Ngài là ai ?
Đáp:
- Cụ Thọ (49) ! Lúc
vừa gặp lại không nhận ra (50), lúc gặp nhau không xấu hổ chút nào
(51), lúc gặp nhau xong thì không đoạn tình (52), lúc người yếu thì
làm lợi ích; thuận thời thì đến, gặp nhau lâu tất không khiếm khuyết
(53); rồi đây Ngài sẽ biết.
Chẳng mấy chốc,
thuyền đã đến bờ. Người ấy bảo:
- Nay trời đã khuya.
Sợ rằng sẽ gặp nạn rắn độc hay trộm cướp, hãy nên đi thẳng đến cửa
chùa Tỳ Trát Ma Thi La mà ngủ.
Nói xong, người đó
bèn chèo thuyền đi mất. Luật Sư cùng đoàn người đi thẳng đến chùa.
Bấy giờ ngài Tinh Tấn Sư Tử (54), đến gặp họ và hỏi:
- Các ngài từ đâu
đến ?
Đáp:
- Chúng tôi từ vùng
Nga Nhật (Tây Tạng) đến.
- Nơi đây có một
đồng tử giữ cửa, có thể đưa tài vật giao cho vị này cất giữ thì được
an tâm mà nghỉ ngơi.
Đồng Tử bảo:
- Giữ tài vật như
giữ oan gia. Giữ chúng như giữ tâm. Phải y theo tâm vì đó là người
bạn tối thắng. Các vị hãy an tâm mà nghỉ ngơi.
Luật Sư tự nhủ rằng
đồng tử kia nói được những lời đó, tức chẳng phải phàm nhân, liền
giao tất cả tài vật cho đồng tử đem cất, và an tâm mà nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, một đồng tử nọ, mặc hai lớp áo vải và tay cầm một bình
bát nhỏ bằng gỗ, mở cổng chùa mà bước ra, nói toàn những lời giống
hệt các chú mục đồng ở Tây Tạng; chú mục đồng hỏi:
- Quý vị từ đâu đến
đây ? Trên đường không gặp những việc sợ hãi chứ ?
Đáp:
- Chúng ta là người
Nga Nhật. Trên đường đi được bình an. Ngươi là ai ?
- Tôi cũng là người
Tây Tạng. Song, người Tây Tạng chúng ta thích nói nhiều nhưng lại
ngây thơ thật thà. Biết đó là việc quan trọng nhưng chẳng biết giữ
bí mật. Thế nên, phải cẩn mật mà hành đại sự. Khi đến địa phận làng
Tây Tạng, hỏi dân làng thì sẽ biết tôi và biết nơi cư trú của ngài
Tinh Tấn Sư Tử.
Nói chưa dứt lời,
chú mục đồng đã biến mất.
Dọc đường cái, Luật
Sư và đoàn người gặp vị tiên nhân, mắt đỏ, thân gầy, râu tóc màu
vàng chấm vai, tay chống gậy trúc, miệng hỏi:
- Quý vị từ phương
nào đến ? Muốn tới nơi nào ? Muốn làm việc gì ?
Đáp:
- Chúng tôi từ nước
Nga Nhật đến để cung thỉnh tôn giả A Để Sa. Ngài Tinh Tấn Sư Tử đang
cư trú nơi nào ?
Vị tiên nhân đó dựa
mình vào cây gậy, xoe tròn đôi mắt nhìn họ, bảo:
- Sáng nay đồng tử
kia nói chẳng sai. Người Tây Tạng chẳng biết giữ lời cẩn mật. Ngay
cả những kẻ đáng nghi ngờ, mà họ vẫn nói hết các việc bí mật. Làm
như thế mà muốn thành tựu đại sự sao được ? May thay ! Đối với Ta
thì chẳng sao. Từ rày về sau, trừ khi gặp tôn giả A Để Sa, chớ có
nói điều bậy bạ. Nay Ta sẽ chỉ chỗ của Tinh Tấn Sư Tử cho.
Bấy giờ, vị tiên
nhân tuy đi chậm rãi, nhưng Luật Sư và đoàn người không đi theo kịp,
nên sanh lòng cung kính hy hữu. Vị tiên nhân đó đến trước cổng trụ
xứ của Tinh Tấn Sư Tử, bèn ngồi xuống đợi, và bảo:
- Việc đại sự thì
phải làm từ từ. Chậm rãi tức là nhanh; chớ gấp gáp theo dục tình.
Muốn trèo lên đỉnh núi cao, phải đi theo từng bậc đá. Đây là trụ xứ
của Tinh Tấn Sư Tử.
Luật sư Giới Thắng
bước vào nhà, thấy ngài Tinh Tấn Sư Tử đang đứng xem kinh chữ Phạn,
liền cúi đầu đảnh lễ, rồi cúng dường chút ít vàng. Ngài Tinh Tấn Sư
Tử hỏi:
- Ông từ đâu đến
đây ?
Luật sư Giới Thắng
bèn thuật lại nhân duyên sang Ấn Độ tường tận. Ngài Tinh Tấn Sư Tử
bảo:
- Dường như ông là
một trong những đệ tử của Ta, mà Ta chẳng nhận ra. Từ rày về sau chớ
nói lời cung nghinh Tôn Giả, mà hãy bảo rằng sang đây để cầu học
Phật pháp. Nơi đây có thượng tọa La Na A Ca La, đầy đủ đại thế lực,
cũng là vị thân tín của tôn giả A Để Sa. Các ông nên theo vị thượng
tọa này mà nghe kinh, và nhiếp hộ tâm của vị đó; chớ để vị đó biết
mục đích sang Ấn Độ của các ông. Nay có thể cúng dường nửa lạng vàng
cho vị đó, và bảo rằng đến để cầu học, chứ không cung thỉnh bậc đại
thiện xảo nào. Xin nguyện y theo dưới tòa, học Phật pháp và các pháp
thiện xảo. Hãy cầu xin vị thượng tọa đó từ bi nhiếp thọ. Sự việc chớ
gấp gáp. Tâm chớ bất an. Khi dịp may tới, chúng ta có thể từ từ thi
thiết phương tiện, đến trụ xứ của Tôn Giả mà cầu thỉnh.
Lúc đó Luật Sư đã
biết rõ thâm ý của ngài Tinh Tấn Sư Tử, nhưng lại giả vờ hỏi:
- Nếu thỉnh không
được Tôn Giả, thì có thể thỉnh những vị đại đức dưới tòa của Tôn Giả
được chăng ?
Đáp:
- Chớ nói lời này !
Nếu như thế thì trong bao năm trước, Ta đã thỉnh được hơn hai mươi
vị rồi. Song, tánh tình của dân chúng Tây Tạng, ông chẳng biết rõ
sao ? Trừ tôn giả A Để Sa, chẳng ai có thể điều phục được họ. Tôn
Giả có đầy đủ tăng thượng bất cộng ý lạc. Nay có thể thỉnh được Tôn
Giả.
- Còn những vị đại
đức khác thì sao ?
- Chư đại đức cao
tăng ẩn mật như tinh sao. Có năm mươi hai vị đại thiện xảo, đầy đủ
thắng đức bất tư nghì hy hữu như ngài Chủng Tỷ Bạt, Liên Hoa Giới,
Du Hý Kim Cang, v.v... Song, trừ tôn giả A Để Sa ra, không ai có đủ
khả năng để làm lợi ích cho người Tây Tạng.
- Tôn giả A Để Sa
thì như thế nào ?
- Người Tây Tạng
chúng ta yếu kém như thế, nên phải cần có sự giáo hóa của một vị đại
thiện xảo như tôn giả A Để Sa. Ông hãy tự đến quán sát tăng đoàn.
Giữa hơn 1.800 vị tăng, dẫu nhìn từ góc độ nào, dẫu đứng tại địa vị
nào, vị nào có oai đức thù thắng hùng dũng, vượt lên trên hết mọi
người, tướng hảo trang nghiêm, giới đức thanh tịnh bậc nhất, chính
là tôn giả A Để Sa. Hãy nên ngày đêm cầu khẩn.
Sau đó, luật sư
Giới Thắng y theo lời của ngài Tinh Tấn Sư Tử, đến tham vấn thượng
tọa La Na A Ca La. Đảnh lễ xong, luật sư Giới Thắng liền cúng dường
năm lượng bạc, và khải thỉnh y chỉ cầu học. Thượng tọa La Na A Ca La
an ủi bảo:
- Lời của ông thật
rất hay. Này Cụ Thọ ! Ta chẳng để tôn giả A Để Sa đến Tây Tạng đâu !
Đây chẳng phải do tình riêng, mà vì nơi đây nếu không có Tôn Giả thì
không có bậc đại thiện xảo nào hàng phục được ngoại đạo. Ấn Độ vốn
là vùng đất chính yếu của Phật giáo. Nếu không có Tôn Giả thì dân
chúng chẳng còn hưởng pháp lạc. Điển hình, tất cả đạo tràng ở Ấn Độ
đều do một tay Tôn Giả chấp chưởng. Ta cũng thương cho dân chúng Tây
Tạng. Vì đặc biệt tôn sùng Tôn Giả, mà quốc vương Tây Tạng mất hết
tài bảo. Nếu ông muốn vì hoằng duơng Phật pháp, phải nên phát tâm
đại dũng mãnh, tu học hết tất cả pháp. Ta cũng tận lực chỉ dạy. Tăng
sĩ Tây Tạng các ông có thể đại biểu cho chư tăng Ấn Độ mà hoằng
dương Phật pháp; đây thật là điều hy hữu !
Vài hôm sau, nhân
dịp có đại hội tăng già, tất cả chư vị đại thiện xảo Ấn Độ đều vân
tập về chùa Siêu Giới. Vào dịp đó, thượng tọa La Na A Ca La dẫn luật
sư Giới Thắng vào tăng đoàn, sắp xếp chỗ ở cho Luật Sư tại tăng xá
mà chư cao tăng thường nghỉ ngơi. Luật sư Giới Thắng cung kính tất
cả chư đại đức cũng như cung kính Tôn Giả, nên vị thủ tọa trong tăng
chúng chẳng chút nghi ngờ. Luật Sư trông thấy vị thủ tọa trưởng lão
đạo cao đức trọng mà ai gặp cũng khởi tâm thâm tín, đã tưởng lầm là
tôn giả A Để Sa, nên tìm hỏi một vị tăng trong tăng chúng; được vị
tăng đó cho biết:
- Chẳng phải tôn
giả A Để Sa mà là ngài Minh Liễu Đỗ Tập, một bậc đại cao tăng thành
tựu; vị này vốn là đại đệ tử của ngài Nguyệt Xưng, và chính là tôn
sư của tôn giả A Để Sa.
Về sau, Luật Sư gặp
các vị đại thành tựu như Hưởng Để Bạt, Nõa Nhiệt Bạt, v.v..., bèn
hỏi chư tăng rằng có phải là tôn giả A Để Sa chăng ? Họ đáp:
- Chẳng phải ! Vị
Hưởng Để Bạt vốn là vị đại thành tựu thiện xảo, cũng là bậc sư
trưởng của tôn giả A Để Sa. Vị Nõa Nhiệt Bạt đây, hiện đời không ai
sánh bằng, cũng là bậc sư trưởng của tôn giả A Để Sa.
Luận Sư đi hỏi khắp
nơi, nhưng chưa gặp được Tôn Giả, nên buồn rầu tự tĩnh tọa.
Lần nọ, vua Tỷ Trát
Ma La đến thăm chùa. Vào lúc ngồi trên bảo tọa, thấy các vị đại đức
đi ngang qua mà nhà vua không màng đứng dậy lễ bái. Lúc chư tăng vân
tập đông đủ xong, Tôn Giả mới bước ra với tướng hảo oai nghiêm mà
mọi người ngắm nhìn không chán (55). Oai đức của Tôn Giả thật tôn
quý, mặt luôn hiện nụ cười giải thoát. Một vị tỳ kheo trẻ mang bát
hương trầm đi trước để cung thỉnh Tôn Giả thượng đường. Nhìn thấy
Tôn Giả từ xa bước đến, nhà vua lập tức đứng dậy, và tất cả chư tăng
cũng đều đứng dậy cung nghinh. Tôn Giả bước vào tăng viện an nhiên
ngồi trên bảo tọa. Bấy giờ luật sư Giới Thắng tự nhủ: "Tất cả tăng
chúng đều đứng dậy chấp tay cung kính. Đây phải chăng là tôn giả A
Để Sa ?"
Thầm nghĩ xong,
Luật Sư liền hỏi vị tăng đứng kế bên:
- Có phải đây là
tôn giả A Để Sa chăng ?
Đáp:
- Sao lại nói như
thế ? Đây là ngài Tiếu Dũng Kim Cang, vị đại thiện xảo hành trụ vô
định (56).
- Công đức của vị
này như thế nào ?
- Công đức của Ngài,
tôi không thể nào suy lường được.
Lần khác, Luật Sư
đến trước cửa chánh điện, tụng đọc tâm kinh, đến đoạn vô sắc vô thọ,
thì chư đại đức đi ngang qua, chẳng hề nói lời nào. Lúc Tôn Giả đến,
bèn mỉm cười, dạy Luật Sư:
- Này Cụ Thọ ! Lời
của ông vốn là âm thanh của thế tục. Phải tụng đọc vô sắc "A", vô
thọ "A" !
Luật Sư tự nhủ: "Đây
chính là bậc đại đức đầy đủ tâm Đại Bi, đức cao chẳng ngã mạn, khiến
người nghe bèn phát khởi tín tâm."
Thấy có các người
khác đi theo Tôn Giả, nên tuy định cầu thỉnh, nhưng Luật Sư lại
không dám.
Sáng nọ, nghe Giới
Thắng đọc to chữ vô sắc "A", nhưng âm thanh không hay, nên Tôn Giả
cười bảo:
- Này Cụ Thọ ! Âm
thanh của Quán Tự Tại (57) chẳng tệ. Ông nên đọc thẳng câu "vô sắc
vô thọ" đi.
Luật sư Giới Thắng
nghe lời dạy này, tín tâm lại càng tăng gấp bội, nên đi theo sau Tôn
Giả. Khi thấy Tôn Giả ra ngoài đuờng bố thí cho người nghèo khổ,
Luật Sư liền hỏi các người nghèo đó:
- Đây có phải là
tôn giả A Để Sa chăng ?
Đáp:
- Sao lại hỏi như
thế ? Chớ thỉnh tôn giả A Để Sa đến Tây Tạng ! Chúng tôi sẽ bị đói
rách cô đơn. Đây chẳng phải là tôn giả A Để Sa. Tôn Giả đã đi qua
chỗ khác ở rồi (58).
Ngày nọ, Tôn Giả ra
ngoài bố thí thức ăn cho những người nghèo cùng, nhưng thiếu đi một
phần cho một đồng tử. Đồng tử đó bèn chạy theo Tôn Giả mà gọi:
- A Để Sa, Bạt La
Ha, Bạt Đạt Văn !
Luật Sư nghe được
lời này mới biết đây chính thật là Tôn Giả, nên tự dưng nước mắt
tuôn trào, vội bước theo Tôn Giả. Bấy giờ, Tôn Giả đứng lại an ủi:
- Này Cụ Thọ ! Ông
thật có lòng chân thành. Chớ buồn rầu ! Ta đã biết tâm ý tốt của vua
và dân chúng Tây Tạng. Song, nay Ta đã già yếu, lại chấp chưởng rất
nhiều tự viện. Các ông vẫn chưa chịu quên Ta. Vậy hãy cầu khẩn Tam
Bảo gia hộ.
Hôm nọ, thừa dịp
chẳng có vua quan hay các đại học giả để ý đến, ngài Tinh Tấn Sư Tử
bảo luật sư Giới Thắng cùng đến phòng phương trượng của Tôn Giả. Đến
nơi, họ dâng cúng một tấm Đà La Ni bằng vàng, cao một khối vuông với
vài trăm lượng vàng được xếp đặt ở chung quanh. Bấy giờ, ngài Tinh
Tấn Sư Tử chân thành tác bạch về lịch sử của các vị vua Bồ Tát hộ
pháp khiến chánh pháp được truyền bá trong bao đời, việc vua Lãng
Đạt Ma hủy diệt Phật pháp và các tà sư ngoại đạo truyền bao tà pháp
khiến Phật giáo bị suy vi, việc những vị tăng ở các vùng Tây Khương,
Nga Nhật chấn hưng chánh giáo, việc đại đức Trí Quang tuẫn tiết vì
pháp trong lao tù, việc vua Bồ Đề Quang bỏ mất bao công sức và vàng
bạc để cung thỉnh Tôn Giả, cùng những lời cầu khẩn Tôn Giả vào Tây
Tạng của vua Bồ Đề Quang. Cuối cùng, ngài Tinh Tấn Sư Tử tác bạch:
- Nay Cụ Thọ đến
đây cầu thỉnh Tôn Giả sang Tây Tạng. Hai chúng con đã từng trải qua
bao khổ nhọc mà cầu thỉnh, nhưng không có kết quả. Sao Tôn Giả không
thương xót cho người Tây Tạng chúng con ? Nay xin Tôn Giả vì lòng từ
bi mà sang Tây Tạng.
Tôn Giả đáp:
- Lời chân thật của
các ngươi, Ta đã thấu rõ. Các quốc vương Tây Tạng thật là những vị
Bồ Tát hóa thân, bằng không thì chẳng thể làm được những sự nghiệp
hộ trì Phật pháp. Nay quốc vương Tây Tạng đã đem qua đây hết tận tài
vật. Thật đáng thương thay ! Ta vốn chẳng phải ích kỷ, chỉ vì thánh
giáo đại sự. Hiện tại, Ta đang đảm nhiệm trụ trì tám trăm ngôi chùa,
và còn nhiều việc Phật sự chưa làm hoàn tất. Tuổi tác cũng cao, e
rằng không thể gánh vác nổi sự nghiệp hoằng pháp ở Tây Tạng. Song,
vì Ta mà người chú (59) của quốc vương Tây Tạng phải bỏ mình. Đây
thật là công hạnh của một vị Bồ Tát chân chánh. Ta chẳng thể từ chối
lời thỉnh cầu của vị Bồ Tát đó. Sự khổ nhọc của các ông sẽ không
uổng phí. Khoảng mười tám tháng nữa thì Ta mới ủy nhiệm lại hết các
công việc Phật sự. Nay các ông nên tạm thời giữ số vàng này lại, và
chớ nói rằng Ta sẽ qua Tây Tạng. Các ông có thể lưu lại đây học tập
phiên dịch kinh điển.
Tối hôm đó, Tôn Giả
cúng dường Độ Mẫu (Tara), cầu khẩn thỉnh vấn ba việc như so sánh
giữa việc đến Tây Tạng và trụ trì Phật pháp ở Ấn Độ thì việc nào lợi
ích hơn, có nên làm mãn tâm nguyện Bồ Tát của vua Tây Tạng chăng,
thân mạng có bị gặp tai nạn gì chăng ?
Khải bạch xong, Tôn
Giả bèn đi nghỉ ngơi. Ngay trong đêm đó, Tôn Giả mộng thấy Độ Mẫu
bảo:
- Trong thành của
ngoại đạo kia, có một pháp đường nội giáo. Nơi đó có một vị Du Già
Mẫu. Ông nên đến đó mà thỉnh hỏi.
Hôm sau, Tôn Giả
tìm đến thành quách đó, và trần thiết cúng dường. Bấy giờ, đột nhiên
từ đâu đi lại, có một Du Già Mẫu, tóc dài chấm đất. Cúng dường xong,
Tôn Giả bèn hỏi về việc sang Tây Tạng. Du Già Mẫu bảo:
- Đến Tây Tạng có
lợi ích lớn, khiến cho tâm nguyện của vua Tây Tạng được mãn nguyện,
và Phật pháp cũng được xiển dương. Nơi đó có Chủng Đôn Ba, một đại
đệ tử của Ông. Về sau, người này sẽ tiếp nối sự nghiệp hoằng dương
chánh pháp của Ông. Lợi ích tuy nhiều, nhưng thọ mạng lại giảm.
Tôn Giả hỏi:
- Mạng giảm bao năm
?
- Không đến Tây
Tạng thì sẽ thọ đến chín mươi hai tuổi. Đến Tây Tạng thì chỉ thọ bảy
mươi ba tuổi.
Tôn Giả suy nghĩ: "Làm
lợi ích cho chúng sanh, có bị đoản mạng thì chẳng sao (60)."
Ngày nọ, Tôn Giả
gọi luật sư Giới Thắng ra bảo:
- Hãy cùng Ta đến
Kim Cang Tọa.
Vừa đến nơi, Tôn
Giả thấy một đồng tử, tay cầm cung tên, quỳ bạch:
- Nay cầu thỉnh Tôn
Giả qua Tây Tạng để làm nơi nương tựa cho dân chúng Tây Tạng. Những
người Tây Tạng như Cụ Thọ đây, thật rất đáng thương !
Nói xong, đồng tử
bèn biến mất. Bấy giờ, luật sư Giới Thắng hỏi:
- Vị này là ai, từ
đâu đến ?
Tôn Giả đáp:
- Ngày mai tại phía
bắc của Kim Cang Tọa có một Du Già Mẫu vừa đi vừa ca múa mà đến đây.
Ông có thể thỉnh hỏi.
Sáng hôm sau, Giới
Thắng ngồi chờ đợi, rồi thấy một Du Già Mẫu mặc y bằng da nai, tóc
dài xỏa đến vai, tay cầm một cái trống nhỏ, nhảy múa mà đến. Giới
Thắng thỉnh hỏi về việc của ngày hôm qua. Bà ta đáp:
- Người Tây Tạng
các ông sao hỏi ngược lại người Ấn Độ chúng tôi ?
