Lời Đầu Sách
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

 
 


 


Thần tăng Thiên Trúc
 
Thích Hằng Đạt

Phần IV

 


21. Ngài Phật Đà Bạt Đà La (Buddhadhadra)  [^]

Ngài Phật Đà Bạt Đà La, Tàu dịch là Giác Hiền, người nước Ca Duy La Vệ (thuộc nước Nepal), vốn là hậu duệ của dòng Thích Ca Cam Lộ Phạn Vương, sinh vào năm 359. Do nội tổ là Đạt Ma Đề Bà (Tàu dịch là Giác Thiên) thường sang bắc Thiên Trúc buôn bán, nên gia đình di cư đến trú tại nước Ca Duy La Vệ. Năm ba tuổi, thân phụ qua đời, rồi năm năm tuổi thân mẫu cũng tạ thế. Do đó, Ngài được gia đình người chú nuôi dưỡng. Sa môn Tổ Cưu Bà Lợi biết ngài Phật Đà Bạt Đà La rất mực thông minh mẫn tiệp, nên xin người chú cho Ngài xuất gia làm sa di. Đến năm mười bảy tuổi, công khóa hằng ngày của Ngài là học thuộc kinh kệ. Những bài kinh kệ mà đồng học phải học trong một tháng, đối với Ngài chỉ cần một ngày là học thuộc.

Thọ giới cụ túc xong, Ngài lại càng tinh tấn tu hành thiền định cùng giới luật, và học rộng thông đạt các kinh điển. Ngài cùng với sa môn Tăng Già Đạt Đa sang du học tại nước Kế Tân. Tuy là đồng lứa tuổi, sa môn Tăng Già Đạt Đa lại rất kính phục tài năng xuất chúng của Ngài, nhưng không biết Ngài đã đạt đến cảnh giới nào. Lần nọ, đang đóng cửa nhập thất ngồi thiền, Tăng Già Đạt Đa chợt thấy Ngài đến, rồi bèn hỏi rằng từ đâu đến. Ngài đáp:

- Tôi vừa lên cung trời Đâu Suất lễ bái Bồ Tát Di Lặc rồi trở lại nơi đây.

Nói xong, ngài Phật Đà Bạt Đà La liền biến mất. Sa môn Tăng Già Đạt Đa mới biết rằng Phật Đà Bạt Đà La là thánh nhân hóa thân, nên không thể nào biết được cảnh giới của Ngài. Sau này, vì thường thấy những hành tung thần dị của Ngài, nên Tăng Già Đạt Đa hỏi ra thì biết là Ngài đã chứng đến quả vị A La Hán 'Bất Hoàn' (tức quả A Na Hàm).

Ngài thường thích đi chu du khắp các nước lân cận, để hoằng dương Phật pháp, cùng quán sát phong tục nhân tình. Đương thời, sa môn người Tàu là Trí Nghiêm, sang nước Kế Tân, thấy tăng chúng nơi đó tu hành thanh tịnh, nên muốn cầu thỉnh thánh tăng sang đất Tàu. Thầy thường nói:

- Tăng chúng đất Tàu có tâm cầu Phật pháp, nhưng chưa từng gặp được các đại sư chân chánh, nên không thể lãnh hội chánh pháp.

Thầy Trí Nghiêm đi đó đây, hỏi han dân chúng ở nước Kế Tân rằng ai là người có đủ oai đức đạo hạnh để hoằng dương Phật pháp ở Đông Độ. Dân chúng bảo:

- Có một sa môn tên là Phật Đà Bạt Đà La, xuất sanh tại Thiên Trúc, gia thế đời đời tín phụng Phật pháp, ấu niên xuất gia, tinh thông kinh luật, lại đã từng thọ nghiệp với đại thiền sư Phật Đại Tiên.

Đương thời, ngài Phật Đại Tiên cũng bảo Trí Nghiêm:

- Có khả năng tuyên dương Phật pháp, cùng khiến tăng chúng miền Đông Độ được cảm hóa, chỉ có Phật Đà Bạt Đà La.

Do Trí Nghiêm thành tâm khẩn ý thỉnh cầu, Ngài ưng thuận sang hoằng pháp tại Trung Thổ. Lễ bái từ tạ ân sư Phật Đại Tiên xong, Ngài bèn vượt ngọn Thông Lĩnh, du hành qua bao núi sông sa mạc, đi ngang qua sáu quốc gia. Các quốc vương nơi đó đều cúng dường thâm hậu sau khi biết được chí nguyện hoằng dương Phật pháp của Ngài. Ba năm sau, Ngài đến Giao Châu (Việt Nam). Kế đến, Ngài lên thuyền, tiếp tục cuộc hành trình. Lần nọ, trên đường đến Thanh Châu, thuyền tới một hòn đảo. Ngài bèn bảo chủ thuyền:

- Có thể dừng lại nơi hòn đảo này.

Chủ thuyền nói:

- Thuyền đang thuận gió chạy trên biển, không thể dễ dàng dừng lại nơi đây được, vì thời giờ của hành khách rất quan trọng.

Nói xong, chủ thuyền vẫn cho thuyền chạy. Sau hai trăm dặm, chợt gặp cơn giông bão, thuyền bi thổi trở lại hòn đảo đó. Chúng nhơn trên thuyền mới biết tài năng thần dị của Ngài, bèn lễ bái cúng dường, nghe lời chỉ dẫn. Lúc gió thuận thổi đến, chủ thuyền định cho thuyền chạy. Ngài bảo:

- Không thể xuất phát !

Chủ thuyền vì biết thần dị của Ngài, nên bèn nghe theo, chẳng dám khinh xuất khởi hành. Chẳng bao lâu, có tin tức bảo rằng các chiếc thuyền xuất phát ra khơi khi trước, đều bị đắm chìm. Đêm nọ, Ngài chợt bảo chủ thuyền nên khởi hành ra khơi, nhưng ông chẳng chịu nghe lời. Không còn biện pháp nào, một mình Ngài tự trương buồm, cho thuyền chạy ra khơi. Chốc lát sau, những con thuyền trú lại hòn đảo đó đều bị hải tặc đến cướp bóc. Chẳng bao lâu, thuyền đến Thanh Châu, phía đông Lai Quận ở Trung Thổ. Nghe tin ngài Cưu Ma La Thập đã đến Trường An, Ngài bèn tức tốc đến đó bái kiến. Vừa gặp được ngài Phật Đà Bạt Đà La, ngài Cưu Ma La Thập rất vui mừng, rồi cùng nhau đàm luận. Ngài Phật Đà Bạt Đà La hỏi ngài Cưu Ma La Thập:

- Sự giải thích kinh điển của Ngài chẳng có gì là đặc sắc, mà sao lại thu hút được nhiều người, khiến thanh danh vang lừng khắp chốn ?

Ngài Cưu Ma La Thập đáp:

- Vì họ có duyên sâu dầy với tôi, nên khiến tôi được cung kính. Tuy nhiên, tài đức của tôi, thật chẳng tương xứng với thanh danh đó.

Mỗi khi có chỗ nghi ngờ nào, ngài Cưu Ma La Thập đều cùng với ngài Phật Đà Bạt Đà La thảo luận giải quyết. Tuy vậy, vì sở tu học uyên thâm sâu cạn bất đồng, và tư tưởng của hai ngài Phật Đà Bạt Đà La và Cưu Ma La Thập cũng khác nhau, khiến thường phát sanh những cuộc tranh luận. Lần nọ, thái tử Hậu Tần là Dao Hoằng thỉnh Ngài thuyết pháp. Tăng chúng hội tụ tại Đông cung để nghe kinh và thảo luận. Bấy giờ, hai ngài Phật Đà Bạt Đà La và Cưu Ma La Thập cùng thảo luận vấn đề 'Cực Vi'. Ngài Cưu Ma La Thập hỏi:

- Tại sao thuyết rằng các pháp vốn là không ?

Ngài Phật Đà Bạt Đà La nói:

- Vật chất do vô số cực vi trần (hạt bụi vi tế) hợp thành, mà không có tự tánh, nên đều là không.

- Nếu dùng vô số cực vi trần mà hợp thành vật chất, rồi bảo nó vốn là không, thì làm sao chứng minh là một hạt cực vi trần vốn không có tồn tại ?

- Nhiều người trong chúng ta thường thuyết để phá bỏ hạt cực vi trần. Tuy nhiên, tôi không dùng bằng cách đó.

- Thế thì hạt cực vi trần có bất diệt chăng ?

- Nhìn về phương diện của một hạt cực vi trần thì thấy nhiều hạt vi trần đều sẽ bị tiêu diệt. Nhìn về phương diện của nhiều hạt cực vi trần thì thấy một hạt vi trần cũng sẽ bị tiêu diệt.

Vài ngày sau, tăng chúng tại Trường An lại thỉnh Ngài thuyết pháp. Ngài bảo:

- Muôn sự muôn vật đều không có tự tánh. Duyên đủ thì chúng mới phát sanh. Vì có một hạt cực vi trần, nên mới có nhiều hạt cực vi trần. Hạt cực vi trần vốn không có tự tánh độc lập, nên đều là không.

