-
Thần tăng Thiên Trúc
- Thích Hằng Đạt
- Phần III
16.
Ngài Tăng Già Đề Bà (Sanghadeva)
[^]
Ngài Tăng Già Đề Bà cũng được
gọi là Tăng Già Đề Hòa; Tàu dịch là Chúng Thiên. Bổn tánh là Cù
Đàm, người nước Kế Tân. Xuất gia xong, tu hành tinh tấn, chẳng
màng đường xa vạn dặm, mà đi tham tầm minh sư để thọ học, nên mau
chóng quán thông ba tạng, kinh luật, luận; sở trường là chuyên về
'A Tỳ Đàm Tâm Luận'. Đối với yếu chỉ thâm sâu tinh tế của kinh
luận, đều có thể thông đạt liễu ngộ. Ngài thường tụng trì bộ luận
'Tam Pháp Độ', và lấy đó làm pháp môn thiết yếu để nhập vào đạo
Phật. Phong cách của Ngài thanh cao; cử chỉ hành động ôn hòa khiêm
cung; chuyên cần dạy dỗ đồ chúng mà không mỏi mệt. Đời Tiền Tần
Phù Kiên, trong niên hiệu Kiến Nguyên (365-384), Ngài đến Trường
An, hoằng dương Phật pháp.
Đương thời, sa môn Tăng Già Bạt
Trừng đã dịch quyển 'Bà Tu Mật Ngữ'. Sa môn Đàm Ma Nan Đề đã dịch
kinh Trung A Hàm, kinh Tăng Nhất A Hàm, kinh Tỳ Đàm Quảng Thuyết,
luận Tam Pháp Độ, v.v... Bấy giờ, vì loạn Mộ Dung Sung, nên công
tác phiên dịch bị gián đoạn. Lại nữa, vì hoàn cảnh đảo điên, nên
các nhà dịch giả phải lưu lạc khắp nơi, khiến các bản kinh vừa
dịch xong, không thể được hiệu đính, nhuận sắc, làm cho văn cú ý
chỉ bị sai lệch rất nhiều. Lúc ấy, ngài Đạo An cũng vừa nhập tịch,
nên không có ai phát tâm cải chính nhuận sắc lại những kinh điển
vừa được dịch. Do đó, ngài Tăng Già Đề Bà cùng với Trúc Pháp Hòa
đồng đến Lạc Dương. Tại nơi đó, trong khoảng năm năm, nhờ thông
hiểu tiếng Tàu, nên ngài Tăng Già Đề Bà suốt ngày xem xét nghiên
cứu, sửa đổi những chỗ sai lầm thiếu sót của các bản dịch mới.
Trúc Pháp Hòa sau này cũng thỉnh ngài Tăng Già Đề Bà dịch luận A
Tỳ Đàm.
Chẳng bao lâu, Hậu Tần Dao Hưng
vào Trường An, và sùng tín Phật pháp, nên chánh giáo được hưng
long. Biết được tin này, Trúc Pháp Hòa bèn trở lại Trường An. Ngài
Tăng Già Đề Bà thì xuôi vào miền Giang Nam, rồi được ngài Huệ Viễn
thỉnh lên núi Lô Sơn giảng kinh thuyết pháp. Tại Bát Nhã Đài ở Lô
Sơn, do lời thỉnh cầu của ngài Huệ Viễn, ngài Tăng Già Đề Bà dịch
quyển 'A Tỳ Đàm Tâm Luận', và 'Tam Pháp Độ Luận'. Văn dịch đều bảo
tồn được nguyên vẹn, và ý chỉ rất rõ ràng. Năm 397, Ngài rời Lô
Sơn, đến Kiến Khang (tức Nam Kinh), kinh đô của triều Đông Tấn.
Đương thời, các vương công, danh sĩ thường qua lại giao hảo với
Ngài. Vệ quân lang gia Vương Tuần tín phụng Phật pháp, thường xây
cất tịnh xá, chiêu tập đại chúng, tuyên rộng chánh giáo. Nghe tin
ngài Tăng Già Đề Bà đã đến kinh sư, Vương Tuần bèn cung thỉnh đến
tịnh xá để giảng kinh A Tỳ Đàm, khiến các vị danh tăng ở khắp nơi
đổ dồn về đó. Nhờ Ngài tinh thông yếu chỉ kinh luận và giải thích
văn nghĩa thật chính xác rõ ràng, nên lúc khai triển nghĩa lý,
khiến tín chúng hân hoan lãnh hội.
Mùa đông năm đó, Vương Tuần và
hơn bốn mươi vị sa môn bác học, cùng đồng cung thỉnh ngài Tăng Già
Đề Bà dịch kinh Trung A Hàm. Lúc đó, sa môn Tăng Già La Xoa (người
nước Kế Tân) đọc tiếng Phạn, còn ngài Tăng Già Đề Bà dịch ra tiếng
Tàu.
Nhờ thông suốt kinh luật luận,
cùng tinh tường hiểu rõ phong tục tập quán nhân tình ở Tây Vực và
Đông Độ, lại có ngôn đàm ứng hợp với căn cơ của tín chúng, nên
công nghiệp hoằng pháp của ngài Tăng Già Đề Bà ảnh hưởng mạnh mẽ ở
vùng Giang Nam, khiến nhiều người đổ đến cầu đạo. Sau này, không
ai biết ngài Tăng Già Đề Bà tịch ở đâu và vào lúc nào.
17. Ngài Đàm Ma Nan Đề
(Dharmanandi)
[^]
Ngài Đàm Ma Nan Đề (dịch là Pháp
Hỉ), vốn là người Đâu Khư Lặc (tức nước Thổ Hỏa La hay Đại Nhục
Chi, nơi thường tín phụng giáo lý Tiểu Thừa). Ngài xuất gia vào
lúc còn trẻ, thường chuyên cần tụng đọc kinh điển, xem khắp ba
tạng; thích nghiên cứu tu học hai bộ kinh Tăng Nhất A Hàm và Trung
A Hàm; trí huệ thông minh, mẫn tiệp; kiến thức rộng sâu, đa văn
thông suốt tất cả pháp, khiến các học giả trong và ngoài nước, xa
gần đều bội phục.
Lúc trẻ, Ngài thường đi khắp các
vương quốc, và có ý chí cùng hoài bão sang Đông Độ hoằng dương
chánh pháp. Trong niên hiệu Kiến Nguyên (365-384), đời Tần Phù
Kiên, Ngài đến Trường An. Nghe thanh danh của Ngài, rất nhiều danh
sĩ tìm đến học đạo. Tần Phù Kiên vừa gặp được Ngài thì đón tiếp lễ
bái thâm hậu.
Vì lúc ấy Trung Thổ chưa có bốn
quyển kinh A Hàm, nên thái thú Triệu Chánh muốn thỉnh Ngài dịch
kinh. Đương thời, Mộ Dung Sung phản loạn, khởi binh đánh Tần Phù
Kiên, khiến Trường An náo loạn. Do ngưỡng mộ Phật pháp, quyết xả
thân vì đạo, thái thú Triệu Chánh bèn cầu ngài Đạo An vân tập các
danh tăng ở Truờng An, thỉnh ngài Đàm Ma Nan Đề dịch Trung A Hàm,
Tăng Nhất A Hàm, Tỳ Đàm Tâm, Tam Pháp Độ, v.v... Tổng cộng ngài
Đàm Ma Nan Đề dịch được một trăm lẻ sáu quyển. Ngài Đàm Ma Nan Đề
thật là một pháp sư chuyên về kinh A Hàm. Lúc ấy, thầy Trúc Phật
Niệm chuyển ngữ, và thầy Huệ Sùng ghi chép. Từ mùa hè cho đến mùa
xuân năm sau thì mới hoàn tất. Ngài Đạo An và Trúc Pháp Hòa cùng
kiểm duyệt trau chuốt lời văn.
Vào tháng năm, năm 385, Dao
Trường vây hãm Trường An, khiến nhân tâm xáo trộn. Ngài Đàm Ma Nan
Đề bèn rời Trường An, trở về Tây Vực, rồi không ai biết Ngài thị
tịch tại nơi nào.
18. Ngài Ti Ma La Xoa (Vimalaksas)
[^]
Ti Ma La Xoa (dịch là Vô Cấu
Nhãn) người nước Kế Tân. Tánh tình trầm tĩnh, nhưng lại có chí khí.
Xuất gia xong, Ngài chuyên cần tu khổ hạnh. Đầu tiên, Ngài xiển
dương tạng luật ở nước Quy Từ. Các học giả ở phương tây canh cánh
theo học đạo. Ngài Cưu Ma La Thập cũng đã từng theo ngài Ti Ma La
Xoa mà thọ giới luật. Vì nước Quy Từ bị nạn binh đao vào năm 382,
nên Ngài sang lánh nạn tại nước Ô Triền (Uddiyana). Nghe ngài Cưu
Ma La Thập đang hoằng dương kinh tạng tại Trường An, nên ngài Ti
Ma La Xoa cũng muốn sang Đông Độ để xiển dương luật tạng tỳ ni thù
thắng. Vì vậy, Ngài chống tích trượng vượt bao sa mạc núi đồi nguy
hiểm mà đến Trường An vào năm 406. Nơi đó, ngài Ti Ma La Xoa vẫn
được ngài Cưu Ma La Thập kính lễ như bậc tôn sư.
Sau khi ngài Cưu Ma La Thập nhập
tịch, ngài Ti Ma La Xoa vân du đến Thọ Xuân, cư trú tại chùa Thạch
Giản. Đồ chúng theo Ngài học luật tạng rất đông, khiến luật Tỳ NiẠ
được xiển dương hưng thạnh.
Ngài Cưu Ma La Thập dịch hết bộ
Thập Tụng Luật, được năm mươi tám quyển. Bộ Tụng Luật cuối cùng
nhất được gọi là Minh Thọ Giới Pháp và Chư Thành Pháp Thiện Sự. Do
nghĩa đó mà gọi bộ này là Thiện Tụng. Đến chùa Thạch Giản, ngài Ti
Ma Na Xoa viết thêm thành sáu mươi mốt quyển, và đổi tên bộ Tụng
Luật cuối cùng là Tỳ Ni Tụng.
Sau này, tại chùa Tân Tự ở Giang
Lăng, Ngài lên tòa giảng bộ Thập Tụng Luật. Nhờ Ngài thông thạo
tiếng Tàu, nên giúp thính giả lãnh hội dễ dàng. Phật pháp vô tác
vi diệu được xiển dương mạnh mẽ. Những kẻ chiết văn cầu lý vân tập
dưới tòa của Ngài đông như rừng. Luật tạng được hoằng duơng rộng
rãi đều là nhờ công của ngài Ti Ma La Xoa.
Tại chùa Đạo Tràng, nhờ thâm
nhập tông chỉ luật tạng do ngài Ti Ma La Xoa diễn giảng, nên Huệ
Quán ghi lại những điều cấm chỉ khinh trọng (nặng nhẹ) trong giới
luật mà soạn viết thành hai quyển, rồi đem qua kinh sư. Tăng ni
nơi đó canh cánh đua nhau truyền trao sao chép. Đương thời, các
học giả thường bảo:
- Ngài Ti Ma La Xoa vừa nói ra
lời nào thì Huệ Quán liền sao chép lại hết.
Bấy giờ, các bản sao chép lại
những lời của ngài Ti Ma La Xoa giảng giải, được mọi người quý
trọng như ngọc báu.
Ngài Ti Ma La Xoa thường lánh xa
thế tục mà tu dưỡng đạo đức nơi chốn thanh vắng yên tĩnh. Vào năm
bảy mươi bảy tuổi, ngài Ti Ma La Xoa nhập tịch tại chùa Thạch Giản
ở Thọ Xuân. Ngài Ti Ma La Xoa vốn là con mắt của thế nhân, nên
được người đời xưng tán là Thanh Nhãn Luật Sư.
19. Ngài Phật Đà Da Xá
(Buddhayasas)
[^]
Phật Đà Da Xá, dịch là Giác Minh.