Nói xong, bà ta bèn
bỏ đi.
Lần nọ, Giới Thắng
theo Tôn Giả sang chùa Na Lan Đà. Lúc Tôn Giả ngồi dưới cây đại Bồ
Đề, thì bên phải có đồng tử thuở trước hiện đến, còn bên trái thì có
một đồng nữ thân màu xanh biếc. Chúng đồng chống khủy tay trên đầu
gối của Tôn Giả, nhìn nhau mà cười. Giới Thắng tự nhủ: "Tôn Giả bị
thế pháp hỗ tương làm não loạn, sao lại trụ nơi đây ?"
Bấy giờ đồng nữ kia
bảo:
- Thắng Tiền, Thắng
Tử hiệu Giới Hộ; đã trụ nơi thắng địa mà hiện thắng hạnh. Cứu cánh
thắng hạnh khiến chúng sanh nương y. Cha con bậc thắng giả (61), Ta
đều đảnh lễ.
Đồng nam bảo:
- Nơi nào hộ thắng
sự, thì đồng nữ ngươi nên đến nhà của Ta, để tăng thêm thọ dụng và
phước lạc; hoan hỷ cùng trụ, trừ tai hoạn. Ha ha ! Nay Tôn Giả sẽ
đến Tây Tạng !
Nói xong, chúng bèn
biến mất.
Giới Thắng tự nhủ:
"Hai vị này chính là hóa thân Bồ Tát."
Suy nghĩ xong, Giới
Thắng thỉnh hỏi Tôn Giả:
- Thuở trước, trên
đường sang Ấn Độ con đã gặp đồng tử này, cho đến hôm nay cũng gặp
lại. Vậy đồng tử này là ai ?
Tôn Giả đáp:
- Tại phía nam cổng
thành Tỷ Trát Ma, có một đồng nữ chuyên dệt vải, Ông hãy đến đó mà
hỏi.
Giới Thắng nghe
theo lời của Tôn Giả, liền qua đến đó thỉnh hỏi. Đồng nữ bèn xướng
ca:
- Nơi phương bắc
thị hiện đản sanh. Ông biết danh tánh và xứ sở, chớ tự khi dối mà
hỏi tôi; đây là hóa thân của người đó.
Giới Thắng nghe qua
bèn biết rõ rằng vị Không Hành, vị cứu tinh ở Trúc Thất, vị lái đò
bên sông Hằng, vị đồng tử giữ cửa chùa Tỳ Trát Ma Thi La, vị Tinh
Tấn Sư Tử đứng bên cửa chùa Tỳ Trát Ma Thi La, vị đồng tử người Tây
Tạng, vị tiên nhân trên đường cái, vị đồng tử khất thực, vị đồng tử
mang cung, vị đồng nam đồng nữ hôm qua, đều là hóa thân của Bồ Tát
Quán Thế Âm.
Giới Thắng lại biết
rằng có Tinh Tấn Sư Tử thường đi theo cầu thỉnh Tôn Giả, nên rất an
tâm.
Khi xưa, vị sư
trưởng của Tôn Giả là Đô Ha La đã từng ban cho Tôn Giả một Huyễn
Kính Quán Địa, và bảo:
- Sau này Ông sẽ
đến Tây Tạng ở phương bắc. Tại đó có một thắng địa; phía bắc có Y
Sơn; phía nam có bình nguyên. Nơi đó sẽ có một Du Già Nữ (62) chỉ
dạy rõ ràng. Sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Ông ở Tây Tạng sẽ
được hưng thạnh. Nơi đó, Ông sẽ xây cất chùa chiền, độ rất nhiều tín
chúng. Song, đây là một sứ mạng cam go, vì hiện tại xứ biên địa đó
vốn là nơi hoang dã, chẳng có chánh pháp. Ông cũng chẳng trở về lại
Ấn Độ.
Lúc giảng kinh ở
chùa Tô Ma Phú Lê (Somapuri), Tôn Giả cũng từng dự đoán rằng sẽ xả
bỏ nhục thân ở Tây Tạng.
Tôn Giả chỉ vì đại
sự của Phật giáo, nhưng lại sợ thượng tọa La Na A Ca La (thân tín)
biết được, và các quốc vương lưu giữ, nên âm thầm đi chiêm bái các
thánh tích, mà hành trụ không định xứ.
Lúc Tôn Giả đến Kim
Cang Tòa, Giới Thắng và Tinh Tấn Sư Tử đảnh lễ dưới chân, và rơi lệ,
cùng tiếp tục chân thành cầu thỉnh Tôn Giả sang Tây Tạng hoằng pháp.
Tôn Giả bèn hứa khả, rồi đem chức vụ trọng trách ở tất cả chùa chiền,
giao lại cho các vị phụ tá. Sau khi làm xong hết tất cả Phật sự, Tôn
Giả quyết định đến Tây Tạng. Trước nhất, Tôn Giả muốn đi chiêm bái
tất cả thánh tích. Song, nếu chuẩn bị nhiều hành trang, thì sợ rằng
thượng tọa La Na A Ca La biết được. Nếu không chuẩn bị thì ba mươi
mốt kiện kinh điển và tượng Phật không có cách gì để mang sang Tây
Tạng được. Giới Thắng cũng lo buồn. Vào một buổi tối nọ, đột nhiên
có hai cha con (63) dẫn ba mươi mốt cỗ xe bò đến. Tất cả kinh tượng
của Tôn Giả đều được lên xe hết, rồi đến giữa đêm thì đoàn người lên
đường. Hôm sau, Tôn Giả đến từ biệt thượng tọa La Na A Ca La:
- Nay Ta sẽ dẫn Cụ
Thọ đi chiêm bái các thánh tích để hành pháp cúng dường. Lúc Ta chưa
trở về, cầu mong Ông được cư trú an lạc.
Thượng tọa La Na A
Ca La thưa:
- Thật hay lắm thay
! Con cũng muốn đi chiêm lễ, để hầu cận Tôn Giả vài ngày.
Thế nên, tất cả
đồng đến Kim Cang Tọa. Cúng dường xong, Tôn Giả lại bảo các chư tăng
đồng hành:
- Nước Chi Na Đế Lê
(C'indilla Krama) ở gần biên giới Ấn Độ, có một đại thần muốn kiến
lập chùa chiền, nên cầu thỉnh Ta sang đó mà gia trì. Năm xưa vì bận
rộn, Ta chưa qua đó, nên nay muốn đi. Các ông có thể quay về.
Có rất nhiều tăng
chúng nghe thế bèn cùng nhau trở về tự viện, nhưng thượng tọa La Na
A Ca La cùng hơn sáu mươi người vẫn đi theo Tôn Giả. Lễ bái các
thánh tích như thế xong, cuối cùng họ đến chùa Chi Na Đế Lê ở vùng
biên giới. Khi ấy, tất cả chư tăng trong chùa đều vui mừng, đồng
bước ra đảnh lễ cung nghinh Tôn Giả. Viếng thăm chùa xong, Tôn Giả
bảo thượng tọa La Na A Ca La:
- Này Trưởng Lão !
Nay Ta sẽ qua chiêm bái chùa Mật Đa La (Mitra). Đường đi rất xa; Ông
không sợ khổ nhọc sao ?
Thượng tọa La Na A
Ca La biết rằng Tôn Giả sẽ qua Tây Tạng, nên bảo Giới Thắng:
- Này Cụ Thọ ! Ông
nói rằng đến đây để cầu học Phật pháp. Hôm nay mới biết rõ rằng vua
Tây Tạng sai ông qua đây để đoạt lấy vị đại đức của Ta. Xưa kia, các
ông đã từng đến đây cầu thỉnh, mà Ta chẳng xả bỏ Tôn Giả. Nay xả hay
chẳng xả, Ta cũng tự tại. Song, do ý lạc thanh tịnh muốn đi của Tôn
Giả, nếu không xả thì Ta làm chướng ngại cho hạnh lợi tha của Tôn
Giả. Riêng ông chắc cũng không được vui. Hơn nữa, ông vốn là đệ tử
của Ta. Nếu lòng không được vui thì Ta đã làm trở ngại cho việc nhập
tam ma địa (thiền định). Vua Tây Tạng của ông cũng thật đáng thương.
Nhà vua đã từng đem hết của cải tài bảo để cung thỉnh Tôn Giả mà
không kết quả. Ta cũng tự thấy xấu hổ. Nay cho ông vai mượn Tôn Giả
ba năm, sau đó phải đưa Tôn Giả trở lại Ấn Độ. Nếu không thì Ta cũng
chẳng nhập được tam ma địa.
Giới Thắng tự nhủ:
"Ấn Độ và Tây Tạng xa cách muôn trùng. Chỉ có ba năm ngắn ngủi, thì
khó lòng khiến cho người Tây Tạng đạt được lợi lạc. Sau ba năm nếu
đưa Tôn Giả trở lại Ấn Độ, thì cũng chẳng có lợi ích lớn. Nếu không
đưa Tôn Giả trở lại, thì vi bội Tam Muội Da (64). Nay phải làm sao
?"
Giới Thắng vừa suy
nghĩ vừa rơi lệ. Bấy giờ, Giới Thắng thấy xa xa có một đồng tử cầm
cương cỡi ngựa đi đến hỏi:
- Thầy có hình
tướng xuất gia, sao lại rơi lệ thống khổ như thế ?
Giới Thắng bèn
thuật lại việc đó. Đồng tử bảo:
- Kẻ thiếu học ở
thế gian được lợi lạc do có tâm thâm tín. Nay tôi sẽ chỉ Thầy một
việc, chẳng hay có làm được chăng ?
Giới Thắng suy nghĩ:
"Xưa kia, Bồ Tát Quán Âm hiện thân cứu giúp mà mình chưa từng đảnh
lễ. Nay phải đảnh lễ để thỉnh hỏi."
Nghĩ xong, Giới
Thắng liền đảnh lễ đồng tử. Đồng tử ngăn lại, bảo:
- Thầy đang đắp y
Như Lai, chớ nên lễ người thế tục. Hôm nay tôi chỉ cho Thầy cách
không vi bội Tam Muội Da, mà có thể khiến cho tôn giả A Để Sa được
trường thọ, ở lại Tây Tạng luôn. Ngày mai lúc khởi hành, Thầy nên
đảnh lễ vị Thượng Tọa kia, cầu xin từ bi nhiếp niệm, cùng cầu xin
Thượng Tọa dùng bàn chân mà xoa đỉnh đầu, rồi bạch:
- Xin cầu nguyện
Thượng Tọa tu hành an lạc.
Bấy giờ, Thượng Tọa
kia quyết sẽ bảo:
- Như lời của Ta
hôm qua, trong ba năm Ông hãy đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ. Trong thời
gian đó, hãy mau học hết tất cả công đức thiện xảo của Tôn Giả.
Nguyện cho Tôn Giả cùng quý vị đều được bình an, chẳng bịnh hoạn.
Lúc trở về Tỳ Trát Ma Thi La, Ông có thể tiếp tục ở lại mà tu học.
Thượng Tọa kia dạy
xong, Thầy hãy bạch:
- Con kính cẩn y
giáo phụng hành, nhưng có lời xin cáo bạch rằng lúc con thỉnh vấn
các bậc sư trưởng ở Tây Tạng, các ngài cũng có lời dạy bảo như thế
thì làm sao con đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ được ? Bấy giờ, hai vị
thắng giả phụ tử (65) nếu hiển hiện điềm lành, và bảo phải nên đưa
Tôn Giả trở về Ấn Độ thì con sẽ đưa Tôn Giả đi. Nếu bảo phải lưu giữ
Tôn Giả ở lại Tây Tạng thì con xin thỉnh Tôn Giả ở lại. Nếu hai vị
thắng tử không thọ ký cho lời gì, con cũng đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ.
Việc này xin Thượng Tọa từ bi mà hứa khả.
Khi ấy, mọi việc sẽ
nằm trong tầm tay của Thầy.
Giới Thắng nghe lời
này, nên vui mừng vô lượng. Sáng hôm sau, Giới Thắng y theo lời chỉ
dẫn của đồng tử mà khải bạch với thượng tọa La Na A Ca La. Thượng
Tọa nói:
- Thật đúng như thế
! Này Cụ Thọ ! Phải cầu thỉnh với chư Phật và chư Bồ Tát. Chư Phật
và chư Bồ Tát chẳng điên đảo. Các Ngài nếu hiện điềm lành, và bảo
phải đưa Tôn Giả trở lại Ấn Độ thì phải làm theo. Ngược lại, nếu bảo
rằng nên giữ Tôn Giả lại Tây Tạng thì có thể giữ Tôn Giả. Nếu không
thọ ký thì phải đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ. Này Cụ Thọ ! Nếu không có
tôn giả A Để Sa thì Ấn Độ tất sẽ bị ám chướng vì ngoại đạo phá hoại.
Hiện tại, quân Hồi giáo đang xâm chiếm miền tây Ấn Độ; ngôi nhà Phật
pháp sắp chịu bao thảm họa. Việc này làm cho Ta đau lòng khôn xiết.
Cầu nguyện cho Tôn Giả cùng quý vị đều được bình an, chẳng bị tổn
hại khổ não, và thường làm lợi ích cho loài hữu tình (66).
Tôn Giả bèn dạy
Giới Thắng rằng hãy đem vàng mà chia làm bốn phần: 1/ Cúng dường cho
các bậc sư trưởng; 2/ Cúng dường cho Kim Cang Tòa; 3/ Cúng dường cho
tăng chúng chùa Tỳ Trát Ma Thi La; 4/ Giao cho quốc vương, cúng
dường tất cả tăng chúng trong vương quốc.
Thượng tọa La Na A
Ca La vui vẻ chúc lành Tôn Giả và Giới Thắng rồi quay trở về chùa.
Tôn Giả cùng hai
mươi bốn đồ đệ; Tinh Tấn Sư Tử cùng hai đồ đệ; Giới Thắng cùng sáu
người khác. Trong số đó, có ngài Địa Tạng (Ksitigarbha, hay
Bhumigarbha), vốn là một trong năm vị đại để tử của Tôn Giả. Vị này
là bào huynh của ngài Kim Cang Thủ (67). Trong quyển Đại Vương Tạng
Tăng (tức tiểu sử của các vị quốc sư) có ghi lại tiểu sử của ngài
Địa Tạng. Lại nữa, có ngài Tinh Tấn Nguyệt (68), vốn là bào đệ của
Tôn Giả. Tất cả là ba mươi lăm người. Tôn Giả cùng đoàn người tiến
dần về vùng biên giới Ấn Độ-Ni Bạc Nhĩ (India-Nepal).
Lúc Tôn Giả và đoàn
người đến chiêm bái chùa Mật Đa La (Mitra), chư tăng trong chùa đều
vui mừng, bước ra cung nghinh. Sau đó, Tôn Giả cùng đoàn người tiến
dần đến vùng biên thùy. Trên đường đi, thấy ba chó con đang nằm run
rẩy vì trời lạnh, Tôn Giả khởi lòng thương xót, mang chúng đi sang
Tây Tạng. Theo truyền thuyết, giống chó đó hiện vẫn còn ở Tây Tạng.
Bấy giờ, trên đường đi, Tôn Giả thuyết phục được rất nhiều luận sư
ngoại đạo. Song, có một số ngoại đạo khác lại oán ghét, mướn mười
tám tên cướp đón đường định hãm hại Tôn Giả. Tôn Giả biết ác tâm của
họ, nên dùng pháp sanh khởi thứ lớp của Độ Mẫu mà trói họ, khiến họ
bị tê liệt đứng yên như tượng đá. Lúc vào nội địa nước Ni Bạc Nhĩ
(Nepal), Tôn Giả tự bảo: "Ác ma ngoại đạo vì có tâm ác, nên tự tổn
hại !"
Lúc gặp các thương
gia, Tôn Giả bèn tụng mật chú vào đá sỏi, rồi đưa cho họ mà bảo:
- Trên đường đi,
các ông sẽ gặp mười tám tên cướp đang bị tê liệt đứng yên như tượng
đá. Các ông hãy dùng các viên đá sỏi nầy rải lên thân hình chúng thì
chúng sẽ tỉnh trở lại. Xin các ông đừng sợ hãi vì Ta đã dùng thần
chú để trói chúng đấy !
Các thương gia y
theo lời dạy của Tôn Giả mà hành. Lúc tỉnh trở lại, bọn cướp hỏi các
thương gia:
- Sao chúng tôi lại
như thế này ?
Các thương gia đáp:
- Vì các ngươi muốn
hãm hại tôn giả A Để Sa, nên Tôn Giả trói buộc các ngươi lại nơi đây.
Nay Tôn Giả vì lòng từ bi mà giải mở cho các ngươi.
Nghe lời này, bọn
cướp rất kinh hãi rồi bỏ đi. Kế tiếp, Tôn Giả cùng đoàn người tới
một vùng sa mạc, rồi cắm trại trong khu vườn của một người chăn dê
để nghỉ qua đêm.
Lúc vào địa phận
của nước Ni Bạc Nhĩ, một tiểu vuơng thấy chiếc giường nhỏ làm bằng
gỗ chiên đàn của Tôn Giả, bèn khởi tâm tham luyến, nên cầu xin. Tôn
Giả bảo:
- Đây là giường của
người Tây Tạng mang đi cho Ta.
Tôn Giả chẳng chịu
cho chiếc giường đó. Ngày khác, tiểu vương đó sai thích khách đến
chận lấy. Tôn Giả bèn đọc thần chú, trói buộc chúng, rồi sau này lại
thả ra. Lần khác, lúc đến vùng Hưởng Duyệt ở Ni Bạc Nhĩ, họ gặp sáu
người do vua Bồ Đề Quang sai đến nghinh đón. Nơi tàng cây Đa La, họ
cắm trại, dựng lều, thiết lập một tòa ngồi lớn. Tôn Giả ngồi trên đó;
bên phải có người Tây Tạng ngồi và Tinh Tấn Sư Tử làm thượng thủ;
bên trái có chư sư người Ấn Độ ngồi, và Tinh Tấn Nguyệt làm thượng
thủ. Phái đoàn cung nghinh Tôn Giả từ vùng Nga Nhật đến, dùng toàn
chén bát quý báu bằng vàng ròng chứa sữa và trà để dâng lên cúng
dường Tôn Giả. Lúc Tôn Giả muốn biết gốc tích loại trà vừa uống, thì
được Giới Thắng thưa trình:
- Bạch Tôn Giả !
Đây là loại Trà Thần của Tây Tạng.
Tôn Giả bảo:
- Do công đức của
chư tăng Tây Tạng mà mới có loại trà này.
Nói xong, Tôn Giả
viết kệ tán thán Trà Thần; kệ nầy được lưu truyền trong dân gian cho
đến ngày nay.
Phái đoàn do vua Bồ
Đề Quang phái đến lại dâng cúng ngựa trắng quý báu, được trang
nghiêm bằng các loại trân bảo. Họ lại tự cúng dường một cuộn tơ lụa
trắng. Tôn Giả đều vui vẻ tiếp thọ.
Xưa kia, ở Ấn Độ,
quốc vương của toàn vùng Tây Ấn, vốn là một vị đại vương tài trí vẹn
toàn, có quyền thế oai hùng, và là vua của các vì vua. Nhà vua này
cũng thường lễ bái Tôn Giả. Ngoài ra, Tôn Giả cũng được các vì vua ở
Nam Ấn như vua Krsna thường cung kính cúng dường. Thế nên oai đức
của Tôn Giả lan truyền khắp chốn. Vì vậy, khi nghe tin Tôn Giả trên
đường từ Ấn Độ sang Tây Tạng, vua nước Ni Bạc Nhĩ (Nepal) là Vô Biên
Xưng (Anantakirti) liền kịp thời dẫn quan quân đến ngưỡng thỉnh, và
cung nghinh Tôn Giả vào vương cung để cúng dường.
Lúc trước, ngài
Tinh Tấn Sư Tử vốn bị cảm bịnh tại tu viện Na Lan Đà, trước khi theo
Tôn Giả lên đường sang Tây Tạng. Lúc theo đoàn người hộ tống Tôn Giả
đến vùng biên giới Ấn Độ-Ni Bạc Nhĩ, ngài Tinh Tấn Sư Tử lại bị cảm
nhiệt nặng. Tại vương thành Ni Bạc Nhĩ, sau đêm thứ ba Tôn Giả cùng
phái đoàn được quốc vương Vô Biên Xưng cúng dường các phẩm vật và
thức ăn trọng thể xong, Tinh Tấn Sư Tử bạch Tôn Giả và chúng tăng:
- Nay con phải trở
về tự tánh giới của mình.
Nói xong, đêm đó
Tinh Tấn Sư Tử nhuốm bịnh nặng; mọi cách chữa trị đều vô hiệu quả.
Vì vậy ngài Tinh Tấn Sư Tử thị tịch vào giữa đêm khuya đó. Bấy giờ,
đoàn người ai nấy cũng đều buồn bã; Tôn Giả cũng thị hiện ưu sầu mà
bảo:
- Nay Ta đến Tây
Tạng thật vô ích (69). Người Tây Tạng thật vô phước vì Tinh Tấn Sư
Tử đã sớm thị tịch (70).
Nghe lời này, Giới
Thắng tác bạch với Tôn Giả:
- Xin Tôn Giả chớ
ưu tư vì sự ra đi của Tinh Tấn Sư Tử. Con sẵn sàng làm người dịch
giả cho Tôn Giả. Vã lại, ở Tây Tạng cũng có vài dịch sư sẵn sàng làm
người phiên dịch.
Tôn Giả nói:
- Ông vốn là dịch
giả giỏi nhất; Ta sẽ học nói tiếng Tây Tạng với ông.
