-
Thần tăng Thiên Trúc
-
Thích
Hằng Đạt
- Phần II
Ngài vốn là người Tây Vực, thuộc
nước Quy Từ. Tên tục của Ngài là Bạch, thiếu niên xuất gia, tánh
hiền hòa thuần chơn mà hiếu học; tụng đọc kinh thư đến trăm vạn
lời; đối với văn nghĩa đều thâm hiểu liễu giải lẹ làng. Lúc chưa
qua Trung Thổ, tuy chưa từng đọc qua các Nho sử cùng những kinh
thư điển tích, mà khi biện luận với các học giả, đều hợp với ý chỉ.
Đối với sự học vấn Ngài từng bảo:
- Ta đã từng hai lần qua nước Kế
Tân để thọ giáo với các danh sư, nên hiện tại mới có được năng lực
như vầy.
Người Tây Vực đồng xưng tán rằng
Ngài đã đắc đạo.
Đời Tấn Hoài Đế, niên hiệu Vĩnh
Gia thứ tư (310), Ngài đến Lạc Dương. Ngài có chí nguyện hoằng
dương Phật pháp, lại có thần thông, cùng có khả năng sai khiến quỷ
thần; xoa mỡ trong lòng bàn tay liền thấy những chuyện cách ngoài
ngàn dặm; dự đoán được những việc trong tương lai; nghe tiếng cái
linh kêu liền biết việc gì sẽ xảy ra; không gì mà chẳng linh ứng.
Bổn ý muốn kiến lập chùa chiền, mà gặp lúc Lưu Diệu đang hưng binh
tại Trung Nguyên, khiến kinh sư náo loạn, nên Ngài tạm đình chỉ ý
muốn kia, mà ẩn thân nơi miền quê hoang dã, để quán xem thời cuộc
chuyển biến, hầu mong tìm cơ hội hưng long Phật pháp.
(Bàn về lịch sử, sau đời Hán và
đời Ngụy các dị dân ở phương bắc đã thần phục triều đình nước Tàu.
Nhưng đến đời Đông Hán, họ lập ra nước Hung Nô, do Lưu Uyên làm
hoàng đế. Lưu Uyên mất (310), con là Lưu Thông lên ngôi, rồi dẫn
quân công phá thành Lạc Dương vào đời Tấn Hoài Đế (311). Khi đó,
em của Lưu Thông là Lưu Diệu cùng với Vương Di công phá được thành
Lạc Dương, bắt giết Tấn Hoài Đế, rồi lại đem quân công phá thành
Trường An, giết Tấn Mân Đế (316), khiến cho nhà Tấn phải diệt vong.
Lưu Thông mất, trong nước có loạn, nên chia làm Tiền Triệu và Hậu
Triệu. Sau này, Thạch Lặc ở nước Hậu Triệu giết Lưu Diệu cùng
Vương Nhi của Tiền Triệu, và hàng phục được các Hồ tộc như Khương
Nhung, rồi tự xưng là Thiên Vương.
Lang Nha Vương Duệ là con cháu
của Tư Mã Ý, sang dựng nghiệp ở phía nam tại Kiến Nghiệp (Nam Kinh),
lập ra nhà Đông Tấn, tự xưng là Tấn Nguyên Đế.
Đại quân của Thạch Lặc ở Tân Sát,
tỉnh Hà Nam, thường giết vô số dân lành để thị oai. Sa môn của
Phật giáo cũng bị bức hại không ít. Chứng kiến cảnh trạng này,
ngài Phật Đồ Trừng khởi lòng từ bi trắc uẩn, thương xót cho quần
sanh thống khổ. Ngài định dùng Phật pháp để cảm hóa Thạch Lặc, nên
trước tiên đến doanh trại của Quách Hắc Lược (đại tướng của Thạch
Lặc), thuyết phục và khiến hắn phải quy y Tam Bảo cùng thọ năm
giới. Từ đó, mỗi lần quân Thạch Lặc xuất trận, Quách Hắc Lược đều
dự biết việc thắng bại. Việc này khiến cho Thạch Lặc nghi ngờ, hỏi:
- Ta không nghĩ rằng ngươi có
tài năng mưu lược xuất chúng, mà mỗi lần sắp xuất binh, lại biết
việc may rủi. Thế thì vì lý do gì ?
Quách Hắc Lược thưa:
- Thiên binh của Tướng Quân nay
có thần linh hộ trợ. Sa môn nọ pháp thuật cơ trí phi thường. Ngài
thường bảo rằng Tướng Quân sẽ thống trị Trung Nguyên, và chính
Ngài sẽ là quốc sư. Những việc quân cơ may rủi, thắng bại mà thần
biết trước, đều nhờ sự mách bảo của vị sa môn đó.
Nghe như thế, Thạch Lặc mừng rỡ,
bảo:
- Trời ban cơ duyên lành !
Nói xong, ông bèn ra lịnh thỉnh
mời ngài Phật Đồ Trừng đến, hỏi han những việc linh ứng của Phật
pháp, cùng yêu cầu được xem pháp thuật hiển bày. Biết rõ Thạch Lặc
chẳng hiểu gì về nghĩa lý thâm diệu của Phật pháp, nên Ngài chỉ
dùng pháp thuật để hiển minh Phật đạo thâm cao. Ngài bảo:
- Đạo tuy cao xa thâm sâu khó
hiểu, nhưng có thể lấy những việc gần nhất để chứng minh.
Nói xong, Ngài yêu cầu mang ra
một bồn nước, rồi dâng hương niệm chú. Một hồi sau, từ trong bồn
xuất hiện một đóa hoa sen xanh, tỏa sáng màu sắc dị thường. Xem
thấy điều này, Thạch Lặc bèn tín phục. Lợi dụng cơ hội đó, Ngài
răn nhắc Thạch Lặc:
- Phận làm vua nếu lấy đức mà
ban bố cho thiên hạ, thì sẽ có bốn linh quái như lân, phượng, quy,
long xuất hiện, để biểu thị điềm lành. Nếu chánh trị có lắm điều
tệ hại, và chánh đạo suy vi, thì sao chổi sẽ xuất hiện, việc xấu
sẽ phát khởi, tức biểu thị những điềm chẳng lành. Những điềm linh
dị đó, đều ứng với nền chánh trị hiền lương hay bạo ngược. Xưa
nay, điều này thường xảy ra, và các bậc cao nhân hiểu rõ thiên lý
đều răn nhắc.
Nghe những lời răn nhắc này,
Thạch Lặc liền thọ nhận tín phục. Từ đó, trong nước hễ mười người
sắp bị giết thì có chín người được tha, và dân chúng thấm nhuần ân
trạch của Phật pháp. Do Thạch Lặc y cứ theo lời khuyên nhắc của
Ngài để thi hành chánh trị, nên tại Trung Nguyên, Hồ tộc cùng Hán
tộc đại đa số đều tín phụng Phật pháp. Từ đó, Ngài tận lực làm cố
vấn cho Thạch Lặc về quân sự chính trị, cùng dự tri tiên đoán
những việc may rủi. Thế nên, đối với thần lực dị kỳ của Ngài,
Thạch Lặc rất cung kính kinh sợ, nên thường xưng Ngài là Đại Hòa
Thượng.
Lần nọ, Thạch Lặc từ Cát Pha trở
về Hà Bắc, đi qua Phương Đầu. Đến tối hôm đó, có người định đánh
úp doanh trại. Dự biết việc này, Ngài gọi Quách Hắc Lược, bảo:
- Sẽ có kẻ đến trộm lấy long bào.
Xin hãy báo cho Thạch Lặc để sớm phòng bị.
Đến tối, quả nhiên có sự việc
xảy ra như Ngài tiên đoán. Tuy nhiên, nhờ phòng bị cẩn mật, nên
Thạch Lặc thoát chết. Vào một đêm nọ, vì muốn thử thần thông của
Ngài, Thạch Lặc bèn mang y giáp, cầm đao mà ngồi, rồi phái người
qua thưa với Ngài:
- Trời tối, Thạch tướng quân
không biết phải làm gì !
Viên quan do Thạch Lặc phái đi,
vừa đến nơi, chưa kịp nói năng gì Ngài đã bảo:
- Mọi việc đều an lành, lại
không có tặc khấu đến, mà tại sao Thạch Lặc lại võ trang chuẩn bị
nghinh chiến ?
Từ đó, Thạch Lặc lại càng thêm
cung kính Ngài.
Lần khác, Thạch Lặc đột nhiên
tức giận tăng chúng, nên khởi tâm muốn giết hại, lại định bắt tội
Ngài. Dự tri biết ý đồ này, nên tại nhà Quách Hắc Lược, Ngài bảo
đồ chúng:
- Nếu Thạch Lặc phái người đến
tìm Ta, thì hãy đáp rằng không biết Ta đã đi đâu !
Chẳng bao lâu, người do Thạch
Lặc phái đến, tìm không thấy Ngài tại nhà Quách Hắc Lược, nên trở
về bẩm tấu. Thạch Lặc hoảng sợ, thốt:
- Vì Ta có ác niệm với Thánh
Nhân, nên Ngài đã bỏ đi !
Vì vậy, Thạch Lặc mãi trằn trọc
suốt thâu đêm, chỉ ước muốn gặp lại Ngài. Biết Thạch Lặc đã hồi
tâm, sáng hôm sau Ngài đến gặp. Vừa thấy Ngài, Thạch Lặc vui mừng
hỏi:
- Đêm qua Ngài đi đâu vậy ?
Ngài bảo:
- Vì hôm qua Đại Vương nổi giận
lôi đình, nên lão tăng tạm thời lánh mặt. Bây giờ, Đại Vương đã
hồi tâm, nên lão tăng trở lại đây tương kiến.
Nghe lời này, Thạch Lặc không
những thán phục mà còn vui mừng bất tận.
Lần nọ, nguồn nước dẫn từ phía
tây bắc của hào thành Tương Quốc dài khoảng năm dặm đột nhiên bị
khô cạn. Thạch Lặc hỏi Ngài rằng có thể khiến cho mạch nước chảy
lại được không, Ngài đáp:
- Chỉ việc triệu rồng đến thì
giải quyết xong ?
Vì tên tự của Thạch Lặc là
'Long' (tức rồng), nên tưởng là Ngài nói đùa, ông bảo:
- Tại vì rồng không thể khai
mạch nước, nên mới cầu thỉnh Ngài !
Ngài nói:
- Ta nói lời chân thật, chẳng
phải đùa giỡn. Đầu nguồn mạch nước, có một con rồng ẩn cư. Chỉ
việc triệu thỉnh nó ra, thì mạch nước sẽ chảy tràn đầy.
Nói xong, Ngài dẫn đồ đệ đến đầu
mạch nguồn suối. Nơi đó, nước khô cạn đã lâu, lại có vết của các
bánh xe qua lại in rõ ràng. Các đệ tử e sợ không thể khai thông
mạch nước. Tuy nhiên, Ngài duyệt ý định thần, ngồi ngay ngắn trên
một gốc cây, dâng hương khấn nguyện, tụng niệm thần chú. Cứ như
thế trải qua ba ngày, nơi nguồn suối khô cạn đột nhiên nước vụt
chảy ào ào. Một con rồng nhỏ, dài khoảng năm thước, theo mạch nước
mà bò ra. Vừa thấy rồng thì đồ chúng của Ngài lại tranh nhau xem.
Ngài bảo:
- Rồng có khí độc, chớ đến gần
nó !
Chẳng bao lâu thành hào Tuơng
Quốc có nước chảy tràn đầy. Ngồi một mình nơi đó, Ngài lại bảo:
- Hai ngày sau, sẽ có một kẻ nô
bộc làm rúng động trời đất đến nơi đây.
Nguyên vì Tiết Hợp, người Tương
Quốc, có hai đứa con rất kiêu căng ngạo mạn. Lần nọ, chúng lừa gạt
trêu chọc một người nô bộc thuộc bộ tộc Tiên Ti, nên gã sanh tâm
phẫn uất, khởi ác niệm, bèn bất cẩn giết đứa con nhỏ, rồi lại bắt
nhốt đứa con lớn trong phòng. Những người hầu định chạy vào cứu
thì gã vung đao, và hâm dọa rằng nếu có ai đến gần thì sẽ giết đứa
con đó. Gã lại nói:
- Hãy đưa Ta trở về bổn quốc,
bằng không thì Ta sẽ chết với thằng nhỏ này tại nơi đây.
Dân chúng trong và ngoài thành
đều kinh hoàng sửng sốt, nên chạy đến xem coi, bao quanh nhà của
Tiết Hợp. Thạch Lặc cũng tự thân đến đó, bảo:
- Hãy thả đức bé đó ra. Nếu quốc
pháp đã khai, thì sẽ mang họa đến. Ta khuyên ông suy xét tường tận.
Luật pháp quốc gia không thể thay đổi !
Ngay sau đó, Tiết Hợp sai người
bắt gã nô bộc. Gã nô bộc tức giận và lập tức giết con của Tiết Hợp
rồi tự để bị trói. Vì phẫn nộ việc này, thủ lãnh bộ tộc Tiên Ti là
Đoạn Ba cầm quân đánh Thạch Lặc. Thanh thế quân binh của Đoạn Ba
rất mạnh mẽ, khiến cho Thạch Lặc rất lo âu sợ sệt, nên phải cầu
Ngài tìm kế đối địch. Ngài bảo:
- Hôm qua cái linh trong chùa
chợt kêu lên tiếng rằng sáng sớm ngày mai, Đoạn Ba sẽ bị bắt.
Thạch Lặc lên thành xem xét quân
tình, thấy quân của Đoạn Ba hàng hàng lớp lớp vây kín ngoài thành,
nên kinh hoàng thất sắc bảo:
- Quân địch đông đúc khiến trời
đất chấn động, như vầy thì làm sao bắt được Đoạn Ba ? Ngài Phật Đồ
Trừng chắc chỉ an ủi Ta thôi !
Trong tâm bất an, nên Thạch Lặc
lại phái người đến hỏi Ngài về binh tình. Ngài bảo:
- Chớ có hoài nghi, Đoạn Ba đã
bị bắt rồi !
Nhân vì có một đội quân của
Thạch Lặc lẻn ra ngoài thành phục kích. Gặp Lúc Đoạn Ba đang đi
tới, nên họ bắt được ông ta.
Bắt được tướng địch, Ngài lại
khuyên Thạch Lặc hãy thả Đoạn Ba trở về bổn quốc. Thạch Lặc nghe
theo lời dạy của Ngài, nên sau này được lợi lạc.
Đương thời, Lưu Thông vừa mất,
người em là Lưu Diệu lên kế vị, đổi quốc hiệu là Tiền Triệu, niên
hiệu Kiến Nguyên Quang Sơ. Niên hiệu Quang Sơ thứ tám, Lưu Diệu
phái em mình là trung sơn vương Lưu Nhạc thống lãnh đại binh sang
đánh Thạch Lặc. Thạch Lặc bèn phái Thạch Hổ mang quân ra chống cự.
Sau khi hai bên đánh nhau tại phía tây thành Lạc Dương, Lưu Nhạc
vì thua bại phải thối lui về thung lũng Thạch Lương, rồi cho quân
kiên thủ phòng bị. Công phá không nổi, Thạch Hổ bèn kéo quân ra
vùng phụ cận, cắm lều kiên quyết chờ Lưu Nhạc. Hai bên cứ đánh
nhau mãi mà không phân thắng bại.
Ngày nọ, cùng với các đệ tử vừa
bước vào cửa chùa Tự Quan, Ngài bèn thốt lời:
- Thương thay cho Lưu Nhạc !
Đồ chúng không hiểu gì, nên hỏi
han. Ngài bảo:
- Giờ hợi ngày hôm qua, Lưu Nhạc
đã bị bắt rồi.
Chốc lát sau, tin chiến trận
truyền về, quả nhiên như lời của Ngài tiên đoán; Lưu Nhạc đã bị
bắt.
Niên hiệu Quang Sơ thứ mười một,
Lưu Diệu tự thân dẫn đại binh công phá thành Lạc Dương. Thạch Lặc
định thân chinh đem binh ra chống cự, nhưng triều thần đều khuyên
rằng không cần phải mạo hiểm. Thạch Lặc bèn đến hỏi Ngài phải nên
làm gì. Ngài bảo:
- 'Tú chi thế lệ võng, bộc cốc
cù ngốc đương' là ngôn ngữ của Yết tộc, cũng có nghĩa là xuất binh
thì bắt được Lưu Diệu.
Bấy giờ, quan quân nghe thế, tin
lời tiên đoán của Ngài, nên lại thỉnh Thạch Lặc thân chinh thống
lãnh đại quân. Thạch Lặc bèn giữ Thạch Hoằng lại để trấn thủ thành
Tương Quốc, rồi tự thống suất đại binh đến Lạc Dương. Đang lúc hai
bên giao chiến, quân của Lưu Diệu bỗng nhiên bị tán loạn. Ngựa của
Lưu Diệu cũng té xuống nước. Thừa dịp, Thạch Kham cho quân vây bắt
được Lưu Diệu, rồi dẫn về gặp Thạch Lặc. Đương thời, trong thành
Ngài lấy dầu xoa bàn tay, rồi trong đó hiện ra trong quân binh náo
loạn, có một người nọ bị trói tay. Ngài bèn bảo Thạch Hoằng rằng
người đó chính là Lưu Diệu.
Bình định Lưu Diệu xong, Thạch
Lặc tự xưng là Triệu Thiên Vương, đổi niên hiệu là Kiến Bình, tức
làm vua nước Hậu Triệu. Bấy giờ nhằm niên hiệu Hàm Hòa thứ năm,
đời Đông Tấn Thành Đế (330).
Lần nọ, Thạch Thông có ý đồ phản
loạn, mà Ngài biết rõ việc này, nên bảo Thạch Lặc:
- Năm nay trong cây hành có
trùng, nên không thể ăn được. Xin Đại Vương hạ lệnh cấm dân chúng
ăn hành.
Do đó, Thạch Lặc viết chiếu chỉ,
cấm dân chúng không được ăn hành. Nhân vì 'thực thông' (tức là cây
hành), vốn đồng âm với tên của Thạch Thông, nên nghe sắc lịnh đó
Thạch Thông biết cơ mưu đã bại lộ. Vào tháng tám, vì sợ bị bắt tội,
Thạch Thông lẫn trốn đi nơi khác. Thạch Lặc sau này biết rõ sự
tình, nên càng thêm cung kính Ngài. Có hữu sự chi, Thạch Lặc đều
bàn thảo với Ngài rồi mới thi hành.
Thạch Bân vốn là con của Thạch
Hổ, được Thạch Lặc thương mến vô cùng. Lần nọ, Thạch Bân bị nóng
sốt rồi qua đời. Thạch Lặc đau xót bảo:
- Ta đã từng nghe rằng xưa kia
thái tử của nước Quách Quốc chết, Thiên Thước cứu sống trở lại.
Đại Hòa Thượng là thần nhân trong nước. Hãy thưa với Ngài việc này.
Nhất định Ngài sẽ chuyển họa thành phước.
Do đó, Thạch Lặc cho người thỉnh
Ngài đến. Ngài dùng cành cây dương chi phất trên đầu Thạch Bân, và
tụng niệm thần chú. Chốc lát sau, Thạch Bân sống trở lại, rồi từ
từ khỏe mạnh như thường. Từ đó, Thạch Bân thường ở suốt trong chùa.
Mỗi năm đến mồng tám tháng tư, tức ngày Phật đản, Thạch Lặc tự
thân đến chùa dự lễ tắm Phật để cầu phước.
Niên hiệu Kiến Bình thứ tư
(333), vào tháng tư, trời trong mây tạnh, chẳng có ngọn gió nào,
mà cái linh trên tháp, chợt khua vang tiếng não nề. Ngài bảo đại
chúng:
- Linh bảo rằng trong nước có
đại tang. E rằng năm nay sẽ phát sanh.
Năm đó, vào tháng bảy, Thạch Lặc
mất, Thạch Hoằng kế vị. Chẳng bao lâu, Thạch Hổ lại truất phế
Thạch Hoằng mà tự lên ngôi, rồi dời đô từ Tương Quốc về Nghiệp Đô
(tức huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam), đổi niên hiệu là Kiến Võ.
Thạch Hổ lại càng tận tâm tận ý tín phụng Ngài hơn Thạch Lặc, nên
ban sắc lịnh:
- Đại Hòa Thượng là đại quốc bảo
của triều đình. Ngài không hề lãnh thọ phẩm lộc vinh hoa. Từ nay,
phải kết lụa kim tuyến làm y, trang hoàng hoa kiệu làm xe. Ngày
hội triều, lúc Đại Hòa Thượng thăng cung điện, các quan viên hầu
cận đều phải đỡ kiệu, và thái tử cùng chư công hầu cũng phải đưa
Ngài lên cung điện. Lúc Ngài vào triều nộI, tất cả bá quan đều
phải đứng dậy nghinh tiếp và xưng 'Đại Hòa Thượng' đến để biểu thị
oai đức cao quý tôn vinh của Ngài.
Thạch Hổ lại sai Ty Không Quý
Nông, sớm tối đến chùa vấn an Ngài. Thái tử cùng chư công hầu cách
năm ngày là đến bái kiến Ngài, để biểu thị lòng tôn kính cao tột.
Ngày nọ, lúc cư trú tại chùa
trong thành Nghiệp Đô, Ngài phái đệ tử là Pháp Thường sang Tương
Quốc để gọi một đệ tử khác là Pháp Tả trở về. Trên đường đi, Pháp
Thường gặp Pháp Tả tại thành Lương Cơ, nên cùng trú qua đêm một
nơi. Đến tối, họ cùng nhau đàm luận về những việc dị thường của
Ngài. Sáng hôm sau, cả hai chia tay. Pháp Tả về tới Nghiệp Đô.
Ngài cười bảo:
- Đêm hôm qua, ngươi cùng Pháp
Thường bàn luận về việc của Ta phải không ? Cổ nhân nói rằng chớ
vì không gặp nhau mà chẳng sanh tâm cung kính. Chớ vì sống đơn độc
một mình mà sanh tâm giải đãi nơi giới luật.
Nghe qua lời này, Pháp Tả kinh
sợ kính phục mà sám hối. Do đó, dân chúng thường thường răn nhắc
với nhau:
- Chớ khởi tâm ác ! Không sợ Đại
Hòa Thượng biết sao !
Thái tử Thạch Thúy có hai đứa
con tại Tương Quốc. Ngài từng bảo Thạch Thúy:
- Con của Thái Tử sắp bị bịnh
nặng. Hãy mau qua đó mà lo lắng chăm sóc.
Thạch Thúy phái người đến thăm,
thì quả nhiên như lời Ngài bảo; một đứa con của ông ta đang bị
bịnh nặng, nằm liệt giường. Vì vậy, Thạch Thúy cho mời thái y Đoạn
Thắng cùng các đạo sĩ ngoại quốc đến chẩn bịnh. Họ đều bảo rằng có
thể cứu chữa căn bịnh cho con của Thạch Thúy. Ngài bảo với đệ tử
là Pháp Nha:
- Ngay cả thánh nhân xuất thế,
cũng không cứu được bịnh con của Thạch Thúy, hà huống là những
người đó !
Ba ngày sau, quả nhiên con của
Thạch Thúy qua đời. Thạch Thúy đam mê tửu sắc, lại định tạo phản,
nhưng vẫn còn e dè thần thông của Ngài phát giác được sự tình, nên
bảo tướng hầu cận Hắc Vũ:
- Hòa thượng có thần thông quảng
đại. E rằng Hòa Thượng phát giác việc của Ta. Vậy, ngày mai khi
Hòa Thượng đến, ngươi hãy trừ khử cho Ta.
Rằm mỗi tháng, Ngài thường đến
thăm Thạch Hổ. Lần đó, trước khi đi, Ngài bảo Tăng Huệ:
- Đêm qua thần mách bảo Ta rằng
ngày mai nếu có thượng trào, thì quyết chớ đi thăm viếng người nào
! Trước khi Ta muốn đi, ngươi hãy nhắc nhở, chớ đi qua nơi khác !