Vua Dao Tần thường cúng dường hơn ba ngàn tăng chúng, nên những vị đó có thế lực rất mạnh. Ngược lại, Ngài an phận tịch tĩnh, sống đạm bạc, khác với những tăng sĩ thường phan duyên ra vào nơi chốn quyền quý. Lần nọ, Ngài bảo đồ chúng:

- Ta thấy có năm chiếc thuyền, đồng xuất phát từ Thiên Trúc, mà sẽ đến đây.

Tin này được đồ chúng truyền ra ngoài, khiến tăng chúng ở Trường An đều bảo rằng Ngài nói những lời mê hoặc quần chúng. Tại Trường An, Ngài hoằng dương pháp thiền rộng rãi, khiến các thiền gia khắp nơi nghe thanh danh đều tìm đến tu học. Căn cơ tu học và sở chứng trong các đệ tử của Ngài có sự phân biệt cao thấp, sâu cạn rõ ràng; một số đệ tử dối trá, giả danh của Ngài mà làm những điều xằng bậy. Lần nọ, có một người đệ tử tự bảo rằng đã chứng quả A Na Hàm, mà chưa từng được Ngài ấn chứng. Việc này khiến cho tăng chúng tại Trường An cùng nhau hủy báng Ngài không ngừng. Do sợ tai nạn đến thân, nên đồ chúng của Ngài phải bỏ trốn, phân tán đi hết. Tuy nhiên, Ngài vẫn ung dung tự tại, không chút động tâm. Môn hạ của ngài Cưu Ma La Thập là Đạo Hằng gởi thơ đến cho Ngài, viết:

- Phật chưa từng thuyết pháp mình chứng đắc. Đầu tiên, Ngài tự bảo có năm chiếc thuyền sắp đến nơi đây; thật là điều hư vọng giả dối. Kế đến, đồ chúng lại điên đảo làm mê hoặc quần chúng. Đó là phạm giới đại vọng ngữ, nên không thể lưu lại nơi đây. Xin Ngài hãy mau đi nơi khác.

Ngài bảo:

- Thân Ta nhỏ như bọt bèo, đến đi đều tự tại dễ dàng. Tuy nhiên, chỉ tiếc rằng chí nguyện hoằng dương Phật pháp chưa hoàn thành.

Cùng với hơn bốn mươi người đệ tử là Huệ Quán, v.v..., Ngài rời Trường An, nhưng thần thái vẫn an nhiên tự tại, không chút buồn bã. Người biết tài năng của Ngài đều luyến tiếc, tiễn đưa có trên cả ngàn người.

Nghe Ngài rời khỏi Trường An, vua Dao Hưng hối tiếc không nguôi, nên bảo Đạo Hằng:

- Ngài Phật Đà Bạt Đà La vì nhận trọng trách hoằng dương Phật pháp mà đến Trung Thổ. Lời dạy bảo của Ngài khiến cho người người đều cảm kích, tán thán. Sao chỉ vì một câu nói sai lầm mà khiến quần chúng Phật tử mất đi một đấng tôn sư ?

Nói xong, vua Dao Hưng bèn sai sứ giả chạy đuổi theo Ngài, thỉnh cầu trở lại Trường An. Ngài bảo sứ giả:

- Tôi biết rõ ân tình của nhà vua, nhưng tiếc thay không thể tuân theo mạng lịnh.

Ngài bèn dẫn đồ chúng vào nam, đến núi Lô Sơn. Lâu nay đã nghe thanh danh của ngài Phật Đà Bạt Đà La, nên Huệ Viễn bèn vui mừng ra tiếp rước. Huệ Viễn biết rằng chỉ do lỗi ở các môn đệ, mà ngài Phật Đà Bạt Đà La bị bài báng. Bàn về năm chiếc thuyền sẽ đến Trung Thổ, đó chỉ là ý kiến cá nhân chứ không phạm giới luật. Vì vậy, Huệ Viễn bèn viết thơ gởi đến vua Dao Hưng cùng tăng chúng ở Trường An mà giải oan cho Phật Đà Bạt Đà La, rồi cầu thỉnh Ngài vào núi phiên dịch kinh điển thiền pháp. Vốn có chí nguyện hoằng pháp tại miền tây, và không muốn sống ẩn dật một nơi, nên chẳng bao lâu Ngài qua Giang Lăng. Trên đường gặp một chủ thuyền người ngoại quốc, đệ tử của Ngài bèn hỏi han, và biết rõ có năm chiếc thuyền từ Thiên Trúc sang Trung Thổ. Lời này tương hợp với điềm tiên đoán của Ngài khi xưa. Ngài vừa đến Giang Lăng, toàn thể tăng ni sĩ thứ đều canh cánh đua nhau đến lễ bái cúng dường. Tuy nhiên, Ngài không thọ nhận bát cứ lễ vật nào, chỉ ngày ngày mang bình bát khất thực mà không phân biệt nhà sang hèn.

Lưu DụẠ mang quân chinh phạt Lưu Nghị. Quan sử của Lưu Dụ là Viên Báo ở Trần Quận cũng kéo quân đến Giang Lăng. Ngày nọ, Ngài cùng đệ tử Huệ Quán đến dinh thự của Viên Báo khất thực. Do Viên Báo chưa tín phụng Phật pháp, nên đối xử với Ngài và Huệ Quán rất tệ bạc. Ăn chưa no, Ngài và Huệ Quán bèn đứng dậy cáo từ. Viên Báo bảo:

- Các vị chưa ăn xong, sao lại cáo từ ?

Ngài bảo:

- Tâm lượng bố thí của ông có giới hạn. Tuy nhiên, Ta đã dùng hết những thức ăn mà ông dọn ra.

Viên Báo bèn sai người đem thêm cơm ra, mà quả nhiên cơm đã hết. Viên Báo cảm thấy thật xấu hổ, hỏi Huệ Quán:

- Vị sa môn đó là người như thế nào vậy ?

Huệ Quán bảo:

- Ngài là vị đức dầy cao viễn, mà người phàm phu không thể hiểu rõ được.

Viên Báo cảm kích thần dị của Ngài, nên bẩm tấu với Lưu Dụ. Lưu Dụ bèn sai người thỉnh Ngài đến để tương kiến. Vừa gặp Ngài, Lưu Dụ rất cung kính, cúng dường chu toàn. Trở về kinh sư, Lưu Dự cũng thỉnh Ngài đến Trường An, cư trú nơi chùa Đạo Tràng. Nghi dung của Ngài chân chánh đoan trực, chẳng đồng với phàm nhân, mà chí nguyện cũng thanh cao. Các pháp sư tại kinh đô thường bảo nhau:

- Thiền sư Phật Đà Bạt Đà La tại chùa Đạo Tràng đã đắc được ý trời, thật giống như một vì vua ở cõi Thiên Trúc.

Sa môn Chi Pháp tại Vu Điền thỉnh được một phần của kinh Hoa Nghiêm có ba mươi ngàn câu kệ, mà chưa được phiên dịch. Đến năm 418, nội sử Ngô Quận Mãnh Tiêu, tả vệ quân Trử Thúc Độ lại cầu thỉnh ngài Phật Đà Bạt Đà La phiên dịch. Cùng với hơn một trăm tăng chúng như Pháp Nghĩa, Huệ Nghĩa, Huệ Nghiêm, v.v... Ngài phiên dịch phần đầu của kinh Hoa Nghiêm tại chùa Đạo Tràng. Bản văn dịch rất lưu loát, đạt thấu yếu chỉ của kinh, nên được mọi người tán thán. Điện đường dịch kinh Hoa Nghiêm tại chùa Đạo Tràng, được gọi là điện đường Hoa Nghiêm, để kỷ niệm cho sự dịch kinh được thành tựu.

Những kinh điển do ngài Phật Đà Bạt Đà La phiên dịch như kinh Quán Phật Tam Muội Hải (6 quyển), kinh Niết Bàn, Tu Hành Phương Tiện Luận, v.v... Tổng cộng có mười lăm bộ, một trăm mười bảy quyển. Tất cả đều tương hợp với yếu chỉ của kinh điển, và lời dịch cũng rất lưu loát rõ ràng.

Năm 429, ngài Phật Đà Bạt Đà La viên tịch, thọ bảy mươi mốt tuổi.

22. Ngài Phất Nhã Đa La ( Punyatara)   [^]

Phất Nhã Đa La (dịch là Công Đức Hoa) người nước Kế Tân, xuất gia từ thuở nhỏ, giới hạnh thanh cao, khiến người người đều xưng tán. Ngài thông suốt ba tạng kinh luật luận, và chuyên trì tụng bộ Thập Tụng Luật. Ngài vốn là bậc thầy của tăng chúng trong và ngoài nước. Người đương thời đều bảo rằng Ngài đã chứng thánh quả.

Vào đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thủy (399-415), Ngài chống tích trượng đến Trường An. Vua Dao Hưng lấy lễ thượng khách mà hậu đãi. Ngài Cưu Ma La Thập cũng tôn sùng giới đức của ngài Phất Nhã Đa La. Bấy giờ, kinh điển đã được truyền dịch rất nhiều, nhưng luật tạng lại chưa được xiển dương, nên vừa nghe tin ngài Phất Nhã Đa La đến Trường An, ai ai cũng đều ngưỡng mộ. Ngài Cưu Ma La Thập bèn vân tập các danh tăng trong kinh thành đồng đến cung thỉnh ngài Phất Nhã Đa La tụng bộ Thập Tụng luật. Ngày mười bảy tháng mười năm 404, tại chùa Trường An Đại Tự, ngài Phất Nhã Đa La tụng lại bộ Thập Tụng Luật; ngài Cưu Ma La Thập dịch sang chữ Tàu. Trong ba phần, vừa dịch được hai phần thì ngài Phất Nhã Đa La nhiễm bịnh mà nhập tịch. Đại nghiệp chưa thành mà bậc thánh nhân đã thị tịch, khiến đại chúng thương tiếc vô ngần.