Ngài là người nước Kế Tân, thuộc dòng dõi Bà La Môn, gia thế
thường tín phụng ngoại đạo. Lần nọ, có một sa môn đến nhà của Ngài
để khất thực. Người cha tức giận, nên sai người ra đánh vị sa môn
kia. Lúc ấy, chân tay của người cha đều bị đau nhức, nên không thể
làm việc đến đi như bình thường. Do đó, ông ta đến hỏi các Tọa Sư.
Họ bảo:
- Vì ông đã xúc phạm đến hiền
nhân, nên bị quỷ thần quở phạt.
Nghe lời này, ông ta bèn lễ bái
vị sa môn kia, để cầu xin sám hối. Bịnh đau nhức tay chân qua vài
ngày sau từ từ được thuyên giảm. Tận mắt chứng kiến việc này, ngài
Phật Đà Da Xá bèn theo vị sa môn kia mà xuất gia tu đạo vào lúc
mười ba tuổi. Ngài Phật Đà Da Xá thường theo thầy bổn sư đi vào
các vùng hoang dã xa xôi. Lần nọ, vừa thấy một con hổ từ xa đi tới,
vị thầy bổn sư sợ hãi định bỏ chạy, nhưng ngài Phật Đà Da Xá nói:
- Con hổ này đã ăn no rồi. Nó
không còn giết hại người nữa đâu !
Quả nhiên con hổ kia từ từ bỏ đi
xa. Tiến bước, họ thấy xương người vừa bị hổ ăn, nằm ngỗn ngang,
máu mủ loang ra khắp nơi. Qua việc này, vị thầy bổn sư của Ngài
rất kinh ngạc. Năm mười lăm tuổi, mỗi ngày Ngài đọc thuộc ba trăm
mươi ngàn lời. Ngài thường ra ngoài vệ đường kế bên chùa mà đọc
tụng kinh điển. Có một vị A La Hán vì nể trọng trí thông minh mẫn
tiệp của Ngài nên thường chia xẻ phần ăn được tín thí cúng dường.
Năm mười chín tuổi, Ngài tụng thuộc hàng triệu lời kinh Đại Thừa
và Tiểu Thừa. Tuy nhiên, vì Ngài có tánh tự kiêu, nên tuy đủ tuổi
mà chư tăng vẫn bắt làm sa di, chưa cho thọ giới cụ túc. Ngài vẫn
theo lối xưa mà học Ngũ MinhẠ, các pháp thuật ở thế gian, v.v...
Đến năm hai mươi bảy tuổi, Ngài mới được thọ giới cụ túc, và
thường tụng đọc kinh điển, tay không rời quyển kinh. Mỗi lần thiền
quán, Ngài ngồi suốt hàng giờ mà không để ý đến. Ngài luôn chuyên
cần tinh tấn tu hành như thế.
Sau này, Ngài đến nước Sa Lặc.
Lần nọ, quốc vương cúng dường trai tăng cho ba ngàn tăng chúng.
Ngài cũng ở trong số tăng sĩ đó. Bấy giờ thái tử Đạt Ma Phất Đa (dịch
là Pháp Tử), thấy dung mạo đoan trang tề chỉnh của Ngài bèn hỏi
rằng từ đâu đến. Ngài liền đối đáp rõ ràng. Thái tử vui mừng,
thỉnh Ngài vào lưu trú trong nội cung, và ân cần hậu đãi. Ngài Cưu
Ma La Thập khi đến nước Sa Lặc, cũng đã từng tôn sùng và theo học
đạo với ngài Phật Đà Da Xá. Lúc ngài Cưu Ma La Thập theo người mẹ
trở về nước Quy Từ, ngài Phật Đà Da Xá vẫn lưu trú tại nước Sa Lặc.
Thời gian sau, quốc vương nước
Sa Lặc qua đời, thái tử Đạt Ma Phất Đa lên ngôi. Đương thời, Tần
Phù Kiên sai Lữ Quang dẫn quân sang đánh chiếm nước Quy Từ. Quốc
vương nước Quy Từ bèn cấp tốc gởi thơ sang nước Sa Lặc để cầu viện
binh. Vua Đạt Ma Phất Đa tự thân dẫn viện binh sang nước Quy Từ,
chỉ giữ lại ngài Phật Đà Da Xá và thái tử để phòng hậu sự. Viện
binh của vua Đạt Ma Phất Đa chưa đến thì nước Quy Từ đã bị Lữ
Quang xâm chiếm. Do đó, vua Đạt Ma Phất Đa bèn dẫn quân trở về bổn
quốc và thuật lại việc Lữ Quang bắt được ngài Cưu Ma La Thập. Ngài
Phật Đà Da Xá bèn than:
- Ta đã từng gặp Cưu Ma La Thập,
nhưng chưa mãn nguyện. Cưu Ma La Thập bị nạn này; Ta không biết
bao giờ mới gặp được.
Hơn mười năm, ngài Phật Đà Da Xá
hoằng hóa tại miền đông của nước Quy Từ, khiến Phật pháp được hưng
thạnh. Bấy giờ, đang bị Lữ Quang giữ tại Cô Tạng, ngài Cưu Ma La
Thập viết thơ sang vấn an ngài Phật Đà Da Xá. Tuy có ý muốn sang
Cô Tạng, nhưng ngài Phật Đà Da Xá bị quốc dân trong nước lưu giữ
lại, nên đành phải ở lại thêm vài năm. Cuối cùng, Ngài bảo các đệ
tử:
- Ta muốn sang Cô Tạng để gặp
Cưu Ma La Thập. Vì vậy, tối hôm nay chúng ta hãy bí mật mang hành
lý mà đi.
Các đệ tử thưa:
- Chỉ e sợ đến trời sáng thì bị
bắt trở về.
Ngài bèn đổ nước vào trong một
bình thuốc, đọc tụng thần chú vài mươi biến, rồi cùng các đệ tử
lấy nước đó để rửa chân. Đêm hôm đó, Ngài cùng các đệ tử khởi hành,
đi nhanh như gió, vượt cả trăm dặm. Lúc dừng lại, Ngài bèn hỏi các
đệ tử cảm thấy như thế nào. Họ đáp:
- Chỉ nghe gió thổi vù vù, khiến
chảy nước mắt.
Ngài lại gia trì thần chú rồi
đưa cho họ để rửa chân. Sáng hôm sau, quốc dân truy đuổi theo,
nhưng Ngài và các đệ tử đã đi quá trăm dặm, nên không có cách chi
bắt kịp. Lúc ngài Phật Đà Da Xá đến Cô Tạng vào năm 402, ngài Cưu
Ma La Thập đã đến Trường An. Nghe vua Dao Hưng bắt ép ngài Cưu Ma
La Thập lấy thê thiếp, ngài Phật Đà Da Xá than:
- Cưu Ma La Thập như bông lụa.
Sao lại bỏ vào rừng cỏ gai ?
Nghe tin ngài Phật Đà Da Xá đã
đến Cô Tạng, ngài Cưu Ma La Thập bèn khuyên vua Dao Hưng hãy thỉnh
mời về Trường An. Song, vua Dao Hưng vẫn chưa chịu nghe theo. Vâng
mạng vua Dao Hưng phiên dịch kinh điển, ngài Cưu Ma La Thập bảo:
- Người hoằng dương giáo pháp,
phải có tài thông suốt văn nghĩa. Bần đạo tuy thông văn tự, nhưng
chưa thấu suốt lý kinh, duy chỉ có ngài Phật Đà Da Xá đã thông đạt
thâm sâu nghĩa lý vi huyền, hiện nay đang trú tại Cô Tạng. Xin
Điện Hạ hãy triệu vời về Trường An.
Nghe lời này, vua Dao Hưng bèn
sai sứ thỉnh ngài Phật Đà Da Xá về Trường An, và tặng lễ vật thâm
hậu. Ngài không nhận lễ vật. Vua Dao Hưng bèn sắp đặt cho ngài
Phật Đà Da Xá biệt trụ tại Tiêu Diêu Viên, rồi tứ sự cúng dườngẠ.
Song, ngài Phật Đà Da Xá vẫn không tiếp thọ, mà tự mang bình bát
ra đường khất thực.
Lần nọ, dịch xong quyển kinh
Thập Trụ, ngài Cưu Ma La Thập vẫn do dự nghi ngờ, hơn cả tháng mà
chưa dám thảo bút. Lúc ấy ngài Phật Đà Da Xá tình cờ đi đến. Vì
vậy, ngài Cưu Ma La Thập cùng ngài Phật Đà Da Xá thảo luận, phán
định nghĩa lý. Chư tăng và kẻ tục hơn ba ngàn người đều tôn kính
ngài Phật Đà Da Xá. Vì thông suốt và giải thích rõ ràng quyển Tỳ
Bà Sa, nên đại chúng đồng gọi ngài Phật Đà Da Xá là Điệc Tì Tỳ Bà
Sa. Vì ngài Phật Đà Da Xá vốn là thầy của ngài Cưu Ma La Thập, nên
đại chúng cũng xưng tán là Đại Tỳ Bà Sa. Tuy được tứ sự cúng dường,
y bát ngọa cụ đầy cả ba gian phòng mà ngài Phật Đà Da Xá vẫn không
màng để tâm đến. Thấy vậy, vua Dao Hưng bèn sai người đem hết
những vật này, đổi lấy tiền xây chùa ở phía nam thành Trường An
cho Ngài cư trú.
Lần nọ được Dao Sảng thỉnh cầu,
ngài Phật Đà Da Xá bèn tụng đọc bộ luật Đàm Vô Đức, có hơn năm
mươi ngàn lời. Vua Dao Hưng nghi là văn nghĩa có chỗ sai lầm, nên
kiểm duyệt lại. Suốt hai ngày, vua Dao Hưng chẳng tìm được một chữ
nào sai trái, nên càng kính phục trí nhớ siêu việt của ngài Phật
Đà Da Xá.
Năm 410, ngài Phật Đà Da Xá dịch
ra bốn mươi quyển Tứ Phần Luật, kinh Trường A Hàm, v.v... Sa môn
Trúc Phật Niệm ở Lương Châu dịch thành tiếng Tàu. Sa môn Đạo Hàm
ghi chép. Đến năm 413, ngài Phật Đà Da Xá ngưng thuyết giảng, dịch
kinh, và từ biệt trở về cố quốc. Vua Dao Hưng cúng dường cả mười
ngàn xấp vải, nhưng Ngài không nhận lấy. Sa môn Đạo Hàm và Trúc
Phật Niệm cúng dường cho Ngài cả ngàn xấp lụa. Hơn năm trăm sa môn
danh đức đều cùng cúng dường Ngài rất nhiều lễ vật.
Trở về nước Kế Tân, ngài Phật Đà
Da Xá thỉnh được một quyển kinh Hư Không Tạng, rồi gởi đến cho chư
tăng ở Lương Châu. Sau này, không ai biết ngài Phật Đà Da Xá tịch
ở nơi đâu.
20. Ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva)
[^]
Cưu Ma La Thập tiếng Tàu dịch là
'Đồng Thọ', có nghĩa là tuy tuổi nhỏ mà đức hạnh lão luyện. Danh
Cưu Ma La Thập vốn là Cưu Ma La Kỳ Bà. Vì tên của người Tây Vực đa
số thường dùng danh tự của cha mẹ. Cha của Ngài tên là Cưu Ma Đàm,
và bà mẹ tên là Kỳ Bà, nên hợp lại hai tên, thành Cưu Ma La Kỳ Bà.
Tổ tiên của Ngài vốn cư trú ở nước Thiên Trúc, gia tộc đời đời
thường làm cao quan trong triều đình. Ông nội của Ngài làm tể
tướng, tên là Đạt Đa, tánh tình hào phóng, lỗi lạc siêu quần, được
quốc dân kính trọng. Cha của Ngài, Cưu Ma Đàm, thông minh mà lại
có đức độ. Lúc sắp kế thừa ngôi Tể Tướng, ông bèn nhượng từ mà
xuất gia, đi hướng về phía đông nam, vượt qua ngọn Thông Lãnh, để
đến nước Quy Từ (Kuchar). Lúc Cưu Ma Đàm chưa vào biên cảnh nước
Quy Từ, quốc vương đã nghe danh của ông là từ bỏ vinh hoa phú quý
để xuất gia tu đạo, nên khởi tâm cung kính vô biên, bèn ra đến tận
biên thùy nghinh tiếp, rồi tôn ngưỡng làm quốc sư. (Các vương quốc
ở Tây Vực vì tôn kính chư sa môn, nên thường có phong tục là tôn
làm quốc sư.)