Mỗi lần Ngài vào triều xong,
nhất định phải qua gặp Thạch Thúy. Thấy Ngài đã vào triều, Thạch
Thúy bèn cầu thỉnh Ngài qua đông cung. Nhớ lời dặn dò vừa rồi,
Tăng Huệ lập tức kéo y của Ngài để làm hiệu. Ngài bảo:
- Không còn biện pháp nào. Không
thể chẳng đi !
Qua đến đông cung, vừa ngồi
xuống thì Ngài bèn cáo từ. Thạch Thúy kiên quyết lưu giữ lại,
nhưng Ngài chẳng khứng chịu, nên âm mưu ám sát không thành. Trở về
chùa, Ngài than vãn:
- Dáng dấp phản loạn của Thái Tử
đã hình thành. Ta muốn nói mà thật khó nói; muốn nhẫn mà thật khó
nhẫn !
Bấy giờ, Ngài chỉ dùng ẩn ngữ để
răn nhắc Thạch Hổ. Tuy nhiên, Thạch Hổ chẳng hiểu chút nào. Đến
khi âm mưu tạo phản của Thái Tử bộc phát, thì Thạch Hổ mới hiểu
dụng ý về những ẩn ngữ răn nhắc của Ngài.
Sau này, Quách Hắc Lược dẫn quân
đi chinh phạt Khương tộc ở Bắc Sơn, Trường An. Giữa đường bị người
Khương phục kích. Đương thời, Ngài đang ngồi tại chánh điện, có đệ
tử là Pháp Thường đứng hầu. Ngài chợt biến sắc mặt bảo:
- Quách Hắc Lược hiện nay đang
lâm nạn.
Nói xong, Ngài bảo chúng tăng
tụng kinh chú nguyện. Chẳng bao lâu Ngài tự bảo:
- Chỉ việc qua hướng đông nam
thì mới có thể thoát nạn. Đi nơi khác đều sẽ bị nguy khốn.
Nói xong, rồi lại chú nguyện
tiếp tục. Chốc lát sau, Ngài bảo:
- Đã thoát nạn rồi !
Vài tháng sau, Quách Hắc Lược
ban sư hồi kinh, và trần thuật lại việc bị lâm nạn nơi quân của
Khương tộc. Ông ta hướng về phía đông nam chạy lánh nạn. Tuy nhiên,
con ngựa đã kiệt sức, nên tưởng chắc sẽ bị bắt. May sao, dưới
trướng có một người nọ, đem một con ngựa đến cho, bảo:
- Hãy đổi ngựa của tướng quân
cho Ta. Thoát được vòng vây hay không, chỉ do thiên mạng.
Nhờ cỡi con ngựa đó mà Quách Hắc
Lược chạy thoát vòng vây. Tính ra ngày tháng, thì hôm đó chính là
lúc Ngài đang chú nguyện.
Biết tánh khí thô bạo của Thạch
Hổ, Ngài thường dùng lý luận Phật giáo và năng lực thần dị dựa
trên tinh thần từ bi, để răn nhắc ông ta hành sự.
Hai đại thần của Thạch Hổ là
Trương Ly và Trương Lang, vốn giàu sang quyền quý, tín phụng Phật
pháp, kiến lập chùa chiền. Ngài bảo họ:
- Làm việc Phật sự phải có tâm
từ bi, thanh tịnh, không tham lam. Đàn việt tuy tín phụng Phật
pháp, mà tâm tham chưa dứt, mong muốn vô độ, chưa từng biết tự
tiết chế, tích tụ tài sản không cùng tận, nên sẽ thọ tội trong
hiện đời, thì sao hy vọng có được phước báo ?
Tinh thần căn bổn quan trọng
nhất khi làm Phật sự của người Phật tử là tâm phải từ bi, thanh
tịnh, không tham cầu. Ngài răn nhắc Trương Ly và Trương Lang những
lời này vì tuy họ có tín phụng cúng dường Tam Bảo, xây dựng chùa
chiền, nhưng đều dựa trên tâm tham cầu vô độ, lo tích tụ tài sản
không hạn lượng, lại thường giết hại chim chóc cầm thú. Vì vậy,
tạo tội báo ngay trong hiện đời, thì dẫu cần cầu, làm sao phước
lành đến được !
Sau này, Trương Ly và Trương
Lang vì tự ý phóng túng, phạm đến quốc pháp, nên bị gia hình.
Con của Thạch Hổ là đại tư mã
yến công Thạch Bân, nhậm chức tại U Châu Mục, thường chiêu tập
những kẻ ác, làm bao việc phi nghĩa. Ngài bảo Thạch Hổ:
- Hôm qua, thiên thần bảo Ta
rằng hãy mau dẫn con ngựa trở về, nếu không đến mùa thu sẽ sanh ra
việc hư thối.
Thạch Hổ không hiểu ý của Ngài,
chỉ ra lịnh bắt những con ngựa chạy rong, nhốt vào chuồng. Đến mùa
thu, được người bẩm tấu hành động tàn ác của Thạch Bân, Thạch Hổ
giận dữ, bèn triệu hắn về, rồi ra lịnh giết mẹ của Thạch Bân là Tề
Thị, và đánh phạt Thạch Bân ba trăm roi. Đích thân Thạch Hổ giám
sát hành phạt. Vì thấy bọn thủ hạ đánh phạt Thạch Bân quá nhẹ, nên
Thạch Hổ ra lịnh giết cả năm trăm người. Thấy Thạch Hổ giết người
quá lắm, Ngài khuyên:
- Tâm không thể quá phóng túng !
Người chết rồi không thể sống lại ! Theo lễ nghi quy định, Thiên
Tử không thể tự tay giết người, vì sẽ tổn thương ân đức. Sao Đại
Vương lại tự tay gia hình ?
Nghe lời này, Thạch Hổ mới chịu
dừng tay.
Về sau, quân Đông Tấn phản công,
giao chiến ba mặt tại Trường An, Tân An, Lạc Dương. Quan quân gởi
thơ cấp báo tình thế nguy kịch. Thạch Hổ tức giận bảo:
- Ta tín phụng Phật pháp, cúng
dường tăng sĩ. Nay bị nạn ngoại xâm, Phật linh ứng gì đâu ?
Ngày kế, Thạch Hổ đem việc này
cật vấn Ngài. Ngài bảo:
- Tiền thế của Đại Vương vốn là
một đại thương chủ, và đã từng đến nước Kế Tân hành cúng dường đại
hội trai tăng. Đương thời, trong hội có sáu mươi vị A La Hán, mà
Ta cũng trong số đó. Bấy giờ, một vị A La Hán bảo rằng vị chủ nhân
này sau khi mạng chung, trước tiên sẽ thọ làm thân gà, rồi kế đến
sanh làm vua tại Trung Thổ. Hiện tại, Đại Vương đã làm vua, vậy
chẳng phải do phước báu sao ? Nơi chiến trường, thắng thua là việc
thường tình. Sao vì việc này mà oán giận Tam Bảo, hưng khởi ý niệm
độc ác ?
Nghe qua lời này, Thạch Hổ lãnh
hội, nhận thấy lỗi lầm, nên quỳ xuống tạ tội sám hối. Thạch Hổ lại
hỏi Ngài:
- Yếu chỉ căn bổn của Phật pháp
là gì ?
Ngài đáp:
- Phật giáo vốn không giết người
!
- Con vốn làm vua thiên hạ. Nếu
không dùng hình phạt thì chẳng có cách nào để hoàn thành trọng
trách răn nhắc dân chúng trong nước. Con đã làm ngược lại giới cấm
sát sanh mà giết người, rồi lại hành Phật sự. Như thế thì có gặt
được phước báo quả lành không ?
- Lúc Đại Vương làm việc Phật sự,
phải dùng toàn thân tận ý cung kính, và dụng tâm tùy thuận giáo
pháp, xiển dương Tam Bảo. Lại nữa, chẳng nên có hành vi bạo ngược,
giết hại dân chúng vô tội. Đối với những kẻ hung bạo vô loại, tội
ác đầy trời, nếu không thể dùng giáo pháp để khiến chúng hồi tâm
hướng thiện, thì không thể chẳng gia hình. Phải hành phạt những kẻ
nên hành phạt. Nếu Đại Vương tùy ý giết hại lương dân vô tội, thì
phước báu do cúng dường Tam Bảo hay xây cất chùa chiền, không thể
giải cứu hoạn nạn được. Vì vậy, hy vọng Đại Vương dùng tâm từ bi
mà chăm lo cho dân chúng. Nếu được như thế, thì không những Phật
pháp vĩnh viễn được hưng long, mà phước báu của Đại Vương cũng
được lâu bền.
Tâm nguyện của Ngài là muốn dạy
Thạch Hổ cùng các Phật tử phải ít muốn biết đủ, hưng khởi tinh
thần từ bi. Tuy không hoàn toàn tuân theo hết những lời dạy của
Ngài, nhưng Thạch Hổ cũng làm những việc thiện không ít, nên khiến
dân chúng được phước lợi rất nhiều.
Năm nọ, trời đại hạn hán từ
tháng giêng đến tháng sáu. Thạch Hổ sai thái tử đến khẩu Tây Phù ở
Lâm Chương để cầu mưa, nhưng cầu mãi vẫn chưa được. Vì vậy, Thạch
Hổ thỉnh nhờ Ngài cầu mưa. Chẳng bao lâu, trên nền trời xanh, hai
con rồng trắng bay lượn chung quanh đàn cầu mưa, rồi trong khoảnh
khắc mưa đổ xuống như thác. Nông dân trong vòng ngàn dặm, được
trúng mùa vào năm đó. Những kẻ ngông cuồng vốn không tin Phật pháp,
nghe đến việc thần kỳ của Ngài, đều phải lễ bái, và từ từ tiếp thọ
giáo pháp.
Ngài thường sai một người đệ tử
qua Tây Vực để mua hương. Sau khi vị đó đi cả mấy ngày, Ngài đột
nhiên bảo đồ chúng:
- Ta thấy hắn sắp bị bọn cướp
nơi kia gia hại.
Nói xong, Ngài dâng hương chú
nguyện. Lúc trở về, người đệ tử kia thuật lại:
- Trên đường sang Tây Vực mua
hương, con bị bọn cướp vây quanh định giết hại. Đột nhiên, có mùi
hương lạ bay đến, khiến bọn cướp đều kinh hoàng la hoảng: "Cứu
binh đến", rồi bỏ chạy, nên sanh mạng của con mới còn.
Trước khi quan quân của Thạch Hổ
đến Lâm Chương sửa chữa lại một ngôi tháp cũ, Ngài bảo:
- Trong thành Lâm Chương có một
ngọn tháp của vua A Dục. Dưới mặt đất vẫn còn có một cái mâm và
một tượng Phật. Ở nơi đó, cây cối mọc rất um tùm. Hãy cho người
đến đó đào lên.
Nói xong, Ngài vẽ địa đồ. Thạch
Hổ bèn sai người y theo đó mà đào xới, thì thật tìm thấy được một
cái mâm và một tượng Phật.
Lần nọ, biết Thạch Hổ muốn dẫn
quân sang chinh phạt nước Yên, Ngài bèn khuyên:
- Vận thế của nước Yên chưa hết.
Đại Vương dẫn quân đi chinh phạt, thì e rằng khó thành công.
Do không chịu nghe lời khuyên
của Ngài, Thạch Lặc cứ ngang nhiên dẫn quân sang đánh nước Yên,
nên bị đại bại, phải kéo quân về. Từ đó, Thạch Hổ lại càng tin
tưởng những lời răn nhắc của Ngài.
Song song với công nghiệp kiến
lập chùa chiền, giảng kinh thuyết pháp, giáo hóa dân chúng cùng họ
Thạch, ngài Phật Đồ Trừng cũng từng độ chúng xuất gia. Người Tàu
xuất gia đi sang Tây Vực cầu pháp đầu tiên vào đời Tam Quốc là
Châu Sĩ Hành. Đương thời, người Tàu xuất gia rất ít. Đại đa số đều
là chư tăng người Thiên Trúc, Tây Vực, Khương Cư, Quy Từ, Kế Tân,
đến Trung Thổ hoằng dương Phật pháp hay phiên dịch kinh điển. Sự
tín phụng Phật pháp, chỉ hạn cuộc nơi tín đồ Phật tử tại gia. Nhờ
oai đức cảm hóa của ngài Phật Đồ Trừng, mà tín chúng Phật tử đua
nhau cúng dường tài vật để xây dựng chùa chiền, và lại tranh nhau
xuất gia, nên không tránh khỏi sự lạm dụng của một số tăng đồ.
Từ khi Hán Minh Đế thấy thần
minh hiển hiện, bèn bắt đầu cho người sang Tây Vực cầu pháp, nhưng
triều đình chưa chính thức cho phép người Tàu tín phụng Phật pháp;
triều đình thường ban chiếu chỉ như sau: "Chỉ có người xứ Thiên
Trúc và Tây Vực mới được phép lập tự viện nơi Đô Ấp, tín phụng
Phật đà".
Xây dựng chùa chiền, cúng dường
chư sa môn, làm việc Phật sự, chỉ hạn cuộc nơi người xứ Thiên Trúc
và Tây Vực, và chỉ thừa nhận người xuất gia Tây Vực, chứ không cho
phép người Tàu xuất gia. Đời Tào Ngụy cũng y chiếu theo chế độ như
thế của đời Đông Hán.
Gốc vốn là người Hồ tộc ở phương
bắc, có phong tục tập quán cùng thể chế khác với người Tàu, mà lúc
tiến vào Trung Thổ, được lên ngôi cửu trùng, Thạch Hổ bèn ban sắc
lịnh: "Phật là thần của nước ngoài, chẳng phải là vị thần mà các
vua chúa ở Trung Thổ tín phụng. Ta vốn sanh trưởng tại biên thùy,
nhưng vận thế may mắn, được làm vua nơi Trung Thổ. Bàn về việc tế
tự, Ta có chủ quyền ở nơi đây, nên đối với những sự tế tự phải
theo phong tục của bổn quốc (Hậu Triệu). Phật vốn là thần của Ta,
nên dân chúng phải tín phụng. Do trên quốc vương thường hành, thì
mới có thể trở thành quy chế vĩnh viễn. Nếu không có việc gì tổn
hại, thì không cần phải câu nệ theo thể chế của các đời vua lúc
trước, mà cấm chỉ người Tàu xuất gia. Người Di Địch, người Tàu,
người Mán, nếu ai có nguyện ý xả tục mà xuất gia hành Phật sự, thì
Ta đều chuẩn hứa cho họ làm người tu đạo".
Sắc lịnh này được ban ra để đối
lại với biểu tấu của quan triều là Vương Độ. Ông ta đã từng dâng
tấu (335) xin Thạch Hổ hãy cấm ngặt người Hậu Triều không được tín
phụng lễ bái Phật đà; trừng phạt những ai vi phạm luật này, và bắt
các sa môn người Tàu phải hoàn tục vì đức Phật chỉ là vị thần của
nước ngoài, chứ không phải là vị thần mà các vua chúa tiền triều
tín phụng.
Do sắc lịnh của Thặch Hổ ban ra,
những ai muốn xuất gia tu đạo đều được chuẩn y. Niên hiệu Thái
Ninh đời Đông Tấn (323-326), và niên hiệu Kiến Võ nhà Hậu Triệu
của Thạch Hổ (335), triều đình chính thức cho phép người Tàu xuất
gia. (Trước đó, sa môn người nước Triệu tuy có tiếng là xuất gia,
nhưng vẫn thường ăn mặc giống như thường dân.) Quyển Kinh Tịch Chí
thứ ba mươi lăm của sách đời Tùy, viết: "Trong những năm đầu Ngụy
Hoàng, người Trung Thổ bắt đầu y theo giới pháp của Phật, xuống
tóc làm tăng".
Xưa kia, người Tàu xuất gia, chỉ
do tự cá nhân chứ chưa được triều đình chính thức cho phép, như
Châu Sĩ Hành và Trúc Thâm (em của thừa tướng Vương Đôn, đời vua
Tấn Thái Xương).
Ngày nọ, Ngài cùng đệ tử là Đạo
An lên cung điện. Đang ngồi, Ngài chợt la lên:
- Biến biến U Châu ! Chính có
hỏa hoạn !
Nói xong, Ngài bèn bảo lấy rượu
ra, rồi rắc rượu xuống đất như dạng cứu lửa. Lát sau, Ngài cuời
bảo:
- Cứu lửa đã xong !
Thạch Hổ nhìn thấy việc này
chẳng hiểu tự sự, nên phái người đến U Châu thẩm tra, và được bẩm
báo:
- Ngày đó, hỏa hoạn xảy ra tại
cửa phía tây, về hướng Tây nam của Điểu Vân Mật Dõng. Đương thời,
tự nhiên mây kéo đến, rồi mưa rơi tầm tả, khiến lửa bị dập tắt, mà
trong nước mưa có chút mùi rượu.
Tại Ngụy Huyện có một gã thường
đi lang thang, không ai biết danh tánh, chỉ thường mặc vải bố, và
xin ăn nơi chợ ở huyện thành, nên mọi người đều gọi là 'Ma Nhu'.
Ngôn ngữ của gã rất lạ kỳ, mà hành sự như kẻ điên. Mỗi lần xin
được cơm thì không chịu ăn, lại tán nhuyễn rồi để tại ngã tư đường,
tự bảo rằng cho ngựa trời ăn. Thái thú Tạ Bạt ở Triệu Hưng, biết
rõ hành vi của gã, nên bắt giam, rồi giao lại cho Thạch Hổ. Trước
đó, Ngài đã dự tri việc này mà bảo Thạch Hổ:
- Cách nơi đây hai trăm dặm về
phía đông, vào ngày nọ sẽ có một người chẳng đồng phàm nhân. Xin
chớ hại người đó.
Vài ngày sau, Tạ Bạt cho quân
đưa gã này đến. Lúc cùng với gã đó đối đáp, Thạch Hổ không thấy có
lời gì kỳ đặc, trừ câu:
- Điện Hạ cuối cùng chỉ là một
cột trụ dưới cung điện.
Nghe lời này, Thạch Hổ không
hiểu gì cả, nên dẫn đến gặp Ngài. Vừa gặp mặt, Ngài cùng gã đó đàm
luận suốt cả ngày đêm. Các đệ tử chẳng hiểu gì về nội dung của
những lời luận bàn, chỉ cảm thấy như họ bàn luận về những việc cả
mấy trăm năm về trước. Sau này, Thạch Hổ cho quân đưa gã đó trở về
Ngụy Huyện. Xe vừa ra khỏi thành, gã đó bèn bước xuống mà đi bộ,
và bảo rằng muốn đến thăm bạn hữu, rồi hẹn với quan quân sẽ gặp
tại cầu Hợp Khẩu. Quan quân đánh xe ngựa chưa đến cầu Hợp Khẩu thì
đã thấy gã đó đứng trên cầu.
Ngài có một người đệ tử là Đạo
Tấn, uyên bác thông suốt ngoại điển nội thư, rất được Thạch Hổ
kính trọng.
Niên hiệu Kiến Võ thứ mười bốn
(348), con của Thạch Hổ là Thạch Tuyên và Thạch Thao muốn giết lẫn
nhau. Lần nọ, Thạch Tuyên đến chùa, ngồi kế bên Ngài. Lúc đó, cái
linh trên tháp Phật chợt vang tiếng. Ngài bảo Thạch Tuyên:
- Ngài có hiểu linh nói gì chăng.
Linh bảo rằng Hồ tử lạc độ.
Thạch dân vốn là Yết tộc, nên
xưng là Hồ tử. Lạc độ tức là ý của hồn phách bay lạc. Thạch Tuyên
nghe lời này, sợ tái mặt, hỏi:
- Đó là nghĩa gì ?
Ngài bảo:
- Ta tu hành, làm Phật sự, đáng
ra phải luôn ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc, mà ngược lại đi mặc áo
lụa, ăn đồ cao sang. Đây có phải là việc hưởng thụ sung sướng
không (lạc độ) ?
Thạch Thao lại đến chùa gặp Ngài.
Vừa gặp mặt, Ngài nhìn trừng trừng, khiến Thạch Thao hoảng sợ, nên
hỏi lý do. Ngài bảo:
- Ta thấy trên thân của Ngài có
mùi máu tanh nồng nặc.
Tuy nhiên, cả hai Thạch Tuyên và
Thạch Thao không hiểu lời của Ngài. Đến tháng tám năm đó, Ngài bảo
đồ chúng, quét dọn sạch sẽ am thất, cùng nghiêm trì trai giới, rồi
tự thân tạm thời vào ẩn tu ở Đông Các.
Thạch Hổ và hoàng hậu Đỗ Thị hỏi
rằng vì sao Ngài lại cư trú như thế. Ngài bảo:
- Khấu tặc gần ngay bên sườn.
Chẳng quá mười ngày, sẽ có nghịch phản. Phía tây của Phật tháp,
tức phía đông của Đông Các này sẽ có máu đổ. Bất luận là việc gì
Đại Vương và Hoàng Hậu chớ có đi qua bên hướng đông !
Hoàng Hậu bảo:
- Hòa Thượng sao quá hồ đồ ! Nơi
đây làm sao có giặc.
Ngài bảo:
- Tham dục của con người là giặc.
Già rồi thường hôn mê lầm loạn. Tuy vậy, chỉ khiến người trẻ không
hôn mê lầm loạn là đủ !
Hai ngày sau, quả nhiên Thạch
Tuyên phái người đến giết Thạch Thao ngay trong chùa. Thạch Tuyên
lại có ý đồ là định trong lúc làm lễ tang chế cho Thạch Thao, sẽ
giết Thạch Hổ luôn. Nhờ nghe lời Ngài cảnh giác mà Thạch Hổ tránh
được đại họa. Mưu cơ phản nghịch của Thạch Tuyên sau này bị bại lộ,
nên bị Thạch Hổ bắt giam gia hình tàn nhẫn. Ngài thấy thế, bèn
khuyên Thạch Hổ:
- Thạch Tuyên cũng là con của
Đại Vương. Hà tất vừa để tang một đứa con xong, lại tạo thêm tai
họa ! Nếu Đại Vương dằn cơn phẫn nộ, mà dùng đức từ ái, thì sẽ còn
hưởng lộc hơn sáu mươi năm nữa. Nếu quyết định giết hắn, thì Thạch
Tuyên sẽ biến thành sao chổi mà đốt cung điện Nghiệp Đô.
Thạch Hổ không chịu nghe lời
trung trực của Ngài, mà ra lịnh xiết vòng sắt nơi bụng của Thạch
Tuyên và chất củi thiêu sống. Thạch Hổ lại còn đem hơn ba trăm
cung quyến của Thạch Tuyên, cho xe cán chết phanh thây, rồi liệng
thi thể nơi sông Chương Hà, khiến máu chảy lai láng. Ngài đã biết
việc này không thể cứu vãn, nên bảo đồ đệ ngưng hành lễ trai hội.
Dẫu Ngài có dùng bao nhiêu lời
lẽ khuyên răn, nhưng tánh tình hung bạo của Thạch Hổ thật khó sửa
đổi.
Qua vài tháng sau, chợt có một
con ngựa, lông bờm đều có dấu vết bị bỏng cháy, chạy từ cửa Trung
Dương đến cửa Hiển Dương, lại chạy qua hướng tây bắc, rồi biến mất.
Thấy việc này, Ngài bảo:
- Tai họa sắp đến !
Đến tháng mười một, Thạch Hổ bày
yến tiệc đãi quần thần trước cung điện Thái Võ. Ngài chợt cao
tiếng xướng:
- Cung điện a ! Cung điện a !
Cây gai đã thành rừng, làm rách áo của người !
Quả nhiên, ngay nơi tảng đá bên
ngoài cung điện, có một cây gai chợt mọc lên. Trở về chùa, Ngài
ngước nhìn tượng Phật mà than:
- Buồn thay ! Từ đây không còn
được lễ kính nữa !
Lại tự hỏi và tự đáp:
- Có thể duy trì ba năm không ?
- Không được ! Không được !