23. Ngài Đàm Ma Lưu Chi (Dharmaruci)   [^]

Đàm Ma Lưu Chi, dịch là Pháp Lạc. Ngài vốn là người Tây Vực, bỏ tục xuất gia nhập đạo, nổi danh vì thường trì tạng luật.

Mùa thu năm 404, Ngài đến Trường An. Lúc trước, ngài Phất Nhã Đa La chưa dịch xong quyển Thập Tụng Luật thì nhập tịch. Ngài Huệ Viễn tại Lô Sơn, nghe danh ngài Đàm Ma Lưu Chi chuyên tụng bộ Tỳ Ni, đắc được nơi cứu cánh của luật tạng, bèn viết thơ gởi đến: "Phật pháp đầu tiên hưng khởi nơi thượng quốc, rồi từ từ lưu truyền sang Tây Vực hơn bốn trăm năm. Hiện tại giới luật của chư sa môn khiếm khuyết rất nhiều. Lúc trước, sa môn Phất Nhã Đa La từ nước Kế Tân sang đây tụng đọc quyển Thập Tụng Luật bằng tiếng Phạn; pháp sư bác học Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Tàu. Dịch được chỉ quá phân nửa thì ngài Phất Nhã Đa La thị tịch, khiến đại nghiệp chưa được hoàn thành. Thật tiếc lắm thay ! Nay nghe tin Nhân Giả có đem theo bộ kinh luật này, khiến tôi vui mừng mong muốn được gặp".

Được thơ của ngài Huệ Viễn và được vua Dao Hưng khẩn thỉnh, ngài Đàm Ma Lưu Chi bèn cùng với ngài Cưu Ma La Thập dịch trọn bộ Thập Tụng Luật. Sau đó, bộ luật này được chư tăng nghiên cứu tường tận, rồi kiểm duyệt hiệu đính. Tiếc rằng chưa trau chuốt lại văn nghĩa thì ngài Cưu Ma La Thập đã nhập tịch.

Lúc trú tại Trường An Đại Tự, được Huệ Quán thỉnh mời xuống kinh sư (Nam Kinh), ngài Đàm Ma Lưu Chi bèn đáp:

- Nơi đây đã có các bậc danh đức truyền pháp lợi sanh. Ta phải đến những nơi chưa có luật giáo.

Do đó, Ngài du hóa sang phương khác, mà không ai biết nhập tịch tại nơi nào.

24. Ngài Đàm Vô Sấm (Dharmaraksa)   [^]

Ngài Đàm Vô Sấm cũng được gọi là Đàm Ma Sấm, người trung Thiên Trúc. Sáu tuổi đã để tang cha, rồi từ đó theo mẹ đi dệt vải khắp nơi để sinh sống. Đương thời, sa môn Đạt Ma Da Xá (Pháp Minh) rất được tăng chúng kính trọng. Bà mẹ bần khổ hâm mộ sa môn Đạt Ma Da Xá nên cúng dường thâm hậu, cùng cho ngài Đàm Vô Sấm đi theo học đạo. Năm mười tuổi, Ngài cùng chúng bạn đồng học tụng kinh chú. Từ đó, hiển xuất thiên tánh minh mẫn siêu quần; trong một ngày tụng kinh có thể nhớ hơn mười ngàn chữ, nên giữa nhóm môn đồ, Ngài được sa môn Đạt Ma Da Xá khen ngợi vô ngần.

Đầu tiên, Ngài học pháp Tiểu Thừa, cùng luận thư ngũ minh và học thuyết ở nước Thiên Trúc. Ngài lại có tài giảng thuyết, cùng khả năng biện luận với người, mà không ai có thể khuất phục được. Sau này, Ngài tranh luận với thiền sư Bạch Đầu cả một trăm ngày. Cuối cùng, Ngài đành phải bội phục thiền sư Bạch Đầu, và hỏi:

- Thiền Sư còn có kinh điển gì, có thể cho tôi xem chăng ?

Thiền sư Bạch Đầu bèn lấy kinh Niết Bàn được viết trên vỏ cây, đưa cho Ngài. Xem qua bộ kinh này, Ngài lại càng tự hổ thẹn:

- Mình thật quá hàm hồ. Đã từ lâu chưa từng biết đến chánh đạo Đại Thừa.

Do đó, Ngài thỉnh cầu đại chúng vân tập để sám hối, và phát nguyện chuyển hướng sang học Đại Thừa. Năm hai mươi tuổi, Ngài đã tụng thuộc hơn hai triệu chữ.

Người anh của ngài Đàm Vô Sấm vốn là chuyên viên huấn luyện voi của quốc vương. Ngày nọ, con voi tai trắng của quốc vương đột nhiên bị chết, khiến quốc vương nổi giận lôi đình, ra lịnh giết chết, rồi ban chiếu chỉ:

- Nếu ai dám đến nhìn thi thể của hắn, Ta sẽ tru di tam tộc !

Vì vậy, trong thân tộc, không có ai dám trái lịnh nhà vua, chỉ có Ngài là dám đến nhận thi thể. Quốc vương biết được bèn sai quân bắt Ngài vào cung chất vấn. Với thần sắc điềm đạm tự nhiên, không lộ chút vẻ sợ sệt, Ngài bảo:

- Đại Vương y chiếu theo pháp luật mà giết anh tôi. Tôi cũng y chiếu theo mối quan hệ cốt nhục mà thâu lượm thi thể của anh tôi. Hành động của hai chúng ta, đều hợp với luân lý mà làm, chẳng có gì là sai trái ! Sao lại còn sanh tâm bực tức ?

Thấy chí khí thanh cao của Ngài, quốc vương không những tha tội chết, mà còn giữ ở lại hoàng cung để cúng dường.

Giống như ngài Phật Đồ Trừng, ngài Đàm Vô Sấm thông thạo chú thuật, thường hiển hiện năng lực thần dị rất linh nghiệm, nên khiến người Tây Vực đều xưng tán là 'Đại Chú Sư'.

Lần nọ, Ngài cùng với quốc vương đi vào núi. Quốc vương khát nước, sai các vệ sĩ đi tìm nước mà chẳng được. Thấy bên vệ đường có một tảng đá lớn, Ngài bèn tụng thần chú khiến nước vọt ra từ nơi tảng đá đó. Ngài tán thán ân đức của quốc vương:

- Do ân đức của Đại Vương mà cảm ứng đến dòng nước trong vụt ra từ tảng đá cuội này.

Thấy đạo thuật vi diệu phi thường của Ngài, quốc vương rất hoan hỷ, nên lại càng hậu đãi. Chẳng bao lâu, quốc vương từ từ xa lánh và đối xử tệ bạc với Ngài. Thấy vậy, Ngài bèn cáo từ quốc vương, rồi mang mười hai quyển kinh Đại Niết Bàn, kinh Bồ Tát Giới, v.v... hướng đến nước Kế Tân và Quy Từ (Kuchar). Vì dân chúng nơi đó vốn tín phụng giáo lý Tiểu Thừa, nên không tin tưởng kinh điển Đại Thừa. Ngài phải lại sang Đôn Hoàng, rồi đến Lương Châu. Trên đường sang Cô Tạng, lúc trú tại một quán trọ, vì sợ kinh bị thất lạc, Ngài bỏ các quyển kinh vào trong gối nằm. Tối đến, dường như có người xô Ngài xuống đất. Tỉnh dậy, Ngài nghĩ rằng đó là bọn ăn trộm. Tuy nhiên, việc này xảy ra ba đêm liền. Đêm thứ tư, trong hư không chợt có tiếng bảo:

- Đây là kinh điển giải thoát của Như Lai, sao lại lót đầu mà nằm ?

Nghe lời này, Ngài liền tỉnh ngộ, khởi tâm sám hối, cung kính lễ bái, và đặt kinh điển lên chỗ cao. Đêm hôm đó, có ăn trộm đến, định đánh cắp kinh điển, nhưng không tài nào khiêng nổi vì kinh điển quá nặng. Sáng hôm sau, vừa tỉnh dậy, Ngài mang kinh điển rời khỏi nơi đó. Thấy Ngài ung dung mang kinh điển, bọn trộm cướp sửng sốt, xưng tán Ngài là bậc thánh nhân, nên chạy đến cầu sám hối.

Đương thời, Hà Tây Vương là Mông Tốn đã bình định xong Đôn Hoàng. Hà Tây Vương vốn tín phụng Phật pháp, và có chí muốn hoằng dương chánh giáo. Nghe tin Ngài đến Đôn Hoàng, Hà Tây Vương bèn cung thỉnh vào trú nơi vườn thượng uyển ở Lương Châu, và cúng dường thâm hậu, cùng cầu thỉnh Ngài phiên dịch kinh điển. Tuy nhiên, vì chưa thông thạo tiếng Tàu, lại cũng không có ai giúp đỡ, nên Ngài không thể đáp ứng lời thỉnh cầu dịch kinh, mà trú nơi đó để học tiếng Tàu trong ba năm.

