|
Tôn giả A Để Sa (982-1054)
Thích Hằng Đạt
Chương I. Tự thân thành tựu đầy đủ công đức quảng đại
Phía đông Kim Cang
Tòa (1) ở miền trung Ấn Độ, có vương quốc Tát Hạ (2). Kinh đô của
nước này là Tát Ha La (3). Vương cung trong thành bằng phẳng cao
rộng, có vô lượng kim tràng để nghiêm sức, nên gọi là cung Kim Tràng.
Cuộc sống của dân chúng trong nước đều được đầy đủ; chu vi 720 dặm;
có khoảng 25.000 ngàn ao hồ và 56.000 cây Đa La bao quanh thành ấp.
Thành có bảy lớp thông hào. Trong thành có 360 cây cầu; có 25.000
cây kim tràng; có 13 ngôi kim đảnh tháp (4). Dân số chừng ba triệu
năm trăm ngàn người.
Vua Thiện Thắng (5)
của vương quốc Tát Hạ thường hộ trì chánh pháp. Hoàng Hậu Thắng
Quang (6) thuộc dòng Bà La Môn, đức hạnh đồng bảo nữ. Vua Thiện
Thắng có ba hoàng tử: Liên Hoa Tạng (Padma-garbha), Nguyệt Tạng (Candra-garbha),
Thắng Tạng (Sri-garbha, hoặc gọi là Kiết Tường Tạng). Hoàng tử Liên
Hoa Tạng kế thừa ngôi vua, sanh được chín người con, rồi sau đó bỏ
ngôi vua đi xuất gia lấy pháp hiệu là Đạt Na Bảo Lợi Mật Đa La
(Dana-shri, dịch là Mễ Thắng Hữu). Hoàng tử Thắng Tạng cũng xuất gia
lấy hiệu là Tinh Tấn Nguyệt (Vidya-chandra), thâm nhập Mật pháp, đạt
được nhiều cảnh giới thiền định, có khả năng hóa hiện đàn tràng
truyền pháp quán đảnh. Hoàng tử Nguyệt Tạng chính là tôn giả A Để
Sa.
Tôn giả A Để Sa (7)
vừa sanh ra (982) thì trời mưa hoa báu, vầng mây năm màu ẩn hiện
trên đảnh cung điện, chư Thiên khởi tấu âm nhạc. Những điềm lành như
thế, hiển hiện nhiều vô số kể. Ngày nọ, Tôn Giả đang nằm trên sàng
giường trân báu ở tòa nhà cao nhất trong hoàng cung, đột nhiên trên
đảnh cung điện chợt vang tiếng nổ lớn, thể như mái ngói bị sụp đổ.
Hoàng hậu Thắng Quang thấy rất nhiều bò cạp bò đến, như muốn hại Tôn
Giả nhưng không làm cho Tôn Giả sợ hãi. Lát sau, những bò cạp biến
mất.
Lần nọ, bên ngoài
phòng của Tôn Giả có tiếng nhạc và tiếng trống âm vang. Nhà vua nghe
thấy lấy làm kỳ dị. Hoàng hậu Thắng Quang thấy hoa sen xanh hiện ra
trước mặt Tôn Giả nhưng riêng Tôn Giả tự cảm nhận đây là hiện thân
của Độ Mẫu (8). Từ đó, hễ có nghi điều gì Tôn Giả đều thiết lễ cúng
dường cầu khẩn trước tượng của Độ Mẫu. Tuy Độ Mẫu không hiện thân
chỉ dạy, nhưng tất cả điều hoài nghi của Tôn Giả đều được giải tỏa.
Tương truyền, vị Độ Mẫu này thường theo gia hộ Tôn Giả suốt trong
vòng lục đạo luân hồi.
Trong mười tám
tháng kể từ khi xuất sanh, Tôn Giả chưa từng rời khỏi hoàng cung. Có
tám vị nhũ mẫu thường xuyên săn sóc Tôn Giả thật chu đáo.
Một hôm, vương phi
thần thứ lên năm trăm cỗ xe được trang nghiêm bằng châu báu, cùng
những tỳ nữ, nhạc sư ca múa, mang vô lượng cúng phẩm, đến cúng dường
chùa Tỳ Trát Ma Phú La (9) ở phía bắc cung thành. Tuy chỉ mới mười
tám tháng, nhưng Tôn Giả đã có thân hình to lớn như đứa bé lên ba,
với tướng hảo đoan chánh uy nghi trong sáng, đầu đội thiên mão, thân
mặc thiên y, được phụ vương bồng lên ngồi trên xe báu. Chỉ cần nhìn
đến gương mặt của Tôn Giả thì mọi người đều phát khởi lòng tôn kính
tín phụng. Tất cả dân chúng trong thành đều đứng dọc theo lề đường
để chiêm ngưỡng Tôn Giả; họ đồng xưng tán: "Ngày sơ sanh thì trời
mưa hoa báu, ánh mặt trời tỏa sáng năm màu, nhạc trời vi diệu trổi
lên. Thật hy hữu hôm nay được thấy tôn nhan của Hoàng Tử !" (10).
Bấy giờ, Tôn Giả
hỏi phụ vương và mẫu hậu:
- Ai là chủ nhân
của đám dân này ?
Phụ vương và mẫu
hậu đồng đáp:
- Con chính là chủ
nhân của họ.
Tôn Giả nhìn họ
bằng đôi mắt từ bi, và phát nguyện: "Nguyện những người này đều được
như Ta vậy: Thường sanh vào vương gia, đầy đủ phúc đức, mãi mãi
nương theo Phật pháp."
Nghe lời này, ai
nấy cũng đều kinh ngạc.
Khi đến đạo tràng
Tỳ Trát Ma Phú La, Tôn Giả tự lễ bái Tam Bảo, cùng tán dương phát
nguyện: "Con được may mắn làm thân người với các căn đầy đủ lại được
sanh vào chốn vương giả. Hôm nay đứng trước ngôi Tam Bảo, con xin
nguyện mãi mãi lễ kính và quy y."
Bấy giờ mọi người
trong chúng hội đều lấy làm việc hy hữu. Lúc ấy, phụ vương và mẫu
hậu cùng chư quyến thuộc cúng dường xong, liền phát nguyện: "Xin
nguyện chúng con sanh sanh thế thế, thường mãi cúng dường Tam Bảo,
thừa sự tăng chúng, tuyên dương chánh pháp, trừ dẹp phiền não, đắc
được tự tại."
Tôn Giả nghe lời
này, bèn xoay về hướng cha mẹ, phát nguyện: "Nguyện đời đời chẳng bị
gia thế trói buộc; trong tăng chúng đắc được pháp lạc; thường tinh
tấn chẳng ngã mạn; con nguyện mãi mãi cúng dường Tam Bảo cùng khởi
lòng từ bi trải khắp loài hữu tình."
Mới mười tám tháng
mà Tôn Giả đã phát nguyện quy y Tam Bảo, phát tâm Bồ Đề (giác ngộ),
khiến ai nấy cũng đều hoan hỷ vui mừng.
Lúc lên ba tuổi,
Hoàng Tử đã học hết tất cả toán số, Thanh Minh. Khi lên sáu tuổi,
Tôn Giả còn có khả năng phân biệt đâu là chánh pháp đâu là tà pháp,
cũng như đâu là Phật pháp đâu là pháp của ngoại đạo; đây là điềm báo
hiệu sau này Tôn Giả sẽ trở thành một vị học giả lỗi lạc của Phật
giáo. Về sau, Tôn Giả đã từng bảo: "Ở Ấn Độ, chỉ có ba người biết rõ
sự khác biệt giữa Phật pháp và ngoại đạo: Ngài Na Lạc Ba (11), đại
sư Kim Châu và Ta. Ngài Na Lạc Ba và đại sư Kim Châu đã tịch, còn Ta
thì vào Tây Tạng. Do đó, Ta ngại rằng Phật giáo Ấn Độ chắc sẽ bị
thua dưới tay ngoại đạo."
Năm mười tuổi, Tôn
Giả quy y Tam Bảo Phật Pháp Tăng, thủ hộ giới cấm, hành hạnh bố thí,
đọc tụng kinh luận, cầu nguyện Bổn Tôn, tầm cầu chánh pháp, cung
kính cha mẹ, ái ngưỡng pháp lữ, thương mến quyến thuộc, chẩn cấp cho
người nghèo mà không sẻn tiếc. Tất cả thắng hạnh của bậc thiện sĩ,
Tôn Giả đều hành chẳng khiếm khuyết.
Năm mười một tuổi,
Tôn Giả được chư vương thần cống hiến hai mươi mốt đồng nữ để vui
đùa. Ngày nọ, theo lệnh của nhà vua, quần thần trang sức mười ba cỗ
xe châu báu, cùng tràng phan bảo cái, khảy bao loại âm nhạc, hộ tống
Tôn Giả đi du hí nơi các tụ lạc, cử hành những đại hội vui chơi
trong mười lăm ngày. Có hai mươi lăm nàng công chúa ở những vương
quốc khác đến ngắm xem Tôn Giả, như công chúa Trì Phước, Trì Thủy,
Trì Mãnh, v.v... Mỗi nàng công chúa đều ngồi trên xe báu, có bảy thể
nữ đi theo hầu, nghiêm sức bằng các loại châu báu, đồng tấu âm nhạc
vi diệu, giống như Thiên-nữ giáng trần. Bấy giờ Tôn Giả ngắm xem các
nàng công chúa, bèn đắm nhiễm sắc đẹp, niệm tham dục chợt nổi dậy,
lông tóc toàn thân đều dựng đứng. Khi ấy, Không Hành Mẫu hóa thân
làm một đồng nữ thân màu xanh biếc, dùng kệ răn nhắc:
- Chớ tham đắm !
Chớ tham đắm ! Này bậc Thiện Căn ! Voi bị lún bùn lầy dục vọng, thì
giới y thanh tịnh sao chẳng bị mai một ? Trong 552 đời, thường thọ
thân tướng tỳ kheo đại thiện xảo, giống như thiên nga lướt trên mặt
hồ. Xin Ngài hãy phát tâm xuất ly ra khỏi đời này. Chư đồng nữ thanh
tịnh vi diệu ở thành ấp là ma nữ; vì muốn đoạt tịnh giới, nên hiện
tướng hảo đoan trang hoan hỷ để làm mê hoặc. Diệu tướng Vương Tử,
xin hãy biết cho ! Như vầng trăng tròn ảnh hiện trên mặt biển phẳng
lặng, thân tướng sáng ngời thanh tịnh không cấu uế, đầy đủ năm nhục
kế thiên trang nghiêm, thù diệu đoạt ý chư hữu tình. Được thân bảo
mãn hy hữu, phải dùng văn tư tu mà quán tận thế nhân. Tăng thượng
duyên nhờ y chỉ những bậc thiện tri thức vô lậu. Hãy đoạn niệm dục
ái !
Tôn Giả nghe thế,
cười đáp:
- Đức Thế Tôn xả bỏ
sáu vạn vương phi, chứng đẳng chánh giác, chuyển chánh pháp luân,
thành bậc Thiên Nhân Sư, được xưng tán cúng dường. Ta đã không xả bỏ
vương vị mà sao lại còn tham đắm dục lạc ! Một khi đã biết thế sự là
huyễn hóa, cảnh dục là lừa dối, thì việc nương theo Phật Tổ và các
bậc thiện tri thức mà tu học chánh giáo là điều cần thiết.
Bấy giờ người trong
chúng hội nghe Tôn Giả nói lời này, tuy sanh tâm hy hữu, nhưng sợ
Tôn Giả sẽ xuất ly thế tục, nên vội vàng báo tin cho nhà vua cùng
hoàng hậu hay, và xin tuyển thêm cung nữ để làm mê hoặc Tôn Giả.
Lần nọ, Tôn Giả
cùng 120 quân kỵ mã đến một khu rừng núi, thấy sa môn Thắng Địch (Jitari),
một mình cư trú nơi thanh tịnh, tu pháp xuất ly. Thấy đức tướng của
vị đó, Tôn Giả cỡi ngựa đến hỏi:
- Cư trú nơi thanh
tịnh, hành việc khó hành, dùng pháp Phạm hạnh, sống đời thanh tịnh,
xả bỏ dục trần, tu tập Phật đạo, thì đắc được công đức thù thắng gì
?
