Tôn giả A Để Sa
sanh năm 982 tại nước Tát Hạ (Sahor, hiện tại là Mandi của
Himachal Pradesh-Bengal, Ấn Độ), là hoàng tử thứ ba của vua
Thiện Thắng (Kalyana-sri), huyễn danh Nguyệt Tạng. Tôn Giả đọc
tụng được bài kệ Tán Phật lúc vừa mười tám tháng. Năm mười lăm
tuổi, Tôn Giả y theo sở học về đạo lý của quyển Chánh Lý Tích
Luận, hàng phục được ngoại đạo. Thời niên thiếu, Tôn Giả chẳng
tham vương vị nên thường đi khắp nơi qua các vương quốc để tìm
thầy học đạo, Ngài đã theo học với mười hai danh sư đắc thành
tựu. Điển hình, Tôn Giả y theo đại thành tựu A Phược Đô Đế suốt
bảy năm để tu giới định huệ và đạt được tam ma địa. Tôn Giả cũng
y theo ngài La Hầu La Cấp Đa ở chùa Hắc Sơn, thọ pháp quán đảnh
cùng học tất cả giáo pháp tu trì. Năm hai mươi mốt tuổi, Tôn Giả
thông đạt hết mọi ngũ minh. Năm hai mươi chín tuổi, thể theo sự
khuyến tấn của các bậc tôn sư và lời dạy bảo trong mộng của đức
Phật Thích Ca, Tôn Giả y chỉ luật sư thượng tọa Giới Hộ tại chùa
Kim Cang thuộc Đại Chúng Bộ đã xuất gia thọ giới, pháp danh là
Kiết Tường Nhiên Đăng Trí (sau này, vua Tây Tạng tôn xưng Tôn
Giả là A Để Sa, có nghĩa là Bậc Thù Thắng). Sau khi xuất gia
xong, Tôn Giả thâm nhập hết ba tạng giáo điển của các phái Đại
Chúng Bộ, Thượng Tọa Bộ, Chánh Lượng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ, Kim
Cang Thừa, nên trở thành bậc luật sư hòa thượng bác học khiến
mười tám bộ phái chính ở Ấn Độ đều một lòng cung kính. Về sau,
Tôn Giả lại đến Ấn Độ Ni Tây Á (Indonesia), tham vấn đại sư Kim
Châu, tu học giáo truyền của hai tông phái: Phái "Không-Hữu" và
phái Pháp Phát Tâm Bồ Đề. Lúc trở về nước, Tôn Giả trụ trì và
hoằng truyền pháp Đại Tất Địa cùng các học thuyết Đại Thừa tại
chùa Tỳ Trát Ma Thi La và tám trăm ngôi tự viện khác.
Phật pháp tại Tây
Tạng được hoằng dương rộng rãi vào các đời vua Tùng Thán Cam Phổ
(Srong-Tsen-Gampo, 569-650), Xích Tùng Đức Thán (Thi-Sron-Detsan,
755-797), Xích Đức Thán Phổ (Thi-de-tsen-po, 798-814), Nhạ Bạt
Cẩn (Khri-ral-pa-can, 814-836). Phật giáo bị hủy diệt vào đời
vua Lãng Đạt Mã nhưng hết đời vua này (841) thì Phật giáo được
phục hưng trở lại. Thuở ấy, các tín đồ Phật giáo chạy theo tà
ngụy không giữ chánh tín và đã lạm truyền giáo pháp luôn mấy
trăm năm, khiến người học đạo không biết đâu là chánh đâu là tà.
Về sau, có vua Nga Nhật (thuộc miền tây của Tây Tạng) đi xuất
gia lấy pháp hiệu là Trí Quang. Bấy giờ, hầu mong làm sáng tỏ
yếu chỉ Phật pháp và truyền thừa chánh pháp, nên đại đức Trí
Quang đã gởi du tăng Tây Tạng sang Ấn Độ và các nước Phật giáo
lân cận để tầm sư học đạo với các bậc tôn đức thuộc những tông
phái Hiển-Mật, cùng cung thỉnh các vị cao tăng vào Tây Tạng
hoằng pháp. Cuối cùng, do sự cung thỉnh tôn giả A Để Sa từ Ấn Độ
vào Tây Tạng truyền bá Phật pháp mà đại đức Trí Quang cũng như
những người sang Ấn Độ cầu pháp đã chịu hy sinh tánh mạng, đồng
hời vua Lạp Tôn Bạt Bồ Đề Quang phải mất rất nhiều vàng bạc. Đền
bù lại, Phật giáo được hoằng dương và phát triển rộng khắp toàn
cõi Tây Tạng. Công cuộc chấn hưng này chính là nhờ tôn giả A Để
Sa đến Tây Tạng hoằng hóa (năm 1038) giáo pháp căn bản và tổng
hợp về Tiểu Thừa, Đại Thừa, và Mật Thừa. Bấy giờ, tôn giả A Để
Sa phá tà hiển chánh, dựng đứng tràng đại pháp, định lập tông
phong quy củ, dạy rõ phương thức tu hành theo thứ lớp để thành
tựu đạo quả, phiên dịch và trước tác rất nhiều bộ luận điển quan
trọng làm nền tảng căn bản cho hậu lai. Đó là thời đại phục hưng
của Phật giáo Tây Tạng, và được gọi là Hậu Truyền Phật Giáo. Từ
đó, tất cả tông phái lớn nhỏ ở Tây Tạng đều chịu sự ảnh hưởng
trực tiếp hay gián tiếp về tư tưởng Phật học của tôn giả A Để
Sa. Giáo phái do tôn giả A Để Sa truyền lại là phái Ca Đương.
Thanh Sử viết: "Về sau, tại Tây Tạng, chư đại thiện tri thức và
đại thành tựu đều thân cận với các vị đại thiện tri thức của
phái Ca Đương. Kết quả sự việc chuyển pháp luân của tôn giả A Để
Sa (Kiết Tường Nhiên Đăng Trí) mang chánh pháp từ Ấn Độ sang đã
dựng lên sự nghiệp quảng đại vĩnh hằng cho đại đệ tử Chủng Đôn
Ba sau này."
Đến thế kỷ XIV,
đại sư Tông Khách Ba lại xiển dương giáo pháp của phái Ca Đương
rộng rãi, sáng lập phái Tân Ca Đương hay Hoàng giáo, định lập hệ
Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma, vốn được truyền thừa mãi cho
đến ngày nay.
Tôn giả A Để Sa
thật là một đại ân nhân của Phật giáo Tây Tạng. Sau bao năm
hoằng pháp lợi sanh, cuối cùng tôn giả A Để Sa xả báo thân, viên
tịch nơi chùa Nhiếp Đường ở phía tây nam Lạp Tát tại Tây Tạng,
thọ 73 tuổi, được bốn mươi bốn hạ lạp.
Tôn Giả là một vị
đại thành tựu trong việc hoằng dương Phật pháp tại Ấn Độ và Tây
Tạng. Tôn Giả cũng là vị Đại Ban Trí Đạt (nhà đại học vấn, đại
triết gia, tinh thông ngũ minh) của Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng.
Tôn Giả thật là bậc chứng đắc giáo nghĩa và đức hạnh viên mãn,
mà người hạ căn khó suy lường được.