Quốc vương có một người em gái,
tên là Kỳ Bà, lứa tuổi đôi mươi, tài hoa sắc xảo, thông minh mẫn
tiệp, đọc qua kinh thư một lần liền hiểu rõ, nghe qua một lần liền
thuộc nhớ. Trên mặt bà có một nốt ruồi son, mà các ẩn sĩ thường
bảo đó là tướng lành, sẽ sanh được quý tử. Thế nên, chư quốc vương
tranh nhau mang lễ vật cầu hôn, mà bà không vừa ý. Song, vừa thấy
Cưu Ma Đàm, bà ta bèn chịu làm vợ. Quốc vương biết ý của cô em,
nên cưỡng ép Cưu Ma Đàm thành hôn với bà ta. Cưới nhau chẳng bao
lâu, họ sanh ra được ngài Cưu Ma La Thập. Lúc ngài Cưu Ma La Thập
còn nằm trong bào thai, bà Kỳ Bà có nhiều khả năng lạ thường. Từ
lúc mang thai ngài Cưu Ma La Thập, trí huệ và thần ngộ liễu giải
của bà ta vượt hơn người thường. Nghe đại tùng lâm Tước Lê có
nhiều vị danh tăng đắc đạo, bà cùng với các phụ nữ dòng vương gia
quý tộc, và các ni sư tu hành đắc đạo, đến nơi đó thiết lễ trai
tăng, thỉnh pháp nghe kinh. Đại tùng Lâm Tước Lê vốn ở tại nước
Kiền Đà La (Gandhara); nơi đó có một tháp tự nổi tiếng là Tước Ly
Phù Đồ. Đang lúc nghe kinh, bà ta tự thông hiểu ngôn ngữ Thiên
Trúc, và đối với bao vấn đề khó khăn, đều đối đáp không do dự.
Người người đều lấy làm kỳ lạ. Một vị A La Hán tên là Đạt Ma Cù
Sa, bảo:
- Đây là điềm báo ứng rằng bà ta
nhất định đang mang thai một vị đại trí huệ. Xưa kia, khi tôn giả
Xá Lợi Phất còn nằm trong bụng mẹ, đã từng khiến cho mẫu thân được
biện tài vô ngại.
Ngài Cưu Ma La Thập xuất sanh
vào khoảng năm 340; sau khi Ngài ra đời, mẫu thân không thể biết
được tiếng Thiên Trúc. Thời gian sau, mẹ Ngài phát tâm xuất gia,
nhưng cha Ngài không cho phép. Chẳng bao lâu, bà ta sanh thêm một
người con trai, tên là Phất Sa Đề Bà. Lần nọ, nhân dịp ra ngoài
thành du ngoạn, bà thấy nơi nghĩa địa xương cốt bày la liệt khắp
nơi, bèn thâm cảm nhân sanh khổ, không, vô thường, nên quyết chí
xuất gia. Bà nguyện rằng nếu không xuống tóc làm ni, thì đoạn
tuyệt ăn uống cho đến chết. Cứ như thế trải qua sáu ngày, hơi thở
bà dần dần kiệt quệ. Cha Ngài thấy tâm bà ta đã quyết chí, nên đáp
ứng lòng mong cầu của bà ta, mà cho phép xuất gia, nhưng bà vẫn
không tin; mãi đến khi được người khác cạo tóc cho, bà mới chịu ăn
uống trở lại. Sau đó, bà liền vào chùa, thọ giới và học pháp thiền.
Từ đó, bà tu hành tinh tấn không chút giải đãi, nên mau chóng
chứng sơ quả Tu Đà Hoàn.
Lúc được bảy tuổi, ngài Cưu Ma
La Thập cũng theo mẹ đi xuất gia, và lại theo thầy bổn sư, đọc
tụng kinh thư. Mỗi ngày, Ngài đọc thuộc một ngàn câu kệ. Mỗi câu
kệ có ba mươi hai chữ. Tổng cộng là ba mươi hai ngàn chữ. Thầy bổn
sư của Ngài lại thường đưa cho kinh điển A Tỳ Đàm, và chỉ giải
thích sơ qua thôi, mà Ngài liền thông đạt, không gặp trở ngại. Vì
thế, thần đồng Cưu Ma La Thập học thuộc hết kinh luận Tỳ Đàm.
Vì mẹ Ngài xuất thân từ dòng
vương gia, nên người nước Quy Từ cúng dường bà ta rất thâm hậu. E
sợ việc này ảnh hưởng đến sự chuyên tâm tu hành, nên chẳng bao lâu
bà ta dẫn Ngài đi sang nước khác. Lúc chín tuổi, Ngài theo bà mẹ
vượt sông Tân Đầu để đến nước Kế Tân. (Ngài Phật Đồ Trừng xuất
thân tại nước Quy Từ, rồi qua nước Kế Tân tu học. Đó là phong tục
thông thường vào đương thời. Nước Kế Tân vốn là nơi mà thuyết Nhất
Thiết Hữu Bộ rất được thạnh hành. Hậu bán thế kỷ thứ tư, có rất
nhiều tăng sĩ mang kinh điển nguyên thủy và luận học của Nhất
Thiết Hữu Bộ từ nước Kế Tân truyền vào Trung Thổ, điển hình là
ngài Tăng Già Đề Bà mang kinh Tăng Nhất A Hàm, kinh Trung A Hàm,
luận A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ, luận A Tỳ Đàm Tâm. Ngài Đàm Ma Da Xá
mang luận Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm. Ngoài ra, ngài Phất Nhã Đa La và
Ti Ma La Xoa mang quyển Thập Tụng Luật. Ngài Phật Đà Gia Xá mang
Tứ Phần Luật và kinh Trường A Hàm. Khoảng giữa năm 400, ngài Phật
Đà Bạt Đà La truyền dịch kinh Hoa Nghiêm và kinh Tân Vô Lượng Thọ.
Năm 411, ngài Đàm Vô Sấm truyền dịch kinh Đại Bát Niết Bàn và các
bộ kinh Đại Thừa khác. Do đó, có thể xét đoán là thời gian ngài
Cưu Ma La Thập sang nước Kế Tân, kinh điển Tiểu Thừa và kinh điển
tân Đại Thừa đã được lưu truyền rộng rãi.)
Nơi đó, có một danh tăng cao đức
là Bàn Đầu Đạt Đa (Bandhudatta), vốn là em của vua nước Kế Tân,
học vấn thâm sâu, tâm lượng bao dung rộng rãi, tài trí bác học,
thật hiếm có trong đương thời. Pháp sư Bàn Đầu Đạt Đa vốn là vị tổ
thứ bốn mươi chín tiếp nối theo truyền thống của thuyết Nhất Thiết
Hữu Bộ. Đối với ba tạng kinh luật luận và chín bộ, đều thông suốt
liễu đạt tường tận. Từ sáng đến trưa, tay viết cả ngàn câu kệ. Từ
trưa đến tối, cũng có thể học thuộc cả ngàn bài kệ. Thanh danh
vang lừng khắp các vương quốc ở Tây Vực. Người người đều tôn xưng
là bậc đại học giả.
Khi đến nước Kế Tân, ngài Cưu Ma
La Thập liền lễ bái tín phụng, và theo pháp sư Bàn Đầu Đạt Đa học
tập kinh kệ như Tạp Tạng, Trung A Hàm, Trường A Hàm, v.v... Ngài
Cưu Ma La Thập cũng có thể học thuộc bốn trăm ngàn chữ trong một
ngày. Pháp sư Bàn Đầu Đạt Đa thường khen ngợi thiên tư thần tuấn
của ngài Cưu Ma La Thập, nên thanh danh chóng sớm truyền đến tai
quốc vương nước Kế Tân. Do đó, quốc vương nước Kế Tân thỉnh ngài
Cưu Ma La Thập vào cung, rồi chiêu tập các luận sư ngoại đạo, để
cùng nhau tranh tài biện luận. Thấy ngài Cưu Ma La Thập tuổi nhỏ,
nên lúc chưa bắt đầu tranh luận, các luận sư ngoại đạo khinh dễ
xem thường, hiển lộ qua những lời lẽ vấn đáp. Ngài không lộ chút
sợ sệt. Mỗi lần đưa ra câu nào, đều khiến đối phương không thể tìm
được phương cách nào để bài bác. Hồi sau, luận sư ngoại đạo đều
tâm phục khẩu phục. Qua buổi tranh luận đó, quốc vương nước Kế Tân
lại càng hậu đãi Ngài, nên cúng dường thâm hậu, và sai năm đại
tăng cùng mười sa di đến chùa phục dịch hầu hạ Ngài.
Năm mười hai tuổi, bà mẹ dẫn
Ngài trở về nước Quy Từ. Trên đường, họ đi ngang qua núi Bắc Sơn ở
nước Đại Nhục Chi, gặp một vị A La Hán. Vừa thấy ngài Cưu Ma La
Thập, vị A La Hán kia bèn biết đây chẳng phải là phàm nhân, nên
bảo với bà mẹ:
- Bà nên lo lắng kỹ càng chú
tiểu sa di này. Nếu đến năm ba mươi lăm tuổi mà không phá giới,
thì có thể hưng long đại pháp, cứu độ vô số chúng sanh, đồng với
tổ Ưu Ba Cúc Đa không khác. Ngược lại, sẽ không thành tựu được gì,
mà chỉ là một pháp sư tài trí thù thắng bình thường.
Lần nọ, đến nước Sa Lặc (Kashgar),
thấy một bình bát của Phật, Ngài bèn để lên đầu, rồi khởi tâm suy
nghĩ:
- Quái lạ ! Bình bát này hình
thể thật to, mà để lên đầu lại không cảm thấy nặng ?
Niệm đó vừa khởi lên, thì Ngài
cảm thấy bình bát nặng trĩu vô cùng. Lúc bà mẹ hỏi nguyên do, Ngài
bèn đáp:
- Chỉ vì con khởi tâm phân biệt
bình bát nặng nhẹ.
(Trong quyển Tây Vức Ký, ngài
Đạo An viết: "Nước Sa Lặc có tượng Phật Mộc Dục, làm bằng gỗ chiên
đàn, từ phương tây đem đến, để nơi cung điện mà cúng dường".
Y cứ vào đây thì thấy rằng giữa
thế kỷ thứ tư, Phật giáo đã được truyền vào nước Sa Lặc, nên quốc
vương mới có tượng Phật Mộc Dục để cúng dường tại hoàng cung. Đầu
thế kỷ thứ năm, sa môn Trí Mãnh đã từng sang đó để lễ bái Thánh
tích. Quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' thứ mười lăm ghi: "Lại nữa, tại
nước đó, thấy bình bát của Phật màu sắc xanh tím, bốn bề sáng lạn.
Thầy Trí Mãnh dâng hoa cúng dường, đảnh lễ phát nguyện rằng nếu
bình bát có linh ứng, thì có thể nặng và có thể nhẹ. Phát nguyện
xong, thầy Trí Mãnh bèn nâng bình bát lên, rồi từ từ cảm thấy bình
bát nặng trĩu, không thể cầm nổi, nên phải đặt xuống. Đang lúc đặt
xuống thì thầy Trí Mãnh cảm thấy bình bát lại nhẹ đi".
Tín ngưỡng tôn sùng bình bát của
Phật được lưu truyền rộng rãi từ Thiên Trúc cho đến các nước ở Tây
Vức. Thế nên, chính tự thân ngài Cưu Ma La Thập thể nghiệm được sự
linh ứng về bình bát của Phật.)
Năm đầu lưu trú tại nước Sa Lặc,
ngài Cưu Ma La Thập học thông luận A Tỳ Đàm, luận Lục Túc, kinh
Tăng Nhất A Hàm, và hiểu rõ thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ.