Được Mông Tốn tôn sùng vì Ngài là một vị thường hiển hiện đạo thuật linh dị, giống như ngài Phật Đồ Trừng được Thạch Lặc và Thạch Hổ cung kính. Lần nọ, Ngài bảo Mông Tốn:

- Quỷ quái đã vào hoàng cung, thì chẳng bao lâu sẽ có tai họa phát sanh trong nước.

Vì chưa từng thấy quỷ, nên Mông Tốn không tin. Song, nhờ Ngài tụng thần chú gia trì, khiến quỷ hiển hiện, nên Mông Tốn rất kinh hoàng sửng sốt. Ngài bảo:

- Phải thành tâm chuyên trì trai giới, rồi tụng thần chú, thì quỷ quái sẽ bỏ đi.

Kế đến, Ngài thi thiết thần chú trong ba ngày liên tiếp, khiến loài quỷ quái đều bỏ đi, nên trong nước được bình an. Tận mắt thấy việc này, Mông Tốn biết đó đều nhờ năng lực đạo thuật của Ngài, nên lại càng tôn sùng hậu đãi.

Năm 429, Mông Tốn vượt sông Hoàng Hà, chinh phạt nước của Tần Vương và Khuất Phục Mộ Mạt. Mông Tôn sai thái tử Hưng Quốc đi tiền phong. Khuất Phục Mộ Mạt sau này phản công phá thành, và bắt được Hưng Quốc. Năm 430, Hách Liên của nước Hạ công hạ được Khuất Phục Mộ Mạt, và khiến cho Tây Tần bị diệt vong. Tuy nhiên, trong chiến loạn thái tử Hưng Quốc bị tử trận. Tiếp được hung tin, Mông Tốn phẫn uất tức giận, bảo:

- Phụng sự Phật pháp, mà không được quả báo lành !

Do đó, Mông Tôn bắt những sa môn dưới năm mươi tuổi đều phải hoàn tục. Lịnh này được ban ra thì tượng đá mẹ của Mông Tốn (cao mười sáu thước) chợt rơi nước mắt. Lại nữa, nhờ Ngài ra sức khuyên nhủ, nên Mông Tốn từ từ chuyển tâm sám hối, bãi bỏ lịnh trên. Vì vậy, Phật pháp ở vùng Bắc Lương được tiếp tục phát triển.

Thác Bạt Đảo ở Bắc Ngụy (tức Thái Võ Đế, 424-451) nghe chú thuật của Ngài rất thù thắng, nên phái sứ giả sang cung thỉnh Ngài về triều, và bảo Mông Tốn:

- Nếu không cho thỉnh ngài Đàm Vô Sấm, thì sẽ khởi binh sang công phá Bắc Lương.

Bắc Lương là một nước nhược tiểu, nên đối với Bắc Ngụy, Mông Tốn rất nể sợ. Song, Mông Tốn lại chẳng đành lòng để cho ngài Đàm Vô Sấm đi. Bắc Ngụy Thái Võ Đế lại sai sứ Công Bình Công, Quý Thuận mang chín mâm lễ vật sang Bắc Lương, quyết tâm ngưỡng thỉnh ngài Đàm Vô Sấm:

- Nghe nói pháp sư Đàm Vô Sấm đang trú tại quý quốc. Bổn quốc muốn thỉnh Pháp Sư về triều để thuyết giảng Phật pháp. Xin Đại Vương hãy thuận lòng mà nghinh tống pháp sư Đàm Vô Sấm đi.

Trong buổi yến tiệc đãi sứ giả Quý Thuận, Mông Tốn nói:

- Lão thần Tây Phiên Mông Tốn phụng sắc triều đình Bắc Ngụy, tuyệt chẳng dám trái nghịch, mà Thiên Tử lại nghe lời sai lầm của người khác, khiến bức bách tôi giao Đàm Vô Sấm. Trước kia, quan thượng thư của Bắc Ngụy đã đến nơi đây thỉnh cầu, và bây giờ lại phái tôn sứ giả sang tương cầu nữa. Đàm Vô Sấm vốn là bậc thầy, nên chúng tôi quyết sống chết với nhau.

Quý Thuận bảo:

- Triều đình Bắc Ngụy đã đem nhiều phẩm vật sang tặng vua Bắc Lương. Sao Đại Vương lại vì một vị tăng người Thiên Trúc mà bỏ đi công nghiệp bấy lâu nay ! Xin Đại Vương hãy suy nghĩ cho kỹ. Vua Bắc Ngụy thật thành tâm tận ý.

Vì vẫn kiên quyết không chịu nhượng ngài Đàm Vô Sấm nên Mông Tốn bảo:

- Lời của ông thật xảo diệu, giống như Tô Tần đời Chiến Quốc. E rằng chẳng phải là lời chân thật.

Mông Tốn bảo với sứ giả rằng vì ngài Đàm Vô Sấm là bậc thầy, nên quyết cùng sống chết. Thật ra, Mông Tốn chỉ muốn lợi dụng chú thuật của ngài Đàm Vô Sấm để giữ vững ngai vàng, nên không muốn cho Ngài sang Bắc Ngụy.

Năm 433, vì muốn trở lại Tây Vực để cầu thỉnh phần cuối của kinh Niết Bàn, nên Ngài cáo biệt với Mông Tốn. Hoài nghi rằng Ngài bỏ Bắc Lương mà sang Bắc Ngụy, nên Mông Tốn mật sai người giả trang mang châu báu và lương thực đến tặng, rồi lập mưu kế giết Ngài. Trước ngày lên đường, Ngài rơi lệ cáo từ đại chúng:

- Nghiệp báo của tôi sắp đến, mà thánh nhân cũng không thể cứu được. Tuy nhiên, tôi đã quyết định làm theo lời nguyện, tức là sẽ trở về Tây Vực để thỉnh phần cuối của kinh Niết Bàn, nên không thể tiếp tục ở lại nơi đây !

Đi được khoảng bốn mươi dặm, quả nhiên Mông Tốn phái thích khách giết ngài Đàm Vô Sấm trên đường. Bấy giờ ngài Đàm Vô Sấm được bốn mươi chín tuổi.

Tin tức vừa lan truyền, thì tăng tục xa gần đều mến tiếc thương xót cho Ngài. Sau này, các quan triều tả hữu, ban ngày thấy rõ rất nhiều quỷ thần mang gươm kiếm đến chém Mông Tốn. Vào tháng tư năm 433, Mông Tốn bị bịnh mà chết.

Ngài Đàm Vô Sấm thông suốt giới luật, lại có tài năng phiên dịch kinh điển, cùng có năng lực thần dị phi phàm.

Theo quyển 'Cao Tăng Truyện', lúc trú tại Cô Tạng, có rất nhiều người chân thành thỉnh cầu ngài Đàm Vô Sấm truyền giới Bồ Tát. Lúc sa môn Đạo Tấn tại Trường Dịch muốn cầu giới Bồ Tát, Ngài bảo:

- Tạm thời hãy sám hối tội chướng, rồi sẽ bàn luận sau !

Nghe lời này, trong bảy ngày đêm, Đạo Tấn tinh cần sám hối. Qua ngày thứ tám, Đạo Tấn bèn đến cầu giới. Vừa thấy Đạo Tấn, Ngài phát nộ dữ dội. Thấy nghiệp chướng của mình chưa được tiêu trừ, Đạo Tấn lại dốc toàn tâm lực chuyên tu thiền định suốt ba năm liền, rồi ân cần sám hối. Đêm nọ, Đạo Tấn mộng thấy Phật Thích Ca cùng chư Bồ Tát đến ban giới pháp. Ngày hôm sau, Đạo Tấn lại đến cầu thọ giới. Thấy Đạo Tấn xa xa đi đến, ngài Đàm Vô Sấm bảo:

- Lành thay ! Ngươi đã được cảm ứng mà thọ giới pháp, tức đã đắc được giới thể ! Hôm nay, Ta sẽ chứng minh cho ngươi !

Nói xong, trước tượng Phật, Ngài giảng giải giới tướng cho Đạo Tấn nghe. Đạo Lãng, người soạn viết bài tựa về kinh Đại Niết Bàn, vào đêm hôm ấy cũng thấy rõ giấc mộng đó. Tuy hạ lạp cao, nhưng cảm thấy giới hạnh vẫn còn khiếm khuyết, nên Đạo Lãng phát nguyện làm sư đệ của Đạo Tấn. Trước và sau Đạo Tấn, có hơn một ngàn người y theo Ngài để thọ giới Bồ Tát.

Theo quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập', những kinh điển do ngài Đàm Vô Sấm phiên dịch như sau: Kinh Đại Bát Niết Bàn (36 quyển), kinh Phương Đẳng Đại Tập (29 quyển), kinh Phuơng Đẳng Vương Hư Không Tạng (5 quyển), kinh Phương Đẳng Đại Vân (4 quyển), kinh Bi Hoa (10 quyển), kinh Kim Quang Minh (4 quyển), kinh Hải Long Vương (4 quyển), kinh Bồ Tát Địa Trì (8 quyển), Bồ Tát Giới Bổn (1 quyển), kinh Ưu Bà Tắc Giới Bổn (7 quyển), kinh Bồ Tát Giới (8 quyển), Bồ Tát Giới Ưu Bà Tắc Giới Đàn Văn (1 quyển).