Sa môn Thắng Địch
chẳng màng mở mắt nhìn Tôn Giả mà đáp:
- Ta thấy chư hành
vô thường, chẳng có chân thật; lúc sống tuy có đủ vương nhạc dục lạc,
nhưng khi chết thì bị nghiệp dẫn vào đường ác. Lại nữa, tài bảo vốn
là huyễn hoặc, chẳng phải chân thật. Ta cũng thấy các chúng sanh ác
liệt, hành vi đồng với súc sanh; khi chết e rằng sẽ sanh vào nơi bất
tịnh. Sau khi suy tư và thấy rõ những việc này, nên liền cung kính
nhiếp thọ Phật pháp, sống một mình nơi chốn núi rừng thanh tịnh,
hành những hạnh khó hành...
- Này vị Sa Môn !
Sao dám khinh mạn người ! Thấy Hoàng Tử đến trước mặt, sao chẳng
đứng dậy ?
- Ta chẳng có tài
sản riêng tư, chỉ nương y nơi núi rừng làm chỗ an lạc. Thân mạng như
cừu địch, chỉ còn đợi cái chết. Ta chẳng có ngã mạn. Hãy bỏ lời tạp
loạn ! Ông là Hoàng Tử nào ? Từ đâu đến đây ? Ta chẳng có oán thân,
nên chẳng biết đến...
- Ta từ vương cung
Kim Tràng đến, vốn là Hoàng Tử của vua Thiện Thắng. Ngay nơi núi
rừng này, ai dám kiêu mạn ? Ngươi chẳng biết đến đấng quân vương,
tức phạm luật nước.
- Ta chẳng sống
trong quần nhơn, chẳng là quan cũng chẳng phải nô tỳ, lại chẳng có
ai đoái hoài, nên vượt ngoài pháp luật. Lúc xuất thế, Ta chẳng có
ngựa chẳng có bạn, chẳng có y áo, chẳng có thức ăn, chẳng có đất,
chẳng có vương quốc, chỉ đơn độc tiến bước, du hành vạn dặm tới
những nơi chẳng từng biết đến. Thường cô đơn tu hành nơi rừng hoang
núi vắng. Nào biết Hoàng Tử đến đây mà đứng dậy cung nghinh ?
Tôn Giả nghe thế,
bèn xuống ngựa, cung kính chấp tay mà thưa:
- Thật là vị thiện
xảo thắng đức, hiện tướng như ngã mạn kiêu căng. Ngày đêm sáu thời,
con cũng hằng suy tư về hoạn sanh tử, nên muốn xuất ly, xả bỏ vương
vị để hướng đến nơi giải thoát. Xin Ngài hãy từ bi nhiếp thọ chỉ
giáo !
Bấy giờ sa môn
Thắng Địch nương nhờ sự gia trì của ngôi Tam Bảo, truyền pháp Phát
Tâm cho Tôn Giả. Tôn Giả cùng quân hầu đồng phát tâm cúng dường tài
bảo. Sa môn Thắng Địch vì muốn tư lương của Tôn Giả được viên mãn,
bèn tạm thời lãnh nạp, rồi dạy:
- Đời này lắm ma
quỷ chuyên hành tự lợi, nên biết chúng là loài chim kén, hổ lang.
Chư Độc Giác làm sao thành đạo vô thượng ? Nô bộc vật thực đầy đủ cả
bao đời, chẳng phải là sở hữu của Hoàng Tử. Xin Hoàng Tử phát đại
tinh tấn, xả bỏ vương vị, mau kíp hướng đến đạo giải thoát...
Tôn Giả bèn cầu
thỉnh:
- Con sống trong
vương cung như tù ngục ! Nhờ sự gia trì của Ngài, xin nguyện chẳng
bị vương gia bức bách.
- Chủng tánh vốn có
ba loại trói buộc. Vương vị đồng như bùn sình bất tịnh. Quốc vương
là danh tự của ma vương; quần thần là thân quyến của ma vương. Chẳng
bao lâu Hoàng Tử sẽ bị bức bách. Hãy qua chùa Na Lan Đà. Nơi đó, có
bậc sư trưởng nhiều đời của Hoàng Tử, tên là Bồ Đề Hiền (Bodhibhadra).
Hoàng Tử nên y theo vị đó mà cầu thỉnh giáo pháp Phát Tâm. Vị đó là
bậc đại thiện xảo, có khả năng làm lợi ích cho Hoàng Tử.
Nói xong, sa môn
Thắng Địch trả lại những đồ vật vừa được cúng dường, rồi nói tiếp:
- Lúc ra khỏi vương
cung, hãy trở lại đây. Ta sẽ ban truyền thêm nhiều giáo pháp cho
Hoàng Tử.
Tôn Giả trở về
vương cung, ban tất cả vàng bạc châu báu cho quyến thuộc, rồi trở
lại gặp sa môn Thắng Địch và đi thẳng đến chùa Na Lan Đà ở Trung Ấn.
Bấy giờ vua A Lan Đà (12), nghe tin Tôn Giả đến bèn trang bị bốn
chủng binh, ra tận biên thùy để cung nghinh, và hỏi:
- Đại Vương từ nơi
đâu đến ? Muốn tìm oán địch nào ?
Tôn Giả đáp:
- Ta từ nước Tát Hạ
ở miền đông đến. Vì muốn hàng phục oán địch ở ba cõi và oán địch
sanh tử mà đến, chứ chẳng vì việc khác !
Quốc vương bèn tán
thán, rồi hỏi:
- Quốc vương có an
lạc chăng ? Chùa Tỳ Trát Ma Phú La trong vương quốc của Ngài có rất
nhiều thánh chúng, sao lại đến đây ?
Tôn Giả đáp:
- Do lời thọ ký của
sa môn Thắng Địch, nên Ta đến quốc độ này, để tham vấn với luận sư
Bồ Đề Hiền.
Nghe xong, vua A
Lan Đà liền cung nghinh Tôn Giả đến vương cung mà cúng dường, rồi
dẫn Tôn Giả đến chùa Na Lan Đà để gặp luận sư Bồ Đề Hiền. Vừa thấy
luận sư Bồ Đề Hiền, Tôn Giả vui mừng vô hạn. Luận sư Bồ Đề Hiền cũng
rất vui mừng hoan hỷ, và đứng dậy bảo:
- Xin mời Hoàng Tử
ngồi xuống ! Do duyên cớ gì mà đến nơi đây ?
Tôn Giả bèn cung
kính đảnh lễ, cúng dường các thứ trân bảo, rồi thưa:
- Con sợ vương vị
lừa dối, đọa lạc trầm luân trong bùn lầy sanh tử, nên đến nơi núi
rừng, gặp sa môn Thắng Địch, được vị đó từ bi tiếp thọ chỉ giáo. Vị
đó lại bảo rằng hãy đến chùa Na Lan Đà, nơi có sư trưởng nhiều đời
tên là luận sư Bồ Đề Hiền, mà thỉnh cầu pháp Phát Tâm. Con y theo
lời dạy của vị đó, nên vội trở về cung điện, rồi mang các cúng phẩm,
mau chóng mang đến nơi đây. Xin Ngài từ bi tiếp thọ, dạy con pháp
Phát Tâm Bồ Đề...
Nói xong, Tôn Giả
bèn ngồi xuống. Bấy giờ luận sư Bồ Đề Hiền trụ nơi tam ma địa (thiền
định) gia trì ba nghiệp của Tôn Giả cho được thanh tịnh, rồi ban
truyền pháp Phát Tâm Bồ Đề Vô Thượng, và bảo:
- Năm dục dối gạt,
vương vị hư huyễn. Khi bỏ thân này, hối hận sao kịp ! Phải phát đại
tinh tấn, cần cầu Phật pháp. Phía bắc chùa Na Lan Đà có Bồ Tát Minh
Liễu Đỗ Tập (Vidyakokila) đầy đủ giới đức thanh tịnh, thần thông
chẳng ai bằng, đạt được chánh kiến Trung Quán, xa rời tám loại hí
luận (13), tận hết thọ sanh, trụ nơi tịch tĩnh. Vị đó là bậc sư
trưởng từ đời vô thủy của Hoàng Tử, nên phải qua đó, mà thỉnh cầu
yếu chỉ thâm sâu.
Thọ giáo xong, Tôn
Giả tuy quyến luyến, mến mộ luận sư Bồ Đề Hiền, nhưng vẫn cố gượng
đi. Tôn Giả đến nơi trụ xứ của Bồ Tát Minh Liễu Đỗ Tập, đảnh lễ cúng
dường tác bạch:
- Con từ nước Tát
Hạ ở miền đông đến đây, và vốn là Hoàng Tử của vua Thiện Thắng. Ban
đầu đến chùa Na Lan Đà, cầu thỉnh thọ giáo nơi luận sư Bồ Đề Hiền.
Ban truyền pháp xong, luận sư Bồ Đề Hiền bảo rằng cách đây về phía
bắc có vị sư trưởng từ đời vô thủy của con, nên mới đến đây, thỉnh
pháp Phát Tâm. Nguyện ân cần phụng mạng Ngài. Xin từ bi nhiếp thọ
dạy bảo, để sau này con không còn bị phụ vương bức bách.
Bấy giờ Bồ Tát Minh
Liễu Đỗ Tập vui vẻ vô ngần, và an ủi gia trì, cùng ban pháp Phát Tâm,
rồi giảng về lý duyên khởi tánh không. Tôn Giả vừa nghe qua, ngay
nơi tòa ngồi liền chứng được Gia Hạnh Đạo, đạt được Dũng Kiện Tam Ma
Địa Môn, rồi đem sở chứng mà bạch với Bồ Tát Minh Liễu Đỗ Tập:
- Nay con trụ định,
thấy các pháp tánh, sáng rạng lắng trong, không có cấu nhiễm, giống
như hư không chẳng có chút mây mù. Kế đến, từ định khởi dậy, thấy
các pháp hiện. Tuy thấy hiển hiện mà chẳng chấp cho là thật, và cũng
thường tùy theo tâm ý của loài hữu tình (14). Tuy thấy các pháp hư
giả, mà nơi các nghiệp nhỏ nhặt, chẳng dám phóng dật giải đãi. Những
sự Có-Không này, phải chăng chẳng sai lầm ?
Bồ Tát Minh Liễu Đỗ
Tập tán thán:
- Lành thay Hoàng
Tử ! Do tích tụ phước đức, nên trong định tuy đạt được tánh Không,
mà khi xuất định lại vận dụng tâm đại bi duyên đến loài hữu tình;
hai đế chính là giáo pháp tối tôn thắng của Ta. Nay muốn rời bỏ
vương cung, phải nên qua núi Hắc Sơn (15). Nơi đó có thầy của Ta là
A Phược Đô Đế (Avadhutipa), cũng là vị sư trưởng đời trước của ngươi.
Hãy nên cầu thỉnh pháp Phát Tâm, và cầu ban giáo pháp Xuất Ly...
Tôn Giả thọ giáo
xong, lưu luyến khó xả, nhưng vì cầu pháp, nên rơi lệ từ biệt. Bấy
giờ vua A Lan Đà cúng dường vô lượng trân bảo cho Tôn Giả, rồi cùng
chư quyến thuộc tiễn đưa Tôn Giả đến vùng Tam Du Thiện Na.
Sau đó, Tôn Giả tới
vùng núi Hắc Sơn, thấy ngài A Phược Đô Đế, cư trú dưới một hang đá
đen, dùng tóc làm y phục, da dầy cứng, hình thể khô, bụng lớn, mắt
đỏ sắc xanh, đang ngồi xếp bằng, tâm rời các sự phân biệt. Tôn Giả
mau mắn xuống ngựa, rồi cùng chư quyến thuộc đảnh lễ ngài A Phược Đô
Đế. Kế đến, Tôn Giả bèn ngồi qua một bên. Bấy giờ, ngài A Phược Đô
Đế từ trong định khởi dậy, mở mắt ra nhìn, và hỏi Tôn Giả từ đâu đến
? Tôn Giả chấp tay bạch:
- Con từ nước Tát
Hạ ở miền đông đến. Con đã gặp Bồ Tát Minh Liễu Đỗ Tập và cầu xin
quy y cứu hộ. Bồ Tát chỉ con tới đây cầu xin Ngài từ bi nhiếp thọ
dạy bảo.