Nước Sa Lặc có một vị tam tạng
pháp sư, tên là Hỷ Kiến, nghe qua thanh danh của ngài Cưu Ma La
Thập, vị nầy liền bảo quốc vương nước đó:
- Xin quốc vương chớ khinh
thường chú tiểu sa di đó, mà hãy cung thỉnh vào triều giảng kinh
thuyết pháp, thì sẽ được hai việc lành: Thứ nhất, chư sa môn của
nước ta, khi nghe những lời thuyết pháp của vị sa di đó, sẽ tự cảm
thấy không bì kịp, nên nhất định sanh tâm hổ thẹn, nỗ lực tu hành.
Thứ hai, quốc vương nước Quy Từ nhất định sẽ hiểu rõ là nước chúng
ta hậu đãi tôn trọng Cưu Ma La Thập cũng là biểu hiện sự tôn trọng
nước Quy Từ. Nếu được như thế, thì hai nước sẽ bang giao hòa thuận.
Nghe lời của pháp sư Hỷ Kiến,
quốc vương nước Sa Lặc đáp ứng sự yêu cầu, nên thiết lập đại pháp
hội, lễ bái và cung thỉnh ngài Cưu Ma La Thập thăng tòa giảng kinh
Chuyển Pháp Luân. Quốc vương nước Quy Từ nghe tin này, bèn sai sứ
đem lễ vật sang hậu tạ, khiến tình giao hảo của hai nước càng thêm
khắng khít.
Tuy là bậc thần đồng, nhưng Ngài
không lấy đó làm tự mãn, mà thường chú trọng vào việc nghiên cứu
ba tạng nội điển, tức kinh điển nguyên thủy Phật giáo và học luận
thuyết Nhiết Thiết Hữu Bộ, rồi tiến thêm một bước nữa là nghiên
cứu ngoại tích luận lý cổ điển như luận Vệ Đà Hàm Đa, Tứ Vệ Điển,
luận Ngũ Minh (thanh minh, công xảo minh, y phương minh, nhân minh,
nội minh), âm dương toán số, y thuật, thiên văn chiêm bốc, đoán
việc kiết hung.
Tại Sa Lặc, ngài Cưu Ma La Thập
theo sa môn Tu Lợi Da Tô Ma (Surya-Soma) học pháp Đại Thừa. Quyển
'Bách Luận Tự Sao' viết: ỀSa môn Tu Lợi Da Tô Ma vốn là hoàng tử
nước Sa Lặc, xuất gia tu học theo giáo pháp Đại ThừaỂ.
Bàn về phương diện giáo pháp,
lập trường của giáo lý Tiểu Thừa và Đại Thừa hoàn toàn khác hẳn.
Ngài Cưu Ma La Thập vốn tu theo giáo Tiểu Thừa, nhưng từ lúc gặp
được sa môn Tu Lợi Da Tô Ma và thường qua lại thân mật, thì tầm
nhìn về pháp Đại Thừa được khai mở. Ban đầu, để giáo hóa, sa môn
Tu Lợi Da Tô Ma đến trước cửa phòng của ngài Cưu Ma La Thập mà cố
ý đọc to kinh A Nậu Đạt, với ý nghĩa tất cả đều là không. Xa xa
vọng nghe được lời kinh này, nên sáng hôm sau ngài Cưu Ma La Thập
bèn hỏi sa môn Tu Lợi Da Tô Ma:
- Bạch Thầy ! Hôm qua Thầy đọc
kinh gì vậy ?
Sa môn Tu Lợi Da Tô Ma bảo:
- Đó là kinh Đại Thừa.
- Nghĩa lý thế nào ?
- Bàn về tất cả đều không.
- Mọi việc trước mắt đều là thật
có, vậy sao gọi là không ?
- Nếu mắt mà xem thấy có vật,
thì Ta hỏi vậy chứ có vật nào tồn tại dài lâu ?
- Còn lại tính chất của cái thấy.
- Nếu cái thấy là tánh chất tồn
tại, thì sao không tự thấy con mắt của mình ? Lại nữa, con mắt do
một cực vi trần hay nhiều cực vi trầnẠ hợp thành ? Nếu bảo do một
cực vi trần hợp thành, thì cái thấy cũng là một cực vi trần. Nếu
không thể thấy được một cực vi trần thì đương nhiên là không thể
thấy được nhiều cực vi trần. Ngoài ra, nếu cực vi trần có hình
tướng thì nó phải đầy đủ tánh chất rộng lớn hay nhỏ hẹp. Tuy nhiên,
nếu nó là rộng lớn thì không thể là cực vi trần được. Không đầy đủ
tánh chất rộng lớn nhỏ hẹp thì làm sao gọi là có hình tướng được ?
Nghe qua lời này, ngài Cưu Ma La
Thập không thể đối đáp được, nên lặng thinh. Dùng lý luận của
thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, ngài Cưu Ma La Thập cho rằng nhãn cănẠ
là pháp trần thật có. Sa môn Tu Lợi Da Tô Ma đáp rằng nhãn căn vốn
do duyên hợp mà thành, chẳng phải thật có. Đây là sự tranh luận
giữa thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và Không Quán. Ngài Cưu Ma La Thập
từ từ liễu ngộ lý lẽ pháp Đại Thừa, nên tự than:
- Xưa kia học theo pháp Tiểu
Thừa, thường chẳng biết có vàng bên trong, mà chỉ cho đồng thiếc
là quý.
Nhờ đó, ngài Cưu Ma La Thập bắt
đầu theo sa môn Tu Lợi Da Tô Ma học kinh luận Đại Thừa như Trung
Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, v.v... Từ đó, ngài Cưu Ma La
Thập hoàn toàn chuyển hướng về pháp Đại Thừa, và xem đó là sự
trọng yếu của việc tu hành.
Thời gian sau, Ngài theo người
mẹ đến rặng núi Thiên Sơn của nước Ôn Túc (Ush), nằm về phía bắc
của nước Quy Từ. Tại nước đó, có một đạo sĩ biện tài vô ngại, danh
vang lừng khắp các nước lân cận. Lần nọ, ông ta đánh trống, tuyên
bố với mọi người:
- Hễ có ai biện luận thắng được
Ta, thì Ta sẽ cắt đầu để xin tạ tội.
Nghe lời này, Ngài bèn đến biện
luận với ông ta. Kết quả đạo sĩ đành tự nhận là bị thua, nên lễ
bái quy y Ngài. Từ đó, thanh danh của Ngài vang lừng khắp các
vương quốc ở Tây Vực, khiến vua Quy Từ phải tự thân đến nước Ôn
Túc cung thỉnh Ngài trở về bổn quốc. Vào lúc đó, Ngài thường đăng
đàn giảng kinh. Các bậc thạc học uyên bác bốn phương đều chiêm tâm
ngưỡng phục.
A Kiệt Da Mạt Đế, tức công chúa
nước Quy Từ, xuất gia làm ni, tụng đọc kinh điển, thâm đạt thiền
quán, chứng nhị quả A La Hán, rồi vân tập đại chúng, cung thỉnh
Ngài giảng giải nghĩa thâm áo của kinh Phương Quảng. Do đó, Ngài
đăng tòa thuyết pháp, xiển dương lý 'tất cả đều không có ngã thể'
và ấm giớiẠ 'chỉ là giả danh, chẳng thật có'. Đại chúng nghe những
lời này đều vui mừng tán thán.
Năm hai mươi tuổi, ngài Cưu Ma
La Thập theo sa môn Ti Ma La Xoa (Vimaraksa), một vị kiệt xuất về
luật học, thọ đại giới cụ túc tại hoàng cung. Sa môn Ti Ma La Xoa
vốn là người nước Kế Tân, nhưng lại qua nước Quy Từ để hoằng dương
Luật Tạng, nên học giả bốn phương đều canh cánh đua nhau theo học.
Ngài Cưu Ma La Thập theo sa môn Ti Ma La Xoa mà học Thập Tụng Luật.
Sau này, mẹ ngài nói với vua
Bạch Thống của nước Quy Từ:
- Quốc gia sắp bị suy vong. Tôi
phải rời chỗ này.
Bà lại hỏi ngài Cưu Ma La Thập:
- Việc truyền kinh điển Phương
Đẳng cùng các kinh điển Đại Thừa sang Đông Độ, đa phần nhờ vào con
! Tuy nhiên con sẽ không được lợI lạc gì cả, vậy thì phải làm sao
?
Ngài thưa:
- Đạo Bồ Tát là làm lợi ích cho
tha nhân, phải quên đi chính mình. Đạo pháp nếu được lưu truyền,
khiến người người lãnh hội khai ngộ, thì dẫu thân có thọ khổ dầu
sôi lửa bỏng, vẫn không hối tiếc.
Khi đến Thiên Trúc, bà ta lại
chứng được tam quả A La Hán (tức quả A Na Hàm).
Lần nọ, cư trú tại chùa Tân Tự ở
nước Quy Từ, Ngài định mở kinh Phóng Quang Bát Nhã ra đọc tụng,
thì ác ma đến quấy phá, khiến kinh văn đều biến thành tờ giấy
trắng. Thấy mình bị ác ma quấy nhiễu, Ngài vẫn kiên quyết không
chuyển tâm, cứ việc tụng đọc, nên cuối cùng ác ma phải thối lui,
và kinh văn hiện ra trở lại. Lần khác, đang đọc kinh điển Đại Thừa
tại đại tùng lâm Tước Lê, Ngài chợt nghe trong chùa có tiếng bảo:
- Ngài là một vị đại trí huệ,
vậy sao còn đọc tụng kinh thư ?
Ngài bảo:
- Nầy tiểu quỷ ! Hãy mau đi chỗ
khác. Tâm Ta kiên cố như đại địa, chẳng có gì làm chuyển động.
Do nhờ vận dụng trí quán Bát Nhã
mà lập trường tu hành của Ngài không thối chuyển dẫu gặp ma sự.
Hai năm kế, Ngài vẫn lưu trú tại
nước Quy Từ để tụng đọc kinh điển Đại Thừa, cùng nghiên cứu giáo
nghĩa thâm sâu áo diệu. Vua nước Quy Từ thiết lập tòa sư tử, trải
lụa kim tuyến lên tòa ngồi, rồi cung thỉnh Ngài đăng đàn thuyết
pháp. Ngài bảo:
- Thầy của Ta chưa lãnh hội yếu
chỉ kinh điển Đại Thừa. Ta muốn tự thân qua đó để thuyết pháp giáo
nghĩa Đại Thừa, nên không thể lưu lại ở đây lâu được.
Ngẫu nhiên thay, vì nghe thanh
danh của ngài Cưu Ma La Thập, và biết vua nước Quy Từ tín phụng
Phật pháp, nên sa môn Bàn Đầu Đạt Ma không quản đường xa vạn dặm
đến nước Quy Từ. Lúc vị sa môn này vào hoàng cung, vua nước Quy Từ
hỏi:
- Tại sao Đại Sư lại lặn lội đến
vương quốc của Trẫm ?
Sa môn Bàn Đầu Đạt Ma đáp:
- Có hai lý do: Thứ nhất, tôi
nghe rằng đệ tử của mình là Cưu Ma La Thập đã đại triệt ngộ. Thứ
hai, vì nghe rằng Đại Vương hộ trì hoằng dương Phật pháp, nên tôi
không quản đường xá xa xôi mà đến quý quốc.
Nghe thầy bổn sư đến, rất hợp
với ý nguyện, nên tâm Ngài vui mừng vô ngần. Biết rằng trước kia
thầy mình không tin kinh Đức Nữ Vấn, nên Ngài bèn giảng lại bộ
kinh này, để xiển dương đạo lý nhân duyên đều 'huyễn giả và không
thật' cho thầy bổn sư nghe. Vị thầy bổn sư vốn theo giáo lý Tiểu
Thừa, không biết do duyên cớ gì mà người đệ tử lại tín phụng pháp
quán "Tánh Không" của Đại Thừa. Do đó, nghe ngài Cưu Ma La Thập
giảng xong, vị thầy bổn sư hỏi:
- Nơi giáo nghĩa Đại Thừa, ngươi
thể nghiệm được việc gì, mà lại tôn sùng như thế ?