Vào giữa thế kỷ thứ tư, ngài Cưu Ma La Thập đang tu học tại nước Kế Tân, kinh Niết Bàn vẫn chưa được truyền sang nơi đó. Lúc trở về nước Quy Từ, ngài Cưu Ma La Thập cũng chưa thấy qua kinh Niết Bàn. Từ năm 350 đến năm 400, có rất nhiều bản kinh Niết Bàn khác nhau. Ngài Pháp Hiển đã từng mang về một quyển kinh Niết Bàn. Năm 417, Phật Đà Bạt Đà La cùng thầy Bảo Vân phiên dịch ra sáu quyển kinh Niết Bàn.

Năm 433, nghe pháp sư Đàm Vô Phát bảo rằng bộ kinh Niết Bàn chưa được dịch hoàn tất, nên ngài Đàm Vô Sấm mới phát tâm trở về Tây Vực để cầu phần sau của kinh Niết Bàn, nhưng chẳng may gặp nạn mà chết.

Kế thừa chí nguyện tầm cầu phần sau của kinh Niết Bàn có thầy Đạo Phổ (vốn người nước Cao Xương, tinh thông ngôn ngữ của sáu nước) ở chùa Đạo Tràng. Thể theo sắc lịnh của Tống Văn Đế, thầy Đạo Phổ dẫn đoàn sứ giả mười người, theo thuyền để qua Tây Vức. Tuy nhiên, giữa đường gặp sóng gió nên thuyền bị trôi dạt đến Quảng Quận. Thầy Đạo Phổ vì bị thương nơi bàn chân, rồi nhiễm bịnh mà thị tịch. Trước lúc lâm chung thầy Đạo Phổ bảo:

- Đất Tống không có duyên với phần sau của kinh Niết Bàn.

Đến đời Đường Lân Đức (664-665), luật sư Hội Ninh ở Thành Đô, thuộc Ích-châu, theo thuyền đi cầu pháp từ Nam Hải đến nước Ha Lăng Châu (Java); lưu trú nơi đó qua ba năm, rồi cùng sa môn Nhã Na Bạt Đà La (Trí Hiền) phiên dịch phần sau của kinh Niết Bàn. Đệ tử của sa môn Nhã Na Bạt Đà La là Vận Kỳ mang phần kinh Niết Bàn này đến Trường An. Phần cuối của kinh Niết Bàn gồm có: Kiều Trần Như Phẩm dư phần, Di Giáo Phẩm, Ứng Tận Hoàn Nguyên Phẩm, Cơ Cảm Trà Tỳ Phẩm, Thánh Khu Khuếch Nhuận Phẩm.

Sau khi kinh Niết Bàn được phiên dịch, tư tưởng 'tất cả chúng sanh đều có Phật' phát triển mạnh mẽ, khiến cho Đạo Sanh phát khởi chủ trương 'đốn ngộ thành Phật', và thuyết tiệm tu của Huệ Quán ra đời.

Mông Tốn không những thỉnh ngài Đàm Vô Sấm dịch kinh Niết Bàn và những bộ kinh khác, mà ông còn thỉnh sa môn Phù Đà Bạt Ma (Buddhavarman) người Thiên Trúc dịch Đại Tỳ Bà Sa. Sa môn Phù Đà Bạt Ma (dịch là Đạo Thái) tài năng kiệt xuất, tánh tình khí khái, điềm đạm, thông minh kiệt xuất hơn người, thường học nhiều ngôn ngữ. Thấy kinh Bát Nhã đã được phiên dịch và phổ biến ở Trung Thổ, nhưng ba tạng chín bộ A Tỳ Đàm của Tiểu Thừa vẫn chưa được phiên dịch đầy đủ, nên sa môn Phù Đà Bạt Ma không quản ngại đuờng sá xa xôi hiểm nguy mà vượt ngọn Thông Lĩnh, qua nước Kế Tân, thỉnh lấy kinh tiếng Phạn hơn một trăm ngàn câu kệ, rồi sang Lương Châu. Mông Tốn nghe tiếng bèn thỉnh sa môn Phù Đà Bạt Ma tiến hành phiên dịch kinh điển. Vì sự phòng ngự ở chung quanh thành Lương Châu không được kiên cố, nên Mông Tốn thỉnh sa môn Phù Đà Bạt Ma vào trong chùa Nhàn Dự Cung (nơi đây, ngài Đàm Vô Sấm đã từng phiên dịch kinh Đại Niết Bàn và các kinh điển khác). Từ trung tuần tháng tư năm 425 đến thượng tuần tháng bảy năm 427 thì dịch xong kinh Đại Tỳ Bà Sa ra một trăm quyển. Đương thời, có hơn ba trăm người như sa môn Đạo Lãng, Trí Sung, v.v... nhận trọng trách kiểm thảo kinh văn.

Mông Tốn lại thường thỉnh các sa môn người Thiên Trúc, Tây Vực, v.v... đến Lương Châu phiên dịch kinh điển. Ông ta thường cùng các vị tu tiên và sa môn đàm luận về nghĩa lý huyền học. Đối với tôn giáo, một bên ông ta lợi dụng, và một bên lại ủng hộ.

Mông Tốn có một người em, tên là An Dương Hầu. Ông ta tụng đọc rất nhiều kinh điển, và thường giữ năm giới cẩn mật. Vì có chí cầu pháp, nên Ông sang nước Vu Điền, đến chùa Cù Ma Đế Đại Tự, theo học với sa môn Phật Đà Tư Na (Buddhasena) người Thiên Trúc. Sau này, Ông đến nước Cao Xương, thỉnh được kinh Quán Thế Âm và Quán Di Lặc, rồi phiên dịch hai quyển kinh này. Ông lại trở về Lương Châu. Năm 439, lúc Bắc Ngụy công phá Lương Châu, Ông lánh nạn sang miền Giang Nam, và không giao tiếp với ai, chỉ thường đi tham quan các cảnh chùa chiền tự tháp. Thể theo lời cầu thỉnh của sư cô Huệ Tuấn ở chùa Trúc Viên, Ông dịch kinh Thiền Yếu Bí Mật Trị Bệnh, vào năm 455. Vì thông thạo tiếng Phạn và tiếng Tàu, nên Ông dịch rất nhiều kinh như: Phật Thuyết Bát Trai Giới, Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên, Phật Thuyết Tịnh Phạn Vương Bát Niết Bàn, Phật Thuyết Mạt La Vương, Phật Thuyết Chiên Đà Việt Quốc Vương, Phật Thuyết Ma Đạt Quốc Vương, Phật Thuyết Phật Đại Tăng Đại Kinh, Phật Thuyết Da Kỳ, Phật Thuyết Ngũ Vô Phản Phục, Phật Thuyết Tấn Học, Đệ Tử Tử Phục Sanh, Phật Thuyết Ca Diếp Cấm Giới, Phật Thuyết Ngũ Khủng Bố Thế, Thiền Yếu Bí Mật Trị Bịnh.

25. Ngài Tăng Già Bạt Trừng (Sanghabhata, dịch là Chúng Hiện)  [^]

Ngài là người nước Kế Tân (là nơi thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ rất được thạnh hành). Ngài thường tham phương tầm cầu danh sư, uyên bác kinh điển. Ngài tinh tường quán thông yếu chỉ của bộ A Tỳ Đàm, Tỳ Bà Sa. Năm 381, khi đến Trường An, ngài Tăng Già Bạt Trừng cùng với các sa môn như Đàm Ma Nan Đề, Tăng Già Đề Bà, Phật Đồ La Sát dịch bộ luận A Tỳ Đàm Tỳ Bà Sa (hay Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận).

26. Ngài Đàm Ma Da Xá (Dharmayasas)   [^]

Ngài Đàm Ma Da Xá (dịch là Pháp Minh) người nước Kế Tân, hiếu học từ thuở nhỏ. Năm mười bốn tuổi, theo tu học với ngài Phất Nhã Đa La. Lúc trưởng thành, khí khái cao vợi, thần huệ minh mẫn; xem qua kinh luật liền hiểu rõ thâm sâu hơn người; hun đúc tư tưởng, nhập cửa thiền, để tâm nơi bảy phần giác. Người đương thời thường gọi Ngài là Phù Đầu Bà Đà. Ngài thường đến khe núi rừng hoang, mà chẳng sợ hổ sói, để đơn độc quán xét tâm niệm vọng tưởng. Bấy giờ, mỗi lần ngồi dưới các gốc cây, Ngài luôn tự trách rằng đã ba mươi tuổi mà vẫn chưa chứng quả, thì sao lại giải đãi ! Do đó, không ăn không ngủ, ngày đêm chuyên cần khắc khổ sám hối nghiệp tội. Đêm nọ, Ngài mơ thấy Bác Xoa Thiên Vương bảo:

- Sa môn thường phải có chí nguyện hoằng dương Phật pháp, rộng độ quần sinh. Sao Ngài lại chấp nê tiểu tiết, chỉ đơn độc tự tu tự độ. Các duyên nếu đầy đủ thì sẽ thành thục, chẳng nên ép tâm cần cầu, khiến không thể chứng quả.

Tỉnh dậy, Ngài bèn phát tâm đi khắp các lân quốc mà truyền đạo. Vào những năm đầu đời Tấn Long An (397-401), Ngài đến Quảng Châu, trú tại chùa Bạch Sa. Ngài thường tụng bộ luật Tỳ Bà Sa, khiến quần chúng Phật tử cảm kích mà gọi Ngài là Đại Tỳ Bà Sa. Bấy giờ, Ngài đã được tám mươi lăm tuổi, và có khoảng tám mươi lăm đồ chúng. Do các thiện tín như thanh tín nữ Trương Phổ Minh thỉnh cầu, Ngài thuyết về pháp duyên khởi. Lúc ấy, Ngài cũng dịch được một quyển kinh.

Trong niên hiệu Nghĩa Hi (405-418), Ngài đến Trường An, và gặp sa môn người Thiên Trúc là Đàm Ma Quật Đa cũng vừa đến đó. Bấy giờ vua Dao Hưng rất tôn sùng Phật pháp, nên thấy Ngài đến bèn ân cần hậu đãi cúng dường. Ngài lại cùng với Đàm Ma Quật Đa dịch bộ Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm, từ năm 407 đến năm 414 thì hoàn tất, được hai mươi hai quyển. Thái tử Dao Hoằng đích thân duyệt xem. Thầy Đạo Tiêu viết lời tựa.

Sau này, Ngài xuôi vào miền nam, đến Giang Lăng, trú tại chùa Tân Tự, hoằng pháp thiền mạnh mẽ. Bấy giờ, có ba trăm sĩ thứ đến nghe Ngài giảng kinh pháp. Mới đầu họ không tin tưởng, nhưng vừa gặp mặt Ngài thì đều hân hoan cảm kích. Ngài thường bảo rằng một thầy một đệ tử, tu đạo đắc được quả A La Hán. Lần nọ, đang đóng cửa chùa để tọa thiền, Ngài chợt thấy năm sáu vị sa môn từ ngoài đi vào, rồi bay qua lại, tới dưới gốc cây mà tọa thiền. Ngài thường giao tiếp với các thần minh, tuy có dấu chân mà không thấy hình, nên người đương thời đều bảo rằng Ngài đã chứng quả thánh.

Đến đời Tống Nguyên Gia (424-453), Ngài từ biệt trở về Tây Vực, rồi không ai biết chung cuộc ra sao.

Ngài Đàm Ma Da Xá có đệ tử là Pháp Độ. Pháp Độ vốn là con của Trúc Bà Lặc. Trúc Bà Lặc thường qua Quảng Châu buôn bán. Trên đường đến Nam Khang, sinh hạ đứa con trai, nên Trúc Bà Lặc đặt tên là Nam Khang. Lớn lên đổi tên là Kim Già. Sau khi xuất gia được pháp danh là Pháp Độ. Pháp Độ tinh tường tiếng Phạn và tiếng Tàu, nên thường giúp ngài Đàm Ma Da Xá chuyển ngữ dịch kinh. Pháp Độ là đệ tử thừa thọ pháp với ngài Đàm Ma Da Xá đầu tiên nhất. Lúc ngài Đàm Ma Da Xá trở về Tây Vực, Pháp Độ chủ xướng chuyên học giáo lý Tiểu Thừa, mà không đọc tụng kinh điển Phương Đẳng; chỉ lễ Phật Thích Ca, chứ không lạy mười phương chư Phật; thường mang bình bát bằng đồng để dùng cơm chứ không dùng vật nào khác, rồi lại bắt ni chúng phải thường hành sám hối nghiệp tội. Đương thời, ni chúng ở Đông Độ và Giao Châu như Pháp Hoằng (con gái của quan Y Nhan Thuân ở Đơn Dương) và Phổ Minh (con gái của thứ sử Trương Mục ở Giao Châu), v.v... thường đến thọ pháp nơi Pháp Độ.

27. Ngài Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman)   [^]

Cầu Na Bạt Ma (dịch là Công Đức Khải) người dòng Sát Lợi, gia thế làm vua trị nước Kế Tân. Ông nội tên là Ha Lê Bạt Đà, (dịch là Sư Tử Hiền), tánh tình cương trực. Cha là Tăng Già A Nan, (dịch là Chúng Thiện). Nhờ thường ẩn cư tại rừng núi suối ngòi, năm mười bốn tuổi căn cơ kiến thức của ngài Cầu Na Bạt Ma thâm sâu xuất chúng. Tánh tình của Ngài nhân hậu, tôn sùng đạo đức, thường hành việc thiện. Người mẹ thường làm thịt những con dã thú, rồi bảo Ngài ăn. Ngài nói:

- Phàm loài vật có mạng sống thì không nên ăn.

Người mẹ tức giận bảo:

- Con cứ ăn đi. Mẹ sẽ chịu tội thế cho.

Ngày nọ, đang chiên dầu sôi, Ngài chợt làm đổ, khiến phỏng ngón tay, nên nói với người mẹ:

- Xin mẹ hãy chịu đau cho con.

Người mẹ bảo:

- Thân của con bị đau, làm sao mẹ thay thế cho được.

- Khổ trước mắt mà không thay thế cho con được, huống hồ là khổ trong ba đường ác !

Bà mẹ nghe lời này, bèn tỉnh ngộ, sám hối, suốt đời không còn sát sanh.

Năm mười tám tuổi, Ngài gặp một ông thầy xem tướng bảo:

- Năm ba mươi tuổi, Ngài sẽ đến một đại quốc ở phương nam, và được xưng tôn là bậc thầy. Nếu không thọ hưởng vinh hoa phú quý ở thế gian, thì sẽ chứng đạt thánh quả.

Năm hai mươi tuổi, Ngài xuất gia thọ giới cụ túc, thông suốt chín bộ kinh, hiểu thấu bốn bộ kinh A Hàm, thường tụng đọc kinh điển hơn triệu lời, thâm đạt luật phẩm, diệu nhập vào yếu chỉ thiền môn, khiến người đương thời đều xưng tán là Tam Tạng Pháp Sư.

Năm Ngài được ba mươi tuổi. Vua nước Kế Tân băng hà mà không có con nối dõi. Quần thần hội nghị bảo nhau:

- Ngài Cầu Na Bạt Ma vốn là dòng dõi đế vương, lại có tài trí thâm sâu, đức cao trọng vọng. Chúng ta nên thỉnh Ngài hoàn tục mà lên ngôi vương vị.

Bàn luận xong, hơn cả trăm quần thần đến khẩn thỉnh ba lần, mà Ngài không chấp thuận. Sau đó, Ngài rời kinh đô, xa lánh thế tục, trú trong rừng núi hoang dã, đơn độc tu hành. Kế đến, Ngài tới nước Sư Tử hoằng hóa Phật pháp, khiến chánh giáo được hưng thịnh. Người có kiến thức thường bảo rằng Ngài đã chứng thánh quả. Oai nghi đoan chánh của Ngài khiến thú vật cũng phát tâm tu đạo.

Sau này, Ngài đến nước Xà Bà. Một ngày trước đó, hoàng thái hậu mơ thấy một đạo sĩ theo thuyền bay vào vương quốc. Hôm sau, quả nhiên bà ta thấy Ngài đến. Hoàng thái hậu cung kính thánh thể, rồi xin quy y thọ năm giới cấm. Hoàng thái hậu khuyên quốc vương:

- Do nhân duyên tiền kiếp mà làm mẹ con. Mẹ đã thọ giới rồi mà con vẫn chưa tín phụng Phật pháp. E rằng vì nhân đời này khác nhau, nên quả đời sau sẽ khiến tình mẫu tử bị đoạn tuyệt.

Vì bị hoàng thái hậu ép buộc, nên quốc vương đành phải nghe lời của bà mẹ mà thọ giới, rồi dần dần tín phụng Phật pháp, tinh tấn tu hành. Lần nọ, nước lân bang cử quân xâm chiếm biên cảnh. Quốc vương bèn hỏi Ngài:

- Bọn giặc bên ngoài ỷ có thế lực mà xâm chiếm đất đai. Nếu cùng với chúng nghinh chiến thì ắt sẽ tổn thương sanh mạng rất nhiều. Nếu không chống cự thì họa mất nước sẽ đến. Nay chỉ quy mạng nơi Tôn Sư. Không biết Ngài có kế gì chăng.

- Bạo khấu hung hản khởi binh xâm lăng. Vậy thì Đại Vương hãy dẫn binh đi thảo trừ để cứu muôn dân. Tuy nhiên, xin Đại Vương hãy khởi tâm từ bi, chớ khởi niệm muốn sát hại.

Quốc vương bèn thống lãnh quân sĩ an bài trận địa, nổi trống cờ để giao chiến với quân địch, khiến chúng đều thua chạy. Song, quốc vương bị giáo đâm vào đùi. Ngài bèn gia trì thần chú vào nước, rồi đưa cho quốc vương uống. Qua hôm sau thì quốc vương bình phục hẳn, nên càng thâm tín, và rất tri ân Ngài. Quốc vương lại muốn xuất gia tu đạo, nên bảo với quần thần:

- Trẫm muốn xuất gia làm sa môn. Các khanh hãy tự tìm một vị minh quân khác.

Vì quần thần khẩn thỉnh van nài ba lần, nên quốc vương không nỡ bỏ đi, nhưng lại bảo họ:

- Trẫm có ba lời nguyện. Nếu các khanh hành được thì Trẫm sẽ ở lại trị quốc. Nguyện thứ nhất, ở trong vương quốc, mọi người phải tín phụng chư sa môn. Nguyện thứ hai, mọi người trong nước phải đoạn trừ tất cả việc giết hại. Nguyện thứ ba, tất cả tài sản trong nước đều chẩn cấp cho người nghèo hèn, bịnh tật.