- Có thể duy trì, hai năm, một
năm, trăm ngày, một tháng chăng ?
- Không được !
Đến đây, Ngài ngưng không nói
thêm lời nào, rồi trở về phòng, bảo Pháp Tộ:
- Năm Mậu Dần, họa loạn từ từ
phát sanh. Đến năm Kỷ Hợi, họ Thạch bị diệt vong. Trước họa loạn
này phát sanh, Ta phải nhập diệt sớm.
Nói xong, Ngài lại bảo đệ tử
mang thơ từ biệt gởi đến Thạch Hổ:
- Muôn sự muôn vật tất nhiên
phải biến hóa, mà thân thể và tánh mạng cũng đồng như thế, chứ
không thể giữ trường tồn mãi. Ta cũng như vậy, nên muốn nhập diệt.
Lúc sống nhờ ơn Đại Vương ân cần hậu đãi, nên nay đặc biệt báo tin
cáo từ.
Thạch Hổ buồn bã bảo:
- Không nghe Hòa Thượng bị bịnh
gì, sao lại muốn nhập tịch ?
Nói xong, Thạch Hổ tự thân đến
vấn an Ngài. Ngài bảo:
- Chết sống là lý lẽ bất biến.
Thọ mạng dài ngắn cũng không chủ định, nên không thể tự mình kéo
mạng sống dài thêm. Nếu là người học đạo, phải trọng nơi đức hạnh
vuông tròn. Đức trọng nhờ siêng năng tu hành chánh pháp. Nếu đức
hạnh không khiếm khuyết, thì tuy chết cũng như sanh. Hành trái
ngược với chánh đạo để được thân trường thọ vĩnh cữu, chẳng phải
là ý nguyện của Ta. Dẫu Đại Vương có tâm lễ kính Phật pháp, xây
cất chùa chiền tráng lệ nguy nga, nhưng lại thi hành chánh sách
bạo ngược, thì hiển nhiên bội ngược với thánh giáo. Không tỉnh ngộ
để sửa đổi, thì mãi mãi chẳng được phước lành. Nếu sám hối sửa đổi
tâm tánh, thi ân bố đức đến dân lành, khiến vận nước được trường
tồn, đạo tục đều khâm phục kính ngưỡng, thì dẫu Ta có mạng chung,
cũng không hối hận !
Biết Ngài sẽ viên tịch, Thạch Hổ
khóc nức nở, sai người xây cất phần mộ. Mồng tám tháng chạp năm
348, ngài Phật Đồ Trừng nhập tịch tại chùa Nghiệp Cung, được một
trăm mười bảy tuổi. Sĩ thứ trong toàn quốc đều đau buồn bi thương
như quốc tang.
Sau khi ngài Phật Đồ Trừng viên
tịch, Thạch Hổ mai táng Ngài tại Lâm Chương, phía tây của Sài Mạch.
Thạch Hổ cũng tự tay tẩn liệm nhục thân của Ngài vào quan tài, rồi
đem tích trượng y bát đặt vào trong đó.
Lúc Nhiễm Mẫn làm phụ chánh, ông
ta mở quan tài ra, chỉ thấy có cây tích trượng và bình bát, mà
không có thi thể. Dân chúng bảo nhau:
- Trong tháng mà ngài Phật Đồ
Trừng nhập tịch, có người thấy Ngài tại bên dòng sông.
Nghe việc này, Thạch Hổ sanh tâm
nghi hoặc rằng Ngài cũng vẫn chưa nhập tịch, nên đến mở quan tài
ra, nhưng không thấy thi thể.
Ngực bên trái của Ngài có một lỗ
thủng, sâu bốn mươi phân, suốt đến trong bụng. Lúc còn tại thế,
ruột trong bụng thường chảy ra, nên Ngài lấy bông và hoa ngăn lại.
Đọc kinh sách vào ban tối, Ngài mở bông hoa ra, thì chợt có ánh
hào quang tỏa sáng, khiến cả phòng thất đều sáng ngời. Đến những
ngày trai, Ngài thường tới bên dòng nước, lấy ruột ra mà tẩy rửa,
rồi lại bỏ vô bụng như cũ.
Ngài Phật Đồ Trừng nhập tịch
chẳng bao lâu, Lương Độc nổi loạn. Năm kế, Thạch Hổ mất, Nhiễm Mẫn
soán ngôi vị, đổi quốc hiệu là Ngụy, nên sử gọi là Nhiễm Ngụy. Lên
ngôi xong, Nhiễm Mẫn giết sạch gia tộc họ Thạch. Nghĩa tên lót của
Nhiễm Mẫn là 'cây gai', ứng hợp với lời tiên tri của ngài Phật Đồ
Trừng khi xưa: "Gai thành rừng, đâm thủng áo người".
Chiến loạn bộc phát khắp nơi,
Ngài thương cho dân chúng vô tội bị giết hại, nên hiển thị thần
thông để cảm hóa Thạch Lặc tại Tương Quốc và Thạch Hổ tại Nghiệp
Đô. Ngài dùng mật chú để cứu bao sanh linh, và dùng mùi hương để
cứu người trong hiểm nạn; nghe tiếng linh kêu và ngồi tọa một nơi
mà biết việc may rủi, nên được Thạch Lặc và Thạch Hổ tôn sùng kính
ngưỡng. Tử tôn là Thạch Tuyên và Thạch Thao cũng thường lui tới
thỉnh giáo. Ngài ân cần khuyên nhủ họ Thạch sửa đổi tánh khí cuồng
bạo, khiến dân chúng được thấm nhuần ân huệ.
Nếu không có ngài Phật Đồ Trừng
thì với tánh khí thô cuồng bạo ngược của Thạch Lặc và Thạch Hổ,
không biết bao nhiêu sanh mạng dân lành đã bị phanh thây, mà bút
mực cũng sẽ khó ghi chép cho hết. Đối với Thạch Lặc và Thạch Hổ,
Ngài thường bỏ rất nhiều công sức tâm lực để răn nhắc, khuyến hóa
họ, rằng phải nên dùng tinh thần từ bi hỷ xả của Phật giáo mà trị
quốc an dân. Ngài dùng thần lực cứu độ địa ngục trần gian vào
đương thời. Các vua chúa Ngũ Hồ mười sáu nước thường giết người
như tợ giết trâu bò mà không phân biệt; điều này trái ngược với
chủ trương bất sát của Phật giáo. Trải qua bao đời, Hồ tộc thường
tín phụng Phật pháp, nên giảm bớt tập tánh ngông cuồng bạo ngược.
Đấy là sự cống hiến tích cực của Phật giáo vào đương thời.
Thân của Ngài cao tám thước, cử
chỉ nhu hòa, từ tốn. Những kinh điển thâm sâu, Ngài đều hiểu rõ,
cùng thông suốt sách vở kinh luận thế tục. Lúc giảng kinh, Ngài
chỉ đề xuất ra tông chỉ, khiến thính giả tự nhiên quán thông đầu
đuôi, và hiểu rõ nghĩa lý.
Cuộc đời hành đạo của ngài Phật
Đồ Trừng không những dùng thần lực để hóa độ các vua chúa, quần
thần, dân chúng mà cũng thường chú trọng vào việc giảng kinh
thuyết pháp, cùng sáng lập chùa chiền. Cao Tăng Truyện viết: "Ngài
Phật Đồ Trừng liễu giải kinh điển thâm diệu, lại thông thế luận".
Tuy không phải là một đại dịch
giả như ngài Trúc Pháp Hộ, đối với nghĩa lý chân thật của kinh
điển, cùng các trước luận của thế gian Ngài đều tinh thông thâm
hiểu.
Lúc giảng giải kinh điển, Ngài
có thể diễn đạt chính xác về các yếu chỉ căn bản, khiến cho các
thính giả đều hiểu rõ nghĩa lý văn chương tường tận từ đầu đến
cuối. Không những dùng những ngôn từ thâm sâu để giảng giải kinh
điển, mà Ngài còn áp dụng tinh thần từ bi hỷ xả đến với quần chúng,
cùng tận tâm giải cứu họ trong những lúc hoạn nạn.
Sự hoằng dương Phật pháp của
Ngài, không những ảnh hưởng rộng khắp Trung Thổ mà còn lan rộng
đến Thiên Trúc, khiến cho hàng chục vị danh tăng từ Thiên Trúc,
Khương Cư, v.v... không quản muôn dặm đường xa, lội qua bao bãi sa
mạc, cùng trèo non lội suối để cầu mong lời giáo huấn như ngài
Phật Điều, Tu Bồ Đề, v.v... Trong nước, các ngài Đạo An, Trúc Pháp
Nhã, v.v... cũng vượt muôn dặm ải hà để đến nghe Ngài giảng kinh
thuyết pháp. Tất cả đều liễu đạt diệu lý u huyền của Phật pháp.
Ngài Phật Đồ Trừng đã từng bảo:
- Nơi Ta xuất sanh cách Nghiệp
Đô hơn chín trăm ngàn dặm; bỏ nhà vào đạo một trăm lẻ chín năm;
răng không bao giờ chạm rượu; qua giờ ngọ không dùng cơm; chẳng
đúng theo giới luật thì không hành; chẳng có tham dục, và chẳng
hằng mong cầu; người đến cầu đạo từ các miền xa xuôi có hơn cả
ngàn; đồ chúng trước sau có hàng trăm ngàn; kiến tạo chùa chiền
khắp Trung Thổ cả tám trăm chín mươi ba ngôi; sự nghiệp hoằng pháp
được hưng thịnh, khác biệt với những vị khi trước.
Ngài Phật Đồ Trừng tự bảo rằng
nơi xuất sanh cách xa Nghiệp Đô hơn chín trăm ngàn dặm, tức là
Thiên Trúc. Ngài được một trăm lẻ chín hạ lạp. Viên tịch vào năm
một trăm mười bảy tuổi (348), tức là tám tuổi đã xuất gia. Ngài
đến Lạc Dương vào năm bảy mươi chín tuổi, tức cuối đời Tây Tấn,
niên hiệu Vĩnh Gia thứ tư (310).
'Rượu không chạm răng, quá ngọ
không ăn, chẳng hợp với giới luật thì không hành, không tham dục,
không mong cầu', chứng minh rằng ngài Phật Đồ Trừng không những tự
có đầy đủ thần lực đạo thuật dị thường, mà chính bản thân cũng
thực tiễn tôn kính nghiêm trì giới luật. Không uống rượu, tức là
giữ giới không uống rượu. Qua giờ ngọ không dùng cơm, tức là thủ
trì giới không ăn phi thời. Tất cả hành vi đều không đi ngược lại
với giới luật, và chẳng hề khởi tâm tham dục cùng mong cầu.
Ngài Đạo An đã từng đến thành
Nghiệp Đô học giới luật dưới tòa của ngài Phật Đồ Trừng. Tuy nhiên,
ngài Đạo An chỉ học được một phần ít, chứ chẳng hoàn toàn. Do gặp
thời cuộc loạn ly, nên ngài Đạo An cứ chạy lánh nạn mãi. Đến năm
370, ngài Đạo An từ Tương Dương đến Trường An, tới tu học với đạo
nhân ngoại quốc là Đàm Ma, vị thường trì tụng bộ giới luật Tiểu
Thừa, nên bổ sung thêm kiến thức về giới luật. Sau này, ngài Đạo
An lại thỉnh sa môn Trúc Pháp Niệm ở Lương Châu sao viết bản giới
luật bằng chữ Phạn, và thỉnh ngài Đạo Hiền phiên dịch, và được Huệ
Thường ghi chép. Dịch từ mùa hạ đến mùa đông thì hoàn tất, nên mới
có nguyên bộ luật tỳ kheo giới bổn. Từ khi quyển giới luật này
được phiên dịch xong, Ngài nhận thấy đó là những quyển giới luật
đã được trước kia đa số đều sai lầm. Ngài Đạo An xem giới luật
Phật giáo cùng lễ tiết ở Trung Thổ đều đồng quan trọng, nên nghiêm
chỉnh thực tiển hành trì. Vì vậy, lúc hoằng dương chánh pháp, ngài
Đạo An đặc biệt chú trọng về giới luật. Kỳ thật đó là ngài Đạo An
tiếp thừa đạo phong của ngài Phật Đồ Trừng.
Ngài Phật Đồ Trừng tự bảo rằng
đồ chúng có trăm ngàn người, và lập tám trăm chín mươi ba ngôi
chùa. Công cuộc hoằng dương Phật pháp của ngài Phật Đồ Trừng tại
Trung Thổ thật vĩ đại, hiếm có. Nhờ tận mắt chứng kiến những năng
lực thần kỳ dị thường kiệt xuất của ngài Phật Đồ Trừng mà tín
chúng đua nhau cúng dường tịnh tài để xây cất chùa chiền. Vì Ngài
không có tham dục, lại chẳng mong cầu, nên chưa hề cất giữ tiền
bạc riêng tư, mà chỉ dùng hết những tịnh tài được cúng dường dành
vào việc xây chùa dựng tháp, hoằng dương Phật pháp, khiến Phật
giáo hưng long khắp miền Trung Thổ.
Không những kiến tạo chùa chiền,
mà Ngài còn thực hành những lễ nghi của Phật giáo như hành lễ Phật
đản. Theo Cao Tăng Truyện thì cứ vào dịp lễ Phật đản, Thạch Lặc
thường tự thân đến chùa dự lễ tắm Phật. Vì Ngài đã từng dùng thần
lực để cứu sống Thạch Bân, nên Thạch Lặc thường gởi gắm con cháu
tại chùa, khiến cho những đứa bé kia được thọ sự cảm hóa của Phật
pháp, để sau này tín thọ phụng hành.
Vào thời của Thạch Lặc, Trung
Thổ đã từng khởi xướng đại lễ diễn hành tượng Phật vào ngày lễ
Phật đản. Quyển Đông Tấn Lăng Hội, Nghiệp Trung Ký viết: "Thạch
Lặc thường cho làm xe bốn bánh bằng gỗ chiên đàn, rộng hơn mười
thước, dài hơn hai trăm thước; làm tượng Phật bằng vàng, đặt để
trên xe đó; trên có hình chín con rồng đang phun nước. Làm đạo
nhân bằng gỗ, dùng tay xoa bụng Phật; làm hơn mười đạo nhân bằng
gỗ, cao hơn hai thước; tất cả đều mặc y ca sa, đi kinh hành, vây
nhiễu, lễ Phật, rồi lại tự tay cắm hương vào lư hương, giống như
người thật không khác. Xe thì người gỗ đi theo, cùng rồng phun
nước. Xe ngưng thì tất cả đều ngừng".
Thạch Lặc cho người chế tạo xe
bằng gỗ chiên đàn, rồi lại làm chín con rồng phun nước và đạo nhân
bằng gỗ xoa bụng Phật để biểu thị động tác tắm Phật. Làm hơn mười
đạo nhân bằng gỗ, đắp y ca sa, đi kinh hành quanh bốn bên, và dâng
hương lễ bái, để biểu thị sự cầu mong quốc gia thái bình, nhân
gian an lạc.
Kế thừa phong tục làm lễ hành
tượng của Ngũ Hồ mười sáu nước tại Hoa Bắc, vua Bắc Ngụy Thái Võ
Đế, niên hiệu Định Đô Đại Đồng, trong những năm vừa lên ngôi, cũng
làm lễ hành tượng như thế vào ngày Phật đản. Quyển Ngụy Thư Thích
Lão Chí viết: "Thế Tổ vừa lên ngôi bèn tôn theo nghiệp của Thái Tổ
và Thái Tông, thường cùng các vị sa môn cao đức luận đàm Phật pháp.
Đến mồng tám tháng tư, làm lễ diễn hành tượng Phật, đi khắp đường
lộ. Vua đích thân lễ bái, ngự trên cửa thành, rải hoa cúng dường".
Đời Đông Hán, Phật giáo được
tiếp nạp vào nước Tàu từ vua Sở Vương Anh, Tạc Dung, Hán Hoàng Đế,
v.v... Họ xem Phật giáo giống như một hình thức của đạo Thần Tiên
hay Đạo giáo. Họ thường hành những việc được xem là quan trọng như
cầu mưa hay cầu chữa bịnh tật. Đời Tam Quốc, các ngài Trúc Pháp Hộ,
Chi Khiêm phiên dịch rất nhiều kinh điển, nhưng đối với quần chúng
thì thật rất khó thấm nhuần vì chưa hiểu rõ nghĩa lý Phật pháp. Họ
chỉ tôn sùng triết lý thanh tịnh, không tham dục. Do đó, họ chỉ
cầu mong đạo Phật ban cho những điều như cầu mưa, chữa bịnh, hoặc
hiển hiện những điềm linh ứng kỳ dị. Đáp ứng lòng mong cầu ngưỡng
mộ các thuật thần bí kỳ dị của quần chúng, ngài Phật Đồ Trừng đến
vùng Hoa Bắc, dùng năng lực thần thông để cảm hóa họ. Nếu ngài
Phật Đồ Trừng chỉ chuyên ròng phiên dịch kinh điển, thì e rằng
công cuộc hoằng dương Phật pháp ít có hiệu quả.
Những vị
đại đệ tử của ngài Phật Đồ Trừng
[^]
A/ Ngài Phật Điều
[^]
Ngài Phật Điều từ Thiên Trúc
sang học đạo với ngài Phật Đồ Trừng, và thường cư trú nơi chùa
Thường Sơn. Ngài Phật Điều cũng có những năng lực thần dị, và đã
từng hiển hiện bao loại thần biến như ngài Phật Đồ Trừng, lại cũng
từng vào hang hổ trên núi, dự biết giờ phút lâm chung. Sau này
Ngài đột nhiên mà thị tịch. Qua vài năm sau, khi tám người đệ tử
cư sĩ vào Sơn Tây để đốn củi, họ thấy ngài Phật Điều đang ngồi
trên tảng đá cao. Với sự kinh hoàng, họ hỏi:
- Bạch Hòa Thượng. Ngài vẫn còn
sống sao !
Ngài đáp:
- Ta vẫn đang sống !
Trở về, họ tìm đến nơi chôn cất
của Ngài, rồi mở quan tài ra, mà chẳng thấy thi thể. (Ngài Phật
Điều và Nghiêm Phật Điều hoàn toàn khác nhau. Ngài Phật Điều là
người Thiên Trúc, và là đệ tử của ngài Phật Đồ Trừng. Ngài Nghiêm
Phật Điều là người Tàu, vị đã từng dịch kinh Pháp Kính cùng Sa Di
Thập Huệ Chương Cú vào thời Hán Linh Đế.)
Trong các vị đại đệ tử của ngài
Phật Đồ Trừng, nổi bậc nhất là ngài Đạo An, Trúc Pháp Nhã, và Tăng
Lãng.
B/ Ngài Đạo An, lập nền
tảng vững chắc cho Phật giáo Trung Quốc
[^]
Vào thời Đông Hán, giữa những
nhà dịch giả Thiên Trúc, bắt đầu phiên dịch kinh điển từ tiếng
Phạn sang tiếng Tàu là ngài An Thế Cao và Chi Lâu Ca Sấm. Nhìn về
phương diện truyền bá và phiên dịch kinh điển Tiểu Thừa thì ngài
An Thế Cao là vị kiệt xuất nhất, nên được hàng Phật tử xưa nay mãi
mãi tôn sùng kính ngưỡng.
Tuyển thuật viết lời tựa, và
liệt kê sao lục cho các bộ kinh do ngài An Thế Cao cùng các nhà
dịch giả khác vào buổi sơ thời của Phật giáo là ngài Đạo An. Địa
vị của ngài Đạo An trong sơ kỳ Phật giáo rất quan trọng. Thật vậy,
ba vĩ nhân của Phật giáo thời sơ kỳ là ngài Phật Đồ Trừng, Cưu Ma
La Thập, và Đạo An.
Ngài Đạo An sanh vào niên hiệu
Vĩnh Gia, cuối đời Tây Tấn (312), người Phù Liễu ở Thường Sơn (gần
huyện Chánh Định, tỉnh Hà Bắc), tên tục là Vệ, gia thế thuộc hàng
nho gia sĩ thứ. Đương thời, vì Ngũ Hồ mười sáu nước chiếm cứ vùng
Hoa Bắc, nên các cao tăng danh sĩ đều từ từ di cư vào nam, đến lưu
vực sông Trường Giang ở Kiến Nghiệp (Nam Kinh). Nền văn hóa ở
phương bắc cũng được di chuyển vào phương nam, nên nền văn hóa tại
vùng Hoa Bắc dần dần suy đồi.
Thời ấy, Phật giáo đã phát triển
tại vùng Thường Sơn. Y cứ theo 'Tỳ Kheo Ny Truyện', quyển một có
viết về tỳ kheo ny Trí Hiền. Sư cô vốn là người Thường Sơn, họ
Triệu; cha tên là Trân. Thái thú Đỗ Bá vốn tin đạo Hoàng Lão mà
ghét đạo Phật. Đương thời vua Phù Kiên ra lịnh tra xét tự viện. Đỗ
Bá nhân dịp đến khám xét chùa chiền, thấy sư cô Trí Hiền dung nhan
kiều diễm, tiếng nói trong trẻo, nên phát khởi tà tâm. Do đó, Đỗ
Bá ra lịnh cho sư cô Trí Hiền cư trú một mình, rồi bức bách giao
tình. Sư cô Trí Hiền cự tuyệt, thà chết chứ không phá giới. Đỗ Bá
tức giận cầm đao hành hung, chém sư cô Trí Hiền hơn hai mươi nhát,
khiến không thể đi nổi. Bỏ đi một hồi, Đỗ Bá chợt tỉnh ngộ sám hối.
Từ đó, Đỗ Bá chuyên cần tinh tấn ăn chay, giữ giới hạnh, khiến cho
vua Phù Kiên cũng tôn trọng. Đỗ Bá cũng thường may y ca sa cúng
dường tăng chúng.
Qua câu chuyện này chứng minh
rằng tại Thường Sơn vào thời ngài Đạo An xuất sanh, Phật giáo đã
được phát triển rộng rãi, nên mới có tăng ni tu đạo.
Vì cha mẹ mất sớm, nên ngài Đạo
An được nghĩa huynh Khổng Để nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành.
Năm bảy tuổi, ngài Đạo An đã
thông suốt văn nghĩa của ngũ kinh. Đối với các thư tịch, chỉ xem
qua một hai lần là Ngài liền nhớ rõ, khiến cho dân chúng trong
vùng rất kính phục. Tuy thiên tánh minh mẫn, nhưng dung mạo lại
rất xấu xí. Trên bắp tay của Ngài nổi một cục thịt lớn tròn cả tấc,
có thể kéo lên hay xuống. Người đời sau nhân đó mà gọi Ngài là Bồ
Tát Ấn Thủ.
Khi Ngài xuất gia vào năm mười
hai tuổi, vì khinh chê nên thầy bổn sư thường sai Ngài ra đồng làm
ruộng. Suốt ba năm liền, Ngài cần cù lao động, không có chút oán
hờn phẫn uất. Trong thời gian đó, Ngài nghiêm trì giới luật, không
phạm chút tơ hào. Vài năm sau, Ngài mới cầu thỉnh vị thầy bổn sư
chỉ dạy kinh điển. Vị thầy bổn sư bèn đưa cho quyển kinh Biện Ý
Trưởng Giả, có hơn năm ngàn lời. Ngài mang bộ kinh ra ngoài đồng.
Lợi dụng giờ nghỉ giải lao, Ngài xem qua bộ kinh này, rồi chiều
tối trở về chùa đưa lại cho thầy bổn sư, và cầu thỉnh thêm một bộ
kinh khác. Thầy bổn sư trách cứ:
- Hôm qua Ta đã đưa cho con bộ
kinh này. Chưa kịp xem tường tận, vội trả lại cho Ta, sao lại cầu
thêm quyển khác ?
Ngài thưa:
- Con đã học thuộc bộ kinh đó
rồi, và có thể tự đọc tụng lại được !