Ngài nói:
- Nghĩa lý Đại Thừa thâm sâu,
thuyết minh đạo lý tất cả đều là không. Giáo nghĩa Tiểu Thừa, vì
thường bị kẹt trên danh tướng, nên phần nhiều vẫn còn bị hạn chế.
- Ngươi bảo tất cả đều là không.
Luận điệu này thật đáng sợ ! Còn xả bỏ vật chi thì còn có tồn tại,
sao lại thích nơi không không. Ví như kẻ si cuồng muốn cầu thợ,
dệt cho một tấm lụa mỏng. Khi dệt xong, người thợ bèn đưa cho gã
xem. Gã bảo rằng lụa vẫn còn thô, chưa được nhu nhuyến, vì vẫn còn
thấy hình tướng. Người thợ dệt tức giận, chỉ tay lên trời bảo rằng
đó là tấm vải nhu nhuyễn nhất. Kẻ si cuồng hỏi rằng tại sao không
thấy được. Thợ dệt bèn đáp là vì quá nhu nhuyễn nên không thể thấy.
Nghe lời này, gã si cuồng vui mừng cảm phục. Ngươi nói không không,
cũng giống như thế.
Ngài vẫn kiên quyết, dẫn trích
kinh điển, không từ mệt nhọc mà giải thích cho vị thầy bổn sư nghe.
Suốt một tháng tranh luận về giáo nghĩa Đại Thừa, cuối cùng vị
thầy bổn sư thâm hiểu triệt ngộ những lời giảng dạy của Ngài. Do
đó, sa môn Bàn Đầu Đạt Đa trịnh trọng đảnh lễ ngài Cưu Ma La Thập
mà bảo:
- Ta là thầy dạy giáo nghĩa Tiểu
Thừa của ngươi. Ngươi là thầy dạy giáo nghĩa Đại Thừa của Ta.
Các quốc vương ở Tây Vực, vì bái
phục tôn sùng, nên mỗi lần Ngài thăng tòa thuyết pháp, họ đều quỳ
ngay bên cạnh tòa giảng.
Đương thời, nước Quy Từ là nơi
cứ điểm của Phật giáo Tiểu Thừa. Hai sa môn người Tàu là Tăng
Thống và Đàm Sung cầu bản giới luật tỳ kheo ni từ sa môn Phật Đồ
Thiệt Di, một vị cao tăng trưởng lão, thống lý bốn đại tùng lâm
như Vân Mộ Lam, Tân Tự, Tân Lam, Tăng Già Lam; tổng cộng có hơn ba
trăm năm mươi tăng sĩ. Tất cả giới học giả kinh A Hàm đều y theo
trưởng lão Phật Đồ Thiệt Di mà tu học. Đương thời, tại đó còn có
các đại tùng lâm lớn như: Đạt Mộ Lam (có 170 tăng sĩ), Bắc Thượng
Chí Lê Lam (có 50 tăng sĩ), Kiếm Mộ Vương Tân Lam (có 60 tăng sĩ),
Thấp Túc Vương Lam (có 70 tăng sĩ). Quốc vương cũng tự cho xây đại
tùng lâm Tân Tăng Lam, có khoảng chín mươi tăng sĩ. Đây là nơi mà
ngài Cưu Ma La Thập thường trú ngụ. Ngoài ra, còn có các ni viện
như A Lệ Lam (180 ni cô), Luân Nhã Thiên Lam (50 ni cô), A Lệ Bạt
Lam (30 ni cô). Các tỳ kheo ni ở ba ni viện này đa số đều là các
phụ nữ dòng vương thất đến tu hành, và họ đều thọ giới từ trưởng
lão Phật Đồ Thiệt Di. Quy chế tu hành trong các ni viện rất nghiêm
cẩn, khắc khổ. Tỳ kheo ni phải giữ giớI tinh nghiêm. Mỗi ba tháng
các tỳ kheo ni đều phải thay đổi nơi cư trú. Khi ra ngoài phải có
ba người đồng hành. Nếu ra ngoài mà không có ai đồng hành thì sẽ
bị đuổi ra khỏi ni viện.
Ngài Phật Đồ Trừng cũng đã từng
qua nước này tu học. Sa môn Bạch Thi Lê Mật Đa cũng đem kinh điển
Mật giáo từ nơi đây sang Trung Quốc.
Xưa kia, ngài Cưu Ma La Thập
cũng vốn là đệ tử của sa môn Phật Đồ Thiệt Di. Hậu bán thế kỷ thứ
tư, kinh điển Đại Thừa như kinh Pháp Hoa, kinh Duy Ma Cật, kinh A
Di Đà, cùng giáo lý Không Quán phát triển mau chóng mạnh mẽ do
công của ngài Cưu Ma La Thập truyền vào, sau khi đã tu học tại
nước Sa Lặc. Được nghe những lời giảng giải của ngài Cưu Ma La
Thập, sa môn Phật Đồ Thiệt Di bèn tin nhận nghĩa lý Đại Thừa. Thế
nên, giữa ngài Cưu Ma La Thập và sa môn Phật Đồ Thiệt Di cũng có
mối quan hệ 'vừa là thầy, và vừa là học trò'.
Sau khi Ngài đến Cô Tạng thì
giáo nghĩa Đại Thừa ở nước Quy Từ dần dần suy yếu; vì không có ai
xiển dương, nên giáo nghĩa Tiểu Thừa chiếm lại ưu thế. Pháp sư Đạt
Ma Bạt Đà (dịch là Pháp Hiền), người nước Quy Từ, thiên tánh thông
minh, thông đạt hết ba tạng kinh điển, biết rất nhiều ngôn ngữ
ngoại quốc, nhưng lại cho rằng pháp Tiểu Thừa là cao siêu tối cực,
nên tự sanh ngã mạn, phỉ báng kinh điển Đại Thừa. Bấy giờ sa môn
Tu Lợi Da Tô Ma (vị thầy dạy giáo Đại Thừa của ngài Cưu Ma La Thập),
từ nước Sa Lặc sang đến Quy Từ diễn giảng kinh Pháp Hoa, và chiết
phục được Đạt Ma Bạt Đà, quy hướng về Đại Thừa. Sau này, vì thiếu
danh tăng Đại Thừa, mà chư sa môn Tiểu Thừa giới luật tinh nghiêm,
từ nước Kế Tân thường qua nước Quy Từ truyền pháp, nên dần dần
toàn quốc đều kính phụng giáo lý Tiểu Thừa.
Đương thời, ở Trung Thổ, chính
nhằm lúc Ngũ Hồ mười sáu nước, và Tiền Tần Phù Kiên có oai thế
hùng mạnh. Trong giới Phật giáo quốc nội, Phù Kiên đã từng nghe
qua thanh danh của ngài Đạo An tại Tương Dương, nên sau này thỉnh
mời về Trường An hoằng pháp.
Niên hiệu Kiến Nguyên thứ mười
ba (377), vào tháng giêng, có quan thái sử quán sát tinh tượng,
dâng tấu bẩm với Phù Kiên:
- Tại nước ngoài, tinh tú hiện
nơi vùng hoang dã, chắc có vị đại đức trí huệ, và trong tương lai
sẽ qua Trung Thổ, phò trợ quốc gia.
Phù Kiên bảo:
- Ta nghe rằng tại Tây Vực có
ngài Cưu Ma La Thập. Điềm lành như thế, chính là vị đó.
Lần nọ, vua nước Tiền Đô là Xa
Sư và em của vua nước Quy Từ là Hưu Mật Đà, đồng vào triều tâu với
Phù Kiên:
- Tây Vực có nhiều trân châu bảo
quý, thỉnh cầu Đại Vương xuất binh bình định, khiến họ thần phục.
Theo quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập'
thứ tám, trong bài tựa về kinh Ma Ha Bát Nhã Bàn La Mật, ngài Đạo
An viết rằng vua Tiền Đô là Xa Sư đến Trung Thổ vào tháng giêng,
niên hiệu Kiến Nguyên thứ mười tám (382), và dẫn theo một vị quốc
sư tên là Cưu Ma La Bạt Đề (Kumarabhadra), cùng triều cống một bộ
Đại Phẩm có bốn trăm hai mươi ngàn lời, và hai mươi ngàn bài kệ.
Nghe theo lời của hai vị vương
gia ngoại quốc, vào tháng chín năm 382, Phù Kiên phái kiêu tướng
Lữ Quang thống lãnh bảy mươi ngàn quân sang xâm chiếm Tây Vực. Lúc
Lữ Quang sắp xuất chinh từ Trường An, Phù Kiên tiễn Lữ Quang tại
cung Kiến Chương, bảo:
- Đế vương thuận thiên mạng mà
trị quốc, nên phải lấy lòng thương dân làm gốc. Sao lại có ý đồ
tham vọng mà chinh phạt lân bang ? Trẫm lấy vương đạo làm yếu chỉ,
nên vì ngưỡng mộ vị đạo nhân mà cho quân chinh phạt. Trẫm nghe
rằng tại Tây Vực có kỳ nhân Cưu Ma La Thập, vị có khả năng thâm
giải pháp tướng, hiểu rõ âm dương, tinh tú, khiến hàng học giả đều
tôn sùng. Trẫm tự nghĩ đó là bậc hiền triết quý báu của quốc gia.
Nếu phá được nước Quy Từ, hãy lập tức dẫn Cưu Ma La Thập trở về
ngay.
Trước khi quân của Lữ Quang đến
nước Quy Từ, ngài Cưu Ma La Thập bảo vua Bạch Thống:
- Vận nước đã đến hồi suy vi.
Chẳng bao lâu sẽ có kẻ địch từ phương đông đến. Xin Đại Vương hãy
cung kính đón tiếp họ, chớ nên giao tranh.
Vua Bạch Thống không chịu nghe
lời Ngài, cứ dẫn quân ra nghinh chiến với Lữ Quang. Đến tháng chạp
năm 383, Lữ Quang dẫn quân bao vây cung thành Quy Từ, nhưng chưa
tiến vào. Vào tháng năm năm 384, vua Bạch Thống nhân cơ hội đó,
cho người đi cầu cứu viện binh từ các nước lân cận như Sa Lặc, Ôn
Túc, v.v... Tuy nhiên, vào tháng bảy năm 384, Lữ Quang xua quân
vào thành, sát hại hàng vạn sanh linh. Vua Bạch Thống cũng bị tử
trận. Quân Lữ Quang vào thành, thấy cung thành có ba tầng tròn và
rộng như thành Trường An. Trong thành có cả ngàn tháp miếu. Cung
thất của vua Bạch Thống tráng lệ nguy nga như cung điện chư thiên.
Tiến chiếm thành xong, Lữ Quang lập em của vua Bạch Thống là Bạch
Chấn lên ngôi. Thấy vị tăng sĩ mà Phù Kiên tôn sùng, tuổi tác còn
trẻ, Lữ Quang vì không phải là Phật tử, chỉ có tánh thô lỗ hung
tàn, nên cưỡng ép ngài Cưu Ma La Thập uống rượu, rồi bức bách lấy
mỹ nữ trong cung, nhưng Ngài cự tuyệt. Thấy vậy, Lữ Quang bảo:
- Người có đức hạnh, không thể
vượt qua cha mình. Cha của Hòa Thượng đã từng lấy vợ, vậy sao Hòa
Thượng kiên trì không muốn lấy vợ ?
Nói xong, Lữ Quang lại ép uống
rượu, rồi nhốt Ngài vào trong mật thất với mỹ nữ. Sau đó, Lữ Quang
lại bắt Ngài cỡi trâu và cỡi ngựa điên, cùng dùng bao cách để làm
nhục. Tuy nhiên, Ngài cố nhẫn chịu những sự hành hạ nhục mạ cay
đắng, mà không khởi chút oán giận hay sợ sệt. Cuối cùng, thấy sự
kiên trì giữ giới hạnh cùng nhẫn thọ bao cực hình của Ngài, khiến
cho Lữ Quang phải cảm động ân hận, không còn gia hình thô bạo nữa.
Bình định xong nước Quy Từ, Lữ
Quang không nghe tin tức gì về quốc nội, bèn khởi tâm nghi ngờ là
trong nước có chiến loạn, nên lưu trú lại đó. Tuy vẫn còn giam giữ,
nhưng dần dần Lữ Quang tín nhiệm Ngài. Tháng giêng năm 385, Lữ
Quang triệu gia thần vào cung rồi hỏi coi có nên trở về bổn quốc
hay không. Vì người muốn trở về chiếm đa số, nên Lữ Quang quyết
định trở về đất Tàu. Tháng ba năm 385, Lữ Quang dẫn hơn hai mươi
ngàn quân, cùng cướp bao gái đẹp, vàng bạc châu báu, kỳ điểu dị
thú, tuấn mã, v.v... trở về đất Tàu. Đương thời, ngài Cưu Ma La
Thập cũng bị bắt đi theo.
Từ miền sa mạc Tây Vực, đi về
hướng đông, đường xá cheo leo nguy hiểm. Lần nọ, trên đường về, Lữ
Quang dừng quân nghỉ ngơi tại dưới một chân núi. Khi ấy, Ngài bảo
Lữ Quang:
- Không thể dừng lại nơi đây, vì
rất bất lợi, mà phải dời quân lên phía trên núi.
Lữ Quang chẳng màng nghe lời của
Ngài. Tối đến, mưa to ào ạt, nước trên núi tuôn xuống tràn ngập cả
mấy mươi thước, khiến binh sĩ chết đuối cả ngàn người. Từ đó, Lữ
Quang mới biết tài tiên tri của Ngài. Ngài lại bảo:
- Đây là chỗ vong mạng, hung xấu,
chớ nên nán lại lâu, mà phải mau kíp trở về nước. Trên đường quyết
sẽ gặp vùng đất phước.
Qua tai nạn kinh hồn, Lữ Quang
chẳng dám không nghe lời của Ngài. Lữ Quang vừa đến Lương Châu,
thì nghe tin Phù Kiên đã bị Dao Trường sát hại, nên ra lịnh ba
quân mặc áo trắng, để tang ba tháng. Lữ Quang lại lập tức xua quân
tiến chiếm Lương Châu, rồi tự xưng là hoàng đế Văn Chiêu, dựng nên
nhà Hậu Lương, niên hiệu là Kiến Nguyên Thái An.
Tháng giêng năm 387, một trận
cuồng phong nổi lên tại Cô Tạng. Ngài Cưu Ma La Thập lại bảo Lữ
Quang:
- Đây là ngọn gió chẳng lành,
chắc sẽ có mưu phản, nhưng sau sẽ tự nhiên bình định được.
Chẳng bao lâu, Lương Khiêm, Bành
Hoàng liên tiếp phản loạn, nhưng Lữ Quang đều dẹp được. Bành Hoàng
vốn là thái thú ở Trương Dịch, và là võ tướng theo Lữ Quang chiếm
đánh Quy Từ. Năm 388, vào tháng ba, thái thú ở Võ Oai là Đỗ Tấn bị
Lữ Quang giết hại. Kế đến, Lữ Quang đem các trung thần theo chinh
phạt Tây Vực thuở xưa, ra chém hết.
Vào tháng hai năm 396, Lữ Quang
chính thức lên ngôi, tự xưng là Thiên Vương, ban lịnh thi hành đại
ân xá, đổi niên hiệu là Lân Gia, lập Thạch Thị làm hoàng hậu và
con là Lữ Thiệu làm thái tử. Nghiễm nhiên có đầy đủ thể chế của
một quốc gia độc lập. Năm 397, Lữ Quang lại đổi niên hiệu là Long
Phi.
Đương thời, Nam Thành và Mông
Tốn cùng suy tôn Đoạn Nghiệp làm vua tại Trường Dịch, lập nước Bắc
Lương (397-439).
Sau này, Lữ Soạn đem năm mươi
ngàn quân đánh nước Bắc Lương. Người đương thời đều bảo rằng quân
của Đoạn Nghiệp vốn là quân ô hợp. Lữ Soạn nhất định sẽ thắng. Lữ
Quang nhờ ngài Cưu Ma La Thập xem coi quân tình. Ngài bảo:
- Xem lần xuất binh kỳ này, chắc
sẽ không thắng lợi.
Thật thế, quân của Lữ Soạn bị
đại bại tại Hợp Ly, nên đành kéo quân về.
Lữ Quang có một vị quan trung
thư giám là Trương Tư, vốn là người tài ba, tánh tình hòa nhã, có
kiến thức rộng. Lần nọ, ông ta bị bịnh nặng, nên Lữ Quang bèn mời
các vị danh y đến chữa trị. Một người ngoại quốc, tên là La Xoa,
tự bảo rằng sẽ chữa được bịnh. Lữ Quang nghe thế, vui mừng ban
thưởng phẩm vật. Biết La Xoa lừa bịp để lấy tiền, Ngài bảo Trương
Tư:
- La Xoa chẳng có tài y thuật gì,
chỉ lừa bịp lấy tiền. Mạng người ẩn tàng không rõ. Để Ta xem chiêm
bốc coi mạng của ông như thế nào !
Nói xong, Ngài lấy dây tơ năm
màu kết lại, đốt thành tro rồi bỏ xuống nước, bảo:
- Nếu tro nổi lên trên mặt nước,
rồi kết lại thành hình dây tơ như khi trước, thì bịnh sẽ không
lành !
Một lát sau, tro nổi lên, tụ lại
thành hình dây tơ như trước. Như lời Ngài tiên tri, La Xoa không
có cách gì để trị bịnh, nên trong vài ngày, Trương Tư qua đời.
Sau này, Lữ Quang bị bịnh mà
chết. Thái tử Lữ Chiêu lên ngôi, nhưng là người ngu si. Lữ Soạn
bèn giết Lữ Chiêu để lên ngôi, đổi niên hiệu là Hàm Ninh. Lữ Soạn
tánh tình thô bạo, không thích đọc thư sách mà chỉ ham tửu sắc,
lại hoang dâm vô độ, và thường thích đi săn bắn. Năm 399, trong
nước có nhiều điềm lạ xuất hiện: Một con heo sanh ra heo con ba
đầu; một con rồng từ giếng bay lên, nằm trước cung điện. Lữ Soạn
cho đó là điềm lành, bèn gọi nơi đó là điện Long Phi. Kế đến, một
con rồng đen từ cửa Cửu Cung ở Đương Dương bay lên, nên Lữ Soạn
cho đổi Cửu Cung thành Cửu Long Hưng. Thấy những hiện tượng kỳ
quái này, Ngài bảo Lữ Soạn:
- Gần đây rồng liên tiếp xuất
hiện; heo yêu biểu hiện điềm kỳ dị. Rồng vốn thuộc khí âm, xuất
nhập có thời tiết. Như nay đã thường xuất hiện, đây là điềm tai
họa sẽ đến, chắc sẽ có mưu phản. Điện hạ hãy tự khắc kỷ tu đức, để
xoay chuyển tâm trời, thì mới tránh khỏi tai họa.
Lữ Soạn không chịu nghe lời
khuyên răn của Ngài. Lần nọ, đang lúc cùng với Ngài đánh cờ, Lữ
Soạn ăn được một con cờ, bèn cười bảo:
- Chém được đầu của Hồ nô ! (người
Tàu thường gọi người phương bắc hay Tây Vực là Hồ tộc).
Ngài bảo:
- Đầu của Hồ nô chém chẳng được,
chỉ e rằng Hồ nô sẽ chém đầu người khác !
Ngài nói câu này có thâm ý, mà
Lữ Soạn lại không hiểu. Nguyên vì Lữ Quang có người em là Lữ Bảo.
Lữ Bảo có con là Lữ Siêu, mà tên lót của Lữ Siêu là Hồ Nô. Sau này,
Lữ Siêu giết Lữ Soạn, rồi tôn người anh là Lữ Long lên làm vua.
Khi đó, người người mới biết lời dự đoán của Ngài.
Tại Lương Kinh, Ngài làm cố vấn
cho Lữ Quang và Lữ Soạn. Đối với năng lực thần dị, âm dương, bói
toán, ngài Cưu Ma La Thập đều đồng có đủ tài như ngài Phật Đồ
Trừng. Song, cha con Lữ Quang và Lữ Soạn không có tâm hoằng dương
Phật pháp, nên Ngài không có cách chi để hành đạo.
Sau khi Lữ Thiệu mất, vợ là
Trương Thị xuất gia làm ni. Vì Lữ Long khởi tâm tà muốn cưỡng bức,
Trương Thị kiên quyết không chịu bị nhục, bèn nhảy từ lầu cao
xuống đất mà tự sát, mà miệng vẫn còn tụng kinh điển. Việc này
hiển thị rõ giáo đoàn Phật giáo vào đương thời còn tồn tại.
Đương thời, tại Bắc Lương, Mông
Tốn lên ngôi, và rất sùng kính Phật pháp, nên Phật giáo rất được
thạnh hành. Năm 421, nhân nhà Tây Lương bị diệt vong, Mông Tốn xua
quân đến tiến chiếm, tới tận Đôn Hoàng.
Theo quyển 'Ngụy Thư Thích Lão
Chí', từ đời Trương Quỹ (256-314), người Lương Châu đời đời tín
phụng Phật pháp. Lương Châu vốn là con đường giao thông trọng yếu,
nên rất nhiều vị sa môn từ Thiên Trúc hoặc các nước Tây Vực sang
Trung Thổ, và thường đi ngang qua đó. Nơi ấy, hiển nhiên cũng là
trục lộ giao thông của ngôn ngữ, tức là tiếng Thiên Trúc, tiếng
Tàu, cùng các tiếng ở các nước tại vùng Trung Á đều được dùng
trong việc giao tế. Thế nên, các sa môn từ Thiên Trúc hay Tây Vực
đến đều có thể học tiếng Tàu để phiên dịch kinh điển; điển hình là
ngài Đàm Vô Sấm ở đó ba năm để học tiếng Tàu, rồi phiên dịch kinh
điển. Ngược lại, các sa môn người Tàu cũng có thể học ngôn ngữ
Thiên Trúc hay Tây Vực trước khi qua đó để tu học. Thế nên, trong
mười sáu năm bị cầm chân tại Lương Châu, ngài Cưu Ma La Thập dĩ
nhiên là thông thạo tiếng Tàu, để chuẩn bị cho công cuộc phiên
dịch kinh điển sau này.
Tại Trường An, ngưỡng mộ danh
đức của Ngài, thầy Tăng Triệu (378-414), lặn lội đến nơi đó để học
tập giáo nghĩa kinh điển.
Sau khi giết Phù Kiên, Dao
Trường lên ngôi xưng đế tại Quan Trung. Nghe thanh danh của ngài
Cưu Ma La Thập, nên Dao Trường mấy lần cầu thỉnh. Tuy nhiên, cha
con Lữ Quang và Lữ Soạn thấy Ngài tài đức vẹn toàn, và e sợ Dao
Trường mưu mô, nên không cho Ngài đến Trường An. Dao Trường mất,
con là Dao Hưng lên kế vị.
Dao Hưng dùng đức mà trị dân,
lại cực lực tôn sùng Tam Bảo. Ông thường lập các pháp hội cúng
dường trai tăng, giảng kinh thuyết pháp, khiến Phật pháp được hưng
thạnh khắp nơi, nên cứ trong mười người là có hơn năm người mộ đạo
xuất gia. Tại Trường An vào lúc đó có hơn năm ngàn vị sa môn. Tăng
sĩ tọa thiền có khoảng một ngàn. Tại Vĩnh Quý Lý kiến lập tháp thờ
Phật. Trong nội cung thiết lập đài Bát Nhã.
Năm 401, vào tháng năm, Dao Hưng
sai Dao Thạc Đức dẫn đại quân đánh Lữ Long. Đến tháng chín năm đó,
Lữ Long thần phục Hậu Tần. Niên hiệu Hoằng Thủy thứ ba (401), vào
ngày hai mươi tháng chạp, ngài Cưu Ma La Thập được vua Dao Hưng
nghinh đón đến Trường An. Vua Dao Hưng lấy lễ của một vị quốc sư
mà hậu đãi Ngài, lại thường vui vẻ cùng Ngài đàm luận suốt ngày mà
không ngừng.