Quần thần nghe lời này đều hân hoan vui mừng mà tín phụng y theo. Vì vậy, cả nước đều thọ giới quy y. Để tỏ lòng tôn kính, quốc vương đích thân xây tịnh xá cho Ngài cư trú. Đang xây cất tịnh xá, quốc vương chợt bị thương cánh tay, nên Ngài phải tụng chú gia trì, khiến hôm sau được bình phục.

Danh đức hóa đạo của Ngài vang xa khắp nơi, khiến các quốc vương lân bang đều gởi sứ giả sang cầu thỉnh Ngài qua những nơi đó mà hoằng dương Phật pháp.

Bấy giờ tại kinh sư (Nam Kinh), Huệ Quán, Huệ Thông, v.v... nghe danh đức của ngài Cầu Na Bạt Ma, bèn viết sớ dâng lên triều đình. Vào tháng chín niên hiệu Nguyên Gia nguyên niên (424), họ dâng sớ lên Tống Văn Đế, yêu cầu triều đình thỉnh ngài Cầu Na Bạt Ma sang Trung Thổ để hoằng dương chánh pháp. Tống Văn Đế phê chuẩn, rồi ra lịnh cho thứ sử ở Giao Châu sắm sửa tàu thuyền, cùng với sa môn Pháp Trường, Đạo Sung, v.v... đem thơ của nhà vua đến nước Xà Bà, thỉnh cầu ngài Cầu Na Bạt Ma tới nước Tống để xiển dương chánh giáo. Vì muốn tuyên dương thánh giáo, nên ngài Cầu Na Bạt Ma chấp thuận lời cầu thỉnh này, và không quản đường sá xa xôi mà đến đất Tống. Thế nên, Ngài theo thuyền của thương nhân Trúc Nan Đề, hướng đến một tiểu quốc, rồi thuận theo gió mà tới Quảng Châu. Đến nơi, Ngài viết thư cho Tống Văn Đế:

- Gió nghiệp thổi đến đất Tống. Nay xin báo tin.

Tống Văn Đế nhận được lá thư đó, biết là Ngài đã đến Nam Hải, nên lại ra lịnh cho thứ sử Châu Quận, nghinh tống Ngài về kinh sư. Trên đường đi, Ngài dừng lại lưu trú tại Thủy Hưng, nơi đầy cả hổ sói. Thấy hình thế của dãy núi đó cao chót vót, Ngài cho đổi tên núi là Linh Thứu. Cách ngôi chùa trên núi khoảng vài dặm, Ngài cất thêm một thiền thất, mà âm thanh từ chùa không thể vang đến đó. Tuy nhiên, mỗi lần có tiếng kiểng đánh thì Ngài đều nghe, và trở về chùa. Chư tăng kẻ tục đều cung kính. Trong chùa có điện Bảo Nguyệt. Nơi phía tây của điện đó, Ngài tự tay vẽ hình tôn giả La Hầu La cùng tượng Phật Định Quang. Vẽ xong, vào mỗi buổi tối, tượng đều phóng ánh sáng không dứt, khiến thái thú Thái Mậu ở Thủy Hưng lại càng thêm kính trọng, ngưỡng mộ Ngài. Sau này, Thái Mậu chết. Ngài tự thân đến dinh phủ an ủi. Vài ngày sau, gia nhân mộng thấy Thái Mậu cùng tăng chúng thuyết pháp trong chùa. Song, tất cả đều do thần lực của Ngài gia hộ cả.

Dân chúng trong vùng núi Thủy Hưng vốn thuờng bị tai họa hổ sói. Từ khi cư trú nơi đó, ngày đêm kinh hành, vào những lúc gặp hổ sói, Ngài dùng tích trượng mà vỗ lên đầu của chúng, khiến chúng bỏ đi hết. Từ đó, khách vãng lai đến không còn bị trở ngại. Nhờ oai đức của Ngài, cứ trong mười người là có bảy tám người được cảm hóa tín phụng Phật pháp.

Lần nọ, Ngài nhập thiền định đã bao ngày mà chưa xả, nên tăng chúng trong chùa bèn sai một chú sa di đến am thất để hầu cận. Chú tiểu vừa đến thì thấy một con sư tử trắng đang đứng trên nóc am thất, và trên hư không hoa sen xanh bay đầy khắp. Lúc chú tiểu kinh hoàng la hoảng, thì mọi hiện cảnh đều biến mất. Những điềm linh dị thật vô phương tính kể, nhưng phần nhiều là như thế. Sau này, Tống Văn Đế lại ban sắc lịnh, đôn đốc cầu thỉnh Ngài trở về kinh đô. Ngài theo thuyền về kinh đô Kiến Nghiệp vào tháng giêng năm 441. Đích thân Tống Văn Đế ra nghinh đón, vấn an. Bấy giờ Tống Văn Đế hỏi:

- Đệ tử thường trì giới không giết hại. Pháp Sư từ phương xa đến giáo hóa cõi này, vậy Ngài dùng pháp gì để huấn dụ ?

- Đạo tại tâm chớ chẳng tại vật. Pháp do mình chớ không do người. Sự tu trì trai giới của Hoàng Thượng khác với kẻ phàm dân. Họ thân kém danh liệt, ngôn từ mạng lịnh không oai. Nếu họ không tự khắc kỷ khổ tu thì làm sao trở thành người hiền lương được ? Đối với Hoàng Thượng, bốn biển là nhà, muôn dân là con. Một lời nói hiền lành của Ngài xuất ra liền khiến dân chúng hân hoan vui vẻ. Nếu Ngài thường ban bố chánh giáo lành thiện thì khiến quỷ thần hoan hỷ. Nếu Ngài không thường gia lực hình phạt lương dân vô tội, thì sẽ khiến mưa thuận gió hòa, và khí trời lạnh nóng đều thuận theo thời tiết, cùng trăm thứ lúa thóc và cỏ cây đều được tốt tươi. Trì trai giới như thế mới là rộng lớn, và đức độ trì giới không giết hại cũng bao trùm khắp nơi. Sao lại cho rằng trong nửa ngày không giết sanh mạng của một con vật nào, mới gọi đó là trì trai !

- Tâm của tục nhân mê mờ xa cách đạo lý muôn trùng, nên thường bảo rằng giáo lý của đạo Phật là lời hư vọng. Ngược lại, chư sa môn thường chấp nê nơi chương cú câu kệ. Những lời của Pháp Sư thật làm khai ngộ sáng tâm, và hợp với lời lẽ của trời người!

Tống Văn Đế lại đưa Ngài về trú tại chùa Kỳ Hoàn, cúng dường thâm hậu. Vương công danh sĩ đều tôn sùng. Nơi đó, Ngài khai giảng kinh Pháp Hoa cùng Thập Địa. Người người kéo đến nghe pháp đông đầy.

Do thầy Huệ Nghĩa ở trong chùa cung thỉnh, Ngài dịch quyển Bồ Tát Giới, có hai mươi tám phẩm. Sau này, đệ tử dịch thêm hai phẩm nữa. Tổng cộng là ba mươi phẩm, được gọi là Bồ Tát Giới Địa.

Thứ sử Vương Trung Đức ở Bành Thành thỉnh sa môn ngoại quốc là Y Diệp Ba La dịch kinh Tạp Tâm. Vì nhân duyên trở ngại nên Y Diệp Ba La dịch đến Trạch Phẩm thì ngưng. Do đó Vương Trung Đức thỉnh Ngài dịch Hậu Phẩm, khiến bộ kinh Tạp Tâm được dịch ra mười ba quyển. Ngài lại dịch quyển Tứ Phần Luật Yết Ma, Ưu Bà Tắc Ngũ Giới, Lược Luận Ưu Bà Tắc Nhị Thập Tứ Giới. Tổng cộng là hai mươi sáu quyển. Văn nghĩa tinh tường, và Phạn-Hán không sai sót.

Ni chúng như Huệ Quả, Tịnh Âm, v.v... từ chùa Ảnh Phước đến bạch với Ngài:

- Sáu năm trước, tám sư cô từ nước Sư Tử qua đến kinh sư bảo rằng ở đất Tống, ni chúng chưa có. Thế nên, khi ni chúng đăng đàn thọ giới, thì e rằng giới phẩm không được đắc trọn vẹn.

Ngài bảo:

- Giới pháp phát xuất từ chư đại tăngẠ. Nếu không theo bổn sự mà hành pháp Yết Ma thì vô phương đắc giới. Hãy xem lại duyên xuất gia của bà Đại Ái Đạo thì biết rõ.

Chư ni sợ giới phẩm chưa được vẹn toàn nên ân cần cầu thỉnh Ngài ban giới pháp. Ngài bèn tùy hỷ chấp thuận. Tuy nhiên, vì ni chúng ở đất Tống chưa đủ niên lạp, nên phải thỉnh thêm các ni sư ngoại quốc đến theo chư tăng truyền giới.

Mùa hạ năm đó, Ngài an cư kiết hạ tại chùa Bổn Lâm Hạ Tự. Đương thời, có một đàn việt đem hoa cúng dường. Những cánh hoa cạnh tòa ngồi của Ngài, trải qua bao ngày vẫn còn tươi, khiến đại chúng ai ai cũng tôn sùng thánh thể.

Sau mùa hạ, Ngài trở về chùa Kỳ Hoàn. Ngày hai mươi tám tháng chín năm đó, dùng trai chưa xong, thì Ngài trở vào điện các. Sau này, có người đệ tử đến, thấy Ngài an nhiên thị tịch. Ngài thọ sáu mươi lăm tuổi. Trước khi nhập tịch, Ngài có viết ba mươi sáu bài kệ, và tự bảo rằng đã chứng nhị quả A La Hán (Tư Đà Hàm), rồi đưa thơ cho đệ tử A Sa La, bảo:

- Sau khi Ta mất, có thể đưa thư này cho tăng chúng người Thiên Trúc và tăng chúng tại nơi đây xem qua.

Lúc nhập tịch, Ngài ngồi xếp bằng đoan tọa trên sàng thiền, gương mặt vẫn hồng hào như nhập định. Hàng ngàn tăng chúng và cư sĩ đến dự lễ an táng. Họ lại ngửi thấy mùi hương lạ xông lên, và thấy một con rồng dài bốn mươi thước từ nơi nhục thân của Ngài mà bay lên hư không. Bấy giờ bốn con lân, phượng, long, quy đồng xuất hiện. Trước Nam Lâm Giới Đàn, y theo phong tục Thiên Trúc mà làm lễ trà tỳ nhục thân của Ngài. Lúc ấy mây ngũ sắc chợt hiện trên bầu trời xanh trong, khiến đạo tục ai nấy đều tán thán điềm lạ. Nơi đó, tăng chúng lập tháp thờ xá lợi của ngài Cầu Na Bạt Ma.

Lúc đến kinh sư, Tống Văn Đế muốn theo Ngài thọ giới Bồ Tát. Vì phải lo chống giặc ngoại xâm, nên Tống Văn Đế chưa kịp cầu thỉnh, thì ngài Cầu Na Bạt Ma đã nhập tịch, khiến ông ta đau lòng nuối tiếc. Tống Văn Đế bèn ra lịnh cho chư tăng đọc bài kệ di chúc của ngài Cầu Na Bạt Ma để lại. Kệ viết:"

Trước đảnh lễ Tam Bảo, tịnh giới chư thượng tọa.
Người cõi trược xiểm khúc, hư ngụy không tín thành,
Mê hoặc không hiểu chơn, khinh chê người đức hạnh.
Vì vậy chư hiền thánh, hiện thân mà ẩn tích.
Ta Cầu Na Bạt Ma, vận mạng thời đã đến,
Được gặt thiện công đức, nay thuyết lời chân thật,
Chẳng dùng tâm cong vạy, hy vọng kẻ cầu danh,
Và khuyên người giải đãi, tăng trưởng hiểu Phật pháp;
Đại pháp lực như thế, nhân giả hãy lắng nghe.
Xưa trú nơi rừng hoang, thấy được các tử thi,
Ruột gan trùng ăn hoại, máu mũ chảy hôi hám.
Tâm thành duyên nơi đó, biết thân vốn như thế;
Thường thấy thân tướng này, tham sân không sợ lửa,
Vô số loại như thế; tu tập quán tử thi,
Xả bỏ cái nghe biết, y chỉ trong rừng rậm,
Ngày đêm chuyên tinh tấn, chánh quán thường không quên,
Cảnh giới hiện trước mắt, giống như xem mặt gương,
Ngưòi và ta đồng nhau; do đó tâm tịch tĩnh,
Thân nhẹ rất tịnh minh, trong sáng tâm an lạc,
Tăng trưởng đại hoan hỷ, tức không sanh chấp trước;
Biến thành tướng xương trắng; xương trắng hiện trước mắt;
Chân tay rụng hư hoại, xương trắng tất cũng diệt;
Vô cấu trí sáng ngời, điều phục tâm pháp tướng;
Bấy giờ đắc như thế, thân an rất nhu nhuyễn;
Phương tiện tu như thế, tiến đến chuyển tăng trưởng;
Vi trần niệm niệm diệt, hoại sắc chánh niệm pháp,
Đó là thân cứu cánh, sao khởi duyên tham dục !
Biết nhân của thọ sanh, như cá tham mồi câu,
Nó thọ vô lượng khổ; niệm quán sát na diệt,
Biết rõ chỗ nương kia, từ tâm vượn khỉ khởi;
Nghiệp thêm nghiệp quả báo, theo duyên niệm niệm diệt;
Tâm sở biết bao loại, gọi là pháp sai biệt,
Tức là niệm tư huệ; từng bước tu trọn vẹn,
Quán bao loại pháp tướng, tâm này chuyển rõ ràng;
Ta ngay trong ngọn lửa, thấy rõ bốn niệm xứ;
Luật hạnh từ đó khởi, nhiếp tâm duyên trụ lại;
Khổ như kiếm lửa nóng, vì do khát ái chuyển;
Ái tận đạt Niết Bàn; thấy rõ khắp ba cõi,
Lửa cháy thiêu tử thi, hình thể thật nhỏ nhoi;
Vui nghỉ nơi phương tiện, thân từ từ sung mãn;
Thắng diệu tướng chúng sanh, đảnh nhẫn cũng như thế,
Là do tâm mình khởi; chân thật chánh phương tiện,
Từ từ đắc thánh cảnh, tịch diệt lạc tăng trưởng,
Đắc pháp thế đệ nhất; một niệm duyên chân đế,
Từng bậc pháp nhẫn sanh, gọi là đạo vô lậu;
Vọng tưởng cùng trần cảnh, danh tự tất xa rời;
Cảnh giới nghĩa chân đế, trừ não được trong sáng,
Thành tựu quả tam muội; rời cấu duyên trong sạch,
Không hiện cũng không mất, huệ tịnh như trăng sáng,
Lặng lẽ chánh an trụ, thuần nhất tướng tịch diệt,
Chẳng phải nơi tuyên thuyết, chỉ Phật mới chứng biết;
Na Ba A Tỳ Đàm, thuyết năm quả nhân duyên,
Thật nghĩa biết tu hành, chấp danh không thể thấy,
Chư luận bao loại khác; tu hành lý không hai,
Thiên chấp có thị phi, người đạt không tranh đua;
Tu hành các diệu tướng, nay Ta không tuyên thuyết,
Sợ người khởi vọng tưởng, cuồng hoặc mê thế gian;
Nơi kia tu lợi tướng, Ta đã thuyết ít phần;
Nếu người có trí sáng, biết rằng do duyên khởi;
Nơi nước Ma La Bà, đắc được sơ quả thánh;
A Lan Nhã sơn tự, ẩn tích tu viễn ly;
Sau nơi nước Sư Tử, thôn tên Kiếp Ba Lợi,
Tiến tu đắc nhị quả, gọi là Tư Đà Hàm;
Đó là danh rời nạn, chướng tu đạo ly dục;
Thấy Ta tu viễn ly, biết là nơi không nhàn,
Đều sanh tâm hy hữu; lợi dưỡng liên tiếp đến,
Ta thấy như lửa độc, tâm sanh thật nhàm chán;
Lánh loạn biển phù du, Xà Bà cùng Lâm Ấp,
Nghiệp hành gió đẩy đưa, tùy duyên nơi nước Tống;
Vì vậy trong các nước, tùy lực hưng Phật pháp;
Chẳng hỏi phải nên hỏi, hãy thật chân thật quán,
Nay thân này diệt tận, tịch như ngọn lửa tàn !

28. Ngài Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra)  [^]

Cầu Na Bạt Đà La (dịch là Công Đức Hiền) người trung Thiên Trúc. Lúc về già do tu học Đại Thừa nên được hiển danh, khiến người người đều xưng gọi là Ma Ha Diễn. Ngài vốn thuộc dòng Bà La Môn. Đối với thiên văn, ngôn ngữ, toán thuật, y học, chú thuật, v.v... các loại học vấn đều uyên bác tinh tường. Lần nọ, xem duyệt tường tận quyển 'A Tỳ Đàm Tạp Tâm Luận', Ngài bèn khâm phục yếu chỉ đại đạo, nên bắt đầu nghiên cứu Phật pháp. Tuy nhiên, vì gia đình tin theo ngoại đạo, nên cấm chỉ việc học Phật pháp. Vì tranh luận với người nhà không được, nên Ngài đành phải bỏ nhà ra đi khắp nơi, để tham tầm minh sư học Phật pháp. Sau này, Ngài xuống tóc xuất gia, chuyên tâm quyết chí nghiên cứu tu học Phật pháp. Lúc thọ giới cụ túc vào năm hai mươi tuổi, Ngài đã thông suốt ba tạng kinh, luật, luận. Khi đối xử với người, Ngài luôn có tâm từ bi nhu hòa, kính cẩn. Đối với thầy bổn sư, Ngài thường tự khởi tâm chân thành hầu hạ. Chẳng bao lâu, Ngài từ biệt thầy bổn sư dạy pháp Tiểu Thừa, và tiếp tục học tập giáo pháp Đại Thừa.

Lần nọ, thầy bổn sư bảo Ngài vào rương chứa kinh để mang kinh điển ra. Ngài bèn đến lấy ra kinh 'Đại Phẩm Hoa Nghiêm', rồi đem đến cho vị thầy. Thầy bổn sư