Ngài A Phược Đô Đế
nghe xong liền bảo:
- Này Hoàng Tử ! Ta
cũng sanh trong vương gia. Vì sợ hoặc nghiệp thâm sâu, nên xả bỏ
vương vị, như gạt nước dãi. Nay Ngươi có khả năng tu hành theo pháp
A Phược Đô Đế chăng (16) ? Vương vị như thuốc độc; uống vào chút ít
sẽ đoạn mạng căn. Vương vị như hầm lửa; nếu rơi vào thì bị vô lượng
khổ. Ngươi nay nên trở lại vương cung, quán sát họa hoạn của vương
gia, rồi trở lại đây !
Tôn Giả nghe xong,
cung kính cúng dường, rồi cấp tốc trở về bổn quốc. Thấy Tôn Giả trở
về, tất cả nhân dân đều hoan ca vui mừng, cúng dường vô lượng kỷ
nhạc. Lúc Tôn Giả vào cung, phụ vương và mẫu hậu vui mừng vô hạn, và
hỏi thăm con mình đã đến những nơi chốn nào mà nay vẫn bình yên trở
về. Tôn Giả cung kính kể rõ tự sự, rồi khải bạch tâm cầu nguyện xuất
ly:
- Con đã từng đi
tham cầu các bậc sư trưởng, những vị Tăng Bảo của Tam Bảo. Con đã
từng đến hang động, núi rừng để tầm cầu. Dẫu đến bất cứ nơi nào cũng
thấy lỗi lầm của cõi Ta Bà. Hễ gặp pháp hữu nào, họ cũng đều nói với
con về những lỗi lầm của cõi Ta Bà. Mặc dầu đã đi tầm cầu học đạo
nhiều nơi nhưng con vẫn chưa mãn nguyện. Xin hãy cho con được tự do
nương y tu tập Phật pháp.
Phụ vương và mẫu
hậu đồng bảo:
- Con chán sanh tử,
thì nên tiếp thọ vương vị, cúng dường Tam Bảo, kiến lập Già Lam,
thừa sự tăng chúng. Đối với chư hữu tình, tu tâm đại bi, ban ân huệ
bố thí, khiến tất cả đều được an lạc. Sao lại như người khác, mà cầu
xuất ly ?
Tôn Giả thưa:
- Con đã thấy rõ về
cõi Ta Bà. Con chẳng đắm chấp vào cạm bẫy của vương vị chút nào.
Hoàng cung chẳng khác như tù ngục. Vương hậu chẳng khác gì con gái
của Ma Vương. Mặc áo gấm lụa là chẳng khác gì mặc tấm mền dơ bẩn.
Con phải vào núi rừng để thường tu thiền định. Hôm nay, xin cho con
chút ít sữa, mật, đường. Con sẽ đến nơi của ngài A Phược Đô Đế. Nếu
thật tình thương xót, kính xin phụ vương và mẫu hậu cho phép con
xuất gia, chớ nên lưu giữ con lại !
Bấy giờ phụ vương
và mẫu hậu nghe lời này, chẳng có lời nào để đối đáp, nên tạm thời
hứa khả. Tôn Giả được cha mẹ cho phép, bèn cùng một ngàn dũng sĩ trở
lại nơi ngài A Phược Đô Đế, cầu thỉnh giáo pháp. Đến nơi, Tôn Giả
cung kính cúng dường, chấp tay đảnh lễ. Ngài A Phược Đô Đế liền ban
pháp Phát Tâm, và bảo:
- Nay Ngươi nên qua
chùa Hắc Sơn (17), thân cận ngài La Hầu La Cấp Đa (Rahula-gupta), vị
Du Già Sư đang tu pháp Hoan Hỷ Kim Cang và Diêm Man Đức Ca. Nơi đó,
Ngươi nên cầu thỉnh thọ pháp Phát Tâm, pháp quán đảnh. Vị ấy cũng là
sư trưởng đời trước của Ngươi...
Tôn Giả nghe lời
dạy bảo, bèn cùng với một ngàn dũng sĩ, đến chùa Hắc Sơn. Bấy giờ vị
Du Già Hoan Hỷ Kim Cang (18) đang tuyên dương Mật pháp. Lúc thấy Tôn
Giả từ xa đi đến, vì muốn hiển thị thắng đức của Tôn Giả, và trừ
nghi cho đại chúng, khiến họ sanh tâm hy hữu, nên ngài La Hầu La Cấp
Đa khởi tâm đại bi, đánh tiếng sấm sét lớn lên đỉnh đầu của Tôn Giả
để thử Tôn Giả. Sau đó, ngài La Hầu La Cấp Đa lên đảnh núi Hắc Tháp.
Đại chúng thấy việc này, đều sanh tâm hy hữu, hỏi:
- Vị Vương Giả đó,
từ đâu đến đây ?
Vị Du Già Hoan Hỷ
Kim Cang đáp:
- Người này đã từng
hành hạnh tỳ kheo thanh tịnh trải qua 552 đời, đắc đại thiện xảo.
Đời nay sanh tại nước Tát Hạ, làm con của vua Thiện Thắng. Vương vị
và quyến thuộc thù thắng như thế, mà chẳng tham trước, nên xả bỏ tất
cả, hành những hạnh khó hành. A Phược Đô Đế bảo vị đó đến đây. Do
đầy đủ thắng đức, nên hiện cảnh tượng này, chẳng hy hữu lắm sao !
Bấy giờ, đại chúng
đồng thanh tán thán:
- Hy hữu thay !
Nói xong, tất cả
đồng đứng dậy, nghinh đón Tôn Giả. Thấy đại chúng nghinh đón mình,
Tôn Giả liền xuống ngựa và đi bộ thẳng đến trước mặt ngài La Hầu La
Cấp Đa, cung kính đảnh lễ, bạch:
- Kính xin Tôn Sư
cho con được trình bày ! Con tuy đã nguyện bỏ vương gia, cầu mong
đạt được giải thoát, nhưng vì chủng tánh cao quý, nên bị trói buộc ở
vương cung. Thuở trước con đã từng thân cận các vị đại thành tựu như
Thắng Địch, Bồ Đề Hiền, Minh Liễu Đỗ Tập, A Phược Đô Đế. Song, cho
đến giờ nầy, con vẫn chưa được giải thoát. Ngài A Phược Đô Đế dạy
con đến đây để thỉnh cầu Tôn Sư ban cho con tất cả pháp Đại Thừa,
phát tâm, quán đảnh, quyết định gia trì, để khiến được giải thoát !
Khi đó, ngài La Hầu
La Cấp Đa tự quán chiếu, rồi một mình dẫn Tôn Giả vào Mật Đàn,
truyền pháp quán đảnh Hoan Hỷ Kim Cang, mật hiệu Trí Mật Kim Cang (Jnanaguhyavajra).
Ngày đêm tương tục ban truyền giáo pháp, trải qua mười ba hôm thì
viên mãn. Trong những ngày đó, quyến thuộc một ngàn người đều ngủ mê,
chẳng biết khi nào Tôn Giả trở ra. Sau mười ba ngày, Tôn Giả bước ra,
làm Thắng Lạc Luân Tướng. Các quyến thuộc rất vui mừng khi gặp lại
Tôn Giả.
Bấy giờ, ngài La
Hầu La Cấp Đa lại tuyển ra tám vị Du Già Sư đại thành tựu, hộ tống
Tôn Giả trở về nước Tát Hạ để quốc vương dứt hết tâm tham luyến vớI
Tôn Giả. Trước khi trở về nước Tát Hạ, tám Du Già Sư đưa Tôn Giả trở
lại ngài A Phược Đô Đế để thọ giáo. Kế đến, Tôn Giả làm tướng Du Già
rồi cùng một ngàn quyến thuộc lên đường trở về vương cung. Phụ vương
và mẫu hậu cùng quyến thuộc đều ra cung thành nghinh đón. Vì có tâm
lo sợ rằng Tôn Giả sẽ xuất ly, nên suốt ba tháng phụ vương và mẫu
hậu tìm đủ mọI cách để ngăn cản, cầm giữ Tôn Giả ở lại. Vì vậy, Tôn
Giả và các vị Du Già Sư phải giả tướng điên cuồng đi chung quanh
vương thành. Thấy thế, vương gia và triều thần ai nấy đều buồn rầu
thương tiếc biết rằng không còn cách nào giữ Tôn Giả ở lại. Phụ
vương rơi lệ bảo Tôn Giả:
- Lúc con vừa đản
sanh thì có vô lượng điềm lành. Trẫm nghĩ rằng con sẽ nối ngôi vua,
nên tâm sanh vui mừng vô hạn. Nào ngờ, hôm nay con muốn trụ nơi núi
rừng, có phải khiến Trẫm thất vọng chăng !
Tôn Giả thấy vua
cha buồn thảm, nên an ủi:
- Thưa Phụ Vương !
Xin hãy nghe lời con. Giả sử nay con tiếp thọ vương vị, tuy tạm thời
được gần nhau, nhưng đó chẳng lâu dài. Lại nữa, trong nhiều đời
nhiều kiếp, nếu chẳng phải là bà con quyến thuộc (cha con) với nhau,
thì làm sao gần gũi vớI nhau qua nhiều đời để mà hưởng giàu sang phú
quý ? Con nay xả bỏ vương vị, hành đạo Bồ Đề, đạt giác ngộ giải
thoát. Đời đời kiếp kiếp phụ vương và con quyết cùng nhau gieo duyên
lành. Xin Phụ Vương từ bi mà nghe cho, chớ nên lưu giữ.
Thấy nhà vua đã cạn
lời, Hoàng hậu bảo Tôn Giả:
- Tình mẹ thương
con kể bao cho xiết nhưng có được ích lợi gì ! Vì ái nhiều mà nghiệp
lực đã lôi cuốn chúng sanh trong nhiều đời; mẹ ráng buông xả tâm lưu
luyến để con thỏa lòng mong muốn tìm thầy học đạo; mẹ nguyện cùng
con làm quyến thuộc mãi mãi về sau.
Tôn Giả được Hoàng
Hậu hứa khả cho, nên lòng đầy niềm vui như được việc chưa từng có.
Hôm sau, Tôn Giả cùng tám vị Du Già Sư rời hoàng cung, đến thọ giáo
với ngài A Phược Đô Đế, tu các hạnh khó hành, học luận Trung Quán (Madhyamika),
lý nhân duyên thâm sâu vi tế, cùng văn tư tu. Từ mười hai tuổi đến
mười tám tuổi, Tôn Giả thường y theo ngài A Phược Đô Đế tu học mà
chưa từng rời bỏ.
Năm mười lăm tuổi,
Tôn Giả y theo sở học về đạo lý của quyển Chánh Lý Trích Luận (19),
hàng phục được các luận sư ngoại đạo tài giỏi.
Đối với sự tu trì
Mật pháp, đa phần Tôn Giả đều được ngài La Hầu La Cấp Đa ban truyền.
Ngài La Hầu La Cấp Đa mới đầu tu tập theo Duy Thức Học, đạt được
kiến giải thấy tất cả pháp vốn là Duy Thức huyễn nghĩa. Tôn Giả vốn
đã tu tập Trung Quán, nên đắc kiến giải thấy tất cả pháp tánh nghĩa
không. Song, ngài La Hầu La Cấp Đa chẳng vui (20), bảo:
- Ông sanh các kiến
giải đó, hoàn toàn là do nghiệp xưa mà có.
Sau này, nhờ tu tập
Mật pháp mà ngài La Hầu La Cấp Đa đạt thành tựu, nên thấy rõ chân
tánh của các pháp. Vì vậy, ngài La Hầu La Cấp Đa bảo Tôn Giả:
- Bổn tánh của các
pháp, như lời ông nói.