Lo sợ quan quân địa
phương điều tra về cái chết của Tinh Tấn Sư Tử thì sẽ làm chậm trễ
cuộc hành trình hộ tống Tôn Giả vào Tây Tạng, nên đoàn người đã âm
thầm giữ kín việc tẩm liệm và mai táng thi thể Tinh Tấn Sư Tử bên
cạnh dòng sông vào đêm khuya. Sáng hôm sau, áo quần và đồ vật của
Tinh Tấn Sư Tử được đặt lên kiệu để chứng tỏ rằng vị này đang lâm
bịnh và được chu cấp thuốc men.
Lần nọ, lúc đến một
bình nguyên, Tôn Giả tặng con voi đang cỡi cho vua nước Ni Bạc Nhĩ
(Nepal) là Vô Biên Xưng rồi bảo:
- Con voi này, nếu
Ta tiếp tục cỡi đến Tây Tạng thì nó sẽ chết. Nay Ta giao nó cho Đại
Vương. Nếu Đại Vương cỡi con voi này thì tất cả oán địch đều tự
nhiên tiêu tán. Đại Vương nên dùng con voi này vào việc chuyên chở
kinh kệ, tượng Phật, mà chớ dùng nó vào những việc khác. Tại nơi đây,
Ta muốn kiến lập một ngôi chùa Tỳ Ha La (Tham vihara). Xin Đại Vương
hãy để cho chư tăng Ấn Độ và Tây Tạng tạm dừng chân nghỉ ngơi nơi
ngôi chùa này, và cúng dường bốn vật cần thiết cho các vị đó.
Nhà vua nghe lời
dạy, tâm sanh vui mừng vô hạn, nên lễ bái Tôn Giả, lại bảo hoàng tử
là Liên Hoa Quang (Padmabhadra), đi theo hầu và làm đệ tử của Tôn
Giả. Trên đường đến Tây Tạng, Liên Hoa Quang là người đệ tử đầu tiên
của Tôn Giả. Tôn Giả liền bảo dịch sư Bảo Hiền dạy chữ Phạn và chỉ
bày phương thức phiên dịch kinh điển sang chữ Tây Tạng cho hoàng tử
Liên Hoa Quang. Kế đến, Liên Hoa Quang lại y theo Giới Thắng học các
công đức thiện xảo của Tôn Giả. Về sau, Liên Hoa Quang làm trụ trì
chùa Tỳ Ha La ở Ni Bạc Nhĩ, lấy danh hiệu là Thiên Vương.
Bấy giờ, Tôn Giả
viết thơ gởi về cho vua Nayapala (1040-55) của vương triều Ba La (Pala)
ở Ấn Độ. Lá thơ đó được dịch sang tiếng Tây Tạng, và hiện còn tồn
giữ trong đại tạng kinh Đơn Châu Nhĩ.
Khi ấy, Tôn Giả gặp
lại một pháp hữu có pháp danh là Lung Thanh Văn (71). Lúc Tôn Giả
thuyết pháp Bát Nhã suốt sáu ngày liền, vị này chợt nghe lại được.
Vì vị này chẳng tín phục Mật pháp, nên Tôn Giả giải thích rằng nếu
muốn chứng đắc quả vị Phật thì phải tu viên mãn Mật pháp và trí huệ
Bát Nhã. Để chuyển hóa tâm vị này, Tôn Giả viết quyển Hành Tập Đăng
(Carya-samgraha-pradipa), và được Giới Thắng dịch sang Tạng văn.
Một năm sau, vua Vô
Biên Xưng cùng cả trăm quần thần đồng nghinh tống Tôn Giả đến vùng
biên giới Ni Bạc Nhĩ-Tây Tạng. Vua Bồ Đề Quang sai bốn đại thần dẫn
ba trăm kỵ mã, cỡi bạch mã đến vùng biên giới để nghinh đón. Họ lại
mang tràng phan bảo cái cùng khởi tấu các loại âm nhạc vi diệu để
nghinh đón Tôn Giả. Vừa đến nơi, các đại thần đồng thanh tán thán
công đức của Tôn Giả. Tôn Giả cũng lấy làm hoan hỷ mà tán thán:
- Chánh pháp thật
nương y nơi những vị đại thần này. Quốc vương Bồ Đề Quang thật cùng
Thiên Đế Thích chẳng khác biệt.
Lần đó, đại thần
Thiên Tự Tại cúng dường cho Tôn Giả một thánh tượng Bồ Tát Quán Âm.
Tôn Giả vui mừng, rồi lập tức làm lễ khai quang, tán thán:
- Quán Âm Tự Tại là
vị mà chúng sanh trong ba đời đều nương theo. Ngài là đấng đại bi tự
tánh chẳng cấu nhiễm, trừ diệt khổ não cho chúng sanh. Nay con cung
kính đảnh lễ. Đã đến thế giới của Ngài, xin nguyện từ bi gia hộ cho
con làm việc lợi sanh.
Các đại thần cũng
đồng dâng cúng tơ lụa trắng lên cho Tôn Giả. Bấy giờ, Tôn Giả bảo:
- Nay Ta đến vùng
đất này, trong rừng sanh tử tuy chưa được an lạc, nhưng đã được bốn
việc thuận lợi. Quyến thuộc của quốc vương có được an lạc chăng ?
Các đại thần đều
thưa:
- Đại Thiên (72)
nay nhờ sự gia hộ của Tam Bảo mà được siêu thoát. Vua Bồ Đề Quang
cùng quyến thuộc đều được an lạc.
Lúc đến bên hồ Vô
Năng Thắng, dân chúng trong vùng đổ xô ra cúng dường Tôn Giả cả bảy
ngày liền. Khi đến bên hồ nước, Tôn Giả bố thí nước cam lồ. Giới
Thắng cũng đi theo, và thấy trong hồ có một tượng Quán Âm, trên tay
có cầm một sợi dây màu trắng kết thành chữ Lý. Từ chữ đó lưu xuất ra
dòng nước cam lồ. Có vô số ngạ quỷ, vây quanh mà uống nước cam lồ,
khiến trừ tất cả nhiệt não (73).
Lần đó, đại thần
Đại Huệ cùng mười kỵ mã đầu tiên trở về, bẩm tấu vua Bồ Đề Quang:
- Thưa Đại Vương !
Vị Nhất Thiết Trí (74) lúc đến vùng Ni Bạc Nhĩ, quốc vương đại thần
thừa sự cúng dường, ca ngợi tán thán, nghinh tống đến tận biên thùy.
Chúng thần chưa từng nghe những chuyện như thế vào thời đức Phật còn
tại thế. Hoàng tử của nước Ni Bạc Nhĩ đã xuất gia, hiệu là Thiên
Vương. Quốc vương và hoàng tử cùng cả trăm kỵ mã đồng hộ tống Tôn
Giả. Con voi lớn của Tôn Giả được lưu giữ lại đấy. Quốc vương Ni Bạc
Nhĩ còn cho xây chùa Tỳ Ha La và cung cấp những vật dụng cần thiết
cho chư tăng Tây Tạng và Ấn Độ thường trú. Có ba vị đại đức cao tăng
vốn là quyến thuộc của vị Nhất Thiết Trí. Tổng cộng, có bốn trăm hai
mươi lăm người đi theo nghinh tống. Hiện tại, vị Nhất Thiết Trí đang
trú gần bên hồ Vô Năng Thắng mà làm lợi ích cho loài hữu tình, và
chẳng bao lâu sẽ đến Kim Điện.
Vua Bồ Đề Quang
nghe thế, vui mừng vô hạn, nên sai quần thần vội vã lấy xe ngựa, đến
Kim Điện (Tho-lin) nghiêm tịnh đường lộ, trang nghiêm đạo tràng,
cùng ban sắc lịnh cho quan quân ở bốn phương đồng tụ hợp tất cả dân
chúng để nghinh tiếp Tôn Giả. Dân chúng khắp nơi cho rằng: "Nay vua
Bồ Đề Quang ân cần triệu tập chúng ta đến đây, chắc có việc hy hữu,
hãy đến xem sao !"
Lúc Tôn Giả đến Kim
Điện (thuộc Tây Tạng) vào năm 1042, dân chúng khắp nơi kéo đến chật
cả đường phố. Họ thấy vua nước Ni Bạc Nhĩ như vị trời thứ ba mươi ba.
Các vị tam tạng pháp sư, những bậc đại thiện xảo, vây nhiễu xung
quanh Tôn Giả. Đặc biệt, đi bên phải của Tôn Giả là đại thiện xảo
Lợi Tha Hiền, và đi bên trái là Tinh Tấn Nguyệt. Vua xứ Tang Ca đi
ủng hộ đằng sau Tôn Giả. Có hơn bốn trăm kỵ mã vây nhiễu chung quanh.
Tôn Giả ngồi trên lưng ngựa, tướng hảo trang nghiêm, oai nghi rạng
rỡ như vầng thái dương, trên gương mặt luôn nở nụ cười hoan hỷ, và
miệng luôn tụng niệm hồng danh Phật Thích Ca Mâu Ni, Độ Mẫu. Do oai
đức của Tôn Giả, khiến mọi người ngắm nhìn đức tướng của Tôn Giả mãi
không thấy chán. Dẫu tín căn như thế nào, khi nhìn thấy Tôn Giả liền
sanh khởi tín tâm, mà không cần nghe lời chỉ dạy. Thấy việc hy hữu
này, dân chúng đồng tác bạch:
- Chúng con nay quy
y, nương tựa nơi đức Phật, Bạc Già Phạm, Ấn Độ Pháp Vương, tôn giả A
Để Sa, năm mươi hai vị đại thiện xảo. Xin nguyện từ bi giáo hóa, độ
thoát chúng con, người dân Tây Tạng đầy nghiệp chướng, khiến mau
chóng được thành tựu đạo nghiệp !
VớI niềm hân hoan,
Tôn Giả nguyện cầu:
- Dân chúng Tây
Tạng có tâm tín phụng thâm sâu đối với con, có chủng tánh đại tín.
Xin nguyện cầu Tam Bảo từ bi gia hộ cho con có đủ khả năng để giáo
hóa họ.
Nói xong, Tôn Giả
bèn làm lễ gia trì cho dân chúng.
Bấy giờ sư cô Pháp
Ức (75) cúng dường cho Tôn Giả một quả thông làm bằng năm mươi lạng
vàng, rồi chấp tay thưa:
- Xin Tôn Giả từ bi
tiếp nạp báu vật này. Xưa kia, con thấy sư huynh Trí Quang, vì theo
pháp thức của các bậc tiên sư, mà hoằng dương Phật pháp trong đời
năm trược ác thế. Sư huynh Trí Quang lại xả thân mạng và các thọ
dụng để hoằng truyền chánh giáo, nhưng chẳng may bị lọt vào tay của
kẻ ác. Nay cung thỉnh Tôn Giả từ bi trụ mãi ở đất Tây Tạng, để diệt
trừ các ác ngoại đạo, ác tà kiến.
Lại nữa, có hai
hoàng tôn của vua Bồ Đề Quang cung thỉnh Tôn Giả trụ lâu lại Tây
Tạng để hoằng dương Phật pháp, khiến chánh giáo được trường tồn. Tôn
Giả an ủi, bảo:
- Này chư thiện nam
và tín nữ ! Vị pháp vương đến Tây Tạng để hoằng dương chánh giáo,
chính là Ta. Này chư thiện nam tín nữ ! Nay đến đất Tây Tạng mà Ta
không kiến lập nền tảng cho Phật giáo thì quả tình rất xấu hổ đối
với tám trăm tự viện ở Ấn Độ (76). Đại đức Trí Quang tuẫn tiết vì
pháp, sao Ta không lo đền đáp ! Này chư thiện nam tín nữ ! Tất cả
lời thỉnh cầu của quý vị, Ta sẽ thực hiện chu toàn viên mãn.
Lúc tới Liên Hoa
Châu, Tôn Giả bảo vua nước Ni Bạc Nhĩ:
- Nay xin Đại Vương
hãy trở về bổn quốc, và sớm lo xây cất chùa Tỳ Ha La cho trang
nghiêm, lại nên đúc tượng Như Lai lúc sơ sanh (77), khắc tượng Độ
Mẫu, tượng Bất Động Minh Vương, đắp tượng Quán Tự Tại bằng bột trầm
hương, cùng tượng Vô Cấu Đảnh Kế. Lại nữa, xin Đại Vương hãy cung
thỉnh hơn năm mươi thánh tượng vốn hiện đang tôn thờ trong cung điện,
mà đem an trí trong ngôi chùa đó. Xây cất trong chín tháng xong,
trước khi làm lễ khai quang, xin Đại Vương hãy báo cho tôi biết.
Bấy giờ vua nước Ni
Bạc Nhĩ thọ lời chỉ dạy của Tôn Giả xong, bèn theo ba vị đại thiện
xảo, trở về bổn quốc.
Khi ấy, đại thần
Thiên Tự Tại vội viết thơ cấp báo cho vua Bồ Đề Quang: "Tôn giả A Để
Sa hiện nay đã đến Liên Hoa Châu. Vua nước Ni Bạc Nhĩ cùng ba vị đại
thiện xảo trở về bổn quốc để xây cất chùa chiền. Xin nhà vua hãy mau
nghinh tiếp Tôn Giả, và cung kính tạ ơn vua nước Ni Bạc Nhĩ."
Vua Bồ Đề Quang
nghe qua, liền cùng năm trăm kỵ mã đồng đến Liên Hoa Châu, thỉnh vấn
an ủi và tạ ơn luật sư Giới Thắng, cùng cung kính đáp lễ và dâng
nhiều tặng phẩm như ba mươi hai con ngựa quý cho vua Ni Bạc Nhĩ. Vị
vua này vui mừng vô hạn, bèn nhờ đại đức Thiên Vương (78) mang hai
trăm lượng vàng dâng tặng cho vua Bồ Đề Quang, và gởi gắm đại đức
Thiên Vương lưu học lại Tây Tạng.
Lúc vua nước Ni Bạc
Nhĩ và ba vị đại thiện xảo trở về cố quốc, vua Bồ Đề Quang tiễn đưa
họ cả một do tuần. Khi chia tay, vua Bồ Đề Quang cúng dường cho mỗi
vị đại thiện xảo một cành hoa bằng vàng, và cầu thỉnh họ rằng sau
khi xây cất chùa chiền xong, thì xin hãy qua Tây Tạng. Vua Bồ Đề
Quang lại sai chín trăm người, mang tràng phan bảo cái, rước Tôn Giả
về chùa Vương Tự Tại, rồi thay mặt toàn thể dân chúng Tây Tạng, cúng
dường lên Tôn Giả bảy loại châu báu (79), và tác bạch:
- Kính bạch Tôn Giả
! Tôn Giả đã nhọc nhằn đi từ Ấn Độ sang Ni Bạc Nhĩ, rồi đến đây, thì
chắc hẵn là Tôn Giả mệt mỏi lắm. Song, Tôn Giả là bậc sư trưởng mà
không ai sánh bằng. Tôn Giả thật đại từ bi đến đây dẫn dắt tín chúng
ở miền biên địa này. Kính xin Tôn Giả niệm tình hỷ xả cho lễ đón
rước lôi thôi này. Kính xin Tôn Giả hỷ xả ban bố Phật pháp cho xứ
Tây Tạng, nơi dân chúng đang ngóng lòng mong muốn được có chánh pháp
sau bao năm bị hủy diệt.
Kế đến, Giới Thắng
lại tác bạch:
- Kính xin Tôn Giả
hãy hỷ xả cho những lỗi lầm ngu muội của con (80). Kính xin Tôn Giả
từ bi hỷ xả việc chúng con làm rộn Tôn Giả phải lặn lội đường xá xa
xôi để đến đất Tây Tạng từ Ấn Độ. Tôn Giả đến đất Tây Tạng thật là
điềm vinh hạnh và niềm vui tột bậc cho dân chúng Tây Tạng.
Kế tiếp, vua Bồ Đề
Quang rơi lệ thưa lại việc ba vị vua đời Tiền Truyền Phật Giáo đã
gian khổ thiết lập và hộ trì chánh pháp, việc vua Lãng Đạt Mã hủy
hoại Phật pháp, việc đại đức Trí Quang đã bỏ công sức để chấn chỉnh
Phật giáo và bỏ thân mạng vì sự cung thỉnh Tôn Giả, việc tà sư ngoại
đạo thuộc phái Thượng Sư Đỏ cùng Thượng Sư Xanh truyền tà chú hành
ác hạnh khiến cho dân chúng bị lầm lạc, v.v... Cuối cùng, vua Bồ Đề
Quang tác bạch lên Tôn Giả:
- Nơi xứ Tây Tạng
nầy, con cầu mong Tôn Giả hãy dùng diệu pháp thậm thâm để giải trừ
nghiệp chướng cho dân chúng được nhờ.
Tôn Giả bảo:
- Vốn vì nghiệp
chướng thậm thâm nên phải ban pháp thậm thâm. Xưa kia, có một Du Già
Sư, tên là Diệm Mạn Đức Ca, thấy được hóa thân của Bổn Tôn, bèn tự
nhủ: "Nhờ duyên này mà mình không bị đọa lạc."
Song, vì nhân duyên
làm ô nhiễm đồ dùng của tăng chúng nên vị Du Già Sư đó bị tái sanh
vào loài ngạ quỷ, hình tướng đồng với Diệm Mạn Đức Ca. Lại nữa, tại
chùa Tỳ Trát Ma Thi La có một vị tăng chấp sự, lấy đồ cúng dường
ngày nay mà đổi thành đồ cúng dường ngày trước; vì nhân duyên đó,
đến tối thì bị chết, tái sanh vào loài ngạ quỷ. Một vị thượng tọa nọ,
do ỷ có thế lực, nên tự dùng riêng nửa thặng gạo, khiến bị tái sanh
vào loài ngạ quỷ yếu hèn.
Tôn Giả thuyết
những nghiệp duyên nhân quả để giáo hóa người Tây Tạng, và ban
truyền rất nhiều giáo pháp cho vua Bồ Đề Quang cùng chư quyến thuộc.
Lần khác, vua Bồ Đề
Quang cúng dường Tôn Giả thâm hậu xong, bèn thưa:
- Bạch Tôn Giả !
Nay tại đất Tây Tạng, chẳng có vị thiện tri thức nào đạt được nghĩa
thậm thâm của chánh giáo; mọi người chỉ tự vọng sanh phân biệt,
tranh luận hơn thua với nhau. Thế nên, hiện tại ở Tây Tạng, có rất
nhiều giáo pháp kỳ lạ, nhưng lại mang danh là Phật giáo. Xin Tôn Giả
hãy dựng tràng chánh pháp, để diệt trừ những nỗi nghi ngờ của tín
chúng. Về sau, xin Tôn Giả hãy y theo hai mối nghi về cộng giáo và
thừa giáo, hai mối nghi về Hiển giáo, ba mối nghi về Mật giáo, và
gom hết giáo nghĩa do Bồ Tát Di Lặc và Long Mãnh truyền lại, cùng
tất cả thâm nghĩa Đại Thừa, văn sao nghĩa cú, mà các bậc sư trưởng
thường tu hành, để biên thành một quyển luận. Lại nữa, xin Tôn Giả
hãy dùng giáo pháp Tập Mật do ngài Phật Trí Túc mà trước tác một
quyển Đà La Ni Chú Quán Âm Tu Hành Nghi Quỹ. Ngoài ra, xin Tôn Giả
từ bi đừng giảng dạy những pháp thậm thâm vi diệu cho những đệ tử
Tây Tạng ngu muội. Xin Tôn Giả hãy dạy về những pháp chân chánh dễ
hiểu dễ hành bao gồm mọi pháp môn và ba tạng giáo điển của đức Thế
Tôn, để làm lợi ích cho loài hữu tình.
Tôn Giả bảo:
- Đất Tây Tạng đã
có quyển Bảo Man Luận của Bồ Tát Long Mãnh, thật rất thù thắng.
Song, theo sự cầu
thỉnh của nhà vua, Tôn Giả trước tác quyển Bồ Đề Đạo Cự (81) để giải
đáp hết mọi nghi vấn. Tôn Giả cũng trước tác quyển Quán Âm Nghi Quỹ.
Bấy giờ vua Lạp Đắc
(82) cũng xuất gia. Tôn Giả an lập tất cả chúng xuất gia nơi giới
luật, an lập tất cả người tu mật chú nơi tam muội da (thiền định),
an lập tất cả người tại gia nơi trì năm giới. Các thánh tượng chưa
khai quang đều được khai quang. Các thánh tượng hư hoại đều được tu
bổ sửa chữa. Tất cả thiện nghiệp đều được kiến lập. Vua Bồ Đề Quang
tự thấy hiện thân của Bồ Tát Quán Âm. Thượng tọa Kim Hải y theo lời
dạy của Tôn Giả mà đạt đại thần thông.
Bấy giờ, chư tam
tạng pháp sư ở Tây Tạng, y theo thánh giáo Phật pháp, đem những lời
nghi vấn chưa được giải tỏa, mà cầu thỉnh Tôn Giả giải đáp. Tôn Giả
dùng giáo lý của Trung Quán và Duy Thức mà giải thích những chỗ nghi
ngờ của họ. Lần nọ, vị tăng Huệ Minh thỉnh hỏi Tôn Giả:
- Sao Tôn Giả không
giảng thuyết kiến giải của mình mà chỉ giải thích tùy thuận theo lời
người khác ?
Tôn Giả bảo:
- Ta vốn tùy theo
sở kiến của chư tỳ kheo mà đối đáp để thuận theo ý họ.
Vị tăng Đức Huệ
thỉnh hỏi:
- Tôn Giả có kiến
lập tông chăng ?