Thầy bổn sư nửa tin nửa ngờ khi
nghe lời này, nhưng vẫn đưa thêm quyển kinh Thành Cụ Quang Minh
Định Ý, có khoảng một trăm ngàn lời. (Quyển kinh này do ngài Chi
Lâu Ca Sấm và Chi Diệu dịch, với hai bản khác nhau. Đây là bộ kinh
thuộc hệ Đại Thừa, nên nghĩa lý thâm sâu, khó lòng hiểu rõ. Hiện
nay được ghi trong Đại Tạng Tân Tu, Đại Tạng Kinh, quyển thứ mười
lăm. Bộ kinh này cũng được gọi là Thành Cụ Quang Minh Tam Muội.)
Giống như lúc trước, trong vòng
một ngày, ngài Đạo An đã học thuộc xong bộ kinh Thành Cụ Quang
Minh Định Ý, nên trở về chùa hoàn lại quyển kinh cho thầy bổn sư.
Việc này khiến cho thầy bổn sư lại càng thêm nghi hoặc, nên bảo
ngài Đạo An đọc lại xem sao. Ngài bèn đọc thuộc làu, không sót một
chữ. Thầy bổn sư thấy vậy, bèn rất kinh ngạc và nhận rõ tài năng
của ngài Đạo An. Sau này, ngài Đạo An y theo thầy bổn sư mà thọ
giới cụ túc. Trước khi thọ giới cụ túc, Ngài đã từng gặp thầy Tăng
Tiên. Y cứ theo quyển 'Cao Tăng Truyện' thứ năm, thì thầy Tăng
Tiên là người Ký Châu, đệ tử của Thường Sơn Nhuận. Ngài và thầy
Tăng Tiên rất tâm đầu ý hợp, nên trước lúc chia tay đã từng hẹn
nhau:
- Khi về già, chớ quên đồng học
!
Thọ giới cụ túc xong, thầy bổn
sư của Ngài bảo hãy đi tham vấn học đạo nơi ngài Phật Đồ Trừng.
Đương thời, gặp lúc Ngũ Hồ mười sáu nước đang giao chiến, chiến
loạn khắp nơi, nên Ngài chạy lánh nạn qua vùng Sơn Tây. Trong bài
tựa về kinh Đạo Địa, Ngài có viết rằng vốn sanh vào cuối thời Tây
Tấn, lúc Hung nô kéo quân xâm lược vùng Hoa Bắc, thì vị thầy bổn
sư đã viên tịch, và phải xa rời các pháp hữu, rồi đến tị nạn ở núi
Tấn Sơn, Sơn Tây. Lúc ấy, sa môn Chi Đàm Giảng tại Nhạn Môn, sa
môn Trúc Tăng Phụ (người Thiên Trúc, trì giới luật tinh nghiêm,
học các luận, thông suốt kinh điển) ở Nghiệp Đô, sa môn Trúc Pháp
Tể ở Thái Dương (Trúc Pháp Tể là vị viết quyển 'Cao Dật Sa Môn
Truyện', và là đệ tử lớn của Trúc Pháp Tiềm), cùng với Ngài nghiên
cứu kinh Đạo Địa và kinh Âm Trì Nhập. Kế đến, Ngài tới chùa Thượng
Minh ở Kinh Châu, phát tâm tín ngưỡng Bồ Tát Di Lặc, rồi lại qua
núi Phi Long gặp thầy Tăng Tiên (pháp hữu khi xưa ở Thường Sơn)
đang ẩn cư nơi đó.
Vào năm 335, Ngài tìm đến để
thân cận và học đạo dướI tòa của ngài Phật Đồ Trừng tại một ngôi
chùa trong thành Nghiệp Đô. Lúc đó, Ngài được hai mươi lăm tuổi,
và Phật Đồ Trừng đã được một trăm lẻ bốn tuổi. Đương thời, Thạch
Hổ đã dời đô về Nghiệp Đô. Vừa thấy ngài Đạo An, ngài Phật Đồ
Trừng bèn tán thán không ngừng, và đàm luận suốt cả ngày. Thấy
dung mạo của Ngài xấu xí, nên đại chúng khởi tâm khinh khi. Ngài
Phật Đồ Trừng bèn bảo họ:
- Người này có kiến thức thâm
sâu, bác học xa vời mà các ngươi chẳng hề bì kịp !
Ngài tín phụng tôn ngài Phật Đồ
Trừng làm thầy. Mỗi lần giảng kinh xong, ngài Phật Đồ Trừng đều
bảo Ngài giảng lại, nhưng đại chúng không tín phục. Lần nọ, đại
chúng cùng nhau bảo:
- Đợi gã Côn Lôn (chỉ cho ngài
Đạo An có sắc mặt đen thui) luận nghị, chúng ta quyết định sẽ chất
vấn cho thua mới được.
Ngài vừa giảng lại những lời của
ngài Phật Đồ Trừng xong thì đại chúng liên tiếp chất vấn. Đối với
những nghi vấn xâu xa của đại chúng đồng học, mỗi mỗi Ngài đều đối
đáp và giải thích rành rẽ, khiến ai ai cũng đều tâm phục khẩu phục,
bảo:
- Lời của Tất đạo nhân làm kinh
hoàng bốn làng.
Ngài theo hầu thầy mình suốt
mười bốn năm, mãi cho đến khi ngài Phật Đồ Trừng nhập tịch vào năm
348. Được ngài Phật Đồ Trừng giảng giải những điểm trọng yếu của
kinh điển, nên Ngài lãnh hội thâm sâu. Lại nữa, nhờ học theo đạo
phong oai đức nghiêm trì giới luật cẩn mật của ngài Phật Đồ Trừng
mà sau này trong công nghiệp hoằng dương chánh pháp, Ngài luôn chú
trọng về phần giới luật. Theo bài tựa về giới luật của Tỳ Kheo,
ngài Đạo An viết về giáo pháp tổng quát của đức Thế Tôn trong
quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' như sau: "Ba pháp giới luật, thiền
định, trí huệ được gọi là cửa ngõ vào đạo, và là pháp nhập Niết
Bàn trọng yếu. Giới luật là pháp đoạn trừ ba việc ácẠ. Thiền định
phòng ngừa và ngăn chặn vọng tưởng phân tán. Trí huệ là thang
thuốc vi diệu cứu chữa tất cả bịnh trạng. Đầy đủ ba pháp này thì
mới có thể đắc đạo. Dùng ba pháp này cũng là tùy thuận với đạo.
Bất luận tại gia hay xuất gia, việc trước nhất là phải giữ giớI;
nghĩa là lấy giới làm nền tảng căn bản cho sự tu học. Bên cạnh
việc dùng giớI luật để tôi luyện, phải thận trọng thúc liễm thân
và khẩu, vì chúng vốn là thuyền bè của muôn hạnh. Nếu không giữ
oai nghi nghiêm túc, thì trong cuộc sống tu tập hằng ngày dễ làm ô
uế giới luật. Nếu phá giới luật tất phải đọa vào ba đường ácẠ. Do
đó, trong ba tạng giáo điển, đức Như Lai luôn nhấn mạnh tầm quan
trọng của giới luật. Ở xứ Thiên Trúc và các nước Phật giáo, nơi
nơi đều tôn sùng giới luật. Mỗi ngôi chùa thường có các vị nghiêm
trì giớI luật cẩn mật. Vị nhậm chức giám đốc trì luật, vào mỗi nửa
tháng thuyết giới trước đại chúng. Ngày thuyết giới, từ tối đến
sáng chư tăng tụng niệm kinh điển, và khuyến tấn lẫn nhau nghiêm
trì giới luật. Nếu có ai phạm giới, sẽ bị đuổi ngay".
Ngài lại viết: "Phật pháp sơ
truyền vào Đông Độ đến nay chưa lâu cho lắm. Chư sư đã từng thọ
giới từ đời Tần Thủy Hoàng, mà các vị dịch giả về giới luật lại
rất hiếm, nên người trước chỉ kế tục truyền cho người sau. Đến đời
Đồ Hòa ThượngẠ, đa phần giới luật đã được chấn chỉnh ! Xưa kia,
tại Nghiệp Đô, tôi đã từng theo Đồ Hòa Thượng học ít phần, nhưng
cũng chưa đủ hoàn toàn, rồi gặp đời loạn lạc, thật tiếc lắm thay
!"
Đương thời, Ngài đã từng trú tại
núi Hằng Sơn, nhưng cũng thường qua lại Nghiệp Đô. Khi đến núi
Hằng Sơn ở Thái Hành, Ngài xây chùa viện và sửa đổi y phục thế tục,
trở thành y phục người xuất gia. Từ đó, chùa viện trên núi Hằng
Sơn là trung tâm hoằng dương Phật pháp của Ngài. Thái thú Lô Hâm ở
Võ Ba, nghe danh tiếng giới hạnh thanh cao của Ngài, nên nhờ sa
môn Mẫn Kiến thỉnh Ngài khai giảng kinh điển. Dẫu Ngài từ chối,
nhưng Lô Hâm cứ cầu thỉnh, nên cuối cùng Ngài phải đăng đàn giảng
kinh. Vì Ngài là vị đã từng thực lực nghiên cứu kinh điển, cùng
thanh danh giới hạnh cao thâm, nên chư tăng kẻ tục kéo đến nghe
giảng kinh rất đông. Mỗi lần Ngài giảng kinh, ai ai cũng đều tán
thán. Lúc ấy, Ngài Huệ Viễn được hai mươi mốt tuổi, cùng ngài Huệ
Trì mười tám tuổi, đồng đến Hằng Sơn, làm môn đệ của ngài Đạo An.
Theo quyển 'Cao Tăng Truyện' thứ sáu thì ngài Huệ Viễn vốn muốn
đến Giang Đông để theo ông Phạm Tuyên Tử học pháp thuật ẩn độn.
Ngặt vì chiến loạn lan tràn khắp nơi, nên ngài Huệ Viễn không thể
vào nam được. May mắn thay, ngài Huệ Viễn gặp được ngài Đạo An tại
Quan Tả. Vừa gặp được ngài Đạo An thì ngài Huệ Viễn bèn vui mừng
nói:
- Vị này chính là Thầy của Ta !
Sau khi Thạch Hổ mất, Thạch Đạo
kế vị, rồi phái sa môn Trú Xương Bồ đến đón Ngài về trú tại Hoa
Lâm Viên, và cho xây dựng phòng xá nơi đó. Trú nơi đó qua một thời
gian, Ngài cảm thấy hậu vận của triều Hậu Triệu sắp đến hồi nguy
nan, nên dẫn đồ chúng rời Hoa Lâm Viên, tới núi Khiên Khẩu. Quả
nhiên, Nhiễm Mẫn nổi loạn vào năm 350, khiến Hậu Triệu diệt vong.
Ngài bảo đồ chúng:
- Hiện thời có thiên tai, sâu bọ
hoành hành, trộm cướp bốn bề nổi dậy. Chúng ta cùng tu tập nơi đây,
nhưng cuộc sống quá khó khăn chật vật. Đâu có ai muốn giáo đoàn bị
phân tán. Những việc này thật là nan giải !
Sau đó, Ngài lại dẫn đồ chúng
đến Vương-ốc ở núi Nữ Lâm, rồi làm ruộng sinh sống. Tuy vậy, vì
nơi đó cũng không an toàn, nên chẳng bao lâu, Ngài lại dẫn đồ
chúng qua sông Hoàng Hà, đến Lục Hồn, cư trú trong hang động. Dẫu
phải dùng rau quả dại để sống qua ngày, nhưng đại chúng vẫn không
lơ là việc tu học. Tuy nhiên, những nạn khổ vẫn chưa hết. Lúc ấy,
Yến Đích Mộ Dung Tuấn dẫn quân tiến đánh Nhiễm Mẫn. Đại quân vây
hãm Lục Hồn, nên một mình Ngài lánh nạn xuống miền nam tại Tương
Dương. Khi cùng đồ chúng kéo đến vùng chiến loạn Tân Dã, Ngài bảo:
- Hiện tại, chúng ta đang gặp
thời vận xấu, chiến tranh loạn lạc khắp nơi. Nếu không có một quốc
vương nào hộ trì, thì công nghiệp hoằng dương Phật pháp thật khó
hoàn thành. Chúng ta giáo hóa chúng sanh càng nhiều càng tốt. Nếu
được quốc vương hộ trì thì việc này sẽ dễ dàng.
Đồ chúng đều thưa:
- Chúng con hoàn toàn nghe lời
Ngài dạy.
Sở dĩ Ngài nói ra lời này vì
trong hoàn cảnh loạn lạc, muốn duy trì tăng đoàn, phải cần nhờ sự
hộ trì của một vị đại thí chủ. Thế nên, ngay sau đó, Ngài dẫn đồ
chúng đến Tương Dương.
Lần nọ, Ngài bảo Trúc Pháp Thái
đến Dương Châu, và nói:
- Nơi đó có rất nhiều hiền nhân
quân tử đang tôn sùng Phật pháp. Văy ông hãy đến đó.
Theo quyển 'Cao Tăng Truyện' thứ
năm thì Trúc Pháp Thái vốn là pháp hữu đồng học với Ngài vào thuở
thiếu niên. Đương thời, Trúc Pháp Thái cùng Ngài chạy lánh nạn đến
Tân Dã. Sau này, Ngài bảo Trúc Pháp Thái xuống kinh đô. Lúc chia
tay, Trúc Pháp Thái nói:
- Pháp Sư hoằng dương giáo nghĩa
ở tại miền Tây Bắc. Tôi phải về lại miền đông nam để hoằng dương
Phật pháp. Mỗi chúng ta có mỗi nơi hoằng pháp khác nhau. Hôm nay,
trịnh trọng chia tay. Hẹn tương lai sẽ gặp nơi cõi Tịnh Độ.
Sau đó, Trúc Pháp Thái cùng với
hơn bốn mươi đồ đệ như Đàm Nhất, Đàm Nhị, v.v... xuống vùng Dương
Châu. Tại Dương Khẩu ở phía đông sông Trường Giang, trên đường đến
Dương Châu, Trúc Pháp Thái bị bịnh nặng, nên đành phải trú lại nơi
đó. Chánh Trị Hoàn Ôn đang thống trị Kinh Châu, nên sai người mang
đồ đến cúng dường cho Trúc Pháp Thái. Ngài Đạo An cũng phái đệ tử
là Huệ Viễn đến thăm hỏi bịnh tình của Trúc Pháp Thái. Ngài lại
bảo Trúc Pháp Hòa vào Tứ Xuyên để tu thiền:
- Nơi đó núi non hùng vĩ nguy
nga, chính là chỗ tu hành rất tốt.
Theo quyển 'Cao Tăng Truyện' thì
thầy Trúc Pháp Hòa là pháp hữu đồng học của ngài Đạo An vào lúc
nhỏ. Thầy Trúc Pháp Hòa là vị nổi tiếng về đức hạnh khiêm cung.
Thầy y theo lời dạy của ngài Đạo An, và vì muốn bảo toàn giáo đoàn
khỏi bị phân tán, nên dẫn chư đồ đệ vào vùng Tứ Xuyên. Nơi đó,
danh đức của thầy Trúc Pháp Hòa lại càng vang lừng. Sau này, nghe
tin Tương Dương bị chiến loạn, Thầy rời Tứ Xuyên, đến Trường An,
trụ tại chùa Dương Bình. Thứ đến, Trúc Pháp Hòa lại cùng với ngài
Đạo An qua cốc Kim Dư của ngài Tăng Lãng.
Vừa chia tay với thầy Trúc Pháp
Thái và Trúc Pháp Hòa, Ngài lại dẫn hơn năm trăm đồ chúng như Huệ
Viễn, v.v... thẳng đến Tương Dương, hầu mong tìm đạo tràng rộng
rãi để có thể dung chứa hàng trăm đồ chúng. Năm đó, Ngài đã trên
năm mươi tuổi.
Lần nọ, vừa qua sông Bạch Hà thì
trời sẩm tối, rồi một cơn mưa to đổ xuống. Ngài và đồ chúng không
có nơi trú ẩn, nên chỉ cứ tiếp tục dầm mưa. Trên đường, họ đi
ngang qua một căn nhà. Trước cửa nhà có hai cây cột; chính giữa có
treo một bồn cỏ, dung lượng khoảng một đấu. Thấy như thế, Ngài bèn
gọi to:
- Lâm Bách Thăng !
Chủ nhân kinh hoàng chạy ra, vì
tên của ông ta chính là Lâm Bách Thăng. Chưa từng gặp nhau mà được
gọi đúng tên, nên chủ nhà rất thán phục thần lực của Ngài. Do đó,
ông ta tiếp đãi Ngài và các đồ đệ rất nồng hậu. Đồ chúng sau này
hỏi:
- Sao Thầy lại biết được danh
tánh của người chủ nhân kia ?
Ngài nói:
- Hai cây cột trụ hợp lại thành
'Lâm'. Chính giữa có treo một bồn cỏ, dung lượng khoảng một đấu,
tức là 'Bách Thăng' (một đấu bằng một trăm thặng lúa). Hợp lại
thành Lâm Bách Thăng !
Đến Tương Dương, Ngài bắt tay
ngay vào công cuộc hoằng dương Phật pháp. Đương thời, tướng quân
chinh tây Hoàn Lãng Tử đang trấn nhậm tại Giang Lăng, phái người
đến mời Ngài qua tạm trú tại Giang Lăng. Kế đến, quan trấn thủ
Tương Dương là Châu Tự thỉnh Ngài trở về Tương Dương. Thấy chùa
Bạch Mã quá chật hẹp, không thể dung chứa hết tăng chúng, nên Châu
Tự giúp Ngài xây chùa Đàn Khê. Sau này, có rất nhiều danh sĩ hỗ
trợ giúp đỡ việc xây chùa. Ngoài ra, Ngài còn cho xây tháp Phật
năm tầng, và tạo hơn bốn trăm tăng phòng. Quan thứ sử ở Lương Châu
gởi vạn cân đồng đến cho Ngài tạo tượng Phật cao mười sáu thước
vớI uy nghi và thần thái sáng ngời. Vua Tiền Tần là Phù Kiên cũng
phái quan đem vàng bạc đến cúng dường tạo một tôn tượng Phật nằm
dáng sư tử tọa, cao bảy thước. Ngoài ra, Ngài còn an trí một tôn
tượng Phật bằng vàng, một tôn tượng Phật Di Lặc bằng châu ngọc,
một tôn tượng Phật bằng vải kim tuyến, một tôn tượng Phật bằng gấm.
Mỗi lần có pháp hội giảng kinh, Ngài giăng treo tràng phan bảo cái
và đặt các tôn tượng Phật trong hội trường; những hạt châu chung
quanh tượng Phật chiếu soi ánh sáng kim quang lóng lánh. Tín chúng
đến tham dự pháp hội giảng kinh, không thể chẳng khởi tâm thành
cung kính, lễ bái. Tuy nhiên, có một tượng đồng từ nước ngoài đem
về, nhưng hình tượng rất kỳ quái lạ thường, khiến đại chúng không
thể kham nhẫn lễ bái. Ngài bảo:
- Tôn tượng này thật trang
nghiêm, nhưng trên đầu lại có búi tóc không tương xứng.
Nói xong, Ngài bảo các đệ tử
mang tôn tượng này đến lò rèn, sửa lại búi tóc. Rèn một hồi, đột
nhiên có ánh sáng phát lòa ra khắp bốn bề, khiến cho cả gian phòng
sáng rực. Xem xét nhìn kỹ trong búi tóc, thấy có một viên xá lợi
nằm trong đó. Đại chúng chứng kiến tận mắt việc này, nên cùng nhau
sám hối và khởi tâm cung kính. Ngài bảo đại chúng:
- Mỗi tôn tượng Phật có hình
tướng khác nhau, nhưng đều có đầy đủ bao điềm linh ứng. Do đó,
không cần phải nhọc phiền mà sửa đổi.
Ngài vốn đã biết trong búi tóc
sẽ có hạt xá lợi, nên cố ý bảo các đệ tử thui rèn búi tóc của Phật
lại, hầu mong chỉ dạy họ. Câu truyện này được truyền mãi bao đời.
Thế nên, biết rõ rằng tại chùa Đàn Khê, ngoài tôn tượng Phật Thích
Ca ra, còn có nhiều tôn tượng Phật khác, và cũng có hạt xá lợi.
Tương Dương không những là con
đường giao thông nối mạch giữa Hoa Bắc và Hoa Trung, mà còn là nơi
quan trọng về chiến lược. Các danh sĩ đương thời thường hội tụ về
đó. Vì vậy, các đệ tử của Ngài trú tại nơi đó rất đông. Tính ra,
Ngài trú tại Tương Dương khoảng mười lăm năm. Nơi đó, Ngài giảng
kinh Phóng Quang Bát Nhã rất nhiều lần. Bộ kinh này do đệ tử của
Châu Sĩ Hành là Phất Như Đàn từ nước Vu Điền mang về Lạc Dương,
rồi được sa môn Vô Xoa La và Trúc Thúc Lan dịch. Ngài cũng chú
thích và lược giải quyển kinh Quang Tán Bát Nhã do sa môn Trúc
Pháp Hộ dịch.
Một vị hào tộc tên là Tập Tạc Sĩ
ở tại Tương Dương, có khả năng biện tài vô ngại, danh vang lừng
vào đương thời. Ông cũng đã từng nghe về danh đức của Ngài. Biết
Ngài đã đến Tương Dương, ông bèn đến bái kiến. Vừa ngồi xuống, ông
bèn tự xưng là 'Tứ Hải Tập Tạc Sĩ'; nghĩa là biện tài của ông, bốn
bể không ai đối địch nổi. Ngài bèn đối đáp 'Di Thiên Thích Đạo
An'; nghĩa là khắp thiên hạ, chỉ có một Đạo An. Bút tích văn phong
của Ngài và ông ta rất tương xứng. Người đương thời xưng tán là
cặp danh sĩ và tăng sĩ đối xứng. Tập Tạc Sĩ vừa đến chùa lại gặp
nhằm ngày hội trai, nên mang đến rất nhiều quả lê. Ngài lấy những
quả lê đó, cắt nhỏ ra, rồi chia cho đại chúng dùng. Nhận thấy học
vấn và đạo hạnh thâm sâu của Ngài, cùng giáo đoàn phụng trì giới
luật theo quy củ, ông rất kính phục và tán thán không ngừng, nên
gọi Ngài là 'Tăng sĩ phi thường'. Trong bức thư gởi đến tể tướng
Kiện Khang, ông viết: "Nơi đây có pháp sư Đạo An, là một tăng sĩ
kiệt xuất phi thường. Ngài lãnh đạo hằng trăm đồ chúng, lên đàn
giảng kinh, hoặc hành hội tế trai. Chăm chỉ mà hành, chứ không
dùng lực thần thông hay pháp thuật để làm mê hoặc khủng bố tai mắt
người khác. Ngài cũng chưa từng biểu dương oai đức hay dùng thế
lực để trị những kẻ nhỏ, mà các đệ tử từ trên xuống dướI nhất tề
tương thân tương kính; họ luôn tôn thủ giới luật quy củ trong cuộc
sống tu học. Tôi chưa từng thấy giáo đoàn nào như thế ! Pháp sư
Đạo An thông đạt kinh thư nội ngoại, lại thông hiểu toán số âm
dương; nơi diệu lý Phật giáo, Ngài ung dung tự tại giảng thuyết;
về phương diện pháp nghĩa cùng đồng với ngài Pháp Lan, Pháp Đạo,
v.v... Thật tiếc cho Tể Tướng chưa hội ngộ được vị pháp sư này".
Hiền danh cao đức của Ngài vang
lừng khắp nơi, khiến Đông Tấn Hiếu Võ Đế cũng hạ chiếu thư xưng
tán: "Pháp sư Đạo An nhân đức siêu quần thù thắng, có công giáo
hóa đạo tục, không những hiện thời cứu tế quần sanh mà cũng làm
gương sáng cho hậu thế".
Hiếu Võ Đế lại cung phụng, cúng
dường rất nhiều phẩm vật, và đối xử Ngài như các bậc vương công.