Đối với kiến giải
về Trung Quán, Tôn Giả đều tu học từ ngài A Phược Đô Đế. Tuy là phái
Du Già Trung Quán (21) mà lấy chánh kiến của phái Nguyệt Xưng. Tôn
Giả tự bảo: "Ta hành trì giáo nghĩa của phái này, là do thọ giáo từ
Lạt Ma A Phược Đô Đế. Song, đối với phái của luận sư Nguyệt Xưng, Ta
thật có tín tâm thâm sâu."
Tôn Giả lại y theo
Lạt Ma Khất Thực Giả, thỉnh cầu pháp quán đảnh, được gia trì trí huệ
của Mật Tông, mà nhập vào biển pháp (22)
Lần nọ, lúc đang
trú ở vùng Tỳ Trát Ma Phú La (Vikramapura), Tôn Giả thấy một người
đàn bà vừa cười vừa khóc, bèn cảm thấy rất lạ kỳ, và biết vị này có
công đức hy hữu, nên đảnh lễ trong tâm, và thỉnh giáo. Bấy giờ bà ta
bảo:
- Ta thật có giáo
pháp.
Nói xong, bà ta bèn
đi sang hướng đông. Tôn Giả cũng đi theo. Lúc đến một ngôi nhà ngay
bên khu rừng, bà ta hỏi:
- Ông thấy Ta có
công đức chăng ?
Tôn Giả đáp:
- Thấy thật có công
đức.
- Ông có biết ý vừa
khóc vừa cười của Ta chăng ?
- Không biết.
- Ta khóc vì thấy
loài hữu tình lúc chưa được giải thoát, thường bị lưu chuyển trong
vòng sanh tử, thọ vô lượng khổ. Lúc họ đạt giải thoát, hiện tiền
thành Phật, nên Ta vui cười.
Nói xong, bà ta
liền hiện bổn thân Kim Cang Du Già Mẫu (Vajra Yogini), quán đảnh gia
trì Tôn Giả. Thấy điềm lành như thế, Tôn Giả bèn đảnh lễ cúng dường,
cầu thỉnh ban tất cả giáo pháp.
Bấy giờ, trong nước
Tát Hạ, ngoại đạo cùng Phật giáo tranh biện, mà tăng sĩ Phật giáo
chẳng biện luận bằng các luận sư ngoại đạo, nên các đạo tràng của
Phật giáo đều bị những luận sư ngoại đạo chiếm đoạt. Khi ấy, có một
vị Thượng Tọa, tâm ý bất an, chí muốn hàng phục ngoại đạo để lấy lại
các đạo tràng, nên đi khắp nơi tìm kiếm chư đại thiện xảo và Du Già
Sư, nhưng đã lâu mà chẳng thấy có một ai, khiến tâm ưu sầu vô hạn.
Ngày nọ, có một bà lão thấy Tôn Giả vừa đi ngang qua thành đó, với
thân tướng trang nghiêm tỏa ánh hào quang, bèn nghi đây là bậc có
công đức thù thắng, nên vội chạy đến báo tin cho vị Thượng Tọa kia
biết. Vị Thượng Tọa kia bèn tìm đến, thuật lại nhân duyên, và tự
thân cầu thỉnh, rồi được Tôn Giả hứa khả nhận lời. Về sau, Tôn Giả
thuyết phá tất cả ngoại đạo tà kiến, thu hồi lại mọi tự viện của
tăng chúng, và hàng phục cùng cảm hóa đồ chúng ngoại đạo, khiến họ
quy y Tam Bảo. Vị Thuợng Tọa kia vô cùng mừng rỡ. Thấy Tôn Giả có
hình tướng hành khất, nên vị Thượng Tọa kia rất thương xót, và
khuyên Tôn Giả hãy hiện tướng xuất gia để làm lợi ích cho thánh giáo.
Song, Tôn Giả chưa hứa khả. Được thỉnh cầu trú lại tụ lạc, Tôn Giả
vẫn không chấp thuận, mà bỏ đi.
Từ vùng Tát Hạ, Tôn
Giả đi về hướng tây, và tự nhủ: "Nay tất cả pháp gia trì, giáo thọ,
kham năng, tri giải đều nằm trong tay của Ta."
Lần nọ, trong giấc
mộng, Tôn Giả thấy chư Không Hành Mẫu, hiển hiện các mật điển hy hữu
chưa từng có, và hàng phục tâm ý ngã mạn của Tôn Giả. Ngày nọ, vị Độ
Mẫu hiện thân hỏi:
- Phải chăng Ông là
vị thiện xảo của Mật Thừa ?
Tôn Giả đáp:
- Phải !
- Ông có biết những
pháp tu khác chăng ?
- Xưa kia chưa từng
thấy qua.
- Ông sao lại quá
khinh mạn ! Mật pháp của ông như một sợi lông trong nhân gian mà
Không Hành Mẫu đang nắm trên tay.
Nói xong vị Độ Mẫu
liền biến mất. Từ đó, Tôn Giả mãi không còn tâm ngã mạn.
Mới đầu, Tôn Giả y
theo chư sư trưởng mà chuyên tu tập. Lần nọ, Tôn Giả mộng thấy Thắng
Lạc Luân, trụ trên hư không, bảo:
- Này Thiện Nam Tử
! Chỉ tu theo A Phược Đô Để thì chẳng thể chứng thánh quả. Ông nên
xuất gia. Sau khi xuất gia, sẽ có rất nhiều người theo ông mà xuất
gia thọ giới.
Lần nọ, Tôn Giả tự
nghĩ: "Ta phải đạt được Mật Thừa vô thượng của Đại Thủ Ấn trong đời
này, bằng cách tiếp thọ thêm những giới luật Mật Thừa."
Ngay khi ấy, ngài
La Hầu La Cấp Đa dùng lực thần thông đến trước Tôn Giả bảo:
- Ngươi nói gì ?
Ngươi bỏ quên chúng sanh rồi chăng ? Hãy thọ giới làm tỳ kheo ! Việc
này sẽ mang lại lợi ích cho chánh giáo và chúng sanh.
Lần khác, Tôn Giả
mộng thấy Phật Thích Ca và vô lượng chư tỳ kheo cùng ngồi thọ trai.
Tôn Giả đi đến, ngồi kế bên đức Phật. Đức Phật xoay đầu nhìn Tôn Giả
rồi hỏi đại chúng:
- Người này còn
tham trước điều gì mà không chịu xuất gia ?
Lần khác, lúc Tôn
Giả định dùng pháp của ngài A Phược Đô Đế để chuyên tu chứng pháp
Kiến Đế, thì gặp hóa thân của Tự Tánh Du Già Mẫu (23), bảo:
- Ông chớ nên tu
pháp A Phược Đô Đế, vì đời nay chẳng thể Kiến Đế (24), mà ngược lại
còn gặp nhiều chướng nạn. Từ nay, ông nên xuất gia, để làm lợi ích
cho thánh giáo của đức Phật.
Đêm nọ, Tôn Giả
mộng thấy trong một đạo tràng, chính giữa có một vị thượng tọa đang
ngồi trên một tòa ngồi cao lớn. Lúc Tôn Giả muốn bước vào, vị thượng
tọa đó bèn bảo:
- Đây là nơi của
người xuất gia. Ông là người tại gia, chớ nên vào đây (25).
Tỉnh dậy, Tôn Giả
tự bảo: "Nay Ta nhất định phải xuất gia."
Năm hai mươi chín
tuổi, Tôn Giả đến chùa Na Lan Đà vấn hỏi một vị đại thiện xảo:
- Con nên xuất gia
với bộ phái nào ?
Đáp:
- Ông có xả bỏ Mật
hạnh chăng ?
- Chẳng xả (26) !
- Nếu vậy thì ông
nên xuất gia theo phái của luận sư Phật Trí thuộc Đại Chúng Bộ (27).
Tôn Giả y theo lời
dạy bảo, đến Kim Cang Đại Bồ Đề tại chùa Ma Để Tỳ Ha La, y theo trì
luật thượng tọa Giới Hộ (28), thỉnh cầu thọ giới xuất gia, được ban
pháp hiệu là Kiết Tường Nhiên Đăng Trí (29), pháp danh A Để Sa (Atisa)
chánh thức nhập tăng đoàn, khủng bố ma quân, an ủi nhân thiên.
Tôn Giả thiện xảo
thanh minh và nội minh. Xuất gia xong, Tôn Giả thường thân cận vị
giáo thọ sư, tu học kinh luận luận Tiểu Thừa và Đại Thừa.
Lần nọ, vị giáo thọ
sư đó cùng ngoại đạo (Tirthika) biện luận. Biện luận chưa xong thì
vị giáo thọ sư đột nhiên nhuốm bịnh. Tôn Giả bèn thay thế thầy mình
mà biện luận, khiến ngoại đạo phải chịu thua. Ngoại đạo hỏi chúng
tăng:
- Vị thiện xảo này
tôi chưa từng nghe qua. Oai đức của vị này như thế nào ?
Đáp:
- Đây chẳng phải là
vị thiện xảo (thông đạt hết ngũ minh). Vị này chỉ tu tập thanh minh
mà thôi !
Ngoại đạo nghe qua,
khởi tâm cung kính run sợ.
Tôn Giả lần hồi y
theo vị giáo thọ sư mà học ngũ minh. Về sau, Tôn Giả sang chùa Đại
Bồ Đề mà tu tâm từ bi và tâm Bồ Đề. Nơi Kim Cang Tòa, vào mỗi năm,
nội đạo cùng ngoại đạo thường tụ hội, hưng khởi tranh biện. Ai bị
thua, phải đổi tôn giáo mà quy y theo kẻ thắng (30).
Lần khác, có một cô
gái ngoại đạo khởi tà tâm mến thích Tôn Giả, nên nói với người cha:
- Sao cha chẳng
hàng phục ông tỳ kheo kia ?
Ông ta bèn đến
thách thức luận biện với Tôn Giả. Song, Tôn Giả luận phá ông ta dễ
dàng, và khiến ông ta quy y Phật pháp.
Lần nọ, một ngoại
đạo ở phương nam, mang năm cây dù (31), đến nói Tôn Giả:
- Ngài vốn là một
luận sư trứ danh của Phật giáo. Tôi cũng là một luận sư trứ danh của
ngoại giáo. Hai chúng ta tranh luận. Tùy theo kẻ thắng, người thua
phải cải đổi tôn giáo. Chẳng biết tôn ý của Ngài như thế nào ?
Tôn Giả chấp thuận
trước sự chứng kiên của quốc vương nước Ma Kiệt Đà (Magadha). Tôn
Giả chưa khởi chút lao lực mà đã thắng ngoại đạo, khiến ngoại đạo và
đồ chúng phải cúng dường hết các cây dù rồi đảnh lễ tôn xưng Tôn Giả
làm thầy và xuất gia theo Phật pháp. Năm đó, lại có một ngoại đạo
mang tám cây dù đến, nhưng cũng bị Tôn Giả chiết phục mà xuất gia
theo Phật pháp. Vào năm nọ, có một ngoại đạo rất giỏi Thanh Minh và
Nhân Minh, mang mười ba cây dù đến, muốn tranh luận, được Tôn Giả
hứa khả. Buổi biện luận đó được tổ chức rất long trọng, vì có các
quốc vương và rất nhiều học giả của các tôn giáo khác cùng dân chúng
ở khắp nơi kéo đến dự nghe cuộc tranh biện. Dùng cơm xong, nội đạo
và ngoại đạo, hai bên phân chia phải trái. Lúc khai mạc buổi tranh
luận, tất cả lý luận thiện xảo thì ai ai cũng có thể hiểu được,
nhưng dần dần chỉ còn hơn 30 người hiểu rõ, rồi đến hai mươi người,
mười lăm người, mười người còn có thể hiểu. Đến lúc luận biện tối
cực thâm sâu, chỉ còn hai người là Tôn Giả và ngoại đạo kia hiểu
nhau thôi. Cuối cùng, vì sợ thua, nên ngoại đạo kia dùng một bài kệ
nghĩa lý thuộc về kiến chấp trong Thanh Minh mà chất vấn. Tôn Giả
chưa có thể giải đáp, nên cáo lui trở vào chùa ngồi tĩnh tọa (32).