Tháng giêng năm 402, tại Tây
Minh Các và Tiêu Diêu Viên, ngài Cưu Ma La Thập khởi công phiên
dịch kinh điển.
Phật giáo từ thời Tiền Hán, Hậu
Hán, Ngụy, Tấn, kinh điển từ từ được phiên dịch rất nhiều. Tuy vậy,
các dịch giả như Chi Khiêm, Trúc Pháp Lan, v.v... thường dùng
phương pháp 'Cách Nghĩa' (tức dùng các ngôn từ học thuật của đạo
Nho, đạo Lão mà giải thích kinh điển Phật giáo) để phiên dịch kinh
điển. Vì vậy văn nghĩa kinh điển không được rõ ràng.
Thấy việc này, vua Dao Hưng bèn
cầu thỉnh ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch kinh điển và nhuận sắc
lại những bộ kinh đã được dịch. Ngài tụng thuộc rất nhiều kinh
điển, lại đã từng nghiên cứu thật thấu triệt, và lại thông suốt
tiếng Tàu, nên khiến cho công tác phiên dịch càng thuận lợi. Ngài
xem qua những bộ kinh đã được dịch, phát hiện có rất nhiều chỗ sai
lầm. Như đã bàn qua, các nhà dịch giả trước kia thường dùng quá
nhiều danh từ thuật ngữ đạo Nho, đạo Lão nên làm mất đi ý chỉ căn
bản của Phật pháp, lại cũng không tương ưng với nguyên bản chữ
Phạn.
Nghe thanh danh của ngài Cưu Ma
La Thập, các danh tăng khắp nơi đổ dồn về Trường An để học yếu chỉ
Phật pháp cùng trợ giúp việc phiên dịch kinh điển, cả thảy hơn ba
ngàn vị, như Tăng Triệu, Đạo Sanh, Đạo Dung, Tăng Duệ, Tăng Tuyển,
Đạo Lưu, v.v... Trong số đó có bốn vị danh tăng được gọi là Quan
Trung Tứ Thánh như ngài Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo Dung, Tăng Duệ.
Các đệ tử của ngài Huệ Viễn như Huệ Quán, Huệ Ôn, v.v... cũng rời
Lô Sơn mà đến Trường An để nghe Ngài thuyết pháp. Đương thời, hai
trung tâm Phật giáo quan trọng nhất là Trường An, nơi ngài Cưu Ma
La Thập cư trú, và Lô Sơn trụ xứ của ngài Huệ Viễn. Hai ngài Cưu
Ma La Thập và Huệ Viễn thường gởi thư đàm luận về lý lẽ Phật pháp
với nhau.
Tại Tiêu Diêu Viên, Ngài phiên
dịch được kinh Tọa Thiền Tam Muội, A Di Đà, Hiền Thủ, Đại Phẩm Bát
Nhã, Đại Trí Độ Luận, v.v... Lúc phiên dịch kinh Đại Phẩm Bát Nhã,
ngài Cưu Ma La Thập dịch thẳng từ chữ Phạn, rồi vua Dao Hưng lấy
bản dịch cũ để dò xét, khiến cho những chỗ bất đồng của tân dịch
và cựu dịch được tương thông.
Vua Dao Hưng nhận thấy giáo lý
đạo Phật thâm sâu, mà thường xiển dương đức hạnh thiện lương, xác
thật là con thuyền thoát ly biển khổ. Do đó, ông tuyển trích ra từ
chín bộ kinh, và chú tâm nơi lý mười hai nhân duyênẠ mà trước tác
quyển 'Thông Tam Thế Luận', để hiển bày lý nhân quả hoàn toàn
không sai. Vương công đại thần đều khen ngợi là tuyệt tác. Đại
tướng quân Dao Hiển ở Thường Sơn, tả tướng quân Dao Sùng ở An
Thành đều dốc lòng tín phụng Phật pháp, và thường thường cung
thỉnh Ngài giảng kinh thuyết pháp tại Trường An Đại Tự. Do đó,
thấy rõ tôn thất quần thần Hậu Tần đều tôn sùng Phật pháp.
Từ năm 401 đến năm 405, Ngài
phiên dịch kinh điển tại Tiêu Dao Viện. Từ năm 406, Ngài qua
Trường An Đại Tự, dịch được kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Hoa Thủ, Duy
Ma Cật, Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành Thật Luận, v.v...
Từ khi đến Trường An, Ngài luôn
bận rộn trong công việc phiên dịch kinh điển.
Ngài Cưu Ma La Thập thấu triệt
tâm tình người đời, tánh cách siêu quần, năng lực không ai bì kịp;
bác ái nhân từ thuần hậu, nhu hòa nhã nhặn; hy sinh cuộc đời để
dạy dỗ môn sinh. Hơn mười năm tại Trường An, Ngài luôn luôn tuyên
dương tông chỉ Phật giáo Đại Thừa không mỏi mệt. Ngài lại cung
thỉnh các vị thầy của mình như sa môn Ti Ma La Xoa và Phật Đà Da
Xá đến Trường An để biểu lộ ân tình nồng hậu đối với các bậc sư
trưởng. Thật là đầy đủ tư cách của bậc vĩ nhân.
Do đáp ứng lời thỉnh cầu của nhà
vua và các quan triều, Ngài thường thăng tòa giảng kinh. Các vị
cao đức danh tăng ở bốn phương vào đương thời thường đổ về Trường
An để nghe Ngài giảng kinh thuyết pháp. Pháp sư Đạo Sanh, trụ trì
chùa Long Quang, tuy đã ngộ tận ý nghĩa kinh điển, tâm thấu triệt
mọi yếu chỉ, nhưng vẫn còn chỗ nghi ngờ về các kinh điển cựu dịch,
nên không quản đường xa vạn dặm, đến Trường An cầu thỉnh Ngài chỉ
dạy. Đại sư Huệ Viễn trụ trấn núi Lô Sơn, học quán thông các kinh
điển, là bậc cự phách trong giới danh tăng, nhưng vẫn còn nhiều
chỗ nghi ngờ, nên thường viết thơ cầu xin chỉ dạy.
Vua Dao Hưng thường nói với Ngài:
- Đại Sư thông minh có một không
hai, tánh ngộ siêu tuyệt, thiên hạ không ai sánh bằng. Nếu một mai
mất đi, chẳng phải làm hạt giống pháp bị đoạn tuyệt sao ?
Do đó, vua Dao Hưng đem mười mỹ
nữ, ép Ngài thọ nhận, rồi sai người xây phòng riêng, cùng cúng
dường thâm hậu. Vì vậy, mỗi lần giảng kinh, Ngài thường nói:
-Ví như hoa sen thanh tịnh xuất
sanh từ trong bùn nhơ.
Hái được hoa rồi, chớ ném vào
lại bùn nhơ !
Ngài hy vọng cảnh tỉnh những bậc
tu hành rằng phải thận trọng chớ nên phá giới.
Trước lúc nhập tịch, Ngài triệu
tập đồ chúng, bảo:
- Ta đã dịch hơn ba trăm quyển
kinh luật luận. Chỉ trừ một bộ Thập Tụng Luật là chưa hoàn chỉnh,
còn tất cả kinh điển khác đều bảo tồn bổn ý. Hy vọng các vị hãy
lưu truyền những kinh điển đó cho hậu thế, để hoằng dương chánh
pháp. Hiện tại, trước mặt mọi người, Ta phát lời thệ nguyện: Nếu
những kinh điển do Ta phiên dịch đều không sai lầm, thì khi thiêu
thân này, thì lửa không thể đốt cháy lưỡi của Ta.
Đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng
Thủy thứ mười một (409), vào ngày hai mươi tháng tám, ngài Cưu Ma
La Thập nhập tịch tại Trường An. Nhục thân được đặt tại Tiêu Diêu
Viên, rồi triều đình và tăng chúng y theo nghi thức nước Thiên
Trúc mà hỏa táng. Sau khi thân đã cháy ra tro, đại chúng đều thấy
lưỡi của ngài Cưu Ma La Thập vẫn còn nguyên vẹn. Điều này minh
chứng cho lời thệ nguyện của Ngài khi xưa là phiên dịch kinh điển
không sai lầm. Do đó, người đương thời đều xưng tán công nghiệp
phiên dịch vĩ đại của Ngài.
Sau khi ngài Cưu Ma La Thập nhập
tịch, giáo đoàn ba ngàn đồ chúng dần dần tan rã, vì đã mất đi một
đấng đạo sư. Luật sư Ti Ma La Xoa rời Trường An đến trú tại Thọ
Xuân. Ngài Phật Đà Da Xá đã mãn nguyện, nên trở về nước Kế Tân.
Pháp sư Đạo Sanh cũng qua Giang Nam. Phật Đà Bạt Đa La cùng đệ tử
của ngài Cưu Ma La Thập là Huệ Quán, đồng đến Lô Sơn. Tuy giáo
đoàn tan rã, nhưng công nghiệp phiên dịch kinh điển của ngài Cưu
Ma La Thập luôn sáng ngời bất diệt trong lịch sử Phật giáo Trung
Quốc, và những tác phẩm nghiên cứu giảng giải của Ngài vĩnh viễn
hoằng truyền hậu thế.
Kinh điển Đại Thừa đã từng được
các nhà dịch giả như Chi Lâu Ca Sấm (Hậu Hán), Khương Tăng Hội,
Chi Khiêm (Ngô-Tam Quốc), Trúc Pháp Hộ (Tây Tấn), phiên dịch rất
nhiều. Tuy nhiên, các bản dịch phần lớn văn thể chưa hoàn chỉnh
thành thục, và lời văn cũng chưa diễn đạt hết ý chỉ của kinh. Do
đó, sau khi duyệt lại những bản dịch cũ, ngài Cưu Ma La Thập bèn
hiệu đính, và dịch ra bản mới, nhờ đó mà danh của Ngài vang lừng
trong lịch sử phiên dịch kinh điển.
Đương thời, Ngài được vua Dao
Hưng ủng hộ, cùng biết bao môn hạ anh tài triết gia cống hiến công
sức hỗ trợ tại các đạo tràng phiên dịch, nên mới thành tựu đại
nghiệp phiên dịch kinh điển trong một thời gian ngắn. Tất cả đều
nhờ tài năng cao siêu và oai đức của Ngài. Đối với ba tạng kinh
luật luận Tiểu Thừa, từ nhỏ Ngài đã từng lưu học tại nước Kế Tân,
rồi qua nước Sa Lặc học giáo lý Đại Thừa, nên tại nước Quy Từ đã
từng thông suốt và thuộc nhiều kinh điển Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa.
Mười sáu năm bị cầm chân tại Lương Châu, Ngài đã nỗ lực nghiên cứu
học tiếng Tàu, nên đối với việc phiên dịch kinh điển từ tiếng Phạn
sang tiếng Tàu, thật dễ dàng. Theo quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập',
những kinh điển do Ngài dịch như sau: Tân Đại Phẩm (24 quyển), Tân
Tiểu Đại Phẩm (7 quyển), Tân Pháp Hoa (7 quyển), Tân Hiền Kiếp (7
quyển), Hoa Thủ (10 quyển), Tân Duy Ma Cật (3 quyển), Tân Thủ Lăng
Nghiêm (2 quyển), Thập Trụ (5 quyển), Tư-ích-nghĩa (4 quyển), Trì
Thế (4 quyển), Tự Tại Vương (2 quyển), Phật Tạng (3 quyển), Bồ Tát
Tạng (3 Quyển), Xưng Dương Phật Công Đức (3 quyển), Vô Lượng Thọ
(1 quyển), Di Lặc Hạ Sanh (1 quyển), Di Lặc Thành Phật (1 quyển),
Kim Cang Bát Nhã (1 quyển), Chư Pháp Vô Hành (1 quyển), Văn Thù Sư
Lợi Vấn Bồ Đề (1 quyển), Di Giáo (1 quyển), Thập Nhị Nhân Duyên
Quán (1 quyển), Bồ Tát A Sắc Dục (1 quyển), Thiền Pháp Yếu (2
quyển), Tọa Thiền Tam Muội (3 quyển), Tạp Thí Dụ (1 quyển, do tỳ
kheo Đạo Lược sưu tập), Đại Trí Độ Luận (100 quyển), Thành Thật
Luận (16 quyển), Thập Trụ (10 quyển), Trung Luận (4 quyển), Thập
Nhị Môn Luận (1 quyển), Bách Luận (2 quyển), Thập Luật Tụng (61
quyển), Thập Tụng Tỳ Kheo Giới Bổn (1 quyển), Thiền Pháp Yếu (3
quyển).
Xưa kia, tại nước Quy Từ, Ngài
đã từng theo luật sư Ti Ma La Xoa thọ giới. Sau này, khi đến Trung
Thổ, luật sư Ti Ma La Xoa hỏi Ngài:
- Ngươi và đất Tàu thật có nhân
duyên thâm trọng. Người theo Ngươi mà thọ pháp có được bao nhiêu ?
Ngài thưa:
- Kinh luật ở đất Tàu vẫn chưa
hoàn bị. Các kinh luận mới đa số đều do con dịch ra. Ba ngàn đồ
chúng thường theo con mà thọ pháp. Tuy nhiên, vì nghiệp chướng
nặng nề, nên con không dám thọ nhận sự tôn kính của họ.
Đương thời, tại đạo tràng phiên
dịch kinh điển, thường có ít nhất là năm trăm vị tăng hỗ trợ cho
Ngài phiên dịch. Đôi khi lại có tám trăm vị; thậm chí khi phiên
dịch kinh Tư-ích, tổng cộng có hơn hai ngàn vị tăng tham gia. Giữa
những người đệ tử của Ngài, được tán dương là Thập TriếtẠ như:
Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sanh, Đạo Dung, Đàm Ảnh, Huệ Nghiêm, Huệ
Quán, Đạo Tiêu, Đạo Thường, v.v... Đây là những vị tăng thường
theo sát bên Ngài, hiệu đính kinh văn, nghe Ngài giảng kinh, cùng
tham gia thảo luận. Từ năm 401 đến 409, giới Phật giáo tại Trường
An đều chịu theo sự lãnh đạo của Ngài. Ngay cả sa môn Phật Đà Bạt
Đà La nghiêm thủ giới luật, tu thiền định, phong cách vĩ đại tròn
vẹn trong giới tu hành, mà không gieo sự ảnh hưởng lớn bằng giáo
đoàn của Ngài, nên sau này qua ẩn cư tại Lô Sơn. Do đó, thấy rõ
thế lực giáo đoàn của Ngài vào đương thời mạnh mẽ biết ngần nào.
Năm 401, Ngài đến Trường An; đệ tử trẻ nhất là Tăng Triệu, hai
mươi tuổi; đệ tử già nhất là Pháp Hòa, bảy mươi tuổi.
Người sau xưng tụng bốn đại đệ
tử của Ngài là 'Tứ Thánh' như Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sanh, Đạo
Dung. 'Bát Tuấn' là Đạo Sanh, Tăng triệu, Đạo Dung, Tăng Duệ, Đạo
Bằng, Đạo Ảnh, Huệ Nghiêm, Huệ Quán. 'Bát Tuấn' cộng thêm Đạo Hằng,
Đạo Tiêu thành 'Thập Triết'. Trong những môn hạ anh tài tuấn tú,
Đạo Sanh đã từng khởi xướng lý 'Xiển Đề có Phật Tánh'; lý này
tương đồng với lý lẽ trong kinh Niết Bàn. Đời Lưu Tống, hoạt động
tại vùng Giang Nam là Huệ Quán, Huệ Nghiêm. Sáng lập Thành Thật
Tông là Tăng Đạo. Sáng lập Tam Luận Tông là Tăng Sùng.
Môn đệ của ngài Cưu Ma
La Thập:
[^]
A. Ngài Đạo Sanh,
thuyết đốn ngộ
[^]
Ngài Đạo Sanh vốn họ Ngụy, người
Cự Lộc, cư ngụ tại Bành Thành, gia tộc trải qua bao đời làm quan
trong triều. Cha làm quan huyện Quảng Thành, được bá tánh tôn
sùng, và xưng tán là vị đại thiện nhân.
Đạo Sanh thuở nhỏ thông minh
đỉnh ngộ, huệ giải như thần, ưu tú vượt phàm phu, nên được người
cha hết sức thương mến. Sau này gặp được Trúc Pháp Thái (320-387)
mà y theo xuất gia thọ giáo, tu tập Phật pháp.
Năm 365, niên hiệu Hưng Ninh thứ
ba, Trúc Pháp Thái theo ngài Đạo An đến Tương Dương, rồi qua Kiến
Khang ở Kinh Châu, khai đàn giảng kinh tại chùa Ngõa Quan. Đương
thời, Giản Văn Đế (371-372) đang tại vị. Chùa Ngõa Quan được kiến
thiết trong niên hiệu Hưng Ninh (363-365). Bấy giờ, chùa Ngõa Quan
chỉ là một ngôi tháp đường. Trúc Pháp Thái đến đó, xây thêm tăng
phòng, và xem địa thế mà kiến lập lại chùa chiền. Ngày Trúc Pháp
Thái khai giảng kinh, cả ngàn người từ vùng Tam Ngô đổ đến để nghe
thuyết pháp.
Từ khi bước vào cửa Phật, tài
trí siêu bạt phi phàm của Đạo Sanh ngày càng hiển lộ. Đối với
nghĩa lý thâm áo của kinh điển, Đạo Sanh tự nghiên tầm, khiến ngộ
rõ lý lẽ. Năm mười lăm tuổi, Đạo Sanh ngồi dưới tòa nghe Trúc Pháp
Thái giảng kinh, có khả năng liễu giải nội dung, rồi lại lên tòa
giảng, cùng chư tăng và danh sĩ đương thời đàm luận; lời lẽ rắn
chắc như châu ngọc. Năm hai mươi tuổi, thanh danh diễn giảng kinh
điển vang xa các nơi, khiến vương công quý tộc vì ngưỡng mộ, không
quản đường xa vạn dặm mà đến nghe pháp.
Đạo Sanh đãi người tiếp vật, ôn
hòa cẩn trọng. Tánh tình trầm tĩnh, thâm tàng chí khí cường liệt.
Lúc trẻ, Đạo Sanh đã từng lên núi Lô Sơn. Cảm thấy Phật pháp tinh
thâm, nên quyết tâm ẩn cư nơi đó mà nghiên cứu giáo lý. Ngài
thường tự bảo rằng phải hiểu rõ nghĩa lý kinh điển thì mới mong
bước vào cửa Phật pháp, nên học hỏi xem xét tường tận các kinh
điển.
Vào năm 391, ứng theo lời cầu
thỉnh của Huệ Viễn, sa môn Tăng Già Đề Bà (Sanghadeva) đến núi Lô
Sơn phiên dịch học thuyết A Tỳ Đàm của Tiểu Thừa. Nhân dịp đó,
ngài Đạo Sanh cùng Huệ Viễn đến thân cận sa môn Tăng Già Đề Bà để
học thuyết Nhất Thiết Hữu BộẠ. Sau bảy năm trú tại núi Lô Sơn, Đạo
Sanh cùng với Tăng Duệ, Huệ Quán, Huệ Nghiêm, đồng đến Trường An,
theo ngài Cưu Ma La Thập học giáo lý Bát Nhã của Đại Thừa. Vài năm
sau, những khi cùng chúng tăng đàm luận, Đạo Sanh đều được họ xưng
tán là bậc diệu khế thần cơ, tài trí phi phàm, khiến kẻ tăng người
tục đều tôn kính. Tại Tiêu Diên Viên, Đạo Sanh cùng Đạo Dung tranh
luận giáo nghĩa cả trăm lần. Đại chúng nghe những lời sắc bén của
Đạo Sanh, đều tán thán, khâm phục bậc bác học tài trí.
Ngài Cưu Ma La Thập vừa nhập
tịch, Đạo Sanh bèn trở lại Kiến Khang (Nam Kinh), trú tại chùa
Thanh Viên. Ngôi chùa này vốn là hoa viên của hoàng hậu Trử Thị
vào đời Đông Tấn, và được bà ta cho xây cất, nên mới có tên là
Thanh Viên. Nơi chánh điện của chùa Thanh Viên, sau này bị sét
đánh, rồi lại có rồng từ trong chùa mà bay lên trời, khiến chung
quanh đều tỏa ánh sáng, nên chùa được đổi tên là Long Quang Tự.
Đương thời, cư trú tại chùa Thanh Viên đều là các vị danh tăng.
Lần nọ, Tống Võ Đế mở yến tiệc
đãi chư tăng. Để biểu thị lòng tôn kính, Tống Võ Đế đích thân vào
bếp nấu nướng, mà quên đi giờ giấc. Qua giờ ngọ, buổi tiệc mới
được khai mở. Theo giới luật là quá giờ ngọ thì sa môn không được
dùng cơm. Vì vậy, đại chúng không ai dám dùng tiệc. Thấy vậy, Tống
Võ Đế bèn nói:
- Mặt trời vừa đúng giữa trưa,
chưa qua quá ngọ !
Tuy vậy, đại chúng vẫn y nhiên,
không ai dám vi phạm giới luật. Đạo Sanh bảo:
- Mặt trời nằm trong bầu trời,
mà nay trời (nhà vua theo quan niệm của người Tàu là Thiên Tử, tức
là con trời) chỉ đúng giữa trưa, thì nhất định bây giờ là đúng vào
giờ ngọ.
Nói xong, Đạo Sanh cầm bát mà ăn.
Đại chúng nhìn nhau, rồi cũng vui vẻ y theo Đạo Sanh mà dùng cơm.
Ai ai cũng tán thán Đạo Sanh cơ cảnh mẫn tiệp, thích ứng thời cơ
mà xử lý sự tình. Các danh sĩ như Vương Hoằng Nhan Duyên, v.v...
đều cung kính và ngưỡng mộ đạo phong của Ngài, nên thường đến
thỉnh vấn Phật pháp. Vua Tống Văn Đế cũng thường qua lại với Ngài
vì tôn sùng kính phục.
Duyệt xem lý đạo đã lâu, cuối
cùng Ngài triệt ngộ được yếu chỉ của kinh điển vượt ngoài ngôn ngữ,
nên tự than:
- Hình tượng nhờ biểu đạt tâm ý
mà tồn tại. Ý niệm được khai mở rồi, thì nào cần đến hình tượng.
Ngôn ngữ dùng để giảng giải nghĩa lý. Thể hội được nghĩa lý rồi,
thì cần gì câu nệ vào hình thức ngôn ngữ. Từ khi Phật giáo truyền
vào Trung Thổ, kinh điển được phiên dịch rất nhiều, mà mọi người
hầu như chỉ chấp giữ nơi văn tự, nên ít có ai thấy rõ nghĩa lý
viên dung của Phật pháp. Được cá rồi nên bỏ rọ, thì mới có thể khế
hội liễu ngộ thật lý của Phật pháp.
Do đó, sau khi duyệt xem tất cả
nội kinh ngoại điển, nghiên cứu kiểm thảo mối quan hệ nhân quả,
cuối cùng Ngài viết ra luận lý 'Hành Thiện Không Cầu Quả Báo', 'Đốn
Ngộ Thành Phật', và trước tác quyển 'Nhị Đế Luận', 'Phật Tánh
Đương Hữu Luận', 'Pháp Thân Vô Sắc Luận', 'Phật Vô Tịnh Độ Luận',
'Ứng Hữu Duyên Luận', v.v..., đều tràn đầy bao lý lẽ, và tuôn trào
những ý chỉ thâm sâu. Tuy nhiên, việc làm này dẫn khởi sự chống
đối công kích liên tục của những người bảo thủ trên văn tự, vì
hiềm rằng Đạo Sanh sửa đổi nghĩa lý kinh điển. Ngoài ra, còn một
việc khiến Đạo Sanh bị tăng chúng đuổi ra khỏi kinh sư như sau:
Đương thời, kinh 'Đại Bát Niết
Bàn' chưa được truyền đến phươ