Không những Đông Tấn Hiếu Võ Đế ở phương nam tôn sùng Ngài, mà
Tiền Tần Phù Kiên ở phương bắc cũng từng bảo:
- Tương Dương có Thích Đạo An,
được xưng tán là bậc thần khí của bản triều. Ta muốn triệu hồi
Pháp Sư về đây để giúp việc trị nước. Sau này Phù Kiên phái quân
đánh chiếm Tương Dương, bắt được ngài Đạo An và Châu Tự. Phù Kiên
bảo tướng bộc xạ Quyền Dực:
- Trẫm dùng một trăm ngàn đại
quân để đánh chiếm Tương Dương, nhưng chỉ được một nửa người !
Quyền Dực hỏi:
- Đó là ai ?
- Pháp sư Đạo An là một người,
và Tập Tạc Sĩ là nửa người.
Do đó, thấy rõ vua chúa và quần
chúng đương thời kính trọng Ngài đến bậc nào !
Phù Kiên bèn thỉnh mời Ngài đến
trụ trì chùa Ngũ Trọng ở Trường An. Lúc rời Tương Dương, Ngài bảo
các đệ tử như Huệ Viễn, v.v... hãy vào miền Giang Nam, còn một
mình đi đến Trường An. Tuy bảo rằng phân tán đồ chúng, nhưng khi
Ngài đến Trường An, hàng ngàn tăng đồ kéo đến chùa Ngũ Trọng để
học đạo dưới tòa của Ngài. Do đó, công nghiệp hoằng dương Phật
pháp của Ngài lan rộng khắp nơi. Nhờ đức hạnh thâm cao mà Ngài mới
làm việc Phật sự rộng lớn như thế.
Phù Kiên vừa lập quốc, trong
nước vẫn còn loạn lạc, nhưng dần dần bốn phương đều được bình định,
như những vùng biên cương, phía đông tới tận Thương Hải, phía tây
giáp nước Quy Từ, phía nam bao hàm Tương Dương, phía bắc đến Hàn
Hán; chỉ còn lại Kiến Nghiệp (kinh đô của Đông Tấn) là chưa thần
phục. Mỗi lần đàm luận với triều thần, Phù Kiên đều nói rõ ý đồ
thống nhất vùng Giang Tả. Dẫu Phù Dung (em của Phù Kiên) cùng các
triều thần như Thạch Việt, Nguyên Thiệu, v.v... đều thống thiết
ngăn cản việc khởi binh, nhưng Phù Kiên không hề thay đổi ý chí.
Thế nên, họ đến cầu Ngài khuyên nhủ Phù Kiên:
- Chúa Thượng muốn thân chinh
Đông Tấn. Sao Ngài (Đạo An) không vì quần sanh mà khuyến nhủ !
Ngài lập tức đến khuyên lơn
nhưng Phù Kiên vẫn không nghe.
Lần nọ, lúc đi ra ngoài vườn
Đông Uyển, Phù Kiên thỉnh Ngài đồng lên xa giá. Quan bộc xạ Quyền
Dực thưa:
- Thần nghe rằng khi Thiên Tử xa
giá, chỉ quan hầu mới được đi theo. Ngài Đạo An xuống tóc xuất gia,
sao lại cùng Thiên Tử đồng lên xa giá ?
Phù Kiên nổi giận bảo:
- Đạo đức của pháp sư Đạo An
thật khả kính tôn quý. Cả thiên hạ cùng Trẫm cũng chưa bằng Pháp
Sư, huống hồ gì việc lên xa giá có xứng đáng gì với oai đức của
Pháp Sư !
Khi nghe danh của ngài Cưu Ma La
Thập ở Tây Vức, Ngài ân cần khuyên Phù Kiên hãy mau cầu thỉnh vị
thánh tăng đó qua Trung Thổ để phiên dịch kinh điển. Ngược lại,
ngài Cưu Ma La Thập cũng đã từng nghe qua thanh danh oai đức của
ngài Đạo An, nên thường nói rằng ngài Đạo An chính là bậc thánh
nhân ở phương đông. Hai mươi năm sau, khi ngài Đạo An đã nhập tịch,
ngài Cưu Ma La Thập mới sang Trung Thổ.
Ngài chẳng những tinh thông thơ
văn, mà còn thông đạt nội ngoại điển tích, âm dương toán số, cùng
những học vấn khác. Vì vậy, giai cấp quý tộc tại Trường An cũng
từng thân cận Ngài để học hỏi, và thường bảo:
- Không học với ngài Đạo An thì
nghĩa khó mà thông đạt !
Bốn năm trú tại Trường An, Ngài
giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã hai lần trong mỗi năm. Tháng tám
năm 382, Ngài đến Nghiệp Đô, làm lễ húy kỵ cho thầy bổn sư, tức là
ngài Phật Đồ Trừng. Tại chùa Nghiệp Đô, Ngài cung thỉnh pháp sư
Cưu Ma La Phật Đề tuyên đọc kinh Tứ A Hàm bằng tiếng Phạn, rồi
thỉnh ngài Trúc Phật Niệm và Trúc Phật Hộ phiên dịch. Ngài lại
thỉnh hai ngài Trúc Phật Niệm và Trúc Phật Hộ phiên dịch kinh Tỳ
Nại Da, rồi tự viết lời tựa cho bản kinh đó. Năm 383, ngài Tăng
Già Bạt Trừng dịch quyển luận Bình Bà Sa, luận A Tỳ Đàm Bát Kiền
Độ, cùng kinh Bà Tu Mật Tập; ngài Đàm Ma Nan Đề dịch kinh Tăng
Nhất A Hàm; ngài Đạo An viết bài tựa cho các quyển kinh luận đó. A
Tỳ Đàm Bát Kiền Độ là bộ luận hoàn chỉnh nhất của tạng luận Tiểu
Thừa. Thế nên, đối với ba tạng giáo điển, Ngài đều thông suốt hết.
Phật giáo Trung Quốc tôn sùng
tôn giả Tân Đầu LôẠ khởi đầu từ ngài Đạo An. Do vì chú thích rất
nhiều kinh điển, nên mỗi lần chú giải xong quyển kinh nào, ngài
Đạo An đều cầu nguyện Tam Bảo gia hộ. Tuy nhiên, vì trọng trách
chú giải kinh điển thật nặng nề, và sợ rằng không hợp với ý của
Phật, nên Ngài phát nguyện:
- Nếu những lời chú thích của
con không tương phản với ý chỉ của Phật đà, thì xin hãy hiển hiện
điềm lành để ấn chứng.
Đêm nọ, Ngài mộng thấy một vị
Phạm tăng, tóc trắng lông mi dài, bảo:
- Những lời chú thích kinh điển
của ông đều hợp với ý của Phật. Ta vốn là hòa thượng chưa nhập
Niết Bàn ở miền Tây Vực. Ta sẽ hỗ trợ cho ông trong việc hoằng
dương Phật pháp. Ông hãy vì Ta mà chuẩn bị cúng dường.
Vụa tỉnh dậy, ngài Đạo An thiết
lễ trai tăng cúng dường tôn giả Tân Đầu Lô.
Hai mươi năm sau khi ngài Đạo An
nhập tịch, ngài Phất Nhã Đa La và ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch
quyển Thập Tụng Luật. Lúc đó, đệ tử của Ngài là Huệ Viễn mới biết
vị tăng mà thầy bổn sư của mình mộng thấy khi xưa, chính là tôn
giả Tân Đầu Lô. Từ đó, mới có thông lệ cúng dường phẩm vật lên tôn
giả Tân Đầu Lô.
Sau này, Tần Phù Kiên chẳng chịu
nghe lời khuyên nhủ của Ngài, nên phái Bình Dương Công Phù Dung
thống lãnh hai trăm năm mươi ngàn quân tiền phong, còn ông ta tự
thân dẫn sáu trăm ngàn quân đi nam chinh. Vua Tấn phái Chinh Lỗ
tướng quân Tạ Thạch, thái sử Tạ Huyền ở Từ Châu dẫn quân ra chống
cự. Kết quả, quân của Phù Kiên đại bại tại núi Bát Công. Sử gọi là
trận chiến Phì Thủy. Quân Đông Tấn truy đuổi chém giết quân Phù
Kiên la liệt. Phù Dung cũng bị tử thương. Cuối cùng, một mình Phù
Kiên cỡi ngựa chạy về Trường An, nhưng lại bị Mộ Dung Sung phục
kích giết chết, khiến nhà Tiền Tấn bị diệt vong. Do không chịu
nghe lời khuyên nhủ của Ngài về việc nam chinh nên Phù Kiên mới bị
mất nước vong thân.
Đương thời, ở tại chùa Ngài cùng
các đệ tử như Pháp Ngộ, v.v... quỳ trước tượng Phật Di Lặc, đồng
phát nguyện vãng sanh lên cõi trời Đâu Suất. Vào ngày hai mươi bảy
tháng giêng năm 384, niên hiệu Kiến Nguyên thứ hai mươi mốt, đột
nhiên có một dị tăng hình tướng xấu xa dơ bẩn, đến chùa xin ngủ
qua đêm. Vì trong chùa không còn dư phòng, nên thầy tri sự sắp đặt
cho vị tăng đó nghỉ ngơi tại giảng đường. Đêm hôm đó, thầy Duy Na
thấy vị dị tăng kia bay ngang qua lại cửa sổ, nên kinh hoàng vội
đến báo cho Ngài hay tin. Ngài lập tức bước ra giảng đường lễ bái
cùng thỉnh vấn mục đích đến chùa của vị dị tăng kia. Dị tăng đáp:
- Vì muốn độ Thầy nên mới tới
đây !
Ngài thưa:
- Nghiệp chướng của con nặng nề,
thì làm sao được cứu độ ?
- Đương nhiên là Ta độ được !
Tuy nhiên, phải mộc dục (tắm gội) tượng thánh tăng, thì mới có thể
được như ý nguyện !
Nói xong, dị tăng bèn chỉ Ngài
cách thức mộc dục. Ngài tiếp thọ và lại hỏi nơi trú của vị dị tăng.
Dị tăng bèn lấy tay chỉ lên trời, về hướng tây bắc, rồi đột nhiên
mây mù nơi đó tan mất, và thắng cảnh trang nghiêm vi diệu của cung
trời Đâu Suất hoàn toàn hiện ra trước mắt. Đến khuya, vài mươi
người trong chùa cũng đồng thấy thắng cảnh cung trời Đâu Suất rõ
ràng. Ngài y theo lời dạy, chuẩn bị đầy đủ pháp cụ để làm lễ mộc
dục. Lúc đó, chợt có vài mươi chú tiểu đồng dị thường, chạy vào
chùa nô đùa, rồi trong phút chốc, tự làm lễ mộc dục. Đó chính là
điềm linh ứng của Phật Di Lặc.
Vào mồng tám tháng hai năm 385,
dẫu thân không bịnh, Ngài bảo đồ chúng:
- Ta phải đi đây !
Nói xong, Ngài bèn ngồi kiết già
rồi thị tịch. Linh cữu được quàn tại chùa Ngũ Cấp ở Trường An.
Trước khi Ngài thị tịch, ẩn sĩ
Vương Gia thường qua lại vấn an. Ngài bảo Vương Gia:
- Thế sự loạn ly, bao điềm tai
họa thường giáng xuống thân ! Hãy cùng Ta rời khỏi thế gian này !
Vương Gia đáp:
- Thật đúng như lời của Ngài dạy
bảo. Tuy nhiên, con còn chút nợ chưa trả xong. Xin Ngài hãy đi
trước.
Đương thời, lúc dẫn quân đi công
phá Trường An, đại quân của Dao Trường cùng vớI đại quân trong
thành của Phù Đăng tranh hùng với nhau nhưng chưa phân thắng bại.
Bấy giờ, Dao Trường cho vời Vương Gia đến hỏi:
- Ta có chiếm được ngai vàng
không ?
Vương Gia nói:
- Lược đắc được.
Nghe lời này Dao Trường nổi giận
lôi đình, bảo:
- Được thì nói là được. Sao lại
bảo rằng lược đắc được ?
Nói xong, Dao Trường ra lịnh
chém đầu Vương Gia. Đó là món nợ mà Vương Gia phải trả. Dao Trường
vừa chết, con là Dao Hưng đánh bại Phù Đăng, và lên ngôi hoàng đế.
Tên tự của vua Dao Hưng là 'Lược'. Đó là ý nghĩa mà Vương Gia bảo
rằng lược đắc lên ngôi.
Trong quyển 'Cao Tăng Truyện'
thứ năm có ghi rằng đệ tử của ngài Đạo An là Đàm GiớI, vào lúc
tuổi già bịnh hoạn, thường trì tụng danh hiệu Phật Di Lặc. Đệ tử
của ngài Đàm Giới là Trí Chánh hỏi:
- Sao Sư Phụ không phát nguyện
vãng sanh qua cõi Tây Phương Cực Lạc ?
Ngài Đàm Giới bảo:
- Xưa kia, Ta đã từng cùng với
Hòa Thượng (ngài Đạo An) và tám huynh đệ khác phát nguyện vãng
sanh lên cung trời Đâu Suất. Hòa thượng Đạo An và các sư huynh đệ
của Ta đã vãng sanh rồi, chỉ còn Ta ở lại nơi đây. Hiện tại, chính
là lúc Ta phải gấp rút cầu vãng sanh lên cung trời Đâu Suất.
Nói vừa dứt lời thì một luồng
hào quang chiếu khắp toàn thân, khiến dung mạo của ngài Đàm Giới
an hòa tươi tỉnh, rồi an tường nhập tịch. Mộ của ngài Đàm Giới
cũng được xây ngay bên phải của phần mộ ngài Đạo An.
Ngoài ra, pháp hữu khi xưa của
Ngài là Trúc Pháp Phụ, tại chùa Thượng Minh ở Kinh Châu, cũng
thường lễ sám phát nguyện vãng sanh lên cõi trời Đâu Suất, cầu
mong ngưỡng kiến đức Từ Thị.
Đối với giới luật, ngài Đạo An
từng bảo:
- Giới luật là nền tảng căn bản
cho sự đắc đạo. Trong ba tạng kinh điển, giới luật chiếm địa vị
trọng yếu nhất.
Vào đời Tam Quốc, thời Tào Ngụy,
ngài Đàm Ma Ca La dịch bộ Tăng Kỳ Luật, rồi cùng với ngài Đàm Đế
dịch Tứ Phần Luật. Kế đến, hai ngài thiết pháp Yết Ma, đăng đàn
truyền giới. Đến đời của ngài Đạo An, giớI luật vẫn chưa được hoàn
chỉnh. Lúc trú tại Nghiệp Đô, ngài Đạo An tận lực học giới luật,
nhưng vì chiến loạn nên nguyện chưa thành. Khi tới Tương Dương rồi
qua Trường An, ngài Đạo An gặp được sa môn Đàm Ma Thị, vị chuyên
tu giới học, nên rất vui mừng. Vì vậy, Ngài cầu thỉnh sa môn Đàm
Ma Thị truyền đọc 'Thập Tụng Đại Tỳ Kheo Giới Bổn', và thỉnh sa
môn Trúc Phật Niệm cùng Trúc Đạo Hiền phiên dịch. Lại nữa, khi sa
môn Tăng Thống từ nước Câu Di mang quyển 'Thập Tụng Tỳ Kheo Ny
Giới Bổn' trở về thì ngài Đạo An cũng thỉnh hai sa môn Trúc Phật
Niệm và Trúc Đạo Hiền dịch quyển đó. Theo quyển 'Cao Tăng Truyện'
thì ngài Đạo An viết những điều luật cho tăng ni tu hành như sau:
"Chế độ quy thức của tăng ni, tức nghi thức tu hành, có ba điều lệ:
Thứ nhất là pháp hành hương tọa thiền, thượng kinh thượng giảng.
Thứ hai là pháp sáu thời hành đạo ẩm thực xướng thời. Thứ ba là
hành các pháp Bố Tát, sai sử, hối quá, v.v... Các chùa chiền tịnh
xá trong thiên hạ phải chấp hành theo phương thức này".
Nội dung của lời này không được
rõ ràng, nên quyển 'Tăng Sử Lược Giản Thuật' vào đời Tống giải
thích như sau: "Thứ nhất là hành hương, định những vị thượng tọa
đăng đàn giảng kinh. Thứ hai là phải sám hối trong sáu thời. Thứ
ba là hành các pháp Bố Tát".
Đối với pháp hành hương, có hai
loại: Thứ nhất, hành hương cũng là hành sự bố thí pháp; trong pháp
hộI, người ngồi nơi vị trí caoẠ phải nghiêm túc hành pháp này;
nghĩa là đăng đàn giảng kinh. Thứ hai, hành hương đơn thuần là chỉ
việc dâng hương cúng Phật để biểu lộ lòng thành triệt để. Kế đến,
'định thượng tọa' nghĩa là tăng lạp ít thì ngồi tu thiền định, còn
tăng lạp cao thì lên tòa giảng kinh. Đăng đàn giảng kinh là nghi
thức của Phật giáo được ngài Đạo An phát khởi. Trước khi lên đàn
giảng kinh phải dâng hương cúng Phật. 'Kinh Thượng Giảng' nghĩa là
phải giảng chi tiết, từng câu từng lời. Khi giảng kinh, phải hoạch
định phân rõ ba phần: Phần tựa, phần chánh tông, và phần lưu thông.
Mỗi mỗi phải y theo thứ tự mà giảng giải rõ ràng. Lại nữa, tại đàn
tràng giảng kinh phải thiết đặt tôn tượng Phật, và treo tràng phan
bảo cái.
Thứ hai, sáu thời lễ sám, tức là
trong sáu thờiẠ phải đi hành thiền và lễ bái chư Phật. Phải đi từ
bên phải mà kinh hành nhiễu Phật. Đây là lễ nghi của người Thiên
Trúc. Ngoài ra, ngài Đạo An còn tự viết văn lễ sám trong sáu thời
cho chư tăng ni tu hành.
Về phương diện ăn uống, mỗi ngày
chỉ dùng một buổi vào giờ ngọ. 'Xướng Thời Pháp' tức là tùy thời
mà xưng niệm danh hiệu Phật.
Thứ ba, hành Bố Tát, tức là chư
tăng vào mỗi nửa tháng vân tập tại giới đường, thi hành nghi thức
sám hối trước khi tụng giới. Nếu có vị tăng nào phạm giới, phải ra
trước tăng chúng mà cáo bạch, cầu xin sám hối. Chư tăng tùy theo
giới kinh trọng (nhẹ hay nặng) mà phân lường xử lý. Kế tiếp, một
vị tăng bước lên tòa tuyên đọc giới pháp, còn những vị khác phải
ngồi lắng nghe. Đây là pháp của đức Thế Tôn truyền dạy. Tại Trung
Thổ, do ngài Đạo An phát khởi, pháp Bố Tát mới thực sự được thi
hành. Về sau, pháp Bố Tát này ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển
của tăng đoàn Phật giáo.
Trước đời ngài Đạo An, các sa
môn người Tàu thường được vị thầy thế độ ban cho pháp danh, nên
hỗn tạp vô chừng mực. Ngài chủ trương rằng vị bổn sư của các Phật
tử xuất gia là Phật Thích Ca, nên các sa môn phải lấy danh tánh họ
Thích. Ngài nói:
- Không dòng họ nào tôn quý bằng
dòng họ Thích Ca của đức Bổn Sư.
Mới đầu, không ai màng đến lời
này của Ngài. Sau này, khi kinh Tăng Nhất A Hàm vừa được dịch ra
tiếng Tàu thì mọi người mới biết rõ rằng Phật dạy:
- Các sông ngòi chảy vào biển cả,
thì không còn danh tự của sông ngòi. Cũng vậy, tuy tên tục khác
nhau, nhưng các sa môn đều phải xưng là 'Thích' chủng.
Điều này thấy rõ lời của Ngài
hợp với kinh điển, nên kể từ đó, chư tăng đều lấy họ Thích làm đầu.
Chia tay với ngài Đạo An tại Tân
Dã, thầy Trúc Pháp Thái đến Dương Châu, trụ trì chùa Ngõa Quan tại
thành Kiến Nghiệp, rồi được các vua Đông Tấn cung kính tôn trọng,
và tụ hội hơn một ngàn đồ chúng, nên công nghiệp hoằng pháp được
hưng thịnh.
(Thầy Trúc Pháp Hòa chia tay với
ngài Đạo An tại Tân Dã xong, bèn qua đất Thục, rồi trở lại Trường
An cùng với ngài Đạo An tích cực hiệu đính những quyển kinh luật
đã được phiên dịch.)
Ngài Đạo An sanh nhằm thời chiến
tranh loạn lạc khắp nơi. Không những thức ăn hiếm hoi, mà ngay cả
sinh mạng luôn bị đe dọa. Sống trong thời loạn ly ấy, tuy đã bao
lần chạy lánh nạn đó đây, nhưng ngài Đạo An vẫn quyết chí tu hành
không gián đoạn, và tận tâm tận lực hoằng dương Phật pháp, đào tạo
các vị cao tăng như ngài Huệ Viễn, Đàm Dực, v.v..., cùng giáo hóa
tín đồ, xây dựng chùa chiền như chùa tháp ở Hằng Sơn, bảy gian
thiền đường ở phía đông chùa Thượng Minh, chùa Đàn Khê ở Tương
Dương với năm mươi tự viện. Bên cạnh những sự nghiệp này, ngài Đạo
An còn chuyên cần chú giải kinh điển, khiến cho người nghiên cứu
nắm rõ nghĩa lý chân chánh của kinh điển. Ngoài ra, Ngài lại y cứ
theo giới luật mà lập ra nền tảng tu trì căn bản cho tăng đoàn.
Trước thời ngài Đạo An, Phật
giáo Trung Quốc còn non nớt, chỉ nằm trong thời sơ kỳ. Công cuộc
phiên dịch kinh điển được ngài An Thế Cao và Chi Lâu Ca Sấm phát
khởi, rồi liên tiếp có nhiều nhà dịch giả khác tham gia. Tuy nhiên,
đối với những người có tâm nghiên cứu tu học, khi đọc những quyển
kinh điển được phiên dịch vào buổi sơ thời thì đa phần khó lãnh
hội ý chỉ, còn nói chi đạt được nghĩa lý thâm sâu. Thế nên, quyển
'Xuất Tam Tạng Ký Tập' ghi lại lời của ngài Đạo An như sau: "Kinh
điển được dịch đã lâu, mà văn kinh lại cổ điển và đôi khi sai lạc,
khiến cho nghĩa lý thâm sâu bị mai một ẩn mất, cùng thông bế tắt.
Mỗi lần đăng đàn giảng kinh, các vị pháp sư chỉ bàn về ý nghĩa một
cách đại khái".
Y cứ theo lời này, thời kỳ ban
đầu của Phật giáo Trung Quốc, về phương diện phiên dịch kinh điển,
gần như đã thành thục. Tuy nhiên, các bản dịch cổ xưa thường có
nhiều chỗ sai lầm, nên khiến lý lẽ thâm sâu bị mất đi, và ý nghĩa
cũng chưa được thông suốt rõ ràng. Do đó, người diễn thuyết kinh
điển được phiên dịch theo lối cổ xưa, thường giảng giải đại ý hoặc
chỉ tụng đọc. Thế nên, đối vớI nghĩa lý của kinh điển, hàng Phật
tử vào đương thờI khó lòng hiểu rõ chính xác.
Để hiểu rõ chân nghĩa của kinh
điển, Châu Sĩ Hành phải qua tận nước Vu Điền thỉnh cầu bản văn
kinh Phóng Quang Bát Nhã bằng tiếng Phạn. Tuy nhiên, bản dịch về
bộ kinh này cũng chưa lột trần được nghĩa lý thâm sâu, nên lúc
diễn giảng, ngài Đạo An chỉ thuyết về đại ý mà thôi. Vì vậy, đối
với các học giả Phật giáo, ngài Đạo An rất thông cảm cho nỗi khó
khăn này, nên lập chí nghiên cứu nghĩa lý chân thật, rồi đề xướng
những yếu điểm thâm sâu vi diệu của kinh điển, bằng cách chú thích.