Bấy giờ, Tôn Giả lập một đàn tràng trước tượng của vị Độ Mẫu, mà
khẩn thành cầu nguyện. Nhờ lực gia trì của vị Độ Mẫu, nên Tôn Giả
chợt liễu giải, bèn bước ra giải thích, khiến ngoại đạo kia phải
chịu quy phục, cúng dường các cây dù và xuất gia theo Phật pháp. Tóm
lại, khi ấy Tôn Giả chỉ mới ba mươi mốt tuổi. Đối với luận Thanh
Minh Nội Minh của nội giáo và ngoại giáo, cùng sáu mươi bốn loại
nghệ thuật, quán sát mặt trời, lời của chim chóc, địa lý, trân bảo,
bảo kiếm, ngựa, voi, nam, nữ, v.v... đều kiêm thông đạt thiện xảo.
Công Xảo Minh tức
là tất cả công nghệ, mỹ thuật như may y phục, nắn tạo tượng, v.v...
Tôn Giả thông đạt thâm sâu Thuyết Nhân Luận của Bồ Tát Long Mãnh
(33), cùng tất cả công xảo luận của nội giáo. Tôn Giả cũng thông đạt
tất cả công xảo luận của ngoại đạo như Ma Ha La do Đại Thiên Hưởng
Ca tạo. Đối với bộ luận Sự Nghiệp Biên Tế, Thế Gian Quỹ do Bà La Môn
Lăng Na Ca tạo và quyển luận Kiết Na Ca do vua Kiết Na Ca tạo, Tôn
Giả đều hiểu rõ. Về sau, khi đến Tây Tạng, Tôn Giả bảo:
- Tại Tây Tạng
chẳng có công xảo luận. Tại Thiên Trúc, Ta có công xảo luận, tức có
quyết định lượng, mà chẳng sai sót lầm lộn.
Y Phương Minh tức
là bộ minh luận chủ yếu mà tất cả mọi người chẳng thể thiếu sót.
Người đương thời thường dùng các loại thuốc trong Y Phương Minh để
trị liệu bịnh tật cho người, ngựa, voi, v.v... Tôn Giả thiện xảo
thông đạt những bộ kinh do đức Như Lai thuyết, như kinh Y Đồng Thỉnh
Vấn Trụ Y Phương Ích Tha, kinh Xúc Bổn, kinh Mạng Thực, luận Thiện
Đắc Dược (34), luận Tứ Chi, luận Mã Minh Bát Chi (35), v.v...
Tôn Giả cũng tự
trước tác Y Minh Luận như Mạng Tạng. Lúc sắp đến Tây Tạng, Tôn Giả
bảo:
- Đất Tây Tạng
không có y dược. Y Phương Minh này sợ sẽ bị mai một ẩn mất !
Bấy giờ, vị Độ Mẫu
hóa thân thành một con chim oanh vũ màu xanh biếc, bay đến bảo Tôn
Giả:
- Ông chớ ưu phiền.
Hãy đến đất Tây Tạng. Ta sẽ chỉ cho các loại y dược.
Khi Tôn Giả đến Tây
Tạng, Độ Mẫu chỉ ra các sơn dược và bình nguyên dược (36), v.v...
Tôn Giả bảo:
- Các loại cây
thuốc ở Ấn Độ, tại Tây Tạng đều có hết. So sánh thì các cây thuốc ở
Tây Tạng có hiệu năng mạnh hơn.
Nội Minh chia làm
Tiểu Thừa và Đại Thừa. Tiểu Thừa có bốn loại kiến hạnh. A La Hán
Thiện Hộ tạo quyển Tỳ Bà Sa Tạng Luận (37). Tại chùa Âu Đơn Đạt Phú
Lê (Odantapuri), Tôn Giả đã từng nghe luận sư Pháp Khải (Dharma-rakshita)
giảng giải về Tứ Phần Luật, bảy phần A Tỳ Đạt Ma, luận Đại Tỳ Bà Sa.
Người khác phải bỏ ra mười hai năm mới học thông suốt, nhưng Tôn Giả
chỉ cần bảy năm là học xong (38)
Ba tạng giáo điển
của hai mươi bộ phái lớn ở Ấn Độ như Đại Chúng Bộ, Thượng Tọa Bộ,
Chánh Lượng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ, Tôn Giả đều thông suốt chẳng còn
thừa. Pháp Thọ Thực, pháp Tịnh Thủy, pháp Duyên Khởi, pháp Giới Thể
của mười tám bộ phái, Tôn Giả đều biện biệt, thông đạt chẳng thiếu
sót.
Đại Thừa chia làm
Hiển Giáo và Mật Giáo. Hiển Giáo lại chia làm ba: Đầu tiên, dùng Tứ
Đế mà nhập môn, rồi y cứ theo kinh Tam Trượng Man, luận Kinh Trang
Nghiêm do ngài Mã Minh tạo, và y theo kiến giải của bộ luận Tỳ Bà Sa
mà tu tâm Bồ Đề; đó là theo sở truyền của luận sư Pháp Khải. Thứ hai,
nhập vào tất cả kinh điển Đại Thừa. Thứ ba, nhập vào lý Bát Nhã của
Đại Thừa; nơi đây lại phân ra Duy Thức Học và Trung Quán Học. Đầu
tiên, trong phái Duy Thức Học có phái của luận sư Hưởng Để Bạt. Kế
đến, có phái của luận sư Sư Tử Hiền. Trung Quán có phái của ngài
Nguyệt Xưng, và phái của ngài Tĩnh Thiên do Bồ Tát Văn Thù truyền.
Bồ Tát Di Lặc truyền pháp cho ngài Vô Trước, rồi sau này truyền đến
các luận sư Kim Châu, Pháp Xưng (hay Hộ Pháp), luận sư Minh Liễu Đỗ
Tập.
Mật Giáo phân làm
bảy bộ:
1/ Tác Bộ: Có bốn
ngàn loại, như kinh Tô Tất Địa, Diệu Tý Vấn, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Văn
Thù Căn Bổn Giáo Vương, v.v...
2/ Hành Bộ: Có tám
ngàn loại, như kinh Tỳ Lô Như Lai Hiện Chứng Bồ Đề, Kim Cang Thủ
Đảnh , v.v...
3/ Phân Biệt Bộ: Có
bốn ngàn loại, như kinh Kiến Lập Tam Chủng Tam Muội Da Vương, v.v...
4/ Nhị Câu Bộ: Có
sáu ngàn loại, như kinh Huyễn Võng, Liên Hoa Vũ Tự Tại, v.v...
5/ Du Già Bộ: Có
rất nhiều loại, như kinh Thắng Tam Thế, Thắng Du Già, Kim Cang Đảnh,
v.v...
6/ Đại Du Già Bộ:
Có 12.000 loại, như kinh Tập Mật, kinh Nguyệt Mật, Hắc Sắc Diệm Man
Đức Ca, Điều Phục Bất Không, Trí Kim Cang Tập, v.v...
7/ Vô Thượng Du Già
Bộ: Có 12.000 loại, như Đẳng Hư không, Thắng Lạc Luân, Đại Huyễn
Thuật Kim Cang Tứ Tọa, v.v...
Tôn Giả đều thông
suốt hết tất cả những loại kinh tạng đó. Xưa kia, Tôn Giả khởi tâm
ngã mạn do vì trong một giấc mộng nọ, thấy mình đến chùa Hải Mật
(hay Hải Hộ) nghe luận sư Ngữ Tự Tại giảng một ức bốn trăm năm mươi
loại Mật kinh. Tỉnh dậy, Tôn Giả chẳng quên một chữ. Trong số đó,
Tôn Giả chuyên nghiên cứu thắng nghĩa của sáu loại kinh. Tôn giả y
theo ngài Chủng Bỉ Bạt mà thọ sự gia trì của Mật pháp; việc này cũng
do từ trong mộng mà đắc được. Tôn Giả bảo:
- So sánh giữa kinh
và luật của Tiểu Thừa, thì kinh tạng có nhiều hơn. So sánh kinh tạng
của Đại Thừa và Tiểu Thừa, thì kinh tạng của Đại Thừa có nhiều hơn.
So sánh ba tạng kinh, luật, luận của Đại Thừa, thì luận tạng có
nhiều hơn. So sánh tất cả, thì kinh điển thuộc Tác Bộ của Mật Thừa
có nhiều hơn; so sánh nữa thì Du Già Bộ có nhiều hơn; so sánh nữa
thì Mẫu Bộ có nhiều hơn; so sánh tất cả thì kinh điển của Trí Huệ Bộ
đặc biệt có nhiều hơn. Nhân gian nay chỉ còn ít phần.
Sau khi được Bổn
Tôn và Không Hành Mẫu chiết phục tâm ngã mạn, Tôn Giả lại suy nghĩ:
"Tất cả pháp trên nhân gian, Ta đều có khả năng đạt thiện xảo hết."
Lúc đến Tây Tạng,
trú tại chùa Tang Da (39), Tôn Giả mở cửa kho, duyệt qua các quyển
kinh bằng văn chữ Phạn, thấy những kinh điển nhiều vô số, mà chưa
từng biết đến, nên bảo rằng tông hệ của đại sư Liên Hoa Sanh do
Thiên Long thỉnh đến (40).
Vì chánh pháp mà
chẳng tiếc thân mạng, là định chế của tất cả chư Phật và chư Bồ Tát.
Tôn Giả vì cầu pháp, nên đi khắp Ngũ Thiên (41) Ổ Cẩn (42), và các
châu đảo (43) trong biển cả mà tham học với các vị đại thiện tri
thức đã chứng đắc thành tựu. Thế nên, Tôn Giả tiếp thọ sự truyền
thừa của tất cả giáo pháp Đại-Tiểu Thừa và Hiển-Mật giáo.
Tôn Giả tiếp thọ
dòng truyền thừa Nhị Thừa và Đại Thừa như sau:
Đầu tiên, Bồ Tát
Văn Thù hiện thân truyền pháp cho luận sư Phật Trí Túc; ngài Phật
Trí Túc truyền cho Nhiên Đăng Hiền; Nhiên Đăng Hiền truyền cho Tự
Giả; Tự Giả truyền cho Ca Na Bạt; Ca Na Bạt truyền cho Trí Thắng Bạt
(hoặc Thắng Trí Bạt); Tôn Giả y chỉ theo dòng truyền thừa này.
Sự truyền thừa của
Đại Thừa phân làm năm chi nhánh:
1/ Mật Chú Truyền
Thừa: Lại phân làm năm hệ.
a/ Truyền thừa tất
cả mật chú. Từ Bồ Tát Long Mãnh (tức Long Thọ), đến Thánh Thiên (Đề
Bà), Ma Để Kiết La, Đắc La Du Cách, Kiết Để Bạt La, Diệu Kiết Tường
Hiền, Bạc Để Đà La, Hưởng Để Bạt, rồi đến Tôn Giả.
Lại có một phái từ
ngài Phật Trí, đến Phật Mật, Phật Tĩnh, Đại Cốc Tô Lô, Tiểu Cốc Tô
Lô, rồi truyền đến Tôn Giả.
b/ Truyền thừa Tập
Mật. Lúc Phật còn tại thế, vua Ổ Cẩn ở Tây Ấn hiệu là Nhân Đà La Bạc
Để (Indrabhuti), đang cư trú trên mười ba tầng lầu, thấy trên nền
trời dường như có các con chim màu vàng bay lượn; trước giờ ngọ thì
bay về hướng nam; sau giờ ngọ thì bay lại hướng bắc; nhà vua vấn hỏi
đại thần Thắng Hiền, nhưng ông ta chẳng biết loài chim đó là gì. Về
sau, nhà vua vấn hỏi thần dân trong đô thị, thì họ đáp:
- Đó chẳng phải là
loài chim, mà là chư đệ tử A La Hán của thái tử con vua Tịnh Phạn,
vị đã xuất gia chứng quả Phật. Những vị A La Hán này dùng lực thần
thông, mà bay qua lại.
Nhà vua nghe qua,
bèn chí thành cầu khẩn đức Thế Tôn giáng lâm thừa thọ sự cúng dường
của ông ta. Nhà vua tự bạch: "Đại đức Thế Tôn ! Xin dạy cho con
phương tiện giải thoát khỏi sanh tử khổ não."
Bấy giờ đức Thế Tôn
hiện đến, bảo:
- Ông có thể xả bỏ
quốc độ mà xuất gia chăng ?
Nhà vua thưa:
- Con chẳng thể xả
bỏ quốc độ được. Xin đức Thế Tôn từ bi chỉ dạy phương tiện thành
Phật mà không cần xả bỏ quốc độ.
Khi ấy, đức Thế Tôn
hiện thân Kim Cang Trì, vì nhà vua và các quyến thuộc mà truyền pháp
quán đảnh Tập Mật. Nhà vua và chư quyến thuộc y theo kinh Tập Mật và
các Mật giáo, mà thành tựu được Đại Ấn (44). Nhà vua đem bộ kinh và
Mật giáo này truyền cho Long Nữ Du Già Mẫu, rồi pháp này được truyền
đến Tát La Ha (45), Long Mãnh, Tôn Cách La Để, Tinh Tấn Từ, Tả Tỳ
Bạt La Đạt, Di Hý Kim Cang, Cái Địa Túc, rồi tới Tôn Giả. Lại có một
phái do ngài Long Mãnh truyền cho Nguyệt Xưng, Minh Liễu Đỗ Tập
(46), Tiểu Cốc Tô Lô (47), rồi đến Tôn Giả. Lại có một phái gọi là
Phật Trí Túc (48), truyền cho Liên Hoa Giả, vua Nhân Đà La Bạc Để,
Thiện Thục, vua Đảnh Sanh, Diệu Kiết Tường Tri Thức, Phật Trí, Cang
Bạt La, Du Hý Kim Cang, Cái Địa Túc, Hưởng Để Bạt, rồi tới Tôn Giả.
Ba phái của Tập Mật, Tôn Giả đều được truyền thừa.
c/ Truyền thừa Mẫu
Bộ. Từ ngài Long Địa, đến Đương Cách Phược, Đạt Nhật Ca Bạt, sa môn
Thắng Địch, rồi tới Tôn Giả (49).
d/ Truyền thừa Cách
Du. Từ ngài Phật Trí truyền đến ngài Phật Tĩnh, Phật Mật, Đại Cốc Tô
Lô, Tiểu Cốc Tô Lô, rồi tới Tôn Giả.
e/ Truyền thừa Diệm
Man Đức Ca. Từ ngài Liên Hoa Khải truyền đến ngài Mặc Túc, rồi tới
Tôn Giả.
Tôn Giả nói:
- Chư sư trưởng đó
đều thành tựu sự chứng đắc, đầy đủ vô lượng công đức. Tuy bảo rằng
các Ngài đạt thiện xảo nơi Mật Thừa, mà chẳng vượt ngoài sự thiện
xảo Hiển Giáo (50).
2/ Hiển-Mật Truyền
Thừa. Phân làm hai phái Thanh Tịnh Thân và Thanh Tịnh Hạnh.
a/ Truyền thừa
Thanh Tịnh Thân. Từ Bồ Tát Long Mãnh, đến ngài Minh Liễu Đỗ Tập, Đại
A Phược Đô Đế, Tiểu A Phược Đô Đế, rồi tới Tôn Giả. Tôn Giả cũng
được truyền thừa trực tiếp từ luận sư Minh Liễu Đỗ Tập. Đầu tiên,
Tôn Giả y theo ngài Hưởng Để Bạt mà học Duy Thức. Kế đến, Tôn Giả bỏ
Duy Thức mà thọ trì Trung Quán. Khi ấy ngài Hưởng Để Bạt không vui,
bảo:
- Gọi là đệ tử của
Ta, thì phải tổng trì hết học thuyết đó.
Về sau, ngài Hưởng
Để Bạt giảng cho Tôn Giả nghe về Bát Thiên Tụng, và cực lực bài xích
Trung Quán, mà thành lập thuyết Duy Thức. Tôn Giả tự bảo: "Chẳng
những không thể phá được kiến giải đó (51), mà còn hỗ trợ cho sự
khởi tâm quyết định."
b/ Truyền thừa
Thanh Tịnh Hạnh. Có hai hệ truyền thừa của Bồ Tát Di Lặc và Văn Thù.
A/ Truyền thừa của
Bồ Tát Di Lặc. Bồ Tát Di Lặc truyền cho ngài Vô Trước, rồi đến Thế
Thân, Thánh Giải Thoát Quân (52), đại đức Giải Thoát Quân (53),
Thắng Quân, Điều Phục Quân, thánh đức đại thành tựu Tỳ Lô Giá Na Bạt
Đà La (54), Sư Tử Hiền Bảo, Bảo Quân (55), đại sư Kim Châu, rồi tới
Tôn Giả. Chư sư của phái này, có vị đắc thượng phẩm thành tựu; có vị
đắc cộng thành tựu. Các ngài đều là những vị có chánh kiến thù đặc.
B/ Truyền thừa của
Bồ Tát Văn Thù. Bồ Tát Văn Thù truyền cho ngài Vô Tận Huệ (56), Ái
La Đạt Để (57), Dũng Mãnh Kim Cang, Bồ Tát Ma Ha Bảo Lợi La Na, đại
sư Kim Châu, rồi tới Tôn Giả. Đây là một học phái lớn tu về tâm Bồ
Đề.
3/ Truyền thừa cộng
Hiển-Mật. Từ ngài Long Mãnh, truyền đến Đề Bà, Nguyệt Xưng, Đắc La
Du Cách, Minh Liễu Đỗ Tập, Trí Bồ Đề, Diệu Kiết Tường Hiền, Hưởng Để
Bạt, rồi tới Tôn Giả. Lại có một phái từ ngài Long Mãnh, truyền đến
ngài Đề Bà, Ma Để Chi Đa, Đắc La Du Cách, Kiết Để Bạt Hiền, Diệu
Kiết Tường Hiền, Bồ Đề Hiền, Hưởng Để Bạt, rồi tới Tôn Giả. Chư luận
sư đó đều có đủ công đức của Hiển giáo và Mật giáo.
4/ Truyền thừa
chứng đắc thành tựu có hai hệ:
a/ Từ ngài Diệu
Kiết Tường Hiền truyền đến ngài Hưởng Để Bạt.
b/ Từ ngài Kim Cang
Thủ truyền đến ngài Liên Hoa Giả, vua Nhân Đà La Bạc Để, em gái của
vua Nhân Đà La Bạc Để, Trí Bồ Đề, Tả Tỳ Bạt La, Kim Cang Bồ Đề, Diệu
Kiết Tường Hiền, Hưởng Để Bạt, rồi đến Tôn Giả. Chư sư đó đều là các
bậc thành tựu thượng phẩm.
5/ Truyền thừa Gia
Trì, có hai phái:
a/ Bồ Tát Kim Cang
Trì truyền cho Bồ Tát Huệ Hiền (58), đến Nõa Nhiệt Bạt (59), Chủng
Bỉ Bạt, rồi tới Tôn Giả.
Xưa kia, Tôn Giả
nghe thắng đức của ngài Chủng Bỉ Bạt, nên muốn đến tham vấn, nhưng
chưa toại nguyện, bèn khởi tâm quán tưởng cúng dường, ân cần cầu
khẩn. Đêm nọ, Tôn Giả mộng thấy một vị tỳ kheo, vừa từ xa đi đến và
vừa ăn một cánh tay người. Tôn Giả nghĩ thầm: "Bậc xuất gia sao lại
ăn thịt người !"
Vị Tỳ kheo đó bảo:
- Phật cũng có lỗi
sao ?
Tôn Giả cảm thấy
xấu hổ. Vị tỳ kheo kia bảo:
- Ông có muốn ăn
chăng ?
Trong mộng, Tôn giả
đáp:
- Muốn ăn !
Tôn Giả vừa ăn xong,
bèn được sự gia trì. Sáng hôm sau, Tôn Giả tỉnh dậy, tùy ý mà nhập
vào tam ma địa (thiền định) vô phân biệt. Tôn Giả lại tự nhủ: "Đây
là sự gia trì của chư Phật chư Bồ Tát, hay là sự gia trì của ngài
Chủng Bỉ Bạt ? Thật chẳng biết rõ !"
Về sau, có một vị
thường trì chú, đến cầu thỉnh ngài Chủng Bỉ Bạt gia trì. Ngài Chủng
Bỉ Bạt bảo:
- Ông cùng Ta chẳng
có duyên lành.
Người kia hỏi:
- Vậy Ngài có duyên
với ai ?
- Trong chùa Tỳ
Trát Ma Thi La có một vị tỳ kheo xuất thân từ dòng vương gia, hiệu
là Kiết Tường Nhiên Đăng Trí (60). Trong cơn mộng nọ, Ta đã từng
hiện tướng gia trì cho vị đó. Ngươi hãy đến gặp vị đó mà cầu thỉnh.
Vị trì chú đó bèn
đến tìm Tôn Giả và thuật lại lời của ngài Chủng Bỉ Bạt. Nhờ vậy mà
Tôn Giả biết rằng vị hiện trong mộng và gia trì cho mình chính là
ngài Chủng Bỉ Bạt.
Vị trì chú kia ngày
ngày cúng đàn, ân cần thỉnh cầu gia trì. Ngày nọ, vị này tự bảo rằng
đã nhờ ơn gia trì đầy đủ của Tôn Giả. Tôn Giả hỏi:
- Ông thấy việc gì
?
Vị đó thưa:
- Thấy đạo tràng
thắng lạc viên mãn.
- Ông đã chứng kiến
đế rồi !
Lần nọ, vị trì chú
kia mang y phục và vật thực đến cúng dường chư tăng, rồi vào núi
rừng tu tập. Lúc Tôn Giả vừa muốn gặp, thì vị này liền đến lập tức.
Lúc vào Tây Tạng, Tôn Giả tự nghĩ: "Nay đệ tử của Ta hiện đang ở đâu
?"
Bấy giờ, vị trì chú
này liền hiển lộ thân hình. Tôn Giả bảo:
- Tại sao biết Ta ở
đây mà đến ?
Vị đó đáp:
- Tại vì Thầy nghĩ
đến con !
b/ Từ ngài Phật Hộ
truyền cho ngài Phật Trí, đến ngài Phật Mật, Đại Cốc Tô Lô, Tiểu Cốc
Tô Lô, rồi tới Tôn Giả. Các vị sư trưởng của phái này đều đạt được
tam ma địa vi diệu thù thắng. Những công đức đó, Tôn Giả đều có đầy
đủ.
Lại nữa, có bốn
loại truyền thừa, tức là sự truyền thừa của Tánh Tướng (61), sự
truyền thừa của Phát Tâm, sự truyền thừa của Tông Phái, sự truyền
thừa của các loại giáo pháp.
1/ Sự truyền thừa
của Tánh Tướng. Do ngài Pháp Xưng truyền đến ngài Sư Tử Hiền, Na Lạc
Ba, rồi tới Tôn Giả. Từ ngài Long Mãnh truyền đến ngài Minh Liễu Đỗ
Tập, rồi tới Tôn Giả. Lại nữa, vì nghe danh về phái của Bồ Tát Long
Đức, Tôn Giả vượt biển cả mà đến A Lan Nhã để thọ giáo (62).
2/ Sự truyền thừa
của pháp Phát Tâm có ba hệ:
a/ Giáo thì y theo
kinh Vô Cấu Xưng; lý thì y theo Bồ Tát Địa; kiến giải thì y theo Duy
Thức mà hành. Tôn Giả thọ pháp này từ đại sư Kim Châu. Chư sư truyền
thừa từ Bồ Tát Di Lặc đến ngài Vô Trước, Thế Thân, Kiên Huệ, Đại Cốc
Tô Lô, Tiểu Cốc Tô Lô, Kim Châu, rồi tới Tôn Giả.
b/ Giáo thì y theo
kinh Hư Không Tạng; lý thì y theo Tập Bồ Tát Học Luận và Bồ Tát Hạnh
Luận; kiến giải thì y theo Kinh Bộ mà hành. Tôn Giả thọ pháp từ ngài
Từ Du Già.
c/ Giáo thì y theo
kinh Tam Trượng Man; lý thì y theo Kinh Trang Nghiêm Luận của ngài
Mã Minh; kiến giải thì y theo luận Bà Sa mà hành. Tôn giả cầu pháp
này từ ngài Pháp Khải.