Đáp:
- Chẳng có.
- Thắng nghĩa tuy
chẳng có kiến lập tông, nhưng nếu y theo thế đế thì sao ?
- Tất cả pháp đều
trụ như thế (83).
- Hiện cảnh là thật
có hay chẳng thật có ?
- Ông hãy tự quán
sát.
- Bàn về lý trí, có
pháp hiển hiện chăng ?
- Chẳng hiện !
Song, chẳng hiện có hai: Một là vô cớ chẳng hiện (84); hai là không
do cảnh chẳng hiện (85).
- Đạt đến quả vị
Phật thì có trí hay chẳng có trí (86) ?
Tôn Giả cười đáp:
- Ta chưa thành
Phật, nên chẳng biết. Ví như các nhà ảo thuật làm mê hoặc người ngu,
ông hãy tự hiểu lấy.
Bấy giờ các vị
thiện tri thức người Tây Tạng đều im lặng, chẳng còn lời đối đáp.
Tôn Giả lại bảo:
- Người Tây Tạng
các ông chẳng kham nổi giáo lý Trung Quán và Duy Thức. Theo lý Trung
Quán, các ông dùng ví dụ nào để rõ sự huyễn hóa ?
Họ thưa:
- Ví như chú thuật
vào cây đá, khiến chúng hiện giống như voi ngựa.
Tôn Giả chẳng vui,
bảo:
- Người Tây Tạng
các ông thua rồi ! Đó là quy thức thấp nhất của Duy Thức.
Họ thỉnh hỏi:
- Dùng lý Trung
Quán như thế nào ?
Tôn Giả đáp:
- Như chú thuật vào
hư không, khiến voi ngựa hiển hiện tán loạn. Sự hiển hiện như thế
(87) chỉ là huyễn tướng mà thôi. Song, y theo Phật pháp thì các pháp
thế tục đế thật chẳng có (88). Sự thành lập của hai đế (89), nếu
chấp rằng thật có, chẳng phải huyễn chẳng phải là Tánh Không, thì
cũng không thể được.
Lúc Tôn Giả chưa
đến Tây Tạng, chư tăng đều thích lý luận về thuyết Trung Quán. Song,
khi đến Tây Tạng, Tôn Giả chẳng thấy ai thông đạt được lý Trung Quán.
Lần nọ, Tôn Giả kể một ví dụ về màng che con mắt: "Ở Ấn Độ, bà lão
nọ có một người con rất chí hiếu. Song, vì phải đi buôn bán ở xa,
nên người con này dặn dò vợ mình ở nhà phải lo chăm sóc bà mẹ kỹ
càng. Người vợ nghe theo lời của chồng mà phụng dưỡng mẹ chồng rất
chí hiếu. Bà lão này do ăn uống quá độ, khiến đôi mắt bị lu mờ. Lần
nọ, bà lão thấy trong thức ăn có một cọng tóc, nghi rằng đã nuốt tóc
xuống bụng, nên tự sanh bịnh hoạn. Lúc người con trở về, bà lão bèn
trách móc nàng dâu. Cô vợ bèn bảo ông chồng:
- Thiếp thật hết
lòng cung phụng mẹ già. Vì mắt mẹ mờ, nên nhìn lầm lẫn. Chàng hãy
thử dùng thức ăn đó xem sao.
Người con bèn đem
thức ăn ngon cho bà lão. Bà lão cũng thấy trong đó có các sợi tóc.
Người con mới biết là vợ mình nói đúng, nên thưa:
- Mẹ nhìn lầm rồi !
Không có tóc đâu. Xin mẹ hãy dùng thức ăn này.
Về sau, người con
tìm thầy thuốc để trị bịnh mắt cho bà lão. Lành bịnh xong, bà lão
sáng mắt trở lại, chẳng thấy có tóc trong thức ăn, nên bịnh đau bụng
tự nhiên được lành (90). Ba tạng giáo pháp trị nghiệp bên ngoài. Lời
chỉ dạy của các bậc sư trưởng trị bên trong tâm bịnh. Mắt huệ tỏ
sáng thì chẳng còn thấy lông tóc huyễn hóa."
Chư sư Tây Tạng
nghe những lời biện tài vô ngại của Tôn Giả, nên đều sanh tâm thâm
kính hy hữu, và giải trừ được hết các mối nghi ngờ.
Tôn Giả có thói
quen là thường lễ bái trong những ngôi chùa trống không. Chư đệ tử
hỏi:
- Chẳng biết Tôn
Giả đang lễ bái vị nào trong những ngôi chùa trống không đó ?
Tôn Giả đáp:
- Các ngôi chùa
trống không vốn nhắc cho Ta về nghĩa lý của tánh Không.
Trong những lúc
giảng dạy cho đồ đệ, Tôn Giả thường nhấn mạnh chính vào chánh kiến
của Bồ Tát Long Thọ và Vô Trước. Tôn Giả cũng thường nhắc chư đệ tử
về tầm quan trọng tối cực của lòng từ bi đối với việc phát khởi
những chánh kiến của tánh Không đó.
Dịch sư Bảo Hiền
kiến lập ba tầng mật điện, tự cảm thấy mình cao siêu, vượt hơn tất
cả chư tăng; các pháp Hiển-Mật, đều tự thông đạt thiện xảo. Tuy biết
Tôn Giả đến, nhưng Dịch Sư chẳng màng tới thỉnh pháp, vì cho rằng
oai đức và sự tu hành của Tôn Giả chẳng bằng mình. Song, Dịch Sư
cũng như các bậc đại thiện xảo Tây Tạng, vốn đều xuất thân từ hệ
phái của các bậc đại thiện xảo Ấn Độ. Xưa kia, lúc còn trẻ, Dịch Sư
cùng hai mươi pháp hữu khác, đã từng được đại đức Trí Quang gởi sang
Ấn Độ và Ca Thấp Di La tu học. Lúc đó, tuy còn trẻ, nhưng Dịch Sư
mau chóng trở thành một vị học giả và dịch giả. Thật vậy, Dịch Sư
vốn là một đại học giả và dịch giả chân thật đầu tiên sau thời vua
Lãng Đạt Mã hủy hoại Phật pháp (91). Dịch Sư dịch rất nhiều kinh
điển và Mật chú (92), cùng ban truyền các loại quán đảnh. Dịch Sư
vốn tham học và nghe giảng giải kinh luận dưới tòa của bảy mươi lăm
vị đại thành tựu ở Ấn Độ. Vua Bồ Đề Quang tôn kính Dịch Sư như một
vị quốc sư với pháp danh "Kim Cang Thượng Sư". Dịch Sư lại xây cất
rất nhiều chùa chiền, và ở Tây Tạng chẳng có ai phiên dịch hay khắc
hình tượng Phật nhanh bằng. Chùa Kim Điện do đại đức Trí Quang xây,
cũng được sự hỗ trợ cố vấn của Dịch Sư. Vào thời Phật Giáo Hậu
Truyền, Dịch Sư đóng góp công lao rất lớn trong việc phiên dịch Tân
Mật Chú. Khi Tôn Giả vào Tây Tạng (1042), Dịch Sư đã được tám mươi
lăm tuổi, và lớn hơn Tôn Giả hai mươi lăm tuổi. Do hai hoàng tôn của
vua Bồ Đề Quang yêu cầu, nên Dịch Sư suy nghĩ: "Vì vua Bồ Đề Quang
cung thỉnh tôn giả A Để Sa, nên Ta cần phải đến cung nghinh."
Suy nghĩ xong, Dịch
Sư bèn đến cung nghinh Tôn Giả. Đêm hôm đó, Dịch Sư mộng thấy một
người nọ bảo:
- Ta vốn sanh khởi
tâm ngã mạn đối với chúng sanh về lý và sự, nên khiến cho việc cung
thỉnh Tôn Giả (A Để Sa) rất khó khăn. Ông nay sao chẳng biết đến cầu
thỉnh pháp dưới tòa của Tôn Giả ? Tất cả công đức tu hành của các
bậc đại thiện xảo ở Ấn Độ và Tây Tạng, đều chẳng bằng công đức tu
hành của Tôn Giả. E rằng lúc người Tây Tạng chưa có thể tiếp thọ hết
tất cả giáo pháp, thì Tôn Giả đã quy hóa rồi.
Tỉnh dậy, Dịch Sư
tự nhủ: "Đây là giấc mộng lành. Người đó thật là vị đại thiện tri
thức, đại từ bi."
Lúc ra cung nghinh,
thấy tướng hảo và oai đức của Tôn Giả, tâm ngã mạn của Dịch Sư bèn
dứt sạch.
Khi đến ba tầng mật
điện của Dịch Sư, tại tầng dưới, nơi chuyên thờ các thánh tượng Tiểu
Thừa, Tôn Giả bèn tụng bảy bài kệ tán bằng tiếng Phạn, rồi tụng mỗi
bài kệ cho mỗi thánh tượng. Tầng chính giữa, nơi chuyên thờ phụng
các thánh tượng Đại Thừa Hiển-Mật, Tôn Giả cũng tác pháp như thế.
Đến thượng tầng, nơi chuyên thờ phụng các thánh tượng Mật giáo, Tôn
Giả cũng y theo nghi thức và kinh điển mà tác pháp. Dịch Sư thấy thế,
bèn hỏi Tôn Giả:
- Những bài kệ mà
Tôn Giả vừa tụng đọc đó, vốn xuất sanh từ đâu ?
Tôn Giả đáp:
- Những bài kệ này
chẳng xuất phát từ kinh luận nào cả, mà do lòng cảm kích, nên Ta tự
sáng tác ra để cúng dường.
Nghe lời này, biết
rõ Tôn Giả vốn đã thông đạt thiện xảo pháp Hiển-Mật, tức chính thật
là vị Pháp Vương, nên Dịch Sư càng thêm cung kính, cúng dường thâm
hậu, và thỉnh hỏi về lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Tôn Giả y theo ý muốn
của dịch sư Bảo Hiền mà giải thích tường tận; lời lời lưu loát như
dòng suối chảy. Dịch Sư lại hỏi:
- Bạch Tôn Giả !
Công đức của một vị đại thiện xảo như thế nào ?
Tôn Giả hỏi lại:
- Ông hỏi về công
đức cộng hay công đức bất cộng ?
- Bạch Tôn Giả !
Công đức cộng vốn thật là thiện xảo, còn công đức bất cộng thì như
thế nào ?
- Cũng giống như
thế. Ta vốn có hết tất cả thiện xảo công đức cộng cùng bất cộng.
Dịch Sư chưa từng
nghe ai dám nói lời này, nên tâm ngã mạn liền dứt bặt.
Lần nọ, Tôn Giả y
theo luật tạng, kinh tạng, luận tạng, và kinh điển Mật giáo mà vấn
nạn Dịch Sư. Dịch Sư đều nhất nhất đối đáp được. Tôn Giả vui mừng
bảo:
- Nếu biết ở Tây
Tạng có người như ông, thì Ta không cần đến đây !
Đêm hôm đó, tại
thượng trung hạ tầng, Dịch Sư phân làm ba nơi mà tu tập. Tôn Giả
biết dịch sư Bảo Hiền chưa dung hợp được hết tất cả sự và lý. Hôm
sau, Dịch Sư thưa hỏi về nhiều Mật pháp. Tôn Giả bèn cật vấn:
- Kiến giải của
Dịch Giả rất thâm sâu, nhưng nhiếp nơi một tòa, thì tu như thế nào ?
Dịch Sư thưa:
- Bạch Tôn Giả ! Y
theo nghi thức mà tu.
Tôn Giả chẳng vui,
bảo:
- Dịch Giả thua rồi.
Đất Tây Tạng vẫn cần đến Ta.
- Bạch Tôn Giả !
Thế thì phải tu bằng cách nào ?
- Dẫu trụ nơi nào,
cùng tu với ai, đều phải lấy giới luật làm nền tảng căn bản.
Dịch Sư nghe thế
bèn vui mừng vô hạn, tán thán:
- Đấng thiện xảo
Thiên Trung Thiên, tịnh thắng thân giới uy nghiêm, tự lợi lợi tha
đều viên mãn, xin hãy dạy đạo giải thoát cho con. Con dùng đuốc huệ
giáo lý, quán thấy mật đức của Ngài. Xưa kia vi bội ngôn giáo, nay
mới biết y theo giáo mà tu hành.
Nói kệ tán thán
xong, Dịch Sư cung kính cúng dường và cầu thỉnh Tôn Giả ban pháp
Thắng Lạc Luân theo thứ lớp, và cầu nguyện Độ Mẫu gia trì. Lúc được
Tôn Giả gia trì, tâm của Dịch Sư sanh thắng giải, bèn cúng dường cho
Tôn Giả hết mọi sở hữu. Dịch Sư tuy tham học với hơn bảy mươi vị đại
thành tựu và thông đạt kinh điển, nhưng thọ giáo mà tu hành, thì
khởi đầu từ lời dạy của Tôn Giả.
Bấy giờ, Tôn Giả
trước tác quyển Nhiếp Tam Muội Da Luận; Dịch Sư dịch ra chữ Tây Tạng
rất hay. Tôn giả bảo:
- Từ nay, Ông hãy
theo Ta mà phiên dịch kinh luận.
Dịch Sư chỉ đầu bạc
trắng của mình, rồi thưa:
- Bạch Tôn Giả !
Đầu con tóc bạc trắng như vầy, chỉ nguyện chuyên tu ! Xin Tôn Giả
hãy ban truyền Mật chú thần bí.
Tôn Giả bảo:
- Này Bảo Hiền !
Nhờ tích tụ bao công đức trong tiền kiếp, nên Ông được biết đến Phật
pháp, và đã được bao sư trưởng chỉ dạy chân nghĩa của Phật pháp.
Dòng suối cam lồ đó cũng đủ để chữa trị bao loại bịnh tật trên thế
gian này. Ông đã có ngọn đuốc chánh pháp chiếu tan đêm tối. Hãy giữ
tâm chân chánh đó. Chớ chạy theo những thần chú vô ích, và chớ bỏ
mất vật sở hữu vi diệu của Ông. Nỗi thống khổ của chúng sanh thật
nhiều vô lượng. Phải phát tâm lợi tha, tu hành vì lợi ích của chúng
sanh. Hãy đi thiền quán về những lời dạy cuối cùng này của Ta.
Dịch Sư y giáo
phụng hành, cho xây một am thất với ba cánh cửa. Nơi cánh cửa bên
ngoài, Dịch Sư viết: "Trong cánh cửa này, nếu khởi một tâm niệm đắm
chấp vào pháp thế gian, xin chư hộ pháp hãy chặt đầu thành trăm mảnh."
Trên cánh cửa ở
chính giữa, Dịch Sư viết: "Nếu có một tâm niệm ích kỷ nào khởi lên,
xin chư hộ pháp hãy chặt đầu thành trăm mảnh."
Trên cánh cửa ở bên
trong, Dịch Sư viết: "Nếu chỉ khởi một vọng niệm như phàm phu, xin
chư hộ pháp hãy chặt đầu thành trăm mảnh."
Viết xong, Dịch Sư
bèn đóng cửa thất, chuyên tu nhất tâm bất loạn suốt mười năm, và đạt
thành tựu.
Lần nọ, luật sư
Giới Thắng bảo vua Bồ Đề Quang:
- Tôn Giả chỉ trụ
lại Tây Tạng trong một thời gian ngắn. Xin Bệ Hạ hãy ban truyền sắc
lịnh rằng nếu ai muốn thỉnh pháp thì hãy mau đến cầu thỉnh.
Tôn Giả trú tại
chùa Vương Tự Trụ hơn sáu tháng, khiến mãn nguyện tâm ý của vua Bồ
Đề Quang. Bấy giờ, vua nước Ni Bạc Nhĩ và ba vị đại thiện xảo kiến
lập chùa Tỳ Ha La xong, nên cầu thỉnh Tôn Giả đến làm lễ khai quang.
Tôn Giả bèn tới chùa Kim Điện. Bấy giờ, Giới Thắng định cung thỉnh
Tôn Giả trở về lại Ấn Độ, nhưng chưa thấy điềm thọ ký của Bổn Tôn và
chư sư trưởng, nên đành đình hoãn lại.
Sự cung thỉnh Tôn
Giả sang Tây Tạng hoằng pháp được thành tựu phần lớn nhờ công lao
thiện xảo của đại sư Chủng Đôn Nhân Ba Khanh (93). Đại sư Chủng Đôn
Nhân Ba Khanh (94) vốn là đại đệ tử tiếp thọ tâm ấn của Tôn Giả. Đại
Sư sanh năm 1004; mẹ qua đời sớm, nên sống vớI bà mẹ ghẻ. Ngày nọ,
bà mẹ ghẻ đang vắt sữa bò. Đại Sư bị lãnh một trận đòn nhừ tử vì vô
ý để bò đá ngã bình sữa. Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng Đại Sư đã biết suy
nghĩ: "Tranh đấu với người thật chẳng thích thú gì."
Do nhân duyên đó,
Đại Sư quyết định bỏ nhà ra đi để tìm thầy học đạo giải thoát. Đến
Tiền Tạng, Đại Sư xin thọ ngũ giới với ngài Dạng Cần Ba. Tuy mới
mười lăm tuổi, Đại Sư đã muốn theo hầu ngài Bồ Đề Đồng Tử (95) nhưng
bị Ngài từ chối, hen hai năm sau đến gặp lại tại Tây Khương.
Vừa đúng mười bảy
tuổi, Đại Sư theo các thương gia để đến Tây Khương, theo hầu ngài Bồ
Đề Đồng Tử suốt mười chín năm để tu học thâm sâu tất cả các pháp về
Hiển giáo và Mật giáo.
Thường nhật Đại Sư
phải làm những công việc nặng nhọc như bửa củi, giã gạo, gánh nước,
chăn dê, v.v...; những lúc giã gạo, Đại Sư vẫn không rời các quyển
kinh luận mà vẫn luôn tinh tấn tu hành.
Đại Sư cũng thường
theo tam tạng pháp sư Thanh Lặt người Ấn Độ (96) để học chữ Phạn.
Nhờ sự nỗ lực tu hành không ngừng, chẳng bao lâu Đại Sư trở thành vị
học giả và dịch giả uyên thâm.
Đến năm Đại Sư được
ba mươi tám tuổi, ngài Bồ Đề Đồng Tử bảo:
- Nay ông có thể
đến gặp người cha của ông (97) được rồi !
Nói xong, ngài Bồ
Đề Đồng Tử ban cho Đại Sư kinh thư, ngựa, v.v... Chủng Đôn Ba liền
từ biệt thầy mình, đi về hướng Tây, rồi âm thầm dùng thiện xảo
phương tiện hỗ trợ Giới Thắng cung thỉnh Tôn Giả. Khi biết Tôn Giả
đã đến Tây Tạng, Đại Sư mau chóng đi về hướng bắc. Lúc đến Tiền Tạng,
Đại Sư dùng Phật pháp mà hóa độ được một vị quan ở đó. Ông quan này
bèn cung thỉnh Đại Sư và ngài A Lan Nhã (98) ở lại để thọ sự cúng
dường. Đại Sư bảo:
- Ông nên bỏ ác làm
lành, kiến lập chùa chiền để hoằng pháp. Sang năm sẽ có dịch sư
Thiện Huệ đến. Ông hãy thỉnh vị này ở lại truyền pháp. Nay Ta chẳng
được rảnh rỗi. Ông nên gấp rút đến vùng Nga Nhật, cung thỉnh chư đại
thiện xảo đến đây hoằng pháp. Đợi lúc trở về, Ta sẽ thọ sự cúng
dường của ông.
Kế đến, Đại Sư sang
yết kiến ngài Dạng Cần Bạc ở Tiền Tạng, rồi thưa:
- Nay do lời thỉnh
cầu của vua Bồ Đề Quang mà tôn giả A Để Sa đã đến Tây Tạng. Con sẽ
cung thỉnh tôn giả A Để Sa đến đây. Xin Đại Đức hãy cung nghinh Tôn
Giả.
Đại Sư lại đến gặp
Thích Ca Tự Tại, thưa:
- Khi tôi thỉnh tôn
giả A Để Sa đến, xin Ngài hãy xếp đặt đạo tràng, và khuyên dân Tây
Tạng hãy sang vùng Lạp Đóa (99) để ngưỡng đón tôn giả A Để Sa.
Thích Ca Tự Tại bảo:
- Ông hãy tận lực
mà cung thỉnh Tôn Giả. Tôi sẽ khuyên đại chúng sang đó mà ngưỡng
tiếp.
Vào năm 1044, Tôn
Giả đang trú tại vùng Bổ Nhượng (Spu Rans), Độ Mẫu hiện ra bảo:
- Ba bốn ngày sau,
sẽ có một người nọ tìm đến. Ông hãy gia trì cho người ấy.
Tôn Giả bèn chuẩn
bị bình nước quán đảnh gia trì, và để ngay đầu giường. Tới ngày đó,
Tôn Giả sai người ra ngoài chùa nghinh đón, nhưng gần tới trưa mà
vẫn chưa thấy ai đến. Do có lời cầu thỉnh, Tôn Giả rờI chùa để vào
thôn xóm thuyết pháp. Lúc đại sư Chủng Đôn Ba đến, liền được đưa vào
chùa. Đại sư Chủng Đôn Ba bảo:
- Ta phải mau kíp
đến yết kiến bậc tôn sư Đại Thừa !
Nói xong, đại sư
Chủng Đôn Ba vội đi vào thôn xóm, và gặp được Tôn Giả, rồi lập tức
đảnh lễ. Tôn Giả lấy tay xoa đảnh đầu, thuyết nhiều bài chú nguyện
kiết tường để gia trì. Kế đến, Tôn Giả dẫn đại sư Chủng Đôn Ba trở
về chùa, làm lễ quán đảnh gia trì, và ban cho thánh tượng Kim Cang
Diệu Kiết Tường. Bấy giờ đại sư Chủng Đôn Ba thỉnh hỏi:
- Bạch Tôn Giả !
Chư đại đức cao tăng ở Ấn Độ có nhiều chăng ? Con có thể dùng sở học
khi trước mà nhập vào đạo được chăng ? Nếu y theo Tôn Giả, thì phải
học như thế nào ?
Tôn Giả đáp:
- Chư đại đức cao
tăng ở Ấn Độ có rất nhiều. Lúc Ta rời Ấn Độ để sang Tây Tạng, tại
vùng Đông Ấn có ngài Bang Gia La, mỗi ngày đào tạo ra được một vị
đại thành tựu. Sở học trước kia của ông, chưa có thể nhập đạo, chỉ
phải thừa sự theo bậc tôn sư thì mới nhập đạo được. Nay ông nên y
theo Ta mà ở lại đây. Ông là đệ tử mà Bổn Tôn Độ Mẫu của Ta đã thọ
ký. Thế nên, nay Ta mới ban truyền giáo pháp và pháp quán đảnh cho
ông (100).
Hôm đó, có vị thí
chủ cúng dường cho đại sư Chủng Đôn Ba một chén dầu tô lạc; đại sư
Chủng Đôn Ba nhận lấy rồi cúng dường lại cho Tôn Giả. Từ đó, cho đến
lúc Tôn Giả viên tịch, hằng đêm đại sư Chủng Đôn Ba thường thắp sáng
ngọn đèn dầu tô lạc ở trên đầu giường của Tôn Giả.
Kế đến, đại sư
Chủng Đôn Ba hành trì theo bộ luật của Đại Chúng Bộ, và được Tôn Giả
ban truyền Mật pháp.
Trú tại Tây Tạng
gần mãn ba năm, Tôn Giả bèn định ngày giờ trở lại Ấn Độ. Đại sư
Chủng Đôn Ba tuy cầu thỉnh Tôn Giả lưu trú lại, nhưng chưa được hứa
khả. Dịch sư Giới Thắng vì lúc trước đã từng thệ nguyện với thượng
tọa La Na A Ca La, nên cũng muốn ngưỡng thỉnh Tôn Giả trở về Ấn Độ.
Vua Bồ Đề Quang tuy muốn Tôn Giả ở lại Tây Tạng, nhưng chưa dám cầu
thỉnh. Bấy giờ, thấy Tôn Giả chuẩn bị trở lại Ấn Độ, vua Bồ Đề Quang
thưa:
- Xin Tôn Giả hãy
ban cho con thêm một giáo pháp cuối cùng.
Tôn Giả bảo:
- Vì tri thức cạn
cợt của Ta, nên chẳng dám ban truyền giáo pháp cho nhà vua, một vị
thông minh tài trí vẹn toàn. Song, vì sự khích lệ của Bệ Hạ, Ta có
đôi lời nhắc nhở. Ước mong Bệ Hạ ghi nhớ ! Để thành tựu đạo quả giác
ngộ viên mãn thì vai trò sư trưởng là tối cần thiết để Bệ Hạ có nơi
nương tựa và học hỏi. Nếu chỉ có tri thức về Phật pháp thì chẳng đạt
được Phật quả mà cần phải tích lũy nhiều công đức thì đạo mới thành.
Phải nên tránh xa những nơi gây chướng ngại cho việc tu tập tâm tánh
và an trú những nơi có lợi lạc cho việc tích tụ công đức...
Sau này, do trí lực
thù đặc, nên đại sư Chủng Đôn Ba dùng phương tiện, xưng tán các đạo
tràng thù thắng ở Tiền Tạng như Lạp Tát, Tang Da, v.v... có các
thánh tượng của đức Như Lai, và tăng chúng rất đông. Kế tiếp, đại sư
Chủng Đôn Ba thưa rằng tăng chúng ở những nơi ấy đều ước muốn Tôn
Giả đến đó hoằng pháp. Tôn Giả nghe qua, lòng thấy vui nên bảo:
- Tăng chúng đông
đảo như thế, những nơi khác khó bì kịp. Đức Thế Tôn đã từng thọ ký
cho chư A La Hán trụ trì, thật là điều chẳng nghi ngờ.
Nói xong, Tôn Giả
liền hướng về Lạp Tát mà đảnh lễ, và bảo:
- Chư tăng nơi đó
ước muốn Ta đến, thì Ta cũng nguyện rằng sẽ vì họ mà đến.
Nghe lời này, đại
sư Chủng Đôn Ba liền cầu thỉnh Tôn Giả quay trở lại Tây Tạng, và
được Tôn Giả hứa khả. Dịch giả Giới Thắng lại bạch với Tôn Giả:
- Con không thể
xuống địa ngục. Con đã từng thệ hứa với thượng tọa Na La A Ca La là
phải đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ kia mà !
Đại sư Chủng Đôn Ba
chẳng màng đến lời này, liền gởi thơ tới Tiền Tạng báo tin cho A Lan
Nhã về ý định lưu lại Tây Tạng của Tôn Giả, và hối thúc A Lan Nhã
mau đến nghinh đón. Kế tiếp, đại sư Chủng Đôn Ba theo Tôn Giả tới
nước Ni Bạc Nhĩ làm lễ khai quang chùa Tỳ Ha La. Bấy giờ, dịch giả
Giới Thắng càng muốn đi gấp thì đại sư Chủng Đôn Ba lại càng muốn
trì hoãn lại. Những kinh tượng của Tôn Giả không được mang theo. Có
hơn hai mươi người đi theo Tôn Giả như dịch giả Giới Thắng, đại sư
Chủng Đôn Ba. Khi đến nước Ni Bạc Nhĩ, họ liền xây bốn cái tháp đen;
đại sư Chủng Đôn Ba xây một cái tháp trắng lớn, gọi là tháp Kiết
Tường; Giới Thắng cúng dường cho Tôn Giả và đại sư Chủng Đôn Ba một
thánh tượng Phật; đại sư Chủng Đôn Ba vẽ chân dung lớn của Tôn Giả,
Giới Thắng, vua Bồ Đề Quang, rồi giao cho vua nước Ni Bạc Nhĩ, để
tặng cho tăng chúng trong nước.
Lễ khai quang được
kéo dài trong vòng hai mươi hai ngày. Lúc trở về chùa Kim Điện, Tôn
Giả vì chúng hữu tình mà thuyết pháp. Dịch giả Giới Thắng nóng lòng
muốn đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ, nhưng vừa tới biên giới thì gặp nạn
binh đao, nên không thể thực hành theo dự định khiến lòng không vui.
Tôn Giả thấy vậy liền an ủi:
- Con đừng lo lắng
! Chiến tranh đã cản đường Ta trở lại Ấn Độ thì con đâu có tội gì !
Giới Thắng vui mừng
thưa:
- Vậy hôm nay con
xin thỉnh Tôn Giả trở về lại Tây Tạng.
- Đệ tử của ngài
Nõa Nhiệt Bạt (Naropa) là Trí Sanh Thiện Xảo (Jnanakara) có tu một
pháp của Bồ Tát Long Mãnh. Ta chưa thỉnh cầu được, thật tiếc thay !
Giới Thắng nghe thế
bèn ghi lại việc này. Bấy giờ, Tôn Giả ở lại vùng Mang Mãnh, và gởi
người sang Ấn Độ báo tin rằng chẳng thể trở về được vì chiến sự diễn
ra ở vùng biên giới. Ngoài ra, Tôn Giả cũng gởi về Ấn Độ quyển luận
Bồ Đề Đạo Đăng cùng vàng bạc được vua quan và quần chúng Phật tử Tây
Tạng cúng dường.
Đương thời, tại Ấn
Độ, mỗi khi vị luận sư nào trước luận giải xong, thì trình cho các
vị luận sư khác khảo nghiệm quyết đoán. Sau khi xét thấy quyển luận
có nội dung chân chánh và chẳng sai lỗi chánh tả, thì chư luận sư
bèn trình quyển luận đó lên cho quốc vương để được khảo sát rồi cho
ấn tống ra ngoài. Vị luận sư trước tác quyển luận đó sẽ được nhà vua
ban thưởng. Những quyển luận nào có nội dung tà vạy, sẽ bị buộc vào
đuôi chó. Kéo theo quyển luận và tên của vị luận sư, con chó chạy
khắp làng xóm. Thế nên, quyển luận và luận sư đó bị dân chúng khắp
nơi chế riễu. Nhà vua cũng được cầu thỉnh là chẳng nên phát hành
quyển luận đó.
Lúc quyển luận Bồ
Đề Đạo Đăng của Tôn Giả được gởi về Ấn Độ, chư luận sư hội họp với
nhau để kiểm duyệt quyển luận đó. Tất cả luận sư đều kinh ngạc và
rất khâm phục vì nội dung của quyển luận này hàm chứa hết giáo nghĩa
của ba tạng kinh điển. Họ đồng tán thán:
- Chẳng những tôn
giả A Để Sa vào Tây Tạng làm lợi ích cho dân Tây Tạng, mà cũng là
điều tốt cho người Ấn Độ. Nếu vẫn ở lại Ấn Độ, tôn giả A Để Sa có lẽ
sẽ không viết quyển luận ngắn nhưng rất có giá trị và hữu ích này.
Về sau, thượng tọa
La Na A Ca La viết thư và kể rõ những lời tán thán của chư luận sư
về quyển luận đó, cho chư đệ tử của Tôn Giả: "...Ta đồng ý việc Tôn
Giả ở lại Tây Tạng để làm lợi ích cho chúng sanh tại nơi đó. Ta chỉ
thỉnh cầu Tôn Giả hãy viết lời chú thích về quyển luận đó."
Lúc sống tại vùng
Mang Mãnh trong một năm, Tôn Giả cho xây chùa Bạch Tự, và đợi người
Tây Tạng đến nghinh đón. Bấy giờ, lúc nghe Tôn Giả giảng kinh, trong
đại chúng có người chớm nghĩ rằng Tôn Giả đã dùng chữ sai. Song, Tôn
Giả khoát tay bảo:
- Chẳng đúng ! Ta
chẳng hề có sai lầm. Có hay chăng, chính là các ông.
Điều này chứng minh
rằng Tôn Giả đã chứng đắc Tha Tâm Thông.
Đại sư Chủng Đôn Ba
nói với đại chúng:
- Vâng ! Chúng con
nhận thấy đó là sự sai lầm của mình. Tôn Giả có tha tâm thông biết
được tâm của người khác.
Khi ấy, Thích Ca Tự
Tại nhận được thơ của đại sư Chủng Đôn Ba xong, liền y theo trong
thơ mà thỉnh những vị đại đức đến bàn việc ngưỡng thỉnh Tôn Giả.
Trong thơ chưa nhắc đến tên của Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung, vị
thượng tọa của tất cả tăng chúng ở vùng Lô Mai (101); vị này rất
giỏi về các bộ luận Đối Pháp Câu Xá, và là bậc học giả vào đương
thời, danh vang đồng với dịch giả Thiện Huệ cùng đại sư Chủng Đôn Ba.
Người đương thời xưng tán là Khô (102), Nga (103), Chủng (104). Thấy
tên mình không có trong thơ của đại sư Chủng Đôn Ba, Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung chẳng vui, bèn đi ngưỡng tiếp Tôn Giả trước. Đại chúng
thấy Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung đã đi trước, nên cũng khởi hành vào
lúc buổi họp chưa tan. Cuối cùng họ đều đến chùa Bạch Tự, khiến Tôn
Giả vui mừng. Khi đó, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung hỏi đại sư Chủng
Đôn Ba:
- Sao trong thơ của
Ngài lại không có tên của tôi ?
Đại sư Chủng Đôn Ba
đáp:
- Đại thiện xảo
thanh tịnh, như dịch giả Thiện Huệ thảy, trong thư đều có.
Bấy giờ người Tây
Tạng thỉnh Tôn Giả ban pháp Phát Tâm. Họ lại trần thiết cúng dường
rất nhiều đồ vật. Tôn Giả xem thế, bảo:
- Cúng nhiều tức hạ
liệt, thật chẳng có lợi ích, khiến không thể phát tâm.
Thế nên, dịch giả
Giới Thắng liền thiết lập lại lễ vật cúng dường thượng diệu rồi cầu
thỉnh Tôn Giả truyền pháp Phát Tâm.
Lần nọ, đoàn người
đi qua Tiền Tạng, đến vùng Bạt Ma Bạt Đường, gặp thầy A Lan Nhã Giả
(105); vị này vốn muốn qua vùng Ni Bạc Nhĩ, để triều bái lạt ma Bàng
Đình Bạt Cẩn, nhưng lại gặp Tôn Giả, bèn đảnh lễ cúng dường, và thưa:
- Con vốn muốn đến
yết kiến lạt ma Bàng Đình Bạt Cẩn. Xin Tôn Giả từ bi gia trì, để
trên đường không gặp hoạn nạn.
Tôn Giả bảo:
- Hoạn nạn tất có,
nên chớ đi ! Ông hãy ở lại đây với Ta.
- Những sự thọ dụng
chưa hết, nên không dám thọ thực, mà chỉ muốn thỉnh pháp.
- Thức ăn của Ta
cũng có pháp. Nếu không dùng thì không có pháp.
A Lan Nhã Giả liền
dâng cúng hết mọi tư lương cho Tôn Giả, rồi nhận chức hương đăng;
chẳng bao lâu A Lan Nhã Giả xin nhập chúng để thỉnh pháp chuyên tu.
Lúc đến vùng Lạp
Đóa Ráng, sáu dịch sư như Cúng Đôn Vĩnh Trung, Ca Cách Ngõa, Cách
Ngõa Cần Bạc, Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại, Khô Đôn Chủ Vĩnh Trung, Thiện
Huệ đồng nghị luận bốn việc, và đem các việc đó mà thỉnh hỏi Tôn Giả
như:
1/ Nơi phương tiện
và huệ tùy dùng một chi (106) thì thành Phật được chăng ?
2/ Nơi nương y của
luật nghi Bồ Tát có phải là giới biệt giải thoát chăng (107) ?
3/ Chưa được sự
quán đảnh của Kim Cang A Xà Lê thì có thể làm vị Kim Cang Sư, giảng
thuyết kinh điển Mật Thừa được chăng ?
4/ Chưa được pháp
quán đảnh, có thể tu hành Mật chú được chăng ?
Tôn Giả bảo:
- Các ông không đủ
tâm trí. Xưa kia vua Bồ Đề Quang đã thỉnh hỏi, và Ta đã viết rõ ràng
trong quyển Bồ Đề Đạo Cự Luận. Trong đó cũng có những giải đáp về
các câu hỏi của các ông.
Nhờ thỉnh quyển
luận đó để xem, họ mới hiểu rõ tường tận hết mọi lẽ cùng được biện
tài vô ngại. Thật ra, Tôn Giả đã từng tuần tự giảng giải hay viết
luận trước rõ ràng hết mọi giáo nghĩa Phật pháp trong ba tạng kinh
điển. Tôn Giả giảng dạy rất nhiều kinh luận để tín chúng hiểu rõ
Phật pháp. Tôn Giả dạy chư cư sĩ làm cách nào để chân chánh quy y
Tam Bảo, giữ năm giới cấm. Tôn Giả dạy chư tỳ kheo làm thế nào để hộ
trì giới pháp. Đối với những người tu Mật Thừa, Tôn Giả chỉ dạy họ
tôn thủ tam muội da giới. Đối với người thường hành việc lành, Tôn
Giả chỉ dạy họ cách thức tích lũy và hồi hướng công đức. Tôn Giả chỉ
dạy cách thức tụng kinh cầu vãng sanh cho người vừa qua đời, cách
thức phục vụ chúng sanh, và cách thức phụng dưỡng người già yếu,
bịnh hoạn. Tôn Giả trải lòng từ bi đến với mọi loài cả cao lẫn thấp.
Về sau, A Lan Nhã
Giả tán thán:
- Trước khi Tôn Giả
đến đây, Phật giáo Tây Tạng rất quái lạ; tăng chúng đắp y ca sa ba
màu khác nhau. Song, nhờ lòng từ bi của Tôn Giả, chư tăng mới biết
rõ đường hướng nghiêm trì giới luật một cách chân chánh; từ nay
chúng ta phải tiến bước hành trì theo đường hướng đó.
Đến Ninh Thác, đoàn
người dừng chân và an cư tại nơi đó trong ba tháng. Bấy giờ, Tôn Giả
giảng quyển Hiện Quán Trang Nghiêm Luận và giảng về pháp tu của Tác
Bộ trong Mật Thừa, cùng pháp tu của Bồ Tát Quán Âm. Duyệt Pháp Tự
Tại tu trì trong sáu tháng, bèn thấy Bồ Tát Quán Âm mười một mặt
hiện thân thuyết pháp, rồi cầu thỉnh Tôn Giả truyền pháp tu Quán Âm
tướng phẫn nộ (108), cùng các pháp thủ hộ thậm thâm; Tôn Giả truyền
sáu câu thần chú. Vị này thưa rằng chưa đủ. Tôn Giả lại truyền pháp
Bất Động Tôn.
Đại sư Chủng Đôn Ba
cầu thỉnh Tôn Giả ban pháp đại gia trì; Tôn Giả ban truyền pháp Quán
Âm mười một mặt. Dịch sư Giới Thắng thỉnh Tôn Giả truyền pháp có thế
lực; Tôn Giả truyền pháp Diệm Mạn Đức Ca. Giới Thắng lại cầu thỉnh
các vị gần thành tựu truyền pháp Độ Mẫu.
Du Già Sư Bồ Đề Bảo
(1015-1078) sanh tại Tây Khương; lúc vị này gần trưởng thành, người
mẹ bảo:
- Mẹ sanh ra con
hầu mong con trở thành tăng sĩ; nay con nên đi xuất gia.
Do đó, Bồ Đề Bảo
vâng lời mẹ mà xuất gia, thân cận các vị giáo thọ sư, nhưng lại bận
làm công quả không rảnh để tu hành. Thấy tu hành như thế không mấy
lợi lạc nên bà mẹ đã khuyên Thầy đến Tiền Tạng để cầu pháp cũng như
cúng dường Thầy nhiều vải tơ trân quý. Sau ba ngày tiễn đưa, bà mẹ
thành tâm cầu nguyện:
- Nguyện cầu Thầy
vào Tiền Tạng gặp được thiện tri thức để được nhiếp thọ và được giáo
huấn, rồi y theo đó mà tu hành; mẹ nguyện tìm đến để cùng Thầy tu
đạo nhất thiết chủng trí.
Nói xong, bà mẹ
liền trở về nhà. Lúc đi về hướng tây, Bồ Đề Bảo gặp Tôn Giả. Biết vị
nầy là bậc pháp khí, nên Tôn Giả truyền pháp Kiến Lập Tam Muội Da
Vương.
Bồ Đề Bảo tu tập,
tụng niệm đến 1800 lần thì thấy vị Bổn Tôn hiện thân, nên từ đó hết
lòng làm đệ tử hầu cận Tôn Giả. Tôn Giả sang Hậu Tạng, làm lợi sanh
không thể kể xiết.
Ngoài ra, tại nơi
ấy, một sư cô đến lễ bái và cúng dường lên Tôn Giả một tượng người
kỵ mã bằng đá cẩm thạch đang cỡi một con ngựa bằng vàng. Tôn Giả
bảo:
- Hãy phụng dưỡng
những người yếu đuối bịnh hoạn. Hãy phụng dưỡng cha mẹ và người già
yếu. Đấy là Phật pháp. Nhờ hạnh lành này, sẽ tích tụ mọi công đức để
tu tâm Bồ Đề và tánh Không.
Chưa đến Căn Ba
Ráng Đường, Tôn Giả biết rằng có một nữ đệ tử vừa qua đời. Thế nên,
vừa đến nơi, Tôn Giả vội tới nhà bà ta và làm lễ an táng cho bà ta.
Lúc đoàn người đến
một ngọn núi ở Căn Ba Ráng Đường, Tôn Giả chỉ tay hỏi:
- Trên đó có gì vậy
?
Theo hướng ngón
tay, mọi người đều thấy ba đuờng cầu vòng chiếu trên đảnh núi; cảnh
vật trông đẹp tuyệt vời. Họ thưa:
- Đó là núi Lạp Tát
!
Tôn Giả bảo:
- Ở núi Lạp Tát,
trên các cành cây có cờ phướng, lại còn có gì chăng ?
Người Tây Tạng
tường thuật rõ ràng về sự tích của Lạp Tát. Tôn Giả bảo:
- Thật là một ngọn
núi hùng vĩ ! Nơi ba tầng trời trên vùng núi này, có rất nhiều Thiên
Tử và Thiên Nữ đang cúng dường Tam Bảo không dừng.
Lúc đến vùng Văn
Trà Na, Tôn Giả lấy y che đầu mà đi; khi đại chúng hỏi han cớ sự,
Tôn Giả bảo:
- Núi này thuần là
bảy loại châu báu làm thành; nếu nhìn xem thì sẽ sanh tâm tham
luyến.
Lúc đến vùng Khâm
Như, đoàn người gặp một cô dâu; cô ta vừa gặp Tôn Giả thì khởi tâm
tín phụng, nên dâng cúng hết tất cả đồ trang sức; lúc cô ta trở về,
người trong nhà nói lời dị nghị:
- Sao cô lại đem
hết mọi đồ vật quý báu để cho ông thầy Ấn Độ tham lam, thường chạy
theo tiền tài và danh vọng kia ?
Nghe lời này, cô ta
chẳng chịu nổi, nên nhảy xuống sông tự tử.
Khi đến vùng Dung,
nghe tin cô ta trầm mình tự tử, Tôn Giả than:
- Thật thương thay
cho đệ tử của Ta !
Tôn Giả trú lại nơi
đó năm đêm, thiết lập gia trì ấn tháp Tịnh Ác Thú Mạn Đà La; hành
xong, Tôn Giả bảo:
- Đệ tử của Ta đã
mãn nguyện rồi !
Lúc Tôn Giả trú tại
vùng Khâm Như, thầy Đức Thắng đến dâng cúng một chén dầu tô. Tôn Giả
thấy vị này có luân tướng, nên truyền pháp tụng niệm Đại Bi; vị này
tu hành chẳng bao lâu thì thấy Bổn Tôn hiển hiện. Lúc đến vùng Đóa,
trụ nơi Bắc Cương, Tôn Giả bảo:
- Nơi đây sẽ xuất
hiện một vị Bồ Tát có diệu tướng hy hữu.
Khi Tôn Giả trụ tại
vùng Tang Da, đại chúng thường vây nhiễu xung quanh. Lần nọ, Tôn Giả
muốn rửa tay, Du Già Sư nhìn diện mạo của Tôn Giả thì biết ý, nên
vội xuống ngựa đi lấy nước. Những người khác đều cười bảo:
- Này Bồ Đề Khương
(biệt hiệu của Du Già Sư) ! Không còn vật gì để cúng dường mà phải
lấy nước cúng dường chăng ?
Đáp:
- Bồ Đề tựa như bảo
châu, có đại huệ !
Tôn Giả vui mừng
bảo:
- A Mai (109) thật
là một người Ấn Độ.
Đến vùng Tang Da,
Tôn Giả trú tại Bắc Ca Châu (110), vua Bồ Đề Quang làm thí chủ; Tôn
Giả viết quyển Thứ Đệ Nghi Quỹ. Lúc Tôn Giả đến vùng Ca Khúc, Khô
Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung và Thiện Huệ thỉnh Tôn Giả giảng sáu bộ luận
về Trung Quán; Tôn Giả cũng truyền rất nhiều giáo pháp Mật Thừa bất
cộng cho đại sư Chủng Đôn Ba.
Lần nọ, đang đi
ngoài đường, Tôn Giả chợt nhìn lên bầu trời, bảo:
- Chư Thiên đến lễ
bái và cúng dường Ta.
Bấy giờ có hai tỳ
kheo đồng niên, đến trước mặt Tôn Giả; một tỳ kheo thưa:
- Tôn Giả muốn xem
nước biến hiện nơi tam ma địa chăng ?
Tôn Giả đáp:
- Muốn.
Vị đó liền phóng
luồng nước từ giữa chặng lông mày, rồi từ từ toàn thân biến thành
nước. Vị thứ hai thưa:
- Tôn Giả muốn xem
màu trắng biến xứ tam ma địa chăng ?
Tôn Giả đáp:
- Muốn.
Vị đó cũng phóng
luồng hào quang sáng trắng từ giữa chặng lông mày, rồi từ từ toàn
thân biến thành màu trắng. Họ lại xuất định, thu thần nơi chặng giữa
đôi mi. Tôn Giả tán thán:
- Tam muội này thật
hay !
Lúc đến Khâm Phác,
hai vị đó bảo nhau:
- Có muốn thấy
tượng Phật như huyễn chăng ?
Đáp:
- Muốn.
Vị nọ liền hóa hiện
trên hư không có mười phương chư Phật, đủ ba mươi hai tướng tốt.
Vị thứ hai bảo:
- Có muốn thấy tam
ma địa như huyễn chăng ?
Vị thứ nhất đáp:
- Muốn.
Vị thứ hai liền hóa
thân tượng Độ Mẫu, hiển hiện như thật. Khi ấy chỉ có Tôn Giả và thầy
Cầu Tịch là thấy rõ mọi sự việc.
Vào buổi cơm sáng,
Cầu Tịch nhìn trong đại chúng mà chẳng thấy hai vị tỳ kheo đồng niên
kia, nên thỉnh hỏi Tôn Giả:
- Không biết hai vị
này đi đâu mất rồi ?
Tôn Giả bảo:
- Chẳng bao lâu họ
sẽ nhập vào đại chúng mà dùng cơm. Đây là thọ thần và địa thần.
Lần khác, Tôn Giả
lên chánh điện ở thượng tầng mà đi nhiễu Phật; một ni sư già thấy
Tôn Giả đi trên hư không, nên nói với Du Già Sư. Du Già Sư kể lại
cho Thiện Huệ nghe. Khi Thiện Huệ đến hỏi han, Tôn Giả bảo:
- Mắt của ni sư già
kia nhìn lầm lộn rồi !
Vào một buổi tối
nọ, đang trú với Chủng Đôn Ba và Du Già Sư, Tôn Giả bảo:
- Có nghe chăng ?
Họ thưa:
- Chúng con chẳng
nghe gì cả ! Kính xin Tôn Giả nói cho chúng con hay !
- Âm thanh rung
linh cầu nguyện của chư đệ tử Ta tại Ấn Độ.
Bấy giờ Chủng Đôn
Ba chú tâm, nhưng vẫn chưa nghe.
Lần khác, có rất
nhiều vị ở chùa Tang Da cầu thỉnh Tôn Giả truyền pháp Phát Tâm. Vào
buổi chiều đó, các thiện tri thức đến thưa:
- Hôm nay có rất
đông chư Bồ Tát.
Tôn Giả bảo:
- Nếu bảo rằng Phát
Tâm Bồ Đề, thì trong đây chẳng có ai phát tâm Bồ Đề được.
Họ lại cầu thỉnh
Tôn Giả giải thích. Tôn Giả bảo:
- Vì chưa quy y và
cúng dường Tam Bảo.
Họ thưa:
- Nếu như thế thì
không thể truyền pháp sao ?
- Không thể truyền.
Người Tây Tạng sanh
tâm dị nghị. Thật ra, Tôn Giả muốn dạy họ về tầm quan trọng của việc
quy y cúng dường Tam Bảo và lý nhân quả. Vì thế, dân Tây Tạng xưng
tán Tôn Giả là vị Lạt Ma Quy Y và Nhân Quả. Nghe lời xưng tán này,
Tôn Giả bảo:
- Những lời xưng
tán đó giúp cho thánh giáo được lưu truyền mãi.
Khi ấy, trong tăng
chúng có các thiện tri thức cầu thỉnh Tôn Giả giảng Hiện Quán Trang
Nghiêm Luận và Nhị Vạn Tụng Hợp Thích. Kế đến, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh
Trung cầu thỉnh Tôn Giả sang vùng Nhã Lông, và xưng tán vùng đất
phước đức đó: Sự nghiệp lợi sanh rất lớn; mùa hạ an cư tại chùa Lạp
Đảnh; mùa đông trú tại chùa Đường Ma Già. Tôn Giả hứa khả. Khô Đôn
Tôn Chủ Vĩnh Trung liền tuyên bố trước đại chúng:
- Nay cung thỉnh
Tôn Giả đến vùng Nhã Lông. Ai muốn nghe giảng Nhị Vạn Tụng, hãy đến
vùng đó.
Bấy giờ, đại sư
Chủng Đôn Ba biết tâm ngã mạn của Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung rất
lớn, và chẳng thể dùng đồ thượng diệu để cúng dường Tôn Giả. Thế
nên, đại sư Chủng Đôn Ba nói riêng với các thiện tri thức ở Tây
Tạng:
- Nay tuy Tôn Giả
đến vùng Nhã Lông, nhưng Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung do tâm ngã mạn
quá lớn, nên chẳng thể thừa sự cúng dường Tôn Giả chu đáo. Sau này,
tôi sẽ thiết phương tiện mà ngưỡng thỉnh Tôn Giả trở lại chùa Tang
Da. Các vị nên mau kíp tới đó mà cung thỉnh Tôn Giả đến Nhiếp Tạng.
Các vị thiện tri
thức ấy biết rõ nên chấp thuận.
Khi Tôn Giả vừa đến
vùng Nhã Lông thì Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung thưa;
- Nơi đây có một gã
tự xưng là bậc đại trí, nhưng thật ra đang bị ma vương câu thúc. Xin
Tôn Giả hãy chiết phục gã ta để tránh việc tổn hại Phật pháp.
Tôn Giả bảo:
- Được !
Kế đến, theo lời
chỉ dạy đơn giản của Tôn Giả, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung gặp gã đó,
bảo:
- Hãy nói cho tôi
biết rõ về những đời tiền kiếp và vị lai của tôn giả A Để Sa.
Để đáp lời, gã nọ
chẳng ngập ngừng nói một tràng. Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung hỏi tiếp:
- Xin hãy nói rõ
rằng tôi đang ngậm vật gì trong miệng ?
Gã đó chẳng thể trả
lời; điều này chứng minh rằng gã ta vốn là kẻ ngu si dối trá. Tại
vùng đó, Tôn Giả chiết phục được rất nhiều tà sư ngoại đạo và những
tăng sĩ cống cao ngã mạn.
Khi Tôn Giả trụ tại
chùa Đường Ma Già ở Nhã Lông, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung đến cúng
dường hai lượng vàng, rồi cung thỉnh Tôn Giả giảng các pháp Hiển
giáo như Hiện Quán Trang Nghiêm, Nhị Vạn Tụng Hợp Thích, Biện Pháp
Pháp Tánh Luận, và cầu thỉnh thọ pháp tu hành Mạn Đà La cùng các Mật
pháp khác. Kế đến, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung không cùng trú tại
chùa Đường Ma Già với Tôn Giả mà rời nơi đó để tự trú tại chùa Lạp
Đảnh, và quả nhiên thiếu sự ân cần hầu hạ Tôn Giả, lại ghen ghét
Chủng Đôn Ba, phỉ báng Du Già Sư. Khi ấy, Du Già Sư bạch Tôn Giả:
- Nay Khô Đôn Tôn
Chủ Vĩnh Trung đã hủy báng, nên con không muốn thân cận Tôn Giả.
Tôn Giả chẳng cho.
Du Già Sư lại cầu từ biệt ba lần. Tôn Giả liền lấy chiếc mũ xuống
(111), rồi đặt trên tay của Du Già Sư, bảo:
- Ta sanh tại miền
đông Ấn Độ. Ông sanh nơi miền Tây Khương. Do nghiệp lực đời trước mà
gặp lại nhau. Hôm nay đầu Ta trắng xóa như thế này; ông sao đành bỏ
đi mà không muốn sống gần Ta ! Du Già Sư rơi lệ thưa:
- Nếu như thế thì
con xin nguyện hầu hạ Tôn Giả suốt đời này !
Tôn Giả bảo Chủng
Đôn Ba:
- Này Chủng Đôn Ba
! Ta thật có người đệ tử rất xứng đáng !
Bấy giờ, Khô Đôn
Tôn Chủ Vĩnh Trung có cả ngàn đồ chúng; thầy trò Tôn Giả chỉ có dưới
ba trăm người, nên đồ cúng dường rất ít oi thiếu kém. Tôn Giả bảo:
- Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung như Chuyển Luân Thánh Vương, còn Ta như gã dân hèn. Thọ
dụng của Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung như vua trời Đao Lợi; thọ dụng
của Ta không khác loài ngạ quỷ.
Đại Sư Chủng Đôn Ba
thưa:
- Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung không vui, nên con có thể trở về Tây Tạng được không ?
Tôn Giả bảo:
- Cận sự (112) đi
thì Ta cũng đi. Cận sự ở thì Ta cũng ở.
Thấy Tôn Giả chẳng
cho đi, nên đại sư Chủng Đôn Ba lại bạch:
- Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung quyết chẳng để Tôn Giả đi, nên phải lập phương tiện hầu
mong Tôn Giả đến vùng Nhiếp Đường; nơi đó núi có rừng cây; đất có
hoa tươi; tuy vào mùa đông giá lạnh, mà vẫn có hoa nở. Xin thỉnh Tôn
Giả đến đó.
Tôn Giả cười bảo:
- Nay Ta chẳng để
Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Ba có thiện xảo phương tiện. Hãy mau khởi hành
!
Tối hôm đó, thầy
trò Tôn Giả sắp xếp hành lý chuẩn bị khởi hành. Tôn Giả lại sai
người sang chùa Lạp Đảnh, bảo với Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung rằng
Ngài đã trở lại Tây Tạng rồi. Tôn Giả dùng định lực mà gia trì cho
họ. Y theo lời dạy của Tôn Giả, họ đến chùa Lạp Đảnh. Lúc họ chưa
lên núi, thì những người trong chùa đã biết tin, nên muốn báo cho
Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung biết. Song, ngày đó Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh
Trung vì có việc bận rộn, nên đóng cửa phòng. Họ liền đứng bên ngoài
kêu lớn:
- Nay Thầy tự ý
sống biệt lập; Thầy có hay Tôn Giả đã bị Chủng Đôn Ba cướp mất rồi
không ?
Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung nghe thế, nên kinh hoàng vội vàng cỡi ngựa chạy đuổi
theo. Đồ chúng của Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung cũng chạy đuổi theo
kịp. Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung bảo đồ chúng:
- Bắt được Chủng
Đôn Ba thì hãy đánh !
Đến bến đò cửa sông
Văn, Tôn Giả sợ Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung tạo những việc bất lợi,
nên bảo Chủng Đôn Ba hãy đi trước, rồi cùng với đồ chúng từ từ lên
thuyền mà sang sông. Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung chạy đuổi đến, rồi
kêu gấp:
- Sao Tôn Giả không
cáo từ với đệ tử ? Tôn Giả không niệm tình đệ tử sao ?
Tôn Giả cười đáp:
- Ngươi có niệm
tình Ta đâu ?
Ngựa của Khô Đôn
Tôn Chủ Vĩnh Trung bị trượt chân xuống nước mà chết. Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung muốn phỉ báng Du Già Sư nhưng không nói được, lại nóng
lòng muốn thỉnh Tôn Giả trở về. Tôn Giả bảo:
- Này vị đại Thiện
Xảo ! Chớ nói lời đó !
Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Ba thưa:
- Con xin nguyện
thừa sự cúng dường Tôn Giả.
Tôn Giả lấy mũ
xuống quăng đi. Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung chẳng còn lời nào để nói,
chỉ còn biết nhặt mũ dâng lên Tôn Giả rồi quay về.
Tối hôm đó, Chủng
Đôn Ba trú tại vùng Ca Khúc; Tôn Giả trú tại vùng Văn Địa.
Lúc đến chùa Tang
Da, Tôn Giả đọc duyệt lại các kinh luận chữ Phạn, rồi bảo:
- Do nạn binh lửa,
tại Ấn Độ chẳng còn các quyển kinh luận này. Trái lại, nơi đây còn
có rất nhiều. Điều này chứng minh rằng Phật pháp đã từng hưng thịnh
một thời.
Về sau, Tôn Giả sao
chép lại các quyển kinh luận như Minh Hiển Trung Quán Luận, kinh Hoa
Nghiêm, v.v... gởi về Ấn Độ. Lúc trú tại chùa Tang Da, có A Khách
làm thí chủ, Tôn Giả giảng Bát Thiên Tụng.
Bấy giờ, có những
ngoại đạo đến quấy rầy Tôn Giả bằng cách đọc tụng những lời bẩn
thỉu. Một gã nọ bảo:
- Ông tỳ kheo (113)
này chẳng dạy được điều gì cả. Các dịch giả của ông ta chẳng dịch
được gì cả. Ông ta chẳng có thời giờ để giảng dạy. Nhà vua cũng
chẳng hiểu biết gì cả.
Một gã khác bảo:
- A Để Sa chẳng có
thời giờ để cầu khẩn thánh thần. Vị vua trẻ suốt ngày bận rộn hành
những nghi lễ phiền toái, nên chẳng có chút thời giờ để suy nghĩ.
Một gã khác viết:
"Từ khi đến Tây Tạng, A Để Sa chỉ gieo bao tai họa chứ chẳng truyền
bá đạo pháp gì cả."
Tôn Giả nghe những
lời này bảo:
- Phải tránh xa
những lời thách thức hèn hạ đó cả trăm do tuần.
Lúc được thính
chúng hỏi về đời vị lai, Tôn Giả đáp:
- Ta phải nói gì
đây ? Song, điều chắc chắn là Ta sẽ không tái sanh ở Tây Tạng.
Khi họ hỏi lý do
tại sao như thế, Tôn Giả đáp:
- Người Tây Tạng
các ông chẳng biết lễ kính bậc sư trưởng, và chẳng biết cách chân
thật cúng dường Tam Bảo.
Lần nọ, Tôn Giả
cũng bảo Chủng Đôn Ba:
- Người Tây Tạng
các ông chẳng biết tôn trọng cung kính bậc sư trưởng. Các ông nghĩ
rằng sư trưởng chỉ là người phàm phu !
Khi ấy, vị quan ở
Tiền Tạng lúc trước được đại sư Chủng Đôn Ba hóa độ, nay sai người
đến nghinh đón Đại Sư. Đại Sư bảo:
- Nay Ta chẳng có
thời giờ rảnh rỗi. Tôn Giả còn trụ thế, nên việc thừa sự Tôn Giả là
trọng yếu nhất. Đến khi nào Tôn Giả viên tịch, và nếu không gặp hoạn
nạn, Ta sẽ thọ sự cúng dường.
Đại Sư lại viết ba
mươi sáu bài kệ tụng, và gởi cho Diệu Kiết Tường Kim Cang Tượng để
làm chứng tín.
Kế đến, đại sư
Chủng Đôn Ba đem hai trăm con ngựa tới, cung thỉnh Tôn Giả đến Lạp
Tát. Bấy giờ, dân chúng thấy trâu ngựa đi theo Tôn Giả rất đông, nên
bàn tán dị nghị cho là quá tham lam. Chư đệ tử thưa:
- Bạch Tôn Giả !
Sao không bán các con ngựa đó ?
Tôn Giả bảo:
- Các ngươi có bán
được cha mẹ chăng ?
Lúc đi đến gần vùng
núi Tang Da, thầy trò trú qua đêm. Tôn Giả bảo:
- Con ngựa già thật
đáng thương !
Nói xong, Tôn Giả
đi ra xem thấy một con ngựa già bị té quỵ xuống một hang hố, bèn bảo
đồ chúng cứu nó lên. Mỗi khi gặp trâu dê, Tôn Giả đều bảo chúng:
- Nguyện cho các
ngươi được an lạc !
Có người hỏi Tôn
Giả:
- Sao Tôn Giả có
những cử chỉ thương mến súc vật như thế ?
Tôn Giả đáp:
- Ta có lòng thương
trải đến súc vật cũng như loài người.
Đến bất cứ nơi nào,
Tôn Giả đều vuốt ve lo lắng chăm sóc cho súc vật, bảo:
- Cầu nguyện đời
sau các ngươi sẽ tái sanh vào những cõi lành hơn.
Đối với quan niệm
của dòng quý tộc Tây Tạng, những cử chỉ vưốt ve và nói chuyện với
súc vật như thế thật chẳng có phẩm cách. Thế nên, Khô Đôn Tôn Chủ
Vĩnh Trung thưa:
- Kính xin Tôn Giả
hãy hành như người thuộc dòng quý tộc. Xin chớ vuốt ve hay nói
chuyện với súc vật như thế.
Tôn Giả bảo:
- Đối với Ta, niềm
thương súc vật được xếp hàng đầu, còn lòng thương dòng quý tộc Tây
Tạng chỉ là thứ yếu. Ta rải tâm từ bi mạnh mẽ hơn đến với những loài
yếu đuối.
Xưa kia, lúc ở chùa
Tỳ Trát Ma Thi La, Tôn Giả thường lo lắng chăm sóc một con chó nằm
dưới cầu thang mà Tôn Giả thường bước qua lại. Kết quả, con chó đó
sau này tái sanh thành một họa sĩ, rồi theo Tôn Giả xuất gia làm tỳ
kheo. Vị thầy này có lần yêu cầu Kim Cam Thủ:
- Xin hãy đoán về
tương lai của tôi.
Ngài Kim Cang Thủ
đáp:
- Ông thân cận gần
gũi với tôn giả A Để Sa, vậy hãy hết lòng cung kính hầu hạ Tôn Giả.
Hãy cố gắng vẽ chân dung của Tôn Giả càng nhiều càng tốt để tạo
phước báo.
Lúc đến chùa Cổ Bì,
Tôn Giả trú qua nửa tháng. Kế đến, dịch giả Thiện Huệ cung thỉnh Tôn
Giả tới Lạp Tát. Bấy giờ, Bổn Tôn Đại Bi hóa hiện thân phàm phu,
cung ngưỡng và tán thán Tôn Giả:
- Lành thay ! Lành
thay ! Vị Đại Thiện Xảo !
Nói xong, vị này
liền biến mất. Tôn Giả vội xuống ngựa, nhưng chẳng gặp. Khi chư đệ
tử hỏi han cớ sự, Tôn Giả bảo:
- Các ông có thấy
vị đó không ?
Họ thưa:
- Bạch Tôn Giả !
Thấy ai vậy ?
- Vị đó chính là
Bổn Tôn Đại Bi. Ta muốn đảnh lễ mà chẳng kịp.
Khi Tôn Giả vừa đến
chùa Đại Chiêu, thì một người đàn ông râu dài cao lớn hiện trước
cổng chùa hoan nghinh:
- Cung nghinh vị
đại sĩ ! Nguyện Ngài chóng đạt quả vị tối thượng.