Theo quyển 'Xuất Tam Tạng Thống Ký', ngài Đạo An chú thích và lược
giải những bộ kinh như sau: Quang Tán Bát Nhã sao giải (1 quyển),
Quang Tán Bát Nhã chiết trung giải (1 Quyển), Phóng Quang Bát Nhã
chiết nghi chuẩn (1 quyển), Phóng Quang Bát Nhã chiết nghi lược (2
quyển), Phóng Quang Bát Nhã khởi tận giải (1 quyển), Đạo Hạnh Kinh
tập dị chú (1 quyển), Đại Thập Nhị Môn chú (2 quyển), Tiểu Thập
Nhị Môn chú (1 quyển), Liễu Bổn Sanh Tử Kinh chú (1 quyển), Mật
Tích Kim Cang Kinh chân giải (1 quyển), Trì Tâm Phạm Thiên Kinh
chân giải (1 quyển), Hiền Kiếp Bá Vạn Tứ Thiên Độ Vô Cực kinh giải
(1 quyển), Nhân Bổn Dục Sanh Kinh chú toát giải (1 quyển), An Ban
Thủ Ý Kinh giải (1 quyển), Âm Trì Nhập Kinh chú (2 quyển), Đại Đạo
Địa Kinh chú (1 quyển), Thập Pháp Cú nghĩa (1 quyển), Nghĩa Chỉ
chú (1 quyển), A Tỳ Đàm Cửu Thập Bá Kết Kinh giải (1 quyển), Tam
Thập Nhị Tướng giải (1 quyển).
Ngài Đạo An trước tác những
quyển như sau: Tam Giới Chư Thiên Hỗn Nhiên Hào Tạp Lục (1 quyển),
Tổng Lý Chúng Kinh Mục Lục (1 quyển), Đáp Sa Thái Nạn (1 quyển),
Đáp Pháp Tương Nạn (2 quyển), Tây Vực Chí (1 quyển).
Thật sự, trong sử Phật giáo
Trung Quốc, ngài Đạo An được xưng tán là vị Sơ Tổ chú giải kinh
điển. Thế nên, trong quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' viết: "Làm sáng
nghĩa kinh điển cổ xưa, khởi đầu từ ngài Đạo An".
Không những chú giải kinh điển,
ngài Đạo An còn trước tác, soạn viết rất nhiều bài tựa, để thuật
lại kinh điển được dịch qua quá trình như thế nào, kinh điển này
từ đâu có, tiêu đề của kinh điển là gì, v.v... Mỗi mỗi kinh luật
luận, ngài Đạo An đều tự phát biểu kiến giải của mình. Những phần
tựa của Ngài, được viết lại trong quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' như
sau: An Ban Chú tự, Âm Trì Nhập Kinh tự, Nhân Bổn Dục Sanh Kinh tự,
Liễu Bổn Sanh Tử Kinh tự, Thập Nhị Môn Kinh tự, Đại Thập Nhị Môn
Kinh tự, Đạo Hạnh Kinh tự, Hợp Phóng Quang Quang Tán lược giải, Ma
Ha Bát La Nhã Ba La Mật Kinh sao tự, Tăng Nhất A Hàm Kinh tự, Đạo
Địa Kinh tự, Thập Pháp Cú Nghĩa Kinh tự, A Tỳ Đàm tự, Bính Bà Sa
tự, Tỳ Kheo Đại Giới tự.
Quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập'
viết: "Ngài Đạo An ghi chép lại kinh điển, vì muốn tuyên dương
giáo pháp. Ngài Đạo An lại thỉnh các sa môn ngoại quốc như Tăng
Già Bạt Trừng, Đàm Ma Nan Đề, Tăng Già Đề Bà, v.v... phiên dịch
rất nhiều kinh điển, rồi cùng với sư đệ Trúc Pháp Hòa chọn định
văn tự, xem xét tinh tường về chỉ thú của lời kinh. Các kinh điển
vừa được dịch, đều được hiệu đính, nhuận sắc theo cách đó".
Điều này cho thấy rằng ngài Đạo
An thường thỉnh chư tăng ngoại quốc phiên dịch kinh điển và cùng
với sư đệ là Trúc Pháp Hòa hiệu đính, nhuận sắc lại lời văn, để
xác định ý nghĩa chân thật của kinh điển.
Có ba việc khó khi phiên dịch:
Thứ nhất, lúc Phật còn tại thế, Ngài ứng theo căn cơ và tâm tánh
của quần chúng mà thuyết pháp. Phong tục của thời đại tùy theo
thời gian mà chuyển biến thay đổi. Vì vậy, trau chuốt lại lời văn
cổ xưa để hợp với lời văn hiện tại thật là khó. Thứ hai, phàm phu
khó suy lường cảnh giới của chư thánh hiền. Thánh giáo của Phật
thuyết ra đã trải qua ngàn năm và trăm đời, nên dịch cho hợp ý với
đức Phật và khiến phàm phu đời mạt pháp được dễ hiểu lời của Phật
thì thật là khó. Thứ ba, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất ngay
sau khi Phật nhập Niết Bàn do tôn giả Đại Ca Diếp triệu tập năm
trăm vị đại A La Hán, và tôn giả A Nan cùng tôn giả Ưu Ba Ly trùng
tuyên lại kinh luật của Phật dạy, đã qua ngàn năm. Thế nên, hiện
đời thật khó mà kiểm thảo lại văn kinh thay đổi, thêm bớt.
Do đó, theo lập trường của ngài
Đạo An thì khi phiên dịch kinh điển, phải giữ nguyên ý chỉ của văn
kinh tiếng Phạn.
Ngoài ra, ngài Đạo An còn có
công trong việc soạn viết mục lục cho các kinh điển đã được phiên
dịch, khiến cho học giả dễ dàng tra cứu về người dịch, niên đại,
v.v..., như quyển Tổng Lý Chúng Kinh Mục Lục. Thầy Huệ Kiểu sau
này y theo đó mà viết thêm: "Từ đời Hán, Ngụy đến Đông Tấn, kinh
điển được dịch không ít, nhưng tên của người dịch, niên đại, danh
tự của kinh không được kể rõ, khiến cho người sau khó lòng tra cứu.
Vì vậy, ngài Đạo An gom góp lại hết danh mục, viết niên biểu,
người dịch, thời đại, chương phẩm, mới cũ, và soạn thành kinh lục.
Kinh điển từ đó có nơi y cứ, thật do công của ngài Đạo An. Các học
sĩ ở bốn phương đều đua nhau tìm đến học hỏi nơi ngài Đạo An".
Theo lời này, trải qua các triều
đại, sa môn và cư sĩ từ Tây Vực qua nước Tàu, tùy tiện thuận tay
mà phiên dịch, nên các bản dịch lắm khi tạp loạn. Không những đôi
khi bản dịch chưa đủ thể tiết, mà người dịch và thời đại đều không
được ghi lại rõ ràng. Thế nên, để hoàn bị công tác biên tập mục
lục, ngài Đạo An kiểm thảo lại những kinh điển mới được phiên dịch,
viết rõ danh tánh dịch giả, thời đại, nơi chốn, và phán xét phân
biệt kinh điển chân chánh hay tà ngụy.
Tuy nhiên, quyển 'Tổng Lý Chúng
Kinh Mục Lục' đã bị thất lạc, không thể tìm được. Hiện nay trong
quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' của thầy Tăng Hữu, từ quyển hai đến
quyển năm có viết lược lại nội dung và thể tiết của quyển 'Tổng Lý
Chúng Kinh Mục Lục'. Do đó, mục lục của các kinh điển cổ xưa hiện
vẫn còn nằm trong quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' của thầy Tăng Hữu.
Giả như không có quyển 'Tổng Lý Chúng Kinh Mục Lục' của ngài Đạo
An, thì e rằng thầy Tăng Hữu khó lòng mà soạn ra quyển 'Xuất Tam
Tạng Ký Tập'.
Ngoài ra, ngài Đạo An còn viết
quyển 'Tịnh Độ Luận', nhưng tiếc rằng đến nay đã bị thất lạc. Tuy
chưa từng qua Tây Vực, nhưng nhờ tài trí bác học, ngài Đạo An ghi
lại địa lý, sản vật, dân tình, hiện tình Phật giáo tại Tây Vực, do
các sa môn cư sĩ Tây Vực khẩu truyền lại, mà viết thành quyển ký
lục 'Tây Vực Chí', rất là chính xác.
I. Ngài Huệ Viễn,
sơ tổ tông Tịnh Độ
[^]
Đại đệ tử của ngài Đạo An đương
nhiên là Huệ Viễn. Ngài Huệ Viễn vốn là đệ tử thượng thủ, và là
cánh tay phải đắc lực nhất của ngài Đạo An. Khi loạn lạc ở Tương
Dương phát khởi, ngài Huệ Viễn cùng vài mươi đệ tử đến núi Lô Sơn
tu hành. Nhờ chuyên tâm nỗ lực, ngài Huệ Viễn thành công trong
việc nghiên cứu và tu học ba môn giới định huệ. Về những phương
diện thiết lập nền tảng căn bản khiến các Phật tử phát khởi tín
tâm mà tu hành, đa phần đều nhờ công lao của ngài Huệ Viễn, điển
hình là việc sáng lập tông Tịnh Độ, niệm Phật cầu vãng sanh qua
cõi Tây Phương Cực Lạc.
Năm 401, ngài Cưu Ma La Thập vào
Trường An, phiên dịch kinh điển và truyền bá tư tưởng Không Quán
Bát Nhã của ngài Long Thọ và Đề Bà.
Đương thời, tại Lô Sơn, ngài Huệ
Viễn, nghiêm trì giới luật, tu hành thiền định, lại âm thầm bồi
dưỡng các bậc danh tăng tài đức. Ngài tiếp thừa pháp thiền quán và
lý Bác Nhã do ngài Đạo An sáng lập.
Ngài sanh năm 334, vốn là người
Lâu Phiền ở Nhạn Môn, tục tánh họ Cổ, xuất từ dòng dõi sĩ phu. Khi
Ngài xuất sanh, chính nhằm vào lúc ngài Phật Đồ Trừng đang được
Thạch Lặc và Thạch Hổ của Hậu Triệu tôn sùng, cùng làm cố vấn cho
họ. Sau này, Ngài theo Đạo An, đệ tử của ngài Phật Đồ Trừng, mà
học đạo. Bấy giờ, Thạch Hổ đã cho phép người Tàu xuất gia chính
thức. Đương thời, tuy dưới mắt người Tàu, Thạch Hổ là một kẻ quân
vương vô đạo, nhưng ông lại rất trọng văn chương, nên tại Nghiệp
Đô sáng lập ngũ kinh bác học, mà mạnh nhất là Nho giáo.
Thời niên thiếu, Ngài không
những thừa thọ sự giáo hóa của Nho giáo, mà còn chịu ảnh hưởng sâu
sắc về tư tưởng Phật giáo. Tuy tuổi nhỏ, nhưng Ngài miệt mài học
tập không ngừng; thiên tánh của Ngài thật vượt phàm nhân. Năm mười
ba tuổi, Ngài theo người cậu là Linh Cô đến Hứa Xương, Lạc Dương
cầu học. Thế nên, Ngài được học lục kinh cổ điển cùng tư tưởng Lão
Trang. Thâm ý của người cậu là muốn Ngài theo đuổi quan trường,
làm rạng rỡ tông môn. Từ năm mười ba tuổi đến năm hai mươi mốt
tuổi là thời kỳ mà Ngài chuyên học cổ điển thư tịch. Phong thái và
kiến thức của Ngài thật cao tột, và là bậc nho gia anh tài, khiến
người đương thời thường khâm phục.
Trước năm 350, ngài Phật Đồ
Trừng đã viên tịch, và Tăng Lãng đã vào núi Thái Sơn. Thạch Hổ vừa
mất, Trung Thổ rối loạn tơi bời, giặc giã nổi lên như châu chấu,
khiến dân chúng lầm than đói khát, thậm chí ăn thịt lẫn nhau. Thế
nên, đa số các danh sĩ cùng các sa môn thường di cư về miền Giang
Nam. Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài cũng quyết định xuôi vào Giang
Nam, theo Phạm Tuyên Tử, học phép thuật ẩn độn. Tuy nhiên, thế
cuộc lúc bấy giờ đang hỗn loạn, khiến đường vào nam bị cắt đứt,
nên Ngài không thể thực hiện được ý nguyện. Trên đường đi, nghe
thanh danh của ngài Đạo An đang tuyên dương Phật pháp tại núi Thái
Hành, nên Ngài lại đổi ý, đến đó tham vấn tu học. Bấy giờ, đi cùng
với Ngài là người em Huệ Trì. Vừa mới gặp mặt ngài Đạo An thì Ngài
liền khởi tâm cung kính, hoan hỷ nói:
- Đây chính là thầy của Ta !
Lúc nghe ngài Đạo An giảng kinh
Bát Nhã, ngài Huệ Viễn bèn chợt khai ngộ, nên bảo:
- Học thuyết của Nho giáo, Đạo
giáo, và bách gia đều là tấm cám !
Vì vậy, cùng vớI bào đệ Huệ Trì,
Ngài quyết định ném phứt tất cả sở học Lão Trang, Nho Giáo, theo
ngài Đạo An xuống tóc xuất gia, tu học Phật pháp. Từ đó, ngài Huệ
Viễn luôn luôn theo hầu cận ngài Đạo An suốt hai mươi lăm năm
trường. Xuất gia xong, Ngài chuyên cần tinh tấn tu hành, tinh
tường nghiên cứu và tụng đọc kinh điển, khiến trở nên bậc thông
thái, hiểu rõ hết Phật pháp, và tự nhận lấy trọng trách hoằng
dương chánh pháp. Đối với một người tinh thông tư tưởng Lão Trang
cùng các cổ kinh điển tích như ngài Huệ Viễn, mà xả tục xuất gia,
thì thật phải có tâm dõng mãnh mới làm được.
Xưa kia, nhờ người chú cấp dưỡng,
Ngài mới được học hành an ổn. Trở thành tăng sĩ, không được ai chu
cấp nên nghèo cùng túng quẩn, đến độ không có tiền để mua vải may
y ca sa, hay y phục mặc vào mùa đông giá lạnh. Song, đối với sự tu
hành, huynh đệ ngài Huệ Viễn không bao giờ biếng nhác. Đồng đạo là
Đàm Dực, biết được việc này, bèn trợ giúp cho họ tịnh tài. Biết
Huệ Viễn vốn là phi phàm, tương lai sẽ trở thành bậc long tượng,
và biết việc Đàm Dực hỗ trợ tiền tài, nên ngài Đạo An khen ngợi:
- Đàm Dực thật là người biết rõ
kẻ khác !
(Đàm Dực xuất gia vào năm mười
sáu tuổi, và sau này theo ngài Đạo An đến chùa Đàn Khê, rồi lại
tới trùng hưng chùa Trường Sa ở Giang Lăng.)
Khác với phàm nhân, tinh thần
của ngài Huệ Viễn cao tột, trí huệ thâm sâu, ý chí hằng cầu đạo Bồ
Đề. Vì vậy ngài Đạo An tán thán:
- Đạo pháp được lưu truyền nơi
Đông Độ, chính là nhờ nơi Huệ Viễn này đây !
Thật đúng như lời nhận định này,
đối với lịch sử Phật giáo Trung Quốc, ngài Huệ Viễn để lại một sự
nghiệp vĩ đại, khiến nền móng căn bản mà ngài Đạo An đã định đặt,
được khai triển rộng rãi.
Nhờ nghe ngài Đạo An giảng kinh
Bát Nhã, ngài Huệ Viễn mới quyết chí ném bỏ học thức Lão Trang để
xuất gia tu học Phật pháp. Trong lá thư đáp lời ẩn sĩ Lưu Di Dân,
Ngài viết rằng hồi tưởng lại lúc xưa hướng tâm về học thuật thế
tục của Nho giáo, lầm nhận là chân lý tối cao trên thế gian, nhưng
sau khi xem qua tư tưởng Lão Trang, thì mới biết Nho giáo bất quá
chỉ là nghị luận hư vọng biến chuyển theo thế tình. Lại nữa, khi
vừa nghiên cứu Phật pháp, thì tự phán xét rằng giáo lý của Phật
pháp lại càng u huyền thâm sâu triệt để hơn tư tưởng của Lão Trang.
Lần nọ, vào năm hai mươi bốn
tuổi, Ngài đăng đàn giảng kinh Bát Nhã. Một đạo sĩ nọ, vì chưa
hiểu rõ nghĩa của 'Thật tướng', nên đến vấn hỏi. Ngài dẫn dụng văn
cú của Lão Trang để thuyết minh về những điểm thiết yếu, cùng giải
thích những điều nghi vấn, khiến người kia được lãnh hội yếu chỉ.
Từ đó, ngài Đạo An đặc biệt cho phép Ngài dẫn dụng những câu cú cổ
điển để diễn giảng Phật pháp. Các sư huynh đệ như Pháp Ngộ, Đàm
Huy, v.v... cũng tham dự buổi giảng kinh đó, rất là thán phục Ngài.
(Pháp Ngộ, đệ tử của ngài Đạo
An, 'ngộ giải phi thường', năng lực cao tuyệt. Năm 377, tại chùa
Trường Sa ở Giang Lăng, Pháp Ngộ giáo hóa hơn bốn trăm đồ chúng.
Đàm Huy xuất gia vào năm mười
sáu tuổi. Tuy chưa trưởng thành mà đã từng đăng đàn giảng kinh.
Sau này, Đàm Huy là người đệ tử kiệt xuất của ngài Đạo An tại chùa
Thượng Minh ở Kinh Châu.)
Những vị đệ tử kiệt xuất của
ngài Đạo An như Pháp Ngộ và Đàm Huy, v.v... thường rất kính phục
tài năng của ngài Huệ Viễn. Điều này hiển thị tài năng xuất chúng
của ngài Huệ Viễn cao tột đến bậc nào.
Lúc trú tại núi Hằng Sơn, vì
loạn Nhiễm Mẫn (340), xã hội bất an, nên ngài Đạo An phải đến
Vương-ốc ở núi Nữ Ngột. Nơi đó, trú ẩn chẳng bao lâu, lại vượt
sông Hoàng Hà đến Lục Hồn. Gặp thiên tai hỏa nạn, thiếu thốn thức
ăn, cùng lúc Mộ Dung Tuấn đang vây hãm Lục Hồn, nên ngài Đạo An
phải chuyển hướng đến Tân Dã. Nơi đó cũng bất an, nên ngài Đạo An
bảo sư đệ là Trúc Pháp Thái hãy qua Dương Châu, và Trúc Pháp Hòa
hãy vào đất Thục, rồi tự dẫn đồ đệ đến Tương Dương. Đương thời,
ngài Đạo An được năm mươi bốn tuổi, còn ngài Huệ Viễn được ba mươi
hai tuổi. Trong hai mươi lăm năm trường, Huệ Viễn luôn theo sát
ngài Đạo An để tu học kinh Bát Nhã, kinh An Ban Thủ Ý, kinh Âm Trì
Nhập, v.v... để làm nền tảng tu hành cùng tu tập thiền quán Tiểu
Thừa. Đối với ngài Đạo An, kinh Bát Nhã của Đại Thừa cùng thiền
quán Tiểu Thừa, đều là giáo pháp của Phật Thích Ca truyền lại,
chẳng có chút mâu thuẫn. Giáo lý thì căn cứ trên kinh điển Đại
Thừa. Về phương diện thực tiễn, dùng kinh điển Tiểu Thừa làm quy
thức căn bản.
Thời gian trú tại Tương Dương,
kiến giải của Huệ Viễn cũng tương đồng với ngài Đạo An.
Năm 378, lúc Tần Vương Phù Kiên
sai quân đánh chiếm Tương Dương, thái sử Lương Châu là Châu Tự
phòng vệ cẩn mật, nhưng qua năm sau Tương Dương thất thủ. Châu Tự
bị giải về Trường An. Vì tâm cung kính, nên Phù Kiên cũng cho vời
ngài Đạo An đến Trường An. Do đó, giáo đoàn của ngài Đạo An bắt
buộc phải bị phân tán. Trong lúc chia tay, ngài Đạo An ân cần
khuyến nhủ tất cả đệ tử lâu năm, nhưng chẳng hề nói lời gì đến
ngài Huệ Viễn. Vì vậy, ngài Huệ Viễn quỳ xuống, thưa:
- Chỉ có một mình con là chưa
được Thầy dạy bảo. Tại sao con lại khác với các sư huynh đệ kia ?
Ngài Đạo An cười đáp:
- Người tài trí như con, thì
Thầy còn gì để lo lắng cho nữa ? Vì vậy Thầy chẳng cần dặn dò điều
chi.
Từ đó, đối với ngài Huệ Viễn,
ngài Đạo An không còn dạy dỗ điều gì. Sau đó, ngài Huệ Viễn và Huệ
Trì, cùng với vài mươi người đệ tử, đồng đến trú tại chùa Thượng
Minh ở Kinh Châu. Đương thời, đệ tử của ngài Đạo An là Tăng Phụ
đang giữ chức trụ trì chùa Thượng Minh. Ngôi chùa này, đối với chư
đệ tử của ngài Đạo An, thật là một tự viện phát khởi pháp duyên
thù thắng. Nơi đó, Đàm Dực được thái thú Trường Sa là Thắng Hàm
cúng dường chùa Trường Sa.
Trú tại chùa Thượng Minh ở Kinh
Châu chẳng bao lâu, ngài Huệ Viễn bèn qua núi La Phù. Trước kia,
núi La Phù là nơi mà ngài Đạo An chỉ định cho ngài Huệ Viễn cùng
sư huynh đệ là Huệ Vĩnh đồng cư trú tu hành. Trên đường xuôi vào
nam, tại Tầm Dương ở Giang Tây, ngài Huệ Viễn thấy núi Lô Sơn tịch
tĩnh lạ thường và thật là thắng cảnh tu hành tuyệt vời, có thể
giúp an tâm thiền quán. Do đó, ngài Huệ Viễn chọn tịnh xá Long
Tuyền làm nơi cư trú và tu hành. Vì ngôi tịnh xá cách xa nguồn
suối, nên thiếu nước. Ngài Huệ Viễn bèn ra ngoài tịnh xá, chống
cây tích trượng trên đất, bảo:
- Nếu Ta có duyên với ngọn núi
này, thì nơi đây hãy vụt ra dòng suối.
Nói vừa dứt lời, từ dưới đất đột
nhiên vụt ra dòng suối trong vắt. Chẳng bao lâu, vùng Tầm Dương bị
nạn hạn hán. Ngài Huệ Viễn bèn ra gần bờ ao, tụng kinh Hải Long
Vương. Đang lúc tụng kinh, đột nhiên một con thuồng luồng từ giữa
hồ bay thẳng lên hư không, rồi mưa xuống tràn đầy, khiến dân chúng
thu hoạch trúng mùa. Từ đó, tịnh xá Long Tuyền được đổi tên thành
chùa Long Tuyền.
Khi ấy, thấy tịnh xá chật hẹp,
nên đồng môn là Huệ Vĩnh, thỉnh mời ngài Huệ Viễn sang cùng chung
trú ở tại chùa Tâm Lâm. Quan thứ sử Hoàn Y cũng nói:
- Ngài Huệ Viễn vào nam vốn là
hoằng dương chánh pháp. Tăng chúng theo Ngài, ngày càng đông đảo.
Tuy tôi muốn cúng dường tăng chúng, nhưng khổ nổi, tịnh xá kia lại
quá chật hẹp.
Do đó, ông kiến lập thêm một
ngôi chùa bên phía đông của núi Lô Sơn, mà sử gọi là chùa Đông Lâm,
để làm nơi cư trú cho ngài Huệ Viễn.
Lần nọ, một ngư dân bẩm tấu với
thứ sử Quảng Châu là Đào Khản rằng thường thấy trên mặt biển có
một ánh sáng thần dị phóng ánh hào quang liên tiếp cả mười ngày.