3/ Sự truyền thừa
của Tông Phái (63). Từ sự hiện thân A Phược Đô Đế của Bồ Tát Văn Thù
cho đến ngài Hưởng Để Bạt, tổng cộng có tám vị. Truyền đến Tôn Giả
là đời thứ chín. Tôn Giả thiện xảo phân biện tông giáo rất thâm sâu.
Trước kia, có một
vị thông đạt ngũ minh, hiệu là Địa Tạng. Vị này có khi theo nội giáo,
có khi theo ngoại giáo, vì cho rằng nội giáo và ngoại giáo chẳng
khác nhau. Ngày nọ, lúc gặp vị này, Tôn Giả bèn phân tích biện biệt
rõ ràng gì là nội giáo và gì là ngoại giáo. Do đó, ngài Địa Tạng bèn
khởi tín tâm, cầu làm đệ tử của Tôn Giả. Sau này, ngài Địa Tạng là
vị đại thiện xảo, biện biệt được nội giáo và ngoại giáo.
Lúc đến Tây tạng,
Tôn Giả than:
- Người giỏi biện
biệt được nội giáo và ngoại giáo là đại sư Kim Châu, tôn sư Na Lạc
Ba và Ta, cùng cao đệ Địa Tạng. Song, đối với sự quyết nghi và thỉnh
vấn, chỉ có Ta và tôn sư Na Lạc Ba là có đầy đủ thiện xảo. Nay tôn
sư Na Lạc Ba đã thị tịch. Ta lại vào Tây Tạng. Phật giáo Ấn Độ chắc
sẽ bị thua bại về tay ngoại đạo.
Khi nghe đại sư
Pháp Khải viên tịch, Tôn Giả lại than:
- Nay Đại Sư đã thị
tịch. Ta lại vào Tây Tạng. Phật giáo Ấn Độ chắc sẽ bị thua bại !
Lúc ngài Hưởng Để
Bạt viên tịch, Tôn Giả cũng bảo:
- Tôn Sư đã thị
tịch. Ta nay đến Tây Tạng. Phật giáo Ấn Độ chắc sẽ bị thua bại !
Những dữ kiện trên
cho thấy rằng Tôn Giả luôn giữ địa vị Tổ Sư quan trọng trong mọi
tông phái Phật giáo Ấn Độ.
4/ Sự truyền thừa
của các loại giáo nghĩa. Từ ngài Long Mãnh truyền đến ngài Long Trí,
Hành Giả, Tỳ Lô Khư, Hưởng Để Bạt, và Tôn Giả. Lại nữa, có một phái
từ ngài Long Mãnh truyền đến ngài Nguyệt Xưng, Minh Liễu Đỗ Tập, A
Phược Đô Đế, đại sư Kim Châu, và Tôn Giả. Ngoài ra, có một phái
truyền từ ngài Long Mãnh, đến ngài Đề Bà, Nguyệt Xưng, Đắc La Du
Châu, Ma Để Tát Đề La, Trí Bồ Đề, và Tôn Giả. Giáo pháp của các vị
sư trưởng, Tôn Giả đều tiếp thọ hết. Công đức của các vị sư trưởng,
Tôn Giả đều có đầy đủ.
Giữa những bậc sư
trưởng đó, Tôn Giả thường y chỉ theo các vị như Kim Châu (64), Hưởng
Để Bạt, Bồ Đề Hiền (hay Giác Hiền), Thắng Địch.
Tổng quát, sau khi
đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, ngài Ca Diếp tiếp thọ giáo pháp, rồi
truyền cho ngài A Nan. Truyền thừa từ từ như thế, cho đến ngài Đại
Cốc Tô Lô. Giáo pháp của Bồ Tát Di Lặc cũng truyền xuống đến ngài
Đại Cốc Tô Lô. Giáo pháp Mật Thừa như kinh Tập Mật do ngài Long Mãnh
truyền cho ngài Phật Trí, vua Nhân Đà La Bạc Để, rồi đến Đại Cốc Tô
Lô. Nói chung, tất cả giáo pháp của đức Như Lai đều truyền xuống cho
ngài Đại Cốc Tô Lô. Ngài Đại Cốc Tô Lô có đầy đủ công đức như đức
Thế Tôn; vị này truyền cho ngài Tiểu Cốc Tô Lô; ngài Tiểu Cốc Tô Lô
(65) truyền cho đại sư Kim Châu; đại sư Kim Châu truyền cho tôn giả
A Để Sa (66).
Tôn Giả biết đến
oai đức của đại sư Kim Châu lan khắp Ấn Độ, và lại nghe rằng vị này
y theo tâm từ bi mà thuyết pháp và cũng là bậc sư trưởng nhiều đời
của mình, nên phát khởi tín tâm thâm sâu. Do đó, Tôn Giả quyết định
tìm đến đại sư Kim Châu để cầu học (67). Cùng với 125 vị đại đệ tử,
Tôn Giả lên thuyền vượt biển để đến Kim Châu. Trong mười ba tháng,
năm tháng đầu Đại Tự Tại Thiên muốn lưu giữ Tôn Giả ở lại, nên hóa
thành một con cá voi Ma Kiệt Đà mà ngăn trở thuyền, và lại thổi gió
ngược, cùng đánh sấm chớp. Vì gió mạnh biển động, sóng cả chảy cuồn
cuộn, khiến người trên thuyền đều sợ hãi. Bấy giờ Địa Tạng cầu thỉnh
Tôn Giả mau chóng hàng phục Đại Tự Tại Thiên. Tôn Giả trụ nơi tâm từ
bi, khiến cuồng phong dừng lặng, sấm chớp cũng ngưng. Tôn Giả cũng
trụ pháp Du Già Diệm Man Đức Ca mà hàng phục cá voi. Khi ấy, Đại Tự
Tại Thiên hóa thân đồng tử yếu đuối xanh xao, lên thuyền sám hối tội
lỗi, khiến sóng cả đều dừng. Lúc đó, thánh Bất Động Tôn hiện thân to
lớn, chân bước tận đáy biển, đầu đụng tới mây, tay giữ chiếc thuyền,
dạng trạng như tráng sĩ đứng chống tích trượng. Hai mươi mốt vị Độ
Mẫu cũng hiện thân, và bảo Địa Tạng:
- Này Cụ Thọ !
Ngươi hãy tự lấy không hoa này (68) mà đánh Bà Bạt Na Tha (69),
khiến chúng quy y.
Địa Tạng bèn y theo
lời dạy mà dùng tay kết ấn khủng bố, đem sấm sét mà đánh chư ngoại
đạo, các quốc vương ngoại đạo, các tà thần hắc ám, khiến họ đều thối
tán bỏ chạy hết !
Sau nửa tháng,
thuyền được xuôi buồm thuận gió. Song, lại có gió nghịch khởi lên,
nên Địa Tạng cầu khẩn Tam Bảo, Không Hành Mẫu, Hộ Pháp gia trì. Gió
nghịch tuy ngừng, nhưng gió thuận cũng chẳng có, khiến thuyền ngừng
chạy cả nửa tháng, rồi sau mới bình an đến bến.
Theo truyện ghi lại
về việc đến tham bái đại sư Kim Châu thì lúc Tôn Giả vừa đến nơi,
liền hỏi thăm đại sư Kim Châu Pháp Xưng hiện trú nơi nào ? Có một vị
tỳ kheo thưa:
- Bảy ngày trước
đây, đại sư Kim Châu cũng hỏi xem đại sư Thiệm Bộ Châu (70) đã đến
chưa ?
Thầy trò hỗ tương
vấn hỏi mà chưa gặp nhau. Bấy giờ, dân chúng ở Kim Châu đều nghe tin
Tôn Giả đã đến. Về sau, có một người hỏi:
- Tầm cầu đại sư
Kim Châu Pháp Xưng có phải là Ngài chăng ?
Tôn Giả đáp:
- Phải.
- Xin hãy theo con.
Con sẽ chỉ chỗ của đại sư Kim Châu cho.
Bấy giờ, Tôn Giả
vẫn an nhiên ngồi tĩnh tọa. Có một vị sa di đến hỏi Tôn Giả:
- Bạch Ngài ! Có
phải Ngài là người Thiệm Bộ Châu (Ấn Độ) chăng ?
Tôn Giả đáp:
- Phải.
- Ngài đến đây cầu
pháp hay cầu tài ?
- Cầu pháp.
Lần khác, Tôn Giả
thấy trước tháp của đức Thiện Thệ (đức Phật), có sáu vị tỳ kheo đệ
tử của đại sư Kim Châu đang tịnh tu. Khi ấy, Tôn Giả cùng chư đệ tử
trú lại nơi đó mười bốn ngày, và thỉnh hỏi về truyện ký của đại sư
Kim Châu, cùng thứ lớp hỏi về sự thọ trì như thế nào, lấy kinh luận
gì làm chủ yếu, tu hành chứng đắc có công đức gì, v.v... Lúc ấy, các
vị đó dùng lời chân thật mà đối đáp, khiến cho Tôn Giả sanh khởi tâm
vui mừng vô hạn, như đăng Sơ Địa (71).
Các vị đó cũng hỏi
Địa Tạng về truyện ký của Tôn Giả. Địa Tạng liền thuật lại về sự
tích của tôn giả A Để Sa, như xả bỏ vương vị mà xuất gia, thân cận
vô lượng chư thiện tri thức, đầy đủ các công đức thù thắng quảng đại.
Các vị đó bảo:
- Nếu vậy thì có
phải là vị trụ trì Phật Giáo Ấn Độ, hiệu là Kiết Tường Nhiên Đăng
Trí chăng ?
Địa Tạng đáp:
- Phải !
Các vị đó quên hỏi
han về cuộc hành trình khổ nhọc của Tôn Giả và các đệ tử mà đã vội
đảnh lễ xưng tán, tạ tội ngã mạn. Tôn Giả cũng đáp lễ. Họ lại hỏi về
tôn ý đến nơi đó của Tôn Giả. Tôn Giả liền kể rõ nhân duyên, và nhờ
họ chuyển lời này mà tác bạch với đại sư Kim Châu. Đến trước đại sư
Kim Châu, họ bèn thưa:
- Kính bạch đức Tôn
Sư tối thắng ! Nay có vị trụ trì Phật giáo Ấn Độ là Kiết Tường Nhiên
Đăng Trí cùng 125 người đệ tử đã đến châu này. Trong mười ba tháng,
trên biển cả hàng phục Ma Vương và Đại Tự Tại Thiên ngoại đạo. Ba
nghiệp thân miệng ý đều không khiếm khuyết. Các ngài đã đến gặp và
cùng chúng con nghị luận pháp nghĩa qua mười bốn ngày, đã khiến thân
tâm chúng con càng thêm hoan hỷ. Hôm nay, chánh ý của các ngài là
muốn đến tham vấn đức Tôn Sư, để nghe kinh Xuất Sanh Tam Thế Nhất
Thiết Phật Mẫu (72), học tập hai tâm Bồ Đề hạnh và nguyện. Các ngài
lại mong muốn ngày đêm tiếp thọ sự giáo huấn của đức Tôn Sư (73).
Xin đấng Đại Bi hãy hứa khả cho.
Đại sư Kim Châu
nghe lời này bèn tán thán:
- Lành thay ! Nay
địa chủ đã đến, nhân vương tử đã đến, chúng sanh chủ đã đến, đại
dũng mãnh đã đến, đầy đủ quyến thuộc đã đến. Hành đại thiện khó hành;
giỏi hàng phục Hắc Đại Tự Tại Thiên; giỏi xiển dương pháp tràng;
chẳng bị nạn nào. Tỳ kheo thấy pháp y, phải nên cung nghinh các bậc
thắng giả đó !