Tôn Giả thấy vị
này, bèn bước đến. Song, vị đó quay đầu lại đi trở vào chùa và nhập
vào thánh tượng Bồ Tát Quán Âm. Thế nên Tôn Giả bảo:
- Nơi đây, Ta được
đảnh lễ các tôn tượng và được gặp Bồ Tát Quán Âm. Lúc lễ bái thánh
tượng Phật Thích Ca, Tôn Giả bảo:
- Đây chính là hóa
thân chân thật của đức Phật.
Nói xong, Tôn Giả
bảo các họa sĩ người Ấn Độ họa vẽ lại chân dung của thánh tượng đó.
Họ vẽ xong, Tôn Giả bảo:
- Chẳng giống.
Họ vẽ lại bảy lần,
Tôn Giả mới bảo:
- Nay mới phảng
phất giống thánh tượng Thích Ca.
Tôn Giả giữ lại bản
vẽ rồi tự thân cúng dường; bổn ý Tôn Giả muốn gởi về Ấn Độ nhưng
không được, nên đành để bức tranh đó lại Nhiếp Tạng.
Lúc đi ngắm xem
cảnh chùa Đại Chiêu, Tôn Giả kinh ngạc:
- Làm sao người Tây
Tạng có thể xây được một ngôi chùa trang nghiêm tráng lệ như thế !
Vừa suy nghĩ xong,
Tôn Giả chợt thấy một bà lão rách rưới điên khùng; có khi bà ta thị
hiện tánh tham dục không chán; đôi khi bà ta thị hiện bố thí đồ vật
tùy theo sở thích của người; bà ta bảo Tôn Giả:
- Ông có muốn biết
về lịch sử của ngôi chùa này chăng ?
Tôn Giả biết đây là
Tự Tại Du Già Mẫu, nên quán tưởng đảnh lễ cúng dường, và đáp:
- Thật đúng như ý
nguyện !
Bà ta bảo:
- Quyển sách ghi về
lịch sử của ngôi chùa này được chôn sâu độ hai ba khỷu tay ở ngay
cổng chùa. Ông chớ nói việc này với người khác.
Tôn Giả bèn đến nơi
đó, đào lên được quyển sử đó. Bấy giờ, một vị đại thiện thần hộ pháp
của ngôi chùa đó, báo mộng rằng Tôn Giả chỉ được sao chép trong vòng
một ngày. Thức dậy, Tôn Giả bảo Chủng Đôn Ba, Thiện Huệ, Du Già Sư
sao chép lại. Song, họ chỉ sao chép lại được phân nửa, vì chữ viết
trong quyển đó không rõ. Quyển này Tôn Giả giao cho Du Già Sư cất
giữ; đến thời Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm, vị này y theo quyển đó mà
viết thành quyển Đại Chiêu Chí.
Lúc đến chùa Hoan
Hỷ Quang Huy Châu (114), Tôn Giả giảng vô lượng giáo pháp Hiển-Mật
cho chư thiện tri thức ở khắp bốn phương. Bấy giờ, dịch giả Thiện
Huệ làm thượng thủ, cung thỉnh Tôn Giả giảng Trung Quán Tâm Luận
(115), và tự ghi chép lại lời giảng giải của Tôn Giả mà viết thành
hai loại luận quảng và lược, rồi trình lên cho Du Già Sư xem. Du Già
Sư bảo:
- So với lời giảng
dạy mà Tôn Giả ban truyền riêng cho tôi, thì những lời này thật rất
thâm sâu.
Lúc Tôn Giả trú tại
Lạp Tát, dân chúng Tây Tạng tin rằng nhờ phước đức của Tôn Giả mà họ
được trúng mùa cũng như có rất nhiều điềm lành xuất hiện.
Khi hoằng pháp tại
Lạp Tát, Tôn Giả thấy có rất nhiều hiện tướng hy hữu. Tôn Giả lại
gặp vô lượng Du Già Mẫu, và cũng gặp một vị đại A La Hán; vị A La
Hán đó bảo rằng Lạp Tát là một khu rừng hoang dã lớn, và đặc biệt là
nơi tu hành Mật pháp thù thắng. Bấy giờ, Tôn Giả hoan hỷ trú trong
chùa Đại Chiêu, ngày tháng tu hành, tâm không thấy chán.
Khi ấy, dịch sư
Thiện Huệ nhớ lại việc xưa ở chùa Tang Da, nên đặc biệt chú ý, và
thật thấy Tôn Giả đi trên hư không, chân chẳng chạm đất, bèn bạch
Tôn Giả:
- Xưa kia, tại chùa
Tang Da, ni sư già thanh tịnh thấy rõ việc Tôn Giả đi trên hư không.
Nay con cũng thật thấy việc này !
Tôn Giả bảo:
- Lúc trước, tại Ấn
Độ, chư sư cũng thường nói lời này (116).
Đại sư Chủng Đôn Ba
cũng thường thấy Tôn Giả hiển hiện thần thông như đi trên hư không,
biến hình vào lỗ của một cây tre nhỏ.
Bấy giờ, Chủng Đôn
Ba làm thượng thủ; chư thiện tri thức ở Tây Tạng cung thỉnh Tôn Giả
dạy pháp đi nhiễu Phật. Tôn Giả bảo:
- Thiện căn của chư
hữu tình được phát triển, không gì lớn bằng việc đi nhiễu Phật.
Tôn Giả lại giảng
về lịch sử của các vị hành giả Ấn Độ; do đi nhiễu thành quách, tự
viện, thánh tượng Phật và Bồ Tát mà đắc đại thành tựu.
Vào buổi sáng nọ,
Tôn Giả bảo Du Già Sư:
- Có một Du Già Mẫu
đang đến.
Du Già Sư hỏi:
- Sao Tôn Giả biết
?
- Chư Thiên đang
cung nghinh ở trên hư không.
- Du Già Mẫu đó là
ai ?
- Là bà lão nghèo
cùng, có lúc cười, có lúc khóc.
Du Già Sư bèn vội
chạy ra xem, nhưng bà ta đã đi mất.
Trú tại Lạp Tát qua
một mùa đông, thì có Bồ Đề Bổn cùng bảy thiện tri thức đến cung
thỉnh Tôn Giả tới vùng Da Bạt để giảng Mật pháp.
Khi ấy, Dạng Tôn A
Khuyếch Bạt tới thừa sự cúng dường, cầu thỉnh Tôn Giả ban giáo pháp.
Tôn Giả bảo:
- Này Thiện Nam Tử
! Thọ mạng của ông rất ngắn, sở tri lại rối rắm, chỉ nên nghe ít lời
giảng giải; ông nên cố gắng tu hành thiền quán, thì kéo dài tuổi
thọ, và tự thắp sáng ngọn đuốc trí huệ trên con đường cầu đạo giác
ngộ.
Lần nọ, có một ni
sư đem lễ vật đến cúng dường Tôn Giả và thị tịch cùng ngày. Hôm sau,
Tôn Giả bảo Du Già Sư:
- Ni sư kia đã tịch
mất.
Du Già Sư thưa:
- Hôm qua vừa mang
lễ đến cúng dường, sao nay đã tịch mất ?
- Bà ta đã vãng
sanh lên cõi trời. Nay lại đến cúng dường cảm tạ.
Đương thời, đại sư
Chủng Đôn Ba đi khắp nơi tìm lễ vật cúng dường, được tài vật rất
nhiều, rồi cúng dường hết cho Tôn Giả, như 108 lạng vàng ròng, hai
mươi mốt con ngựa, cùng cả 108 loại lễ vật khác. Từ khi đến Tây
Tạng, chưa bao giờ trong một ngày Tôn Giả được cúng dường nhiều tài
vật như thế (117). Bấy giờ Chủng Đôn Ba thỉnh hỏi về công đức của
Tôn Giả, rồi ghi chép thành truyện, cùng tạo kệ tụng tán thán. Tôn
Giả lại lược thuật về các việc khổ hạnh chuyên tu hành xưa kia của
mình, và bảo:
- Các ông đã không
lao nhọc tu hạnh khó hành, mà lại được nghe pháp thậm thâm, đạt
nhiều lợi ích lớn. Do nhân duyên may mắn như thế, hãy nên cố gắng tu
trì.
Tôn Giả lại lược
thuyết sự tích của Thiện Tài Đồng Tử, Tát Đà Ba Lôn, Bồ Tát Pháp
Thượng, và bảo:
- Các bậc sư trưởng
chẳng còn tham dục, nên khiến người thừa sự cúng dường được nhiều
phước đức duyên lành.
Lần nọ, Ca Ngõa
Thích Ca Tự Tại cung thỉnh Tôn Giả đến vùng Lăng Bạt ở một tháng.
Lần khác, đang giảng kinh, Tôn Giả chợt bước xuống tòa. Chủng Đôn Ba
hỏi:
- Vì việc gì mà Tôn
Giả bước xuống pháp tòa ?
Tôn Giả niệm: "Nam
mô Phật Đà Da; nam mô Đạt Ma Da; nam mô Tăng Già Da", rồi bảo Chủng
Đôn Ba:
- Này Cận Sự ! Nơi
đây có một đại "Phi Nhân", phải nên hàng phục !
Bấy giờ có "Phi
Nhân" tên là Chẩn Ca, muốn ám hại Tôn Giả nhưng không thành. Tôn Giả
dùng pháp Mã Đầu Minh Vương mà hàng phục "Phi Nhân" đó.
Trở về Da Bạt, Tôn
Giả lại được Bảng Đôn thỉnh đến Nhiếp Đường. Khi ấy, có các vị đại
nhân Tây Tạng đến Nhiếp Đường thỉnh Tôn Giả ban pháp, khiến đoạn trừ
nghi hoặc; tất cả cư sĩ đều giữ gìn giới cấm; tất cả Mật Sĩ đều trụ
nơi tam muội da. Tóm lại, Tôn Giả đã an lập chư tăng và kẻ phàm quay
về quy y Tam Bảo; vì vậy, mọi người đều xưng tán Tôn Giả là Tam Quy
Y Giả (118). Lúc đến vùng Nga Nhật, Tôn Giả tuyên thuyết các loại
pháp về nghiệp quả; thế nên, mọi người lại xưng tán Tôn Giả là
Nghiệp Quả Giả.
Lần khác, có bốn
đại thiện tri thức như Dạng Na Khung Đôn thảy, đến cung thỉnh Tôn
Giả thuyết pháp. Khi ấy, Tôn Giả đang ngồi thiền quán. Sau khi đứng
dậy, Tôn Giả nhìn họ rồi thốt lời:
- Dường như trước
mặt Ta là những vị đại thiện tri thức của Tây Tạng.
Họ thưa:
- Chúng con đến đây
để cầu thỉnh Tôn Giả giảng giải về các phương pháp nhiết tâm thiết
yếu.
Tôn Giả bèn giải
thích cho họ nghe về sự khác biệt giữa Phật giáo và ngoại đạo, và
bảo:
- Nói chung, có rất
nhiều phương pháp nhiếp tâm. Song, quý vị nên có chánh kiến về một
phương pháp nhiếp tâm chính yếu. Đối với những phương pháp nhiếp tâm
khác, chỉ cần biết rõ cốt tủy của chúng là đủ rồi.
- Xin Tôn Giả hãy
giảng giải cho chúng con về phương pháp nhiếp tâm chính yếu đó. Lại
nữa, làm thế nào để chúng con tu học ngắn gọn về những phương pháp
nhiếp tâm khác ?
Tôn Giả bảo:
- Phương pháp nhiếp
tâm chính yếu vốn là phát khởi tâm từ bi. Phải dùng tâm từ bi, trải
rộng khắp tất cả năm loài hữu tình; do không đành lòng nhìn xem sự
thống khổ của họ, nên phải phát tâm Bồ Đề; được như thế thì hành giả
mới đầy đủ hai tư lương Phước Huệ; nhờ đó mà sanh thiện căn, rồi hồi
hướng tất cả công đức đến mọi loài hữu tình. Kế đến, tu nội ngoại
giáo pháp, như huyễn như mộng. Phải nhiếp tất cả tâm yếu như thế...
Bấy giờ có một vị
tên là Bảo Sư thỉnh hỏi Tôn Giả về pháp phương tiện chẳng gia công
thêm sự tu hành mà thành Phật. Tôn Giả bảo:
- Ta cũng muốn
giảng về việc này. Song nếu chưa đủ hai tư lương phước huệ mà cũng
đạt được Phật quả thì điều đó Ta chưa từng biết đến.
Khi ấy, các vị
thiện tri thức muốn cầu thỉnh Tôn Giả ban truyền giáo pháp. Dạng Na
Khung bảo:
- Dẫu thỉnh cầu
pháp gì, Tôn Giả chỉ dạy tu phát tâm Bồ Đề mà thôi.
Tôn Giả nghe lời
này, bảo:
- Dạng Na Khung nói
đúng. Chẳng những người Tây Tạng mà người Ấn Độ cũng thường thích
được ban truyền giáo pháp, nhưng lại chẳng muốn thực hành. Những
người như các ông chẳng tin vào sự cao thượng lớn lao của tâm Bồ Đề.
Tôn Giả cũng thường
nhấn mạnh chính vào tâm Bồ Đề. Trong một quyển luận, Tôn Giả viết:
"Con kính lễ tâm Bồ Đề. Chỉ có tâm Bồ Đề mới diệt trừ bao nỗi thống
khổ và cứu giúp chúng sanh ra khỏi biển sanh tử luân hồi. Tâm Bồ Đề
mang chúng sanh lên quả vị Phật."
Lúc Tôn Giả còn ở
lại vùng Nhiếp Đường, có một vị đại thành tựu người Ấn Độ đến viếng
thăm. Tôn Giả cùng vị này vui vẻ đàm đạo suốt đêm. Sáng hôm sau, đại
sư Chủng Đôn Ba thỉnh hỏi:
- Tôn Giả chắc rất
vui mừng khi gặp vị pháp hữu từ cố hương đến viếng thăm. Chúng con
nghe Tôn Giả vui cười rất nhiều. Vậy vị này mang tin gì đến ?
Tôn Giả bảo:
- Đúng ! Có một
việc rất đáng buồn cười ở Ấn Độ. Một Du Già Sư tu pháp Hô Kim Cang
tuyên bố rằng đã chứng quả Tu Đà Hoàn (119). Dẫu người này thực đã
chứng quả Tu Đà Hoàn, thì điều này chứng minh rằng ông ta chẳng phát
tâm Bồ Đề cầu giác ngộ, mà chỉ hành theo giáo pháp Tiểu Thừa.
Lần nọ, đại sư
Chủng Đôn Ba tự trình kiến giải của mình về chánh nghĩa của phái
Trung Quán-Nguyệt Xưng cho Tôn Giả nghe:
- Thật khó lòng
hiểu hết tám mươi bốn ngàn pháp môn. Vì vậy, con chỉ thiền quán thâm
sâu về lý giải của Tánh Không.
Tôn Giả liền hướng
về phía đông, chắp tay mà nói:
- Hiện tại ở miền
đông Ấn Độ cũng còn duy trì kiến giải này. Đất Tây Tạng có đại hữu
tình như ông, nên phước báo thật chẳng tệ bạc; nếu biết như thế, Ta
cũng chẳng cần đến đây.
Nói xong, Tôn Giả
lại ban truyền giáo pháp về chánh kiến của phái ngài Nguyệt Xưng cho
đại sư Chủng Đôn Ba.
Ngày nọ, Tôn Giả
chợt hỏi đại sư Chủng Đôn Ba:
- Xưa kia ông bảo
rằng vào mùa đông hoa vẫn nở; vậy hoa đó ở nơi đâu ?
Đại sư Chủng Đôn Ba
liền thỉnh mời Tôn Giả đến một vùng bình nguyên ấm áp. Nơi đó, đại
sư Chủng Đôn Ba nhặt lấy một cành hoa cỏ nhỏ, rồi dâng lên cho Tôn
Giả. Tôn Giả hoan hỷ bảo:
- Ông thật giỏi
phương tiện, nên chẳng thành vọng ngữ !
Nhân dịp đó, Tôn
Giả giảng về phước đức cúng hoa, và răn nhắc rằng không được cúng
dường Tam Bảo các loài hoa độc. Tôn Giả lại nói về loại hoa sen
xanh; lúc có gió lớn thì không thể khai nở. Tôn Giả bảo:
- Ông thích hoa như
thế này, thì phải gia trì cho vùng này, khiến hoa được khai nở.
Lần nọ, Tôn Giả
bảo:
- Hôm nay Ta không
muốn tiếp khách. Chớ cho người vào đây.
Ngày đó có một kẻ
lạ mặt, tự xưng là đem lễ vật cúng dường từ Ấn Độ sang để dâng cho
Tôn Giả. Khi chư đệ tử Tôn Giả đang thâu nhận lễ vật cúng dường thì
kẻ lạ mặt vội lấy từ sau lưng ra bàn tay sắt, rồi phóng nhanh vào
phòng Tôn Giả ở để ám hại, nhưng không đạt kết quả. Tôn Giả bảo đại
chúng rằng kẻ đó là ngoại đạo ở Ấn Độ, vì muốn ngăn trở sự hoằng
dương Phật pháp của Tôn Giả mà định ám hại.
Ngày khác, hai vị
tỳ kheo Tiểu Thừa Ấn Độ, có đủ mười hai loại phước đức, đến tham
bái, thỉnh hỏi pháp nghĩa. Lúc Tôn Giả giảng giải về pháp Bổ Đặc Già
La Vô Ngã, rồi đến pháp Vô Ngã, thì hai vị tỳ kheo đó bịt tai bảo:
- A Để Sa chớ nói
lời đó. Kinh sợ thay ! Kinh sợ thay !
Tôn Giả bảo:
- Chưa tích tụ và
tu tập đủ tư lương thù thắng thì không thể kham nghĩa Chân Không.
Song, hộ giới thanh tịnh không ai sánh bằng (120).
Lần nọ, có người do
các đệ tử Tôn Giả ở Ấn Độ phái đem đồ cúng dường đến, Tôn Giả hỏi:
- Gần đây Ấn Độ có
việc hy hữu gì mới chăng ?
Họ thưa:
- Có một vị Du Già
Sư kiến lập một ngôi am thất nhỏ tại một cung thành lớn; qua mười
hai năm tu hành, thì đắc đại thành tựu. Hiện tại hóa thân vô lượng,
y theo lòng từ bi mà thuyết pháp. Lại có một vị Du Già Mẫu cúng
dường năm Mạn Đà La; từ các Mạn Đà La đó, xuất hiện hoa sen; hoa sen
nở trong bảy ngày mà không tàn, v.v...
A Lan Nhã Giả tu
hành tại Ngưỡng Ca Ma; vào đêm nọ chợt nghe một tiếng nổ to, rồi
thấy một con bò cạp lớn, bò đến định chích. Lúc A Lan Nhã Giả cầu
nguyện Tôn Giả cứu giúp, thì con bò cạp đó chợt biến mất. Sáng hôm
sau, Tôn Giả hỏi A Lan Nhã Giả:
- Đêm hôm qua ông
kêu Ta làm gì ?
A Lan Nhã Giả chợt
giật mình, và thuật lại sự tình. Tôn Già bèn ban truyền hết pháp Thủ
Hộ Du Già Hành Giả, Bất Động Tôn Minh Vương cho A Lan Nhã Giả.
Cũng như A Lan Nhã
Giả, một người đệ tử của Tôn Giả ở Ấn Độ gặp trở ngại khó khăn trong
lúc hành thiền quán. Song, khi vị này cầu nguyện Tôn Giả gia hộ thì
hành thiền được dễ dàng.
Kế đến, dịch sư
Giới Thắng nhờ đại sư Chủng Đôn Ba cầu thỉnh Tôn Giả dạy pháp chuyên
tu và dịch kinh, v.v... Ba tháng sau, có các thiện tri thức như
Nhung Đôn Cách Ngõa thảy, cầu thỉnh Tôn Giả ban pháp Hiển-Mật. Đại
sư Chủng Đôn Ba lại mời các dịch sư đồng cộng sự dịch những kinh
luận mà Tôn Giả đang giảng như Tập Bồ Tát Học Luận, Tập Kinh Luận,
Nhập Hạnh Luận, Bồ Đề Đạo Đăng Luận (121), v.v...
Kế tiếp, chư dịch
sư thỉnh Tôn Giả ban pháp thượng, trung, hạ căn. Tôn Giả bảo:
- Những pháp đó,
các ông nên tự thiện xảo học lấy.
Nói xong, Tôn Giả
vẫn chưa truyền.
Từ đó, trong năm
tháng, Tôn Giả không còn giảng kinh luận; mỗi lần giảng giải chỉ
dùng thi ca mà diễn dịch. Theo Hiển Giáo, Tôn Giả giảng bài Pháp
Giới Ca, Xuất Ly Lưu Chuyển Ca, Lục Lạc Ca, Bồ Đề Tâm Ca, v.v...
Những bài ca này đa số Tôn Giả y theo Không Hành Mẫu tu tập Mật Thừa
thậm thâm mà viết thành; trong đó, có Kim Cang Ca, Hành Kim Cang Ca,
Tu Kim Cang Ca, Kim Cang Pháp Ca, v.v... Các dịch sư cũng được phép
phiên dịch những bài ca đó. Dịch sư Giới Thắng lại cầu thỉnh pháp
chuyên tu. Lúc ấy, Tôn Giả hiển hiện tướng có chút bịnh; do cúng
dường Bổn Tôn, và sự xuất hiện của Bổn Tôn, nên bịnh của Tôn Giả
được thuyên giảm.
Lúc Tôn Giả trú tại
Nhiếp Đường, Bổn Tôn hiển hiện rất nhiều lần; có khi trong một tháng
các ngài hiển hiện cả mười lăm đêm; ba đời chư Phật, chư Bồ Tát đều
hiển hiện thân khác nhau vào mỗi buổi tối. Vào đêm nọ, trong giấc
mộng, nghe âm thanh trong trẻo của một phụ nữ dáng hình đoan trang
mỹ miều, Tôn Giả tự nhủ rằng không nên lắng nghe, nên nhắm mắt chẳng
nhìn. Vị kia bảo:
- Ta là mẹ của ông
đây, sao không muốn nhìn ?
Trong mộng Tôn Giả
bảo:
- Mẹ của Ta chẳng
còn sống.
- Độ Mẫu của mẫu
thân mà không muốn nhìn sao ?
Tôn Giả bừng tỉnh
dậy, thấy vị Độ Mẫu đang trụ trên hư không, có bao loại châu báu
trang nghiêm thân tướng.
Ngày nọ, một Du Già
Sư nổi tiếng đến viếng thăm Tôn Giả. Sau khi đàm đạo với Tôn Giả
xong, vị Du Già Sư đó cáo từ. Lúc được hỏi rằng vị đó là ai, Tôn Giả
đáp:
- Vị đó là một pháp
hữu quen biết của Ta.
Trong ngày đó, lúc
Du Già Sư đang mang cơm đến cúng dường, chợt thấy Tôn Giả ngửa mặt
lên hư không, hô to:
- Di Lặc ! Di Lặc !
Thế nên, Du Già Sư
chưa đem cơm vào phòng của Tôn Giả được mà thối lui. Lần thứ hai,
định đem cơm vào, thì Du Già Sư cũng thấy Tôn Giả hô lên như thế,
nên cũng phải thối lui.
Bấy giờ, đại sư
Chủng Đôn Ba bảo:
- Này A Mai ! Chớ
để phần cơm của Tôn Giả nguội lạnh.
Du Già Sư bèn nói:
- Tôn Giả thấy đức
Từ Thị (122), mà chúng ta chưa từng được thấy.
Du Già Sư lại đem
cơm vào dâng cho Tôn Giả lần thứ ba, nhưng cơm đã nguội lạnh. Tôn
Giả bảo:
- Hãy để đó ! Ta sẽ
dùng sau.
Chốc lát sau, Du
Già Sư thỉnh hỏi nhân duyên cớ sự; Tôn Giả bảo:
- Hôm nay có Bồ Tát
Văn Thù và Từ Thị đến trụ trên hư không, và giảng luận pháp nghĩa
Đại Thừa; Kim Cang Thủ đứng bên cạnh hộ trì ngăn ma chướng; chư
Thiên Tử trụ trên hư không mà ghi chép. Nay Ta phải ghi lại những
lời giảng dạy, và vẽ lại bức tranh đó.
Tôn Giả tự pha mực,
viết lại những lời giảng dạy của Bồ Tát Văn Thù và Di Lặc, cùng tự
vẽ chân dung của chư Bồ Tát. Tôn Giả lại triệu vời chư đại thiện tri
thức Ấn Độ đến vẽ thêm sắc thái về tôn tượng của Bồ Tát Di Lặc và
Văn Thù. Những bức tượng đó vẫn được giữ ở Nhiếp Đường. Khi ấy, Tôn
Giả bảo:
- Chân thân của chư
Phật và chư Bồ Tát đều là màu vàng kim.
Chư đệ tử thỉnh
hỏi:
- Chư Phật và chư
Bồ Tát sao lại có hình tướng khác biệt ?
- Vì để hàng phục
loài hữu tình, nên hiện bao hình tướng khác biệt.
Lần nọ, mọi người
đều thấy chư Thiên rải hoa cúng dường Tôn Giả. Tôn Giả cũng bảo:
- Những cánh hoa
trời đó do vua trời Phạm Thiên rải xuống.
Ngài Bảo Hiền cũng
từng tán thán Tôn Giả:
- Bậc sư trưởng của
trời người ! Ứng Thân của Tôn Giả được trang nghiêm bằng giới đức.
Lần khác, một người
đệ tử thấy có vị thần đầu ngựa đang đứng chấp tay cung kính trước
mặt Tôn Giả, bèn hỏi:
- Vị thần đó là ai
!
Tôn Giả đáp:
- Đó là Thiên Vương
Khẩn Na La (123).
- Tôn Giả chẳng sợ
sao ?
- Tại sao Ta phải
sợ ! Ông ta cũng như loài người, nhưng có hình tướng khác biệt.
Lần nọ, Tôn Giả bảo
Chủng Đôn Ba:
- Tất cả kinh nghĩa
Đại Thừa, hết thảy pháp quỹ của ngài Long Mãnh (Long Thọ), Vô Trước
thảy, cùng đại đạo của ba đời chư Phật chư Bồ Tát, nay Ta đem phó
chúc cho ông.
Đại sư Chủng Đôn Ba
thưa:
- Kính xin Tôn Giả
hãy truyền trao cho những vị khác. Bao loại giáo nghĩa Mật Chú Đại
Thừa, sao Tôn Giả lại ban truyền cho con hết ? Đối với tri thức cạn
cợt của con như vầy, thì làm sao gánh vác nổi trọng trách Phật sự to
lớn như thế được !
- Trừ ông ra, chẳng
ai xứng đáng được phó chúc. Hãy đảm đang trọng trách này. Ta sẽ
thường gia trì cho ông.
Ngày nọ, đại sư
Chủng Đôn Ba đóng cửa phòng của Tôn Giả rồi lui ra. Tôn Giả cũng
bước ra, bảo:
- Thời giờ đã đến !
Lúc Tôn Giả sắp
viên tịch, mọi hành vi cử chỉ của Tôn Giả, đại chúng đều thấy rõ.
Ngày nọ, Tôn Giả bảo:
- Chư Thiên khải
nhạc cúng dường Ta, vậy các ông có nghe chăng ?
Đại sư Chủng Đôn Ba
thưa rằng chẳng nghe.
Ngày khác, Tôn Giả
bảo:
- Chư sư trưởng của
Ta từ cõi trời Đâu Suất đến nghinh đón. Nay Ta cũng sẽ sang cõi trời
Đâu Suất.
Đại sư Chủng Đôn Ba
nghe thế chẳng vui, và vội đi báo tin cho Giới Thắng. Giới Thắng
liền đến hầu Tôn Giả. Bấy giờ có đệ tử của ngài Nõa Nhiệt Bạt
(Naropa) là Trí Sanh (Jnanakara) đang giáo hóa dân chúng ở vùng Ni
Bạc Nhĩ; sau đó chẳng bao lâu sẽ trở về Ấn Độ. Tôn Giả nghe việc
này, bèn bảo Giới Thắng:
- Hiện tại, chúng
ta cùng chung sống nơi đây, nhưng đến tháng mười Ta sẽ lên cung trời
nộI viện Đâu Suất của đức Từ Tôn (Bồ Tát Di Lặc) để nghe Ngài thuyết
pháp. Ông phải nên biết kể từ vô thủy cho đến ngày nay chỉ có một
mình mình đến và một mình mình đi mà không có ai làm bạn lâu dài;
chúng ta không thể sống gần nhau mãi. Ông đừng bịn rịn mà hãy nên
đến Ni Bạc Nhĩ yết kiến ngài Trí Sanh mà cầu học pháp của Bồ Tát
Long Mãnh (hay Long Thọ).
Giới Thắng nghe lời
này liền rơi lệ, rồi tự bảo: "Ân Sư vốn do mình cung thỉnh sang đây;
mình đã thọ học tất cả pháp yếu Hiển-Mật, nay bỏ đi sao đành !"
Tôn Giả biết tâm
niệm như thế của Giới Thắng, nên bảo:
- Ông đưa Ta sang
đây. Tất cả pháp của Ta, ông đều thông đạt hết. Tuy ông đi vào lúc
Ta sắp tịch thì dường như chẳng hợp lý, nhưng người tu Mật giáo Đại
Thừa thường phải tầm cầu tu học hết tất cả giáo lý Hiển-Mật. Vậy ông
hãy nên đi ! Có điều trước khi đi ông nên cúng dường cầu nguyện.
Giới Thắng liền
quảng thiết cúng dường, ân cần cầu nguyện cả một tháng. Đạt Mã Bồ Đề
và Thích Ca Huệ Giả đến, thuật lại về sự thiện xảo của Trí Sanh, vị
đang trú tại vùng Ni Bạc Nhĩ, và sắp trở về Ấn Độ. Giới Thắng bẩm
bạch với Tôn Giả việc này. Tôn Giả bảo:
- Ta sẽ sang cõi
trời Đâu Suất, với danh hiệu là Hư Không Vô Cấu Thiên Tử. Ông nên
đắp vẽ tượng của Ta, rồi hoặc giữ lại hoặc gởi sang Ấn Độ. Từ cõi
trời Đâu Suất, Ta sẽ hiện xuống gia trì. Ông nên thường cúng dường
cầu nguyện. Trong tháng này, có thể cúng dường.
Giới Thắng thưa:
- Vâng ! Con cũng
cầu nguyện sẽ được vãng sanh lên cung trời Đâu Suất. Xin Tôn Giả từ
bi quán đảnh gia trì cho những tôn tượng đó. Từ cung trời Đâu Suất,
xin Tôn Giả từ bi gia hộ cho chúng con.
Giới Thắng liền
thiết lễ cúng dường thêm nửa tháng. Khi ấy, các đệ tử của Tôn Giả
đều tụ về và cùng nghị luận:
- Nay sư trưởng
chẳng bao lâu sẽ không còn trụ thế. Trong số chúng ta đây, ai có khả
năng đảm nhiệm giáo pháp của sư trưởng ?
Chẳng có ai ứng
đáp. Giới Thắng bảo:
- Trong tất cả giáo
pháp, đều thuyết rằng công đức do sư trưởng mà sanh; thừa sự sư
trưởng, trong số chúng ta, chẳng ai bằng Chủng Đôn Ba. Đảm nhậm trì
giáo pháp của Tôn Giả, cũng chỉ có Chủng Đôn Ba.
Khi ấy, Khô Đôn Tôn
Chủ Vĩnh Trung bảo:
- Chủng Đôn Ba làm
sao đảm nhậm giáo pháp của Tôn Giả ? Giáo pháp của Tôn Giả, chỉ có
Ta nhậm trì được thôi !
Thật ra, như lời
của Giới Thắng, chỉ có Chủng Đôn Ba là có khả năng nhậm trì được.
Lần nọ, Du Già Sư
nhủ thầm: "Do có chút ít phước đức, được thừa sự sư trưởng, nhưng
chẳng thể tu hành."
Tôn Giả biết tâm
niệm của Du Già Sư, nên bảo:
- Nếu dùng ba
nghiệp thân miệng ý mà thừa sự sư trưởng, thì không cần tu pháp nào
khác.
Về sau, A Lan Nhã
Giả bảo:
- Chủng Đôn Ba A Xà
Lê vốn là dịch giả. Du Già Sư vốn là vị hầu cận Tôn Giả; chỉ có Ta
thường chuyên tu, nên chứng đắc công đức cao hơn hai vị đó.
Bấy giờ, Giới Thắng
lo lắng đại thiện xảo Trí Sanh trở về Ấn Độ, lại sợ Tôn Giả mau
chóng nhập Niết Bàn, nên buồn rầu thảm thiết, khiến thân thể gầy
mòn. Tôn Giả bảo Giới Thắng:
- Hôm nay ông có
thể đi.
Giới Thắng buồn
thương, cầu nguyện Tôn Giả gia hộ cho, rồi cáo biệt.
Lúc ấy, các thiện
tri thức ở Tây Tạng chê bai việc Giới Thắng bỏ Tôn Giả mà đi. Đại sư
Chủng Đôn Ba bảo:
- Ân lớn của Giới
Thắng, ai có thể sánh bằng (tức chỉ cho công lao cung thỉnh Tôn Giả
sang Tây Tạng) ?
Lúc sắp viên tịch,
Tôn Giả tùy theo căn khí của mỗi đệ tử mà phó chúc. Khi ấy, Du Già
Sư và A Lan Nhã Giả muốn nhập thất tĩnh tu, nên bạch:
- Từ nay về sau,
chúng con phải nên tu hành như thế nào ?
Tôn Giả bảo:
- Tâm xả thế gian
(124); ngay nơi đó, trước sau chớ rời Chủng Đôn Ba.
Hai vị này nghe lời
này khiến tâm chẳng an, bạch:
- Đồng y sư trưởng
mà thỉnh pháp, sao Tôn Giả lại bảo chúng con phải y theo Chủng Đôn
Ba ?
- Là do sự gia trì
của Ta !
Lần khác, Tôn Giả
đem hết tất cả tài vật, bảo Du Già Sư mang trở lại Ấn Độ (125), và
thuyết bài kệ:
"Chẳng bịnh là
thắng lạc
Vui thí là thắng
thí
Niết Bàn là thắng
lạc
Y tâm là thắng
bạn."
Du Già Sư nghe bài
kệ này thì lãnh ngộ, nên bảo Chủng Đôn Ba:
- Hiện nay, Tôn Giả
bảo phải mang vàng bạc sang Ấn Độ, nhưng chỉ sợ rằng không còn dịp
để diện kiến Tôn Giả. Xin sư huynh hãy cầu thỉnh Tôn Giả chớ sai tôi
đi.
Chủng Đôn Ba bảo:
- Tôi sẽ cầu thỉnh
với Tôn Giả về điều này.
Lần khác, đang lúc
đàm luận, Chủng Đôn Ba bạch:
- Du Già Sư và con
có việc phải làm, nên lần này xin Tôn Giả chớ sai Du Già Sư đi.
Tôn Giả bảo:
- Ý của Du Già Sư
thật hiền thiện; sự việc sẽ được hoàn thành, nên phải đi.
Sau đó, Chủng Đôn
Ba bèn bảo Du Già Sư:
- Tôn Giả muốn sư
đệ đi, thì xin hãy y theo lời dạy.
Du Già Sư y lời dạy
bảo, chọn ngày lành khởi hành. Đêm trước ngày khởi hành, Du Già Sư
tự nhủ rằng sẽ không còn dịp để gặp lại Tôn Giả, nên rơi lệ mà cầu
nguyện, khiến đôi mắt bị sưng vù. Lúc Du Già Sư khởi hành, Tôn Giả
gia trì, bảo:
- Chớ xúc chạm đến
số vàng này. Trên đường tuy gặp hoạn nạn, nhưng không bị hại chi.
Du Già Sư y theo
lời dạy của Tôn Giả, đồng kết giao với các thương gia mà lên đường.
Lần nọ, bọn cướp biết Du Già Sư đang mang vàng, nên đứng chận bên bờ
sông. Lúc Du Già Sư đi qua sông, bọn cướp ngủ mê chẳng thấy. Lần
khác, Du Già Sư đến nước Ni Bạc Nhĩ, cư trú trong nhà dân làng. Khi
nghe tin Tôn Giả viên tịch, Du Già Sư liền để tang. Bọn cướp trong
vùng đó nghe tin Tôn Giả đã viên tịch, và biết Du Già Sư là người do
Tôn Giả sai đi, nên biết chắc có mang tài bảo. Sợ Du Già Sư sẽ tự bỏ
đi, nên đêm đó chúng bao vây ngôi nhà Du Già Sư đang cư trú. Du Già
Sư thương cho những kẻ ngu si, muốn cướp đoạt tài vật của Tam Bảo,
nên đêm ấy đã cầu nguyện Tôn Giả từ bi gia hộ. Sáng sớm hôm sau, lúc
sắp khởi hành, Du Già Sư lấy vàng ra, bỏ vào quần áo. Khi bọn cướp
chạy vào lục soát túi vải, thì Du Già Sư đã đi xa. Khi Du Già Sư gặp
sứ giả của quốc vương Ấn Độ, liền giao số vàng đó cho người ấy mang
sang Ấn Độ, rồi một mình trở về Tây Tạng (126).
Lần nọ, đại sư
Chủng Đôn Ba bạch:
- Trong tương lai,
con phải y theo ai ?
Tôn Giả bảo:
- Ta chưa thấy có
ai làm thiện tri thức cho ông. Vậy hãy y theo kinh tạng mà làm bậc
thiện tri thức. Lúc chưa đắc được thần thông, chỉ như người mù bắn
cung tên, nên chớ làm sự nghiệp gì cả. Sau khi đạt được thiện xảo,
nên làm sự nghiệp lợi ích cho Phật pháp. Thánh giáo y nơi tăng
chúng. Tăng chúng y nơi giới luật. Thế nên, phải khiến nhiều người
thường trì giới luật; hoằng dương giới luật tức là khiến tăng đoàn
được phát triển; có chư tăng tức có lợi ích cho thánh giáo. Thánh
giáo trụ thế dài lâu thì làm lợi ích cho loài hữu tình. Chư Bồ Tát
khi chưa đắc thần thông mà muốn làm lợi ích cho loài hữu tình, cũng
phải khởi đầu bằng sự trì giới luật. Ngược lại, nếu không nghiêm trì
giới luật thì hành giả chỉ như người mù bắn cung tên.
Tôn Giả lại bảo
Chủng Đôn Ba kiến lập chùa chiền,v.v... Chủng Đôn Ba phát nguyện
rằng đời sau sẽ gặp lại Tôn Giả. Song, Tôn Giả bảo rằng từ đời nay
trở đi, sẽ không còn gặp nhau nữa (127), nhưng sẽ có cơ hội tương
kiến.
Lời di huấn cuối
cùng của Tôn Giả cho chư đệ tử:
- Ta truyền trao
giáo pháp lại cho Chủng Đôn Ba. Phải tôn kính Chủng Đôn Ba như tôn
kính Ta. Chớ để thế pháp làm nhiễu loạn. Ta sẽ thường ban phước lành
cho các ông.
Tôn Giả tuy chứng
đắc quả vị Kim Cang, vĩnh viễn xa rời phần đoạn sanh tử và biến dịch
sanh tử, nhưng vì muốn hóa độ chúng sanh, nên hiển hiện thân phàm
sanh ra trong loài hữu tình hoặc loạn.
Cuối cùng, vào ngày
hai mươi tháng chín năm 1054, tại Nhiếp Đường, Tôn Giả bỏ sắc thân
giả tạm, mà thọ hóa thân tri túc. Tổng cộng, Tôn Giả hoằng pháp lợi
sanh ở Tây Tạng hơn mười bảy năm.
Sau khi Tôn Giả
viên tịch, các thiện tri thức đều hỏi Chủng Đôn Ba rằng di thể của
Tôn Giả phải an táng như thế nào. Đại sư Chủng Đôn Ba đáp:
- Như chư đại Thánh
nhập Niết Bàn, phải làm lễ trà tỳ.
Lúc đại chúng đang
dùng cơm, Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung tự nhủ: "Nay Chủng Đôn Ba chủ
trì buổi lễ trà tỳ Tôn Giả, khiến tâm mình hoàn toàn bất an."
Lễ trà tỳ xong, đại
sư Chủng Đôn Ba dùng sữa rưới lên linh cốt của Tôn Giả, rồi thâu
nhặt lấy, và hòa với bột trầm hương. Sau này, tại chùa Nhạ Trân, đại
sư Chủng Đôn Ba lại đặt một phần lớn xá lợi của Tôn Giả vào một linh
tháp bằng bạc. Bấy giờ, Đại Sư tự nhủ: "Nếu được ít phần linh cốt và
kinh thư của Tôn Giả, cùng ít phần thánh tượng thì mãn nguyện lắm
rồi."
Người khác cũng
muốn tranh giành; Đại Sư tâm tuy không vui, nhưng trí thâm độ lượng.
Đêm đến, trong mộng Đại Sư thấy Độ Mẫu bảo:
- Sở cầu của ngươi,
Ta sẽ giúp cho.
Sang ngày thứ tư,
Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại cỡi một con lừa, rơi lệ sướt mướt mà đến.
Đại sư Chủng Đôn Ba biết Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại có thể phân chia
linh cốt và kinh thư của Tôn Giả, nên giao chìa khóa và mọi vật sở
hữu của Tôn Giả cho Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại. Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại
vốn là người mà cả ba Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung, Chủng Đôn Ba,
Thiện Huệ tin tưởng, nên đều hoan hỷ y theo sự phân chia của vị này.
Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại y theo ý của đại sư Chủng Đôn Ba mà hành.
Trong giữa đại chúng, Ca Ngõa Thích Ca Tự Tại nói với đại sư Chủng
Đôn Ba:
- Trưởng tử phải
thâu lấy hài cốt của người cha. Linh cốt của Tôn Giả phải do Thầy
thâu lấy. Kinh điển chữ Phạn cũng phải đưa cho Thầy giữ lấy.
Ca Ngõa Thích Ca Tự
Tại lại lấy các thánh tượng của đại sư Kim Châu, cùng các đồ vật mà
Tôn Giả rất mực tôn trọng quý mến, đem giao hết cho đại sư Chủng Đôn
Ba. Kế đến, vị này đưa cho Khô Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung tượng Phật
Thích Ca của đại sư Kim Châu đã từng ban cho Tôn Giả, khiến cho Khô
Đôn Tôn Chủ Vĩnh Trung vui mừng vô hạn. Vị này lại đem tượng Lục Tự
Minh Vương giao cho Du Già Sư; đem tượng Bất Động Tôn giao cho A Lan
Nhã Giả; đem tám ngôi thánh tháp, giao cho Thiện Huệ. Thể theo lời
di chúc của Tôn Giả, tất cả tài vật của Tôn Giả đều được dùng vào
việc xây cất chùa chiền.
Cuối năm đó, đại sư
Chủng Đôn Ba giảng Bát Thiên Tụng; các thiện tri thức khác cũng
giảng giải kinh luận. Họ lại kiến lập điện đường để làm nơi cúng
dường Tôn Giả. |