Đào Khản nghe thế bèn đích thân đến nơi đó mà xem xét. Ông ta nhìn
thấy tượng Phật do vua A Dục tạo đang nổi trên mặt biển và tỏa ánh
hào quang. Vì vậy, ông cung thỉnh về chùa Hàn Khê ở Võ Xương. Ngày
nọ, thầy Tăng Trân, vị trụ trì của chùa Hàn Khê, rời chùa đến Hạ
Khẩu. Vào lúc ngủ, Thầy mơ thấy chùa Hàn Khê bị cháy rụi, mà chỉ
có gian thất thờ tượng Phật, nhờ long thần vây nhiễu hộ trì, mà
vẫn còn nguyên vẹn. Tỉnh dậy, thầy Tăng Trân vội trở về chùa, thì
thấy nơi nơi đều bị cháy rụi, mà chỉ còn gian thất thờ tượng Phật
là y nguyên. Sau này, Đào Khản qua Giang Châu nhận chức thứ sử,
nên ông ta sai người đến thỉnh về. Tượng Phật vừa được đặt lên thì
thuyền bèn bị chìm. Đào Khản từ lúc trẻ đã nổi danh là một võ
tướng tài ba. Tuy nhiên, vì thiếu tâm tín thành, và chỉ thỉnh
tượng bằng sức lực, nên không được như ý nguyện. Sau này, con của
Đào Khản là Đào Phạm, nghe ngài Huệ Viễn sáng lập chùa Đông Lâm,
bèn nhất tâm phụng thỉnh tượng Phật đến chùa đó mà phụng thờ.
Trước kia, tượng Phật nặng nề khiến thuyền phải chìm, mà nay nhờ
lòng chân thành, tượng Phật lại nhẹ bẵng, nên được thỉnh về chùa.
Câu chuyện này hiển thị lực thần thông và đức hạnh thâm cao của
ngài Huệ Viễn.
Tại chùa Đông Lâm, ngài Huệ Viễn
cũng lập ra một thiền đường, để cùng các hành giả tu thiền quán.
Năm 383, sa môn Tăng Già Đề Bà
đến Trường An, phiên dịch quyển A Tỳ Bát Kiền Độ Luận. Năm 385,
ngài Đạo An nhập tịch tại Trường An. Năm 386, ngài Huệ Viễn xây
xong chùa Đông Lâm. Sau khi Hậu Tần Phù Kiên diệt vong, sa môn
Tăng Già Đề Bà cùng với Pháp Hòa đến Lạc Dương. Kiểm thảo những
bản dịch xưa thấy có nhiều chỗ sai lầm, nên Pháp Hòa thỉnh sa môn
Tăng Già Đề Bà hiệu đính lại. Đến đời Dao Hưng, Pháp Hòa trở về
Trường An.
Trước đời ngài Đạo An, đã có các
dịch giả phiên dịch những bộ luận của phái Nhất Thiết Hữu Bộ,
nhưng chưa hoàn bị. Vì đã từng nghiên cứu kinh tạng, nên ngài Huệ
Viễn luôn muốn cầu thỉnh sa môn ngoại quốc dịch lại những bộ kinh
luận đó. Nghe tin sa môn Tăng Già Đề Bà đã đến Lạc Dương ngài Huệ
Viễn bèn thỉnh mời về Lô Sơn vào năm 391. Nơi đó, sa môn Tăng Già
Đề Bà dịch luận A Tỳ Đàm của ngài Pháp Thắng và quyển Tam Pháp Độ
Kinh của ngài Thế Hiền. Hai bộ luận này thuộc về phái Nhất Thiết
Hữu Bộ. Tuy nhiên, kinh văn của sa môn Tăng Già Đề Bà thật đơn sơ,
chưa được trau chuốt, chỉ chuyên ròng giữ nguyên ý. Vì đã từng học
tập luận A Tỳ Đàm của Tiểu Thừa dưới tòa của ngài Đạo An, ngài Huệ
Viễn xem hai quyển kinh luận này như bảo vật, mà gia công nhuận
sắc trau chuốt lời văn.
Ngài Huệ Viễn tuy thích tu thiền
quán, nhưng pháp thiền ở vùng Giang Nam chưa được thịnh hành, nên
phái đệ tử là Pháp Tịnh, Pháp Lãnh sang Tây Vực cầu kinh điển
thiền pháp. Sau này, thiền pháp được truyền sang Trung Thổ, do sa
môn Phật Đà Bạt Đà La (đệ tử của đại thiền sư Phật Đại Tiên) mang
qua.
Trí Nghiêm vốn là người Tàu.
Thầy sang nước Kế Tân, theo học thiền quán với sa môn Phật Đại
Tiên ba năm, và tu đạo chứng quả trong mười năm. Thiền định của
Trí Nghiêm được đại thiền sư Phật Đại Tiên thường tán thán. Chư
tăng xứ Kế Tân thấy lòng chân thành cầu pháp của Trí Nghiêm nên
rất khen ngợi. Đương thời, đại thiền sư Phật Đại Tiên là vị tu trì
rất nhiều kinh điển về thiền quán. Do lòng thành cầu khẩn của Trí
Nghiêm, đệ tử của đại thiền sư Phật Đại Tiên là ngài Phật Đà Bạt
Đà La đồng ý sang Đông Độ để truyền pháp thiền.
Đối với kinh điển thiền quán
Tiểu Thừa, vào đời Hán có ngài An Thế Cao dịch kinh Thập Nhị Môn,
An Ban Thủ Ý. Tuy nhiên, kinh điển thiền quán của Đại Thừa vẫn
chưa hoàn toàn được phiên dịch hết. Sau này, do Tăng Duệ thỉnh cầu,
ngài Cưu Ma La Thập dịch quyển Tọa Thiền Tam Muội. Quyển kinh này
có bốn mươi ba bài kệ, do ngài Cưu Ma La Đà tạo. Hai mươi bài kệ
cuối cùng do ngài Mã Minh tạo. Đối với bộ kinh thiền chánh thống
này, ngài Huệ Viễn gia công thực tập tu hành.
Sau này, tại Trung Thổ, kinh
điển thiền quán mà đại thiền sư Phật Đại Tiên thường hành trì,
được sa môn Phật Đà Bạt Đà La phiên dịch. Vượt biển từ nước Kế Tân
đến Thanh Châu ở bán đảo Sơn Đông, Phật Đà Bạt Đà La lại qua
Trường An. Tuy nhiên, đệ tử của ngài Cưu Ma La Thập là Đạo Hằng
dâng biểu lên triều đình, bảo rằng ngôn hạnh của Phật Đà Bạt Đà La
thô thiển, chỉ mê hoặc chúng dân, đi ngược lại giới luật của Phật,
v.v..., nên không thể ở lại Trường An. Nghe những lời này, Phật Đà
Bạt Đà La bảo rằng thân mình nhỏ như loài bọt bèo, nhưng đến đi tự
do. Tuy vậy, vì nguyện chưa hoàn thành, nên cảm thấy nuối tiếc.
Sau này, Phật Đà Bạt Đà La cùng với Huệ Quán và hơn bốn mươi người
khác đến Lô Sơn vào năm 411. Đối với sự kiện tại Trường An, lỗi
nơi môn đệ chứ chẳng phải lỗi ở Phật Đà Bạt Đà La. Đã lâu nghe qua
thanh danh của Phật Đà Bạt Đà La, lại nghe tin vị sa môn này đến
núi Lô Sơn, nên ngài Huệ Viễn rất hoan hỷ ra nghinh đón. Kế đến,
ngài Huệ Viễn viết thơ nhờ đệ tử là Đàm Ung đưa cho vua Dao Hưng
cùng tăng chúng tại Trường An, để giải oan cho Phật Đà Bạt Đà La.
Ngoài ra, Huệ Viễn còn thỉnh Phật Đà Bạt Đà La dịch kinh Tu Hành
Phương Tiện Thiền.
Kinh điển thiền quán do Phật Đà
Bạt Đà La phiên dịch làm nền tảng căn bản cho sự hưng thịnh của
pháp thiền tại vùng Giang Nam. Xưa kia, những kinh điển thiền quán
do ngài An Thế Cao và Trúc Pháp Hộ dịch, được Tăng Tiên và Đàm Du
khởi xướng tu hành thực tiễn. Lúc Trí Nghiêm qua Tây Vực cầu pháp,
Thầy thỉnh mời được Phật Đà Bạt Đà La qua đến Trung Thổ. Từ đó, ở
Trung Thổ, kinh điển thiền quán mới được dịch, rồi do Huyền Cao và
Huyền Thiệu tương tục kế thừa tu hành.
Tại Giang Nam, do ngài Huệ Viễn
tu hành thiền pháp thành thục, nên pháp thiền cũng được hưng thịnh.
Các kinh điển thiền quán do Phật Đà Bạt Đà La phiên dịch, ảnh
hưởng rất lớn đến sự tu hành thiền quán của ngài Huệ Viễn. Lại nữa,
Bát Nhã Đài và Phật Ảnh Quật được xây dựng trước lúc thành lập
chùa Đông Lâm, đều do ảnh hưởng tư tưởng của Phật Đà Bạt Đà La.
Theo truyền thuyết, tại núi Nam
Sơn ở nước Na Gia Ha La (Nagarahara) có bóng ảnh của Phật đà xưa
kia đã từng chế phục rồng độc. Tin này do sa môn Phật Đà Bạt Đà La
và Tăng Già Đề Bà khẩu truyền, cùng ngài Pháp Hiển viết lại sau
chuyến hành hương sang Thiên Trúc. Tin tưởng vào lời của những vị
này, ngài Huệ Viễn thể hội thâm sâu rằng sự cảm ứng giữa Phật và
chúng sanh vượt ngoài không gian và thời gian. Ngài xác tín rằng
nếu vẽ được bóng ảnh Phật đà thì sẽ khiến cho người xem khởi tâm
quán tưởng tượng Phật tức thấy được Phật mà sanh tâm chánh tín. Do
đó, Ngài ra sau lưng núi, chọn một địa điểm kế bên dòng suốt để
xây ngôi Phật Ảnh Quật (hang có bóng hình Phật, được xây theo lối
kiến trúc của Thiên Trúc và Tây Vực), rồi theo lờI diễn tả mà
tưởng tượng, vẽ ra một bức tranh Phật. Nhìn xa xa, bức tranh đó có
lúc ẩn có lúc hiện trong làn sương khói.
Sáng lập Niệm Phật Xã (cũng được
gọi là Bạch Liên Xã vì ở hai bên phía đông và tây gần Bát Nhã Đài
có hai hồ sen trắng, nên mới có danh hiệu đó. Đồng thời, hoa sen
cũng tượng trưng cho thân tâm của người tu hành; khi đạt được giải
thoát tức là vượt khỏi bùn nhơ phiền não;) ngài Huệ Viễn được hậu
thế tôn sùng là sơ tổ tông Tịnh Độ. Vào tháng bảy năm 402, ngài
Huệ Viễn và một trăm hai mươi ba người như Lưu Di Dân, Trương Dã,
Điều Tích Chi, v.v... (đa số là cư sĩ tại gia), đồng hội tụ trước
tượng Phật A Di Đà tại tịnh xá Bát Nhã Đài, phát nguyện tu niệm
Phật tam muội (y theo kinh Ban Chu Tam Muội) để cầu vãng sanh qua
cõi Tây Phương Cực Lạc. Tín chúng vân tập tại nơi đó, tin tưởng
rằng nghiệp báo thiện ác liên hệ cả ba đời. Vì vậy, ngày đêm họ
chuyên cần tu tịnh nghiệp, nhất tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà,
để cầu được vãng sanh. Đầu tiên, mỗi người đều tự tu hành riêng.
Sau này, ngài Huệ Viễn nhóm tụ tất cả mọi người trong Niệm Phật Xã,
mà đồng chuyên tu niệm Phật với nhau để sớm có hiệu quả. Ngài Huệ
Viễn cũng viết bài Pháp Xã Tiết Độ Tự (hiện nay không còn) để quy
định pháp thức tu hành niệm Phật cho tăng chúng và cư sĩ.
Trong bài 'Niệm Phật Tam Muội
Thi Tập Tự', ngài Huệ Viễn viết rằng gọi là tam muội vì mọi tư
tưởng và tâm niệm đều tập trung chuyên nhất, nên dẹp trừ được hết
mọi vọng tưởng. Tư tưởng chuyên nhất thì ý niệm không phân tán,
nên vọng tưởng được tiêu trừ, và hơi thở cũng nhẹ nhàng, tinh thần
cũng lắng đọng, khiến tự tâm thấu suốt muôn việc. Công đức niệm
Phật tam muội thật vô lượng, mà hành trì lại dễ dàng. Niệm Phật
tam muội lại rất thích hợp với bi nguyện ứng hóa cứu độ chúng sanh
của chư Phật. Niệm Phật rời tâm phân biệt, tức là nhập vào tam
muội. Nếu nhập vào niệm Phật tam muội và thấy được Phật, thì phiền
não tự tiêu trừ, và các sự mê hoặc cùng nghiệp lực thâm sâu cũng
bị cắt đứt. So sánh niệm Phật tam muội với những tam muội khác thì
pháp này thù thắng hơn hết. Chủ trương của ngài Huệ Viễn là niệm
Phật phải thấy được Phật trong định tam muội.
Trong quyển 'Đại Thừa Đại Nghĩa
Chương' có ghi lại các lời đàm luận và vấn đáp về niệm Phật tam
muội giữa ngài Cưu Ma La Thập và Huệ Viễn. Thật ra, pháp niệm Phật
tam muội của ngài Huệ Viễn vốn y cứ theo chương Niệm Phật trong
quyển kinh Ban Chu Tam Muội. Hạnh Phẩm trong kinh Ban Chu Tam Muội
bàn về pháp niệm Phật tam muội. Trong đó có nói rõ niệm Phật tam
muội giống như trong mộng thấy Phật, và thỉnh vấn nơi Phật, khiến
dẹp trừ những sự nghi hoặc. Nghĩa là Phật hiện trong định do đạt
được niệm Phật tam muội, tương đồng với trong mộng thấy Phật. Tất
cả đều xuất phát từ tâm tưởng mà ra. Kinh Ban Chu Tam Muội thuyết
rằng nếu y theo giới mà tu trì không hủy phạm, thì nhờ năng lực
của hành giả và thần thông oai lực của chư Phật, sẽ đắc được định.
Đối với việc thấy được chư Phật
khi chứng được niệm Phật tam muội, ngài Cưu Ma La Thập bảo rằng có
ba trường hợp: Thứ nhất, sau khi đã đắc được thiên nhãn thông và
thiên nhĩ thông, chư Bồ Tát có thể đi khắp mười phương, thỉnh cầu
chư Phật thuyết pháp mà đoạn trừ nghi vấn. Thứ hai, người chưa có
năng lực thần thông, nhưng nhờ thường niệm Phật A Di Đà mà tâm
chuyên chú một nơi, thì sẽ thấy được Phật và dẹp trừ nghi hoặc.
Thứ ba, lúc tu pháp niệm Phật, dầu đã xa lìa tham dục hay chưa,
ngay trong mộng tự thấy được chư Phật vào đời quá khứ, hiện tại,
vị lai. Ba điều đó được gọi là niệm Phật tam muội.
Ban Chu Tam Muội là phương pháp
tu hành rất hiệu nghiệm cho chư Bồ Tát chưa xả tham dục. Đây là
pháp tu hành căn bản, khiến chuyên chú niệm Phật, đắc được tam
muội, mà thấy được Phật. Kinh Ban Chu Tam Muội thuyết rằng người
tu niệm Phật tam muội, quyết rời ngôn ngữ, chỉ chuyên tâm nhất ý,
thường nhớ niệm Phật A Di Đà tại cõi Tây Phương, phóng ánh hào
quang sáng soi khắp cả mười phương. Trong kinh thường nói rằng
thân của chư Phật không do các duyên mà sanh, chẳng có tự tánh,
nên rốt ráo tịch tĩnh, như huyễn như hóa. Hiểu được như thế thì
niệm Phật để đắc được tam muội tức sẽ thấy Phật, thật không hư dối.
Đương thời, vì kinh Vô Lượng Thọ
chưa được dịch, nên ngài Huệ Viễn chỉ y cứ vào kinh Ban Chu Tam
Muội do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch, mà tu hành niệm Phật tam muội.
Năm 402, ngài Huệ Viễn sáng lập
Niệm Phật Kết Xã, khiến thu hút rất nhiều ẩn sĩ. Đương thời, các
vương quốc Hồ tộc tại vùng Hoa Bắc cứ tiếp nối nhau hưng thạnh rồi
suy vong. Triều Đông Tấn tại Giang Nam cũng bị suy vi cùng tột:
Tôn Ân phản loạn; Hoàn Huyền mưu phản. Đó là điềm diệt vong của
một triều đại. Những người chán chường thế cuộc tao loạn, thích
tìm nơi ẩn cư trong chốn rừng núi, ngày một đông. Ngoài ra, vào
lúc sơ thời triều Đông Tấn, phong trào thanh đàm chí hướng ẩn dật
rất thạnh hành, mà tại Hội Kê ở Giang Nam, người khởi xướng là Chi
Độn. Cuối đời Đông Tấn, do Tôn Ân phản loạn, nên khiến xã hội rối
loạn bất an. Vì vậy, Lô Sơn, ngọn núi nằm trong lưu vực sông
Trường Giang, là nơi các ẩn sĩ thường để tâm đến. Không những có
phong cảnh tao nhã tịch tĩnh u huyền, mà Lô Sơn lại là nơi không
khuất phục quyền thế của triều đình, cùng có ngài Huệ Viễn thường
cư trú. Hoàn Huyền tuy ra lịnh chỉnh lý các tăng đoàn Phật giáo ở
những nơi khác, nhưng không dám chạm tới Lô Sơn. Vì thế, người có
chí sống ẩn dật thường đua nhau đến Lô Sơn tu hành dưới tòa của
ngài Huệ Viễn.
Lưu Di Dân vốn là quan huyện.
Mến mộ thanh danh oai đức của ngài Huệ Viễn nên sau khi người mẹ
qua đời, ông ta bèn cáo chức từ quan, rồi lên núi Lô Sơn tu đạo.
Ông là người đã cùng với các pháp hữu khác phát nguyện niệm Phật
cầu vãng sanh. Nửa năm sau, nhờ luôn chuyên cần niệm Phật, Lưu Di
Dân đắc được niệm Phật tam muội, nên lúc đi trên đường, thấy Phật
hiện tướng trên hư không, phóng ánh hào quang sáng, chiếu rạng
trời đất. Ông lại thấy chính thân mình tỏa ánh sáng màu vàng, và
được y ca sa đắp, cùng tắm trong ao sen báu.
Về sau, Lưu Di Dân có viết quyển
Bạch Liên Xã Thệ Văn. Trong đó, Lưu Di Dân bảo rằng nếu thường
quán tưởng tượng Phật và niệm Phật thì rất dễ dàng được oai thần
lực, tam muội lực, công đức bổn nguyện lực của Phật gia trì, khiến
mau chóng thành tựu đạo nghiệp.
Sau này, ngài Huệ Viễn cùng vua
Hoàn Huyền đàm luận về việc chỉnh lý tăng đoàn Phật giáo và việc
sa môn không cần cung kính quốc vương. Nhờ có Ngài mà tăng đoàn
tại Lô Sơn giữ giới rất nghiêm túc, và công hạnh thực tiễn tu trì
niệm Phật, ngày một vững chắc. Ngoài ra, với sáu mươi tám tuổi đời,
thấy sanh mạng vô thường, nên ngài Huệ Viễn chuyển việc nghiên cứu
lý Bát Nhã sang sự niệm Phật tam muội, để mong được vãng sanh vào
lúc lâm chung. Do đó, vì mến mộ hạnh tu niệm Phật của ngài Huệ
Viễn, nên rất nhiều người kéo nhau đến Lô Sơn.
Người đương thời thường xưng tán
mười tám vị hiền giả tại Lô Sơn như: Ngài Huệ Viễn, tôn giả Phật
Đà Bạt Đà La, tôn giả Phật Đà Da Xá, Đạo Sanh, Huệ Vĩnh, Huệ Trì,
Tăng Duệ, Đàm Thuận, Đàm Hằng, Đạo Bính, Đạo Kính, Đàm Thân, Lưu
Di Dân, Lôi Thứ Tông, Chu Tích Chi, Nam Dương Tông Bỉnh, Nam Dương
Trương Dã, Nam Dương Trương Thuyên.
Ngài Huệ Viễn cùng ngài Cưu Ma
La Thập vấn đáp lẫn nhau, mà hậu thế viết thành 'Đại Thừa Đại
Nghĩa Chương', hay vấn đáp về yếu nghĩa Đại Thừa giữa hai ngài Huệ
Viễn và Cưu Ma La Thập.
1/ Vấn đáp về pháp thân
chân thật.
Ngài Huệ Viễn hỏi: Kinh thuyết
rằng pháp thân là không đến không đi, bất sanh bất diệt, cùng Niết
Bàn tương đồng, mà pháp thân Bồ TátẠ có thể thấy. Nếu như thế thì
sao pháp thân khác với sắc thân ?
Ngài Cưu Ma La Thập đáp: Pháp
thân của Phật tức do pháp tánh mà sanh. Sắc thân là thân biến hóa
của Phật, khác biệt với pháp thân. Thật tướng của pháp thân đồng
với Niết Bàn, là không làm và không tạo tác.
Nghe qua lời này, ngài Huệ Viễn
xác nhận: a/ Thật tướng của pháp thân là không đến không đi, và
đồng với niết bàn tịch tĩnh. b/ Pháp thân không phải là thân bốn
đạiẠ, năm cănẠ, mà chỉ như ánh trăng soi đáy nước, như gương chiếu
bóng hình. c/ Pháp thân tức là Phật tánh hằng thường bất biến.
2/ Ngài Huệ Viễn lại
vấn hỏi về pháp thân chân thật.
Ngài Cưu Ma La Thập đáp: Tiểu
Thừa dùng ba mươi bảy phẩm trợ đạoẠ, mười lựcẠ, mười tám pháp bất
cộngẠ, cùng các công đức vô lậu của đức Phật mà cho rằng đấy chính
là pháp thân. Pháp thân của Đại Thừa là không sanh không diệt,
tuyệt đường ngôn ngữ, đồng tướng Niết Bàn tịch tĩnh, công đức vô
lậu, v.v... Hai loại kiết sửẠ, hai loại chướng ngạiẠ, và tất cả
pháp hữu viẠ, đều là hư vọng không thật. Pháp thân của Bồ Tát, tuy
bảo rằng có bốn đạiẠ và năm cănẠ, nhưng không đồng với sắc thân
biến hóa, và chẳng có sanh tử, cùng biến hiện khắp nơi.
3/ Vấn đáp về loại pháp
thân chân thật.
Ngài Huệ Viễn hỏi: Rất nhiều
kinh điển thuyết rằng Phật có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sáng soi
rực rỡ, đoan chánh không ai sánh bằng. Vậy thì pháp thân chân thật
có giống như thế chăng ?
Ngài Cưu Ma La Thập đáp: Kinh
Mật Tích thuyết rằng thân của Phật không có cố định, tự do tự tại,
ứng theo cơ duyên của chúng sanh mà biến hiện; nghĩa là mỗi chúng
sanh đều thấy hình sắc của Phật có khác nhau.
4/ Vấn đáp về thọ lượng
của pháp thân chân thật.
Huệ Viễn hỏi: Thọ mạng của chúng
sanh phàm phu đều do nghiệp lực chủ định. Pháp thân của Bồ Tát y
cứ vào đâu mà chủ định ?
Ngài Cưu Ma La Thập đáp: Pháp
thân có hai loại. Thứ nhất, pháp tánh thường trụ bất biến, giống
như hư không, và lìa tất cả hý luận hữu vi và vô vi. Thứ hai, lúc
Bồ Tát chưa thành Phật, nhưng đắc được lục thông, mà gọi đó là
pháp thân. Dẫu có Phật hay không có Phật ra đời, pháp tánh vẫn
thường trụ bất hoại.
5/ Vấn đáp về sự tu
hành để đạt ba mươi hai tướng tốt.