Khi ấy, tất cả chư
tỳ kheo đệ tử của đại sư Kim Châu đồng đắp ba y ca sa, mang tích
trượng quân trì, oai nghi trang nghiêm như chư vị A La Hán, khiến
dân chúng sanh khởi tín tâm. 535 vị tỳ kheo cùng 62 sa di, đồng với
đại sư Kim Châu, đi ra ngoài nghinh đón. Tôn Giả thấy đại sư Kim
Châu đắp ba y ca sa trang nghiêm, mang một bình bát và cây tích
trượng bằng sắt tuyệt đẹp, thật giống như đức Thế Tôn còn tại thế,
có chư vị A La Hán vây quanh, nên khởi tâm thâm tín, vui mừng vô hạn.
Bấy giờ Tôn Giả do
được thuận duyên, nên sai bốn đại đệ tử mang các đồ cúng dường như
một chiếc bình lưu ly chứa đầy vàng bạc, xa cừ, mã não, san hô, hỗ
phách. Điềm lành này biểu thị rằng Tôn Giả sẽ tiếp thọ giáo pháp
phát tâm Bồ Đề (giác ngộ) hoàn toàn, cũng như một chiếc bình chứa
hết tất cả đồ châu báu. Tôn Giả cùng các vị tỳ kheo thông đạt ngũ
minh, đắp ba y ca sa trang nghiêm của Đại Chúng Bộ (Mahasamgika),
mang bình bát và tích trượng bằng sắt của Như Lai, và bạch phất. Các
vị đó là Hành Hiền, Pháp Thân, Thân Sanh, Dũng Mãnh Kim Cang, v.v...
Có 108 vị tỳ kheo đại thiện xảo ba tạng giáo điển (74) như Trí Hiền,
v.v... Lại có 13 Sa Di, 4 đại tỳ kheo. Tổng cộng có 125 vị đi theo
sau Tôn Giả, không thưa không gần, độ lượng trung dung, uyển chuyển
đi như tràng phan năm màu bay nhè nhẹ, từ từ đến nơi trụ xứ của đại
sư Kim Châu. Mọi cử chỉ của chư tỳ kheo rất oai nghi, nghiêm trang,
khiến cho chư Thiên cung kính rải hoa trời cúng dường. Dân chúng nơi
đây do thấy đức tướng và oai nghi của hai vị tôn sư, nên khởi tín
tâm thâm sâu. Cùng với chư đệ tử hòa hợp, đầy đủ tất cả công đức của
giới luật, Tôn Giả đảnh lễ đại sư Kim Châu. Vì không kham nổi oai
đức của Tôn Giả và chư đệ tử của Ngài, nên đại sư Kim Châu cùng hơn
năm trăm đồ đệ liền lễ bái đáp lễ. Kế đến, Tôn Giả dâng cúng các
trân bảo. Chư đệ tử của Tôn Giả cũng dâng cúng các vàng bạc. Lúc đó,
đại sư Kim Châu dùng tay xoa đảnh của Tôn Giả, và tụng rất nhiều bài
kệ kiết tường, rồi hỏi:
- Ông tu học được
tâm Bồ Đề và tâm từ bi chăng ? Ông ở lại nơi đây mười hai năm được
chăng ?
Tôn Giả cung kính
chấp thuận. Đại sư Kim Châu ban cho Tôn Giả một tượng Phật Thích Ca
mà bảo rằng đây là tôn tượng giáo chủ gia trì cho Tôn Giả. Trong
mười hai năm, thầy trò đồng sống chung tại một nơi. Tôn Giả tu học
tất cả giáo pháp thậm thâm của Đại Thừa, đặc biệt là Hiện Quán Trang
Nghiêm Luận (75), Tập Bồ Tát Học Luận, Nhập Bồ Tát Hạnh Luận, cùng
tất cả Mật pháp bất cộng. Tôn Giả cũng học giáo pháp bất cộng tu tự
tha hoán chuyển tâm Bồ Đề của thế tục từ đại sư Kim Châu, để tăng
thượng ý lạc thanh tịnh. Ân của đại sư Kim Châu thật vô bờ bến. Pháp
tu thanh tịnh của phái Ca Đương (ở Tây Tạng) cũng xuất phát từ đại
sư Kim Châu.
Tu học tất cả giáo
pháp trong mười hai năm xong, Tôn Giả được đại sư Kim Châu thọ ký:
- Ông nên trở về
phương Bắc (Ấn Độ) và đến xứ Tuyết (Tây Tạng).
Cuối cùng, vào lúc
bốn mươi bốn tuổi, Tôn Giả cùng chư đệ tử dùng thuyền trở về bổn
quốc. Về sau, lúc đến Tây Tạng, mỗi lần xưng danh của đại sư Kim
Châu, hoặc có ai nhắc đến tên của đại sư Kim Châu, Tôn Giả đều chấp
tay trên đầu, dùng bốn câu kệ tụng mà tán thán. Người khác hỏi Tôn
Giả:
- Sao Tôn Giả không
tôn kính danh đức của các bậc sư trưởng khác. Phải chăng đức hạnh
của các vị đó có sai khác ?
Tôn Giả đáp:
- Chư sư trưởng của
Ta đều là những vị đại thành tựu, danh đức không khác biệt. Song, ít
phần thiện tâm (76) của Ta do nhờ ân của đại sư Kim Châu mà có được.
Tôn Giả lại khuyên
các học nhân:
- Các ngươi chẳng
có chút khổ nhọc, mà đạt được các diệu nghĩa tâm yếu, thật là phước
lớn, nên phải chí tâm tu hành (77).
Tất cả pháp tu về
Đại Thừa, Tiểu Thừa, Hiển Giáo, Mật Giáo, đều không ngoài ba môn vô
lậu học giới, định, huệ. Định Huệ dùng Chỉ Quán mà tiếp nạp. Sau này,
pháp Chỉ Quán có phân biệt giữa Chỉ Quán thế gian và Chỉ Quán xuất
thế gian. Người tu Mật Thừa, nếu tiếp nhận hai loại này, thì đầy đủ
các loại công đức. Giới lấy tất cả thiện pháp làm căn bản. Tôn Giả
thường bảo:
- Giới biệt giải
thoát, Ta chưa từng vi phạm chút nào. Đối với những giới nhỏ nhặt
của giới Bồ Đề và Tam Muội Da của Mật Tông, tuy lắm khi vi phạm,
nhưng Ta đều sám hối vào ngày đó, mà chưa từng giữ tội qua đêm, v.v...
Có người hỏi Tôn
Giả rằng kể từ khi xuất gia, Tôn Giả có từng vào nơi nhân pháp (78)
chăng ? Tôn giả đáp:
- Người thế tục
chẳng thích Ta. Ta cũng chẳng thích người thế tục, nên chưa từng đến.
Họ lại hỏi:
- Các thân quyến
của Tôn Giả có từng đến viếng thăm chăng ?
- Họ có đến một lần.
Ta khuyên họ hãy nên học tập tu hành công đức. Song, họ chẳng chịu
nghe mà bỏ đi. Ngoài ra không có ai đến.
- Những đồ vật do
các người nữ dâng cúng, Tôn Giả có từng tự dùng tay mà tiếp lấy
chăng ?
- Chưa từng có.
Do Tôn Giả trì luật
tinh nghiêm như thế, nên thân tâm đầy cả giới hương, khiến lan
truyền khắp mọi nơi.
Thân tâm của Tôn
Giả nhuận đầy tâm từ bi, tâm Bồ Đề, tâm tăng thượng, tâm kiên cố.
Lục độ và tứ nhiếp pháp là pháp mà Tôn Giả thường hành. Đối với chư
đệ tử, Tôn Giả cũng dùng tâm Bồ Đề (79), tâm từ bi mà dạy bảo. Do đó,
chư đệ tử y theo tâm Bồ Đề, tâm từ bi mà đạt được thành tựu và thần
thông không thể nghĩ bàn.
Có một vị đệ tử của
Tôn Giả, trú tại chùa Tỳ Trát Ma Thi La. Lần nọ, chư tăng đều đi ra
ngoài thọ trai, chỉ trừ vị tăng đó ở lại chùa (80). Có một cư sĩ,
thấy vị tỳ kheo đó, xem xét bốn bề chẳng có một ai, bèn dùng thần
thông mà bay lên hư không, qua cõi Bắc Câu Lư Châu khất thực, mang
đầy bát rồi trở về. Vị cư sĩ đó thấy rõ tự sự, định thuật lại cho
Tôn Giả nghe, nhưng lại không dám. Qua năm sau, vị cư sĩ đó cũng
thấy vị tỳ kheo kia dùng thần thông mà đi khất thực, nên bẩm bạch
với Tôn Giả. Tôn Giả bèn hỏi vị tỳ kheo kia:
- Có thật là ông
dùng thần thông để đi khất thực chăng ?
Vị tỳ kheo kia thưa:
- Vâng !
- Do nhờ lực gì ?
- Do nhờ lực của
tâm Bồ Đề.
Tôn Giả vui vẻ bảo:
- Đúng như thế !
Dẫu tu pháp gì, đều phải phát khởi tâm Bồ Đề, vì công đức của tâm Bồ
Đề thật rất thù thắng.
Tôn Giả có một
người đệ tử, dẫu tu pháp gì, cũng chẳng thể thành tựu. Tôn Giả bảo:
- Ông nên tu tâm Bồ
Đề và tâm từ bi.
Nghe lời chỉ dạy,
vị đó bèn tu chứng Tất Địa (81).
Có một vị tu pháp
Minh Vương, miệng mắt đều viên mãn, thành tướng đại phẫn nộ; người
nào nhìn đến, đều phải sợ hãi. Tôn Giả dạy vị đó tu tâm từ bi và tâm
Bồ Đề. Từ đó, người khác nhìn đến mặt của vị này, không còn cảm thấy
sợ hãi. Lúc Tôn Giả đến Tây Tạng, miệng và mắt của vị đó trở lại
bình thường. Khi đến Tây Tạng, Tôn Giả chuyên dạy các kẻ hậu học tu
tâm Bồ Đề, bảo:
- Nếu chẳng có tâm
Bồ Đề mà nghe nhiều pháp, tư duy chọn lựa, biết cách tu tập, rồi
sanh thứ, mãn thứ, Trung Quán, đọc tụng, v.v... nhưng tất cả đều vô
ích. Chưa nhiếp thiện hạnh của tâm Bồ Đề, mà hành thiện hạnh của tâm
Bồ Đề, đây thuộc về nghiệp ma. Chưa nhiếp trì được tất cả thiện hạnh
thân ngữ của tâm Bồ Đề, đa phần vì do vô minh.
Chư đại thiện tri
thức như đại sư Chủng Đôn Nhân Ba Khanh, do y theo lời dạy về cách
tu tâm Bồ Đề của Tôn Giả mà tu hành, nên thấy rất nhiều Bổn Tôn,
chứng các thần thông quảng đại, đạt được các phẩm thành tựu. Ngày
nay, pháp tu tâm Bồ Đề ở Tây Tạng, chủ yếu đều dựa vào sự truyền
thừa của Tôn Giả.
Tôn Giả vốn đạt
được công đức thấy Bổn Tôn, tức thấy vô lượng chư Phật và chư Bồ Tát.
Tôn Giả do y theo giáo pháp Bách Tự (trăm chữ) của đức Như Lai mà
thấy mười phương chư Phật. Các vị thường hiện thân như Kiến Lập Tam
Tam Muội Da Vương, Thánh Quán Tự Tại, Thánh Cứu Độ Mẫu, Thánh Bất
Động Tôn, Thắng Lạc Luân, Hỷ Kim Cang. Lúc còn ở Ấn Độ, mỗi lần Tôn
Giả niệm Tam Muội Da Vương đủ một ngàn lần thì nhất định vị đó sẽ
hiện thân. Sau khi đến Tây Tạng, thì mỗi ngày vị Bổn Tôn này hiện
một lần (82). Thánh Quán Tự Tại và Độ Mẫu cũng tùy tâm niệm của Tôn
Giả mà hiện thân. Có việc gì, các vị Bổn Tôn đều hiện ra mà thọ ký
chỉ dạy. Bất Động Tôn cũng như thế. Hai vị Bổn Tôn còn lại chính là
Bổn Tôn về Mật Bộ của Tôn Giả, cũng thường hiện thân. Sự tích thần
thông của Tôn Giả có rất nhiều, mà trong quyển truyện này ghi lại
rất nhiều nơi; những sự tích này chẳng phải là việc kỳ đặc.
|