Huệ Viễn hỏi: Người muốn đạt
được ba mươi hai tướng, là dùng thân thể phiền não và nghiệp lực
mà tu, hay dùng pháp thân mà tu ? Nếu dùng thân thể phiền não đầy
nghiệp lực mà tu, thì thân vốn đã đầy phiền não cùng nghiệp lực,
sao có thể tu thành tựu ba mươi hai tướng tốt được ? Nếu dùng pháp
thân mà tu, nhưng pháp thân không đủ khẩu nghiệp, sao tu hành được
? Mục đích tu hành là phải thành Phật. Vậy thì Phật là pháp thân
chân thật hay thân biến hóa ?
Ngài Cưu Ma La Thập đáp: Tuy có
thể dùng giả thuyết mà gọi pháp thân, nhưng không thể tìm cầu trên
sắc tướng. Tâm và mắt có thanh tịnh mới thấy được Phật. Ngay cả Bồ
Tát Thập địa cũng chưa thấy được pháp thân chân thật. Chỉ có chư
Phật đầy đủ Phật nhãn mới thấy được thôi.
Ở Trung Thổ vào đương thời, vẫn
chưa có thuyết Niết Bàn thường trụ, chỉ thường đàm luận thọ mạng
dài ngắn. Về lý này, ngài Huệ Viễn nói:
- Phật tánh rộng lớn cùng cực,
bao trùm khắp hư không pháp giớI, nên thường hằng bất biến. Làm
sao còn hạn cuộc nơi sanh mạng dài ngắn !
Do đó, Ngài trước tác quyển 'Pháp
Tánh Luận'. Vua Dao Tần rất khâm phục oai phong, đạo đức, tài trí
của Ngài, nên thường viết thơ thỉnh vấn, cúng dường không ngừng,
cùng sai Dao Sùng đem tặng tượng Phật bằng châu ngọc. Quyển Đại
Trí Độ Luận vừa phiên dịch xong, vua Dao Tần đặc biệt phái người
đem quyển luận này đến núi Lô Sơn, thỉnh Ngài viết lời tựa. Thấy
lời văn của quyển luận này rất dài dòng, nhưng ý nghĩa thâm sâu,
khiến bất tiện cho người sơ học nghiên cứu tu tập, nên Ngài viết
thêm mục tiết, lược viết về yếu nghĩa, phân thành hai mươi quyển.
Ngài cũng viết bài tựa, để hiển bày tông chỉ, giúp học giả bớt
chút ít phiền toái.
Lúc đi ngang qua Lô Sơn, trên
đường dẫn quân đánh dẹp quân của Ân Trung Kham, Hoàn Huyền phái
người mời Ngài xuống núi. Ngài bèn bảo vì bịnh, nên từ chối không
xuống núi. Hoàn Huyền phải tự thân lên núi. Đương thời, các quan
tả hữu của Hoàn Huyền tâu:
- Trước kia, Ân Trung Kham đã
từng vào núi lễ kính Huệ Viễn. Hy vọng sau khi vào núi, Đại Vương
chớ có lễ bái Huệ Viễn.
Hoàn Huyền đáp:
- Ân Trung Kham sắp chết rồi,
sao lại so sánh với Ta !
Vừa lên núi, Hoàn Huyền liền
nghiêm túc cung kính lễ bái, rồi hỏi Ngài:
- Nho giáo bảo rằng thân thể
lông tóc thọ nơi cha mẹ, nên bậc trượng phu không dám làm tổn hoại.
Sao Đại Sư lại cắt bỏ râu tóc ?
Ngài đáp:
- Nhà nho vì lập thân, nên phải
bảo toàn hình tướng. Hành đạo trong nhà Phật chỉ bảo toàn tâm tánh.
Lý lập thân và hành đạo không đồng nhau.
Hoàn Huyền nghe lời này, khen
ngợi không ngừng. Tuy muốn hỏi han nhiều, nhưng không biết nói gì.
Chốc lát sau, Hoàn Huyền hỏi:
- Đại Sư có lời chúc phước nào
không ?
Ngài nói:
- Càu nguyện cho Đại Vương được
an ổn, và kẻ thù của Ngài cũng như thế !
Hoàn Huyền khen ngợi:
- Thật trong đời chưa từng gặp
người như Đại Sư !
Củng cố được quyền thế xong,
Hoàn Huyền muốn kéo Ngài vào để thêm vây cánh, nên viết thư chiêu
dụ, khuyên Ngài hãy ra làm quan, phò vua giúp nước. Tuy nhiên,
Ngài viết thư từ chối. Chẳng bao lâu, thấy trong tăng đoàn Phật
giáo có những điều tệ hại, Hoàn Huyền hạ lịnh bắt một số tăng nhân
hoàn tục, bảo:
- Trừ những vị sa môn thường
hoằng dương Phật pháp, hoặc nghiêm trì giới luật, còn những người
khác phải nên hoàn tục. Tuy nhiên, Lô Sơn vốn là nơi cư trú của
các bậc tu hành, nên không cần phải kiểm soát.
Biết Hoàn Huyền bức ép tăng
chúng hoàn tục, Ngài bèn viết thơ gởi cho ông ta: "Phật giáo suy
đồi, bị ô uế đã lâu. Mỗi lần nghĩ đến việc này khiến tâm tôi bứt
rứt muôn phần. Tôi tự nghĩ đây chẳng phải là ý trời, mà do con
người tạo thành việc trầm luân. Hiện nay thấy việc thanh trừ sa
môn tạp nhạp, thật là thuận theo ý trời, chỉ cần thiết là mọi việc
phải rõ ràng phân minh. Hoàng Thượng phải lấy tâm chánh trực để
uốn nắn những kẻ tà ngụy gian trá, hầu mong họ quay về nẻo chánh.
Nếu được như thế thì mạng lịnh đào thải tăng sĩ bê tha sẽ có hiệu
lực. Những tăng sĩ chân thật cũng không còn bị thế tục hiềm nghi.
Từ đó, đạo Phật cùng gia phong của thế tục được hưng thạnh, và
ngôi Tam Bảo cũng được hưng long !"
Vì văn thể của pháp lịnh chưa
được hoàn chỉnh, nên Hoàn Huyền vui mừng tiếp thọ ý kiến của Ngài.
Tấn Thành Đế lên ngôi lúc còn
nhỏ tuổi, nên Dựu Băng phụ chánh. Dựu Băng cho rằng sa môn phải lễ
bái nhà vua, mà quan thượng thư Linh Hà Sung, quan bộc xạ Trử Dực,
v.v... đều không đồng ý. Đương thời, các quan sử trong triều đều
tán thành ý kiến của Linh Hà Sung, Trử Dực, v.v... Đương thời, do
nền chánh trị bất ổn, dân chúng không biết nương vào nơi đâu. Lúc
còn làm Sở Vương và trấn thủ tại Cô Thục, Hoàn Huyền viết thơ gởi
cho Ngài, bảo rằng sa môn phải lễ kính hoàng đế: "Sa môn không
cung kính bậc vương giả, thì chẳng hợp với thế tình".
Ngài Huệ Viễn viết thơ đáp: "Tại
sao xưng là sa môn ? Vì sa môn khai mở cho người ngu muội con
đường giải thoát. Phải quên đi nhân ngã, thì sẽ cùng người trong
thiên hạ đồng đạt đạo giải thoát. Các bậc cao minh cùng người phàm
phu cũng mong muốn được lợi lạc ấy. Lại nữa, y ca sa vốn không
phải y phục của triều đình. Bình bát cũng không phải vật của triều
nội. Sa môn là người thoát ngoài thế tục, nên không thể cung kính
vương gia".
Hoàn Huyền tuy kiên trì giữ ý
kiến của mình, nhưng sau khi xem qua thơ của Ngài, bèn phải nhượng
bộ. Lên ngôi xong, Hoàn Huyền lập tức hạ lịnh:
- Phật pháp rộng sâu vi diệu,
chẳng phải người phàm phu dự biết được. Hôm nay Ta đã lên ngôi
hoàng đế. Để biểu thị sự tôn sùng Phật giáo, Ta ban lịnh là từ nay
về sau, các sa môn không cần phải lễ kính nhà vua.
Hơn ba mươi năm, thân Ngài không
rời núi, và chân không vào nhà người thế tục. Mỗi lần tiễn khách,
lấy Hổ Khê làm giới hạn, rồi quay trở về. Mồng sáu tháng tám năm
416, ngài Huệ Viễn cảm bịnh, không uống ăn mà thị tịch, thọ tám
mươi ba tuổi. Đạo tục xa gần đều thương tiếc.
Những trước tác của ngài Huệ
Viễn như luận, tự, khắc, tán, thi, thư, có mười quyển và hơn năm
mươi thiên, được ghi trong quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' như sau:
Lô Sơn Tu Hành Phương Tiện Thiền Kinh Thống Tự, A Tỳ Đàm Tâm Tự,
Tam Pháp Độ Tự, Đại Trí Sao Luận Tự, Pháp Luận, Vấn Như Pháp Tánh
Chân Tế, Vấn Thật Pháp Hữu, Vấn Phân phá Không, Bát Nhã Kinh Vấn
Luận Tự, Vấn Pháp Thân, Trùng Vấn Pháp Thân, Vấn Chân Pháp Thân
Tướng Loại, Vấn Chân Pháp Thân Thọ, Vấn Pháp Thân Ứng Cảm, Vấn
Pháp Thân Phi Sắc, Vấn Tu Tam Thập Nhị Tướng, Vấn Pháp Thân Phật
Tận Bổn Tập, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Tự, Vô Tam Thừa Thống Lược,
Tam Pháp Độ Kinh Tự, Pháp Xã Tiết Độ Tự, Ngoại Tự Tăng Tiết Độ Tự,
Tiết Độ Tự, Tỳ Kheo Ny Tiết Độ Tự, Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận,
Sa Môn Đản Phục Luận, Thiền Kinh Tự, Thích Thần Túc, Vấn Niệm Phật
Tam Muội, A Tỳ Đàm Tâm Tự, Vấn Biến Học, Trùng Vấn Biến Học, Vấn
La Hán Thọ, Vấn Trụ Thọ, Thích Tam Báo Luận, Minh Báo Ứng Luận,
Biện Tâm Ý Thức, Thích Thần Danh, Nghiệm Kỳ Danh, Vấn Luận Than,
Vấn Hậu Thức Truy Ức Tiền Thức, Vấn Tứ Tướng, Đại Trí Luận Yếu
Lược, Vấn Đại Thừa Trung Thâm Nghĩa Thập Bát Liệu Hợp, Vấn A Tỳ
Đàm Tâm Tự, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Tự, Tu Hành Phương Tiện Kinh
Tự, Tam Pháp Độ Tự, Pháp Tánh Luận, Niệm Phật Tam Muội Thi Tập Tự,
Tương Duơng Trượng Lục Kim Tượng Tụng, Vạn Phật Ảnh Minh.
Công cuộc hoằng pháp ở Lô Sơn,
bắt đầu là ngài Huệ Viễn, và lại có thêm ba vị sư huynh đệ đến đó
hỗ trợ là: Huệ Trì, Huệ Vĩnh, và Đàm Ung.
II. Ngài Huệ Trì
[^]
Đã cũng từng trú và cực lực
hoằng dương chánh pháp tại Lô Sơn hơn năm mươi năm. Về sau, ngài
Huệ Trì qua đất Thục, trụ trì chùa Long Uyên, hoằng dương Phật
pháp rộng lớn.
III. Ngài Huệ Vinh
[^]
Đã từng trú tại chùa Tây Lâm ở
Lô Sơn, giáo hóa rất nhiều đệ tử.
IV. Ngài Huệ Sung
[^]
Sau khi ngài Đạo An nhập tịch,
ngài Huệ Sung sang Lô Sơn, hỗ trợ ngài Huệ Viễn hoằng dương chánh
pháp.
Ngoài ra, còn có ba vị đệ tử của
ngài Đạo An như: Đàm Dực, Pháp Ngộ, Đàm Huy, thường hoằng pháp tại
Kinh Châu. Do sự nỗ lực và cống hiến công sức của ba vị đệ tử này
mà Phật giáo tại vùng Kinh Châu phát triển hưng thạnh.
V. Đàm Dực
[^]
Lúc ngài Đạo An còn ở tại Tương
Dương, thái thú Đằng Xá ở Trường Sa lập chùa nơi đó, rồi thỉnh cầu
ngài Đạo An phái đệ tử đến đó để trụ trì, Ngài Đạo An bảo thầy Đàm
Dực:
- Sĩ thứ ở Kinh Sở muốn cầu tông
sư để giáo hóa dân chúng nơi đó. Ngoài con ra, thì còn có ai !
Thế nên, thầy Đàm Dực vâng mạng
mà vào nam, rồi trụ trì tại chùa Trường Sa. Khi bọn cuồng khấu vào
cướp phá Giang Lăng, thầy Đàm Dực chạy lánh nạn qua vùng Thượng
Minh, rồi kiến lập chùa Thượng Minh nơi đó. Vùng Giang Lăng được
bình yên, thì thầy Đàm Dực trở lại chùa Trường Sa. Thầy Đàm Dực
theo ngài Đạo An, xuất gia từ năm mười sáu tuổi. Thầy nghiêm trì
giới luật cẩn mật, học thông 3 tạng kinh điển. Lúc đến đất Thục,
thầy Đàm Dực được thái sử Mao Cừ cung kính tôn trọng, cùng cúng
dường thức ăn. Lần nọ, vì trong cơm có trứng gà, nên thầy Đàm Cừ
gạt ra rồi mới dùng. Thấy cử chỉ nghiêm trì giới luật cẩn mật, Mao
Cừ lại càng thêm cung kính, cúng dường cả hàng ngàn đấu gạo cho
thầy Đàm Dực. Chùa Trường Sa sau này trở thành trung tâm quan
trọng của Phật giáo tại vùng Giang Lăng.
VI. Pháp Ngộ
[^]
Cũng thường đến chùa Trường Sa
giảng kinh thuyết pháp. Dưới tòa của thầy Pháp Ngộ có hơn bốn trăm
đồ chúng.
VII. Đàm Huy
[^]
Chiến loạn ở Tương Dương phát
khởi thì thầy Đàm Huy cùng với ngài Đạo An rời vùng đó. Trên đường
đi, thầy Đàm Huy lưu trú lại chùa Thượng Minh (do thầy Đàm Dực xây
cất) ở Kinh Châu. Nơi đó, thầy Đàm Huy vẽ một tấm ảnh về dung mạo
của ngài Đạo An để lễ bái. Từ đó, chư tín đồ vùng Giang Lăng
thường hướng về phía tây (tức Trường An) để lễ bái Bồ Tát Ấn Thủ (tức
ngài Đạo An).
VIII. Thầy Đạo Lập
[^]
Vốn là đệ tử của ngài Đạo An tại
Trường An. Thầy Đạo Lập thường ẩn cư tọa thiền một mình trong hang
núi. Thầy thường ngồi suốt bảy ngày mà không đứng dậy. Sau này,
thầy Đạo Lập đột nhiên xuống núi, vân tập tăng chúng, khai giảng
kinh Đại Phẩm Bát Nhã. Qua vài ngày sau, không bịnh mà thị tịch.
Đó là các vị đại đệ tử xuất
chúng tiêu biểu giữa hàng ngàn đệ tử xuất gia của ngài Đạo An. Họ
nghiêm trì giới luật cẩn mật, cùng tu thiền khiến trí huệ cao vời,
và thừa thọ đạo phong của ngài Đạo An, rồi tận tâm tận sức hoằng
dương Phật pháp tại Trường An, Lô Sơn, Kinh Châu, Thục Xuyên, v.v...
C. Ngài Trúc Pháp Nhã
[^]
Ngài là người Hà Gian, oai nghi
đoan chánh, lại có phong độ khí khái, tâm tánh thanh thoát, tự tại,
không câu nệ, chấp nê. Lúc nhỏ thường học Thiện Trường Kinh, sử
Bách Gia, cùng các ngoại điển khác. Lúc trưởng thành, thông đạt
giáo nghĩa Phật pháp. Nhờ thừa thọ sự giáo huấn của ngài Phật Đồ
Trừng, nên ngài Trúc Pháp Nhã thâm đạt nghĩa lý Phật pháp dễ dàng.
Vì thuở nhỏ đã từng thông suốt tư tưởng Lão Trang, nên một số sĩ
phu, quần thần, danh sĩ rất tôn kính Ngài và thường theo học đạo.
Những đệ tử của Ngài đều là những người đã từng thành công trong
việc nghiên cứu ngoại điển, nhưng đối với giáo nghĩa Phật pháp
cũng còn nhiều chỗ nghi ngại mù mờ. Do đó, Ngài cùng với thầy
Khương Pháp Lãng, v.v... dung hòa giáo nghĩa Phật pháp với kinh sử
bách gia, Lão Trang thuật ngữ, để giảng giải Phật pháp, mà gọi
phương pháp đó là 'Cách Nghĩa'. Ví dụ, Ngài thường dùng chữ 'vô'
của Lão Trang để giải thích chữ 'không' của đạo Phật. Dùng ngôn
ngữ của cổ thư để diễn đạt ý nghĩa Phật pháp. Sau này, ngài Tỳ Phù,
Đàm Tướng, v.v... vận dụng phương thức 'Cách Nghĩa' này để dạy dỗ
đồ chúng.
Vì đã liễu giải nghĩa lý thâm
huyền, nên không luận là ngoại điển hay nội kinh, Ngài có khả năng
đàm luận giảng thuyết. Đương thời, Ngài thường cùng với Đạo An,
Trúc Pháp Thái đồng thảo luận những nghĩa lý huyền hoặc và nơi
thâm áo của kinh điển, để hiển minh yếu nghĩa Phật pháp. Sau này,
Ngài lập chùa viện tại Cao Ba, vân tập hàng trăm đồ chúng.
Phật giáo lúc sơ thời được hoằng
truyền rộng rãi vào tầng lớp sĩ phu ở Trung Thổ phần lớn là nhờ
phương pháp 'Cách Nghĩa'. Do đó, người đại biểu cho 'Phật Giáo
Cách Nghĩa' chính là ngài Trúc Pháp Nhã vào thời Đông Tấn.
Đàm Tập, đệ tử của Trúc Pháp Nhã,
dùng giáo nghĩa của thầy mình làm nền tảng cho sự hoằng dương Phật
pháp, nên được Thạch Tuyên của Hậu Triệu rất tôn kính.
D. Ngài Tăng Lãng,núi
Thái Sơn, hưng khởi Phật giáo ở Sơn Đông
[^]
Ngài Tăng Lãng vốn là người Kinh
Triệu. Lúc nhỏ đã từng đi khắp nơi tham học vấn đạo nơi các bậc
cao đức, và thân cận tu học theo sự giáo huấn của ngài Phật Đồ
Trừng. Lần nọ, đang trò chuyện với các vị pháp hữu trên đường,
Ngài bèn bảo họ:
- Trong chùa của các vị dường
như có người vào trộm cắp đồ vật.
Nghe như thế, họ vội trở về chùa,
bắt được kẻ trộm, mà chưa bị mất gì cả. Ngài cũng có năng lực thần
dị giống như ngài Phật Đồ Trừng. Lúc trưởng thành, Ngài trở về
Quan Trung, chuyên ròng giảng kinh, chủ yếu là kinh Phóng Quang
Bát Nhã (do Trúc Thúc Lan dịch vào năm 291). Ngài thủ trì trai
giới, thân mặc vải bố, chí hướng vượt ngoài thế tục, bác học uyên
thâm, chiêm nghiệm được những việc lành dữ.
Đời Tiền Tần Phù Kiên, niên hiệu
Hoàng Thủy nguyên niên (351), Ngài qua trú tại núi Thái Sơn. Thấy
phong cảnh hùng vĩ thanh vắng của rừng nội suối ngòi, Ngài lập am
Kim Dư nơi đó. Nghe thanh danh của Ngài, hơn một trăm người, lũ
lượt kéo nhau đến cầu đạo. Do lòng cầu đạo chân thành của họ, Ngài
đối đáp không màng mỏi mệt. Trên núi Thái Sơn, cũng có một đạo sĩ
ẩn tu là Trương Trung. Ông cũng có đồ đệ, nhưng thường dùng thân
mà giáo hóa.
Ngài Đạo An và Trúc Pháp Hòa đã
từng đến thăm Ngài tại cốc Kim Dư. Lần đó, trên đường leo lên đỉnh
núi Thái Sơn để đến cốc Kim Dư, thấy ngọn núi cao chót vót, thầy
Trúc Pháp Hòa than thở:
- Ngọn núi này cao quá đỗi, mà
người du hành lên đây lại rất nhiều. Nếu chẳng may bị trượt chân,
thì sẽ rời thế gian, rồi không biết đi về đâu !
Ngài Đạo An nói:
- Nầy Pháp Sư ! Chỉ cần thiết là
đạo tâm phải kiên cố vững bền, thì lo gì vào đời sau sẽ đi đâu ?
Nếu tâm không có đạo, thì mới bi thương như thế !
Vua Tiền Tần là Phù Kiên, phái
sứ giả đến Thái Sơn, thỉnh mời ẩn sĩ Trương Trung về triều. Sau
khi tiếp kiến, Phù Kiên tặng y áo, nhưng Trương Trung không thọ
nhận, chỉ thuật lại sự tích và hành tung dị thường của ngài Tăng
Lãng cho nhà vua nghe. Phù Kiên bèn sai sứ đem thơ đến cầu thỉnh
Ngài về kinh đô. Thơ viết: "Hoàng Đế cung kính thăm vấn Tăng Hòa
Thượng. Đại Thánh thần thái cao siêu, che chở giáo hóa muôn loài
chúng sanh, ví như biển cả núi cao trưởng dưỡng quần sinh, trời
đất sanh thành vạn vật, dưỡng tồn sự sinh tử. Tinh thần này được
gọi là Trừng Tịch. Trẫm ước mong được hội ngộ Thánh Tăng. Ngặt vì
núi non cách trở muôn trùng, không thể xa giá. Nay sai quan sử đem
xe cung nghinh, thỉnh Ngài hãy giá lâm đô thành Kinh Ba. Trẫm cũng
cúng dường vài cân vàng để phết sơn tôn tượng Phật, và ba mươi sấp
lụa mỏng, cùng ba người nô bộc, để cung phụng quét dọn hầu hạ.
Ngưỡng vọng Ngài nạp thọ cho..."
Cùng đem theo lá thơ đó, sứ giả
triều đình cũng mang theo phẩm vật, nô tỳ đến để cúng dường cung
phụng cho Ngài. Ngài bèn từ chối nhận lễ vật, và viết thơ gởi Phù
Kiên: "... Bần đạo vốn đã xuất gia, tâm khô kiệt nơi rừng sâu núi
lạnh, tinh thần suy nhược, chưa từng có khả năng hoằng dương Phật
pháp. Bần đạo nào hay biết Điện Hạ từ phương xa gởi thơ đến vấn
hỏi Sơn Tăng, rồi ân cần triệu về kinh đô. Bần đạo thật cảm kích
từ ân của Thánh Thượng. Tuy nhiên, vì khí lực suy nhược, không thể
kham nổi đường xa và thọ nhận những lễ vật này".
Đây là biểu hiện thái độ không
phan duyên thọ hưởng ân sủng của vua chúa, mà chỉ thích cư trú nơi
núi rừng để giữ đạo tu hành thanh khiết của Ngài.
Khi muốn chỉnh lý tăng đoàn Phật
giáo, Phù Kiên lại ban sắc lịnh: "Tăng Pháp Sư giới đức cao tột;
đồ chúng cũng nghiêm trì giới luật thanh tịnh. Vì vậy, đối với
giáo đoàn tại núi Côn Lôn (tức núi Thái Sơn), không cần phải tra
xét".
Cũng như thầy bổn sư, tức ngài
Phật Đồ Trừng, ngài Tăng Lãng nghiêm trì giới luật cẩn mật, nên
được Phù Kiên tôn kính trọng vọng. Sau này, Phù Kiên công phá
Tương Dương, rồi thỉnh ngài Đạo An về Trường An (như đã kể ở phần
trên).
Ngài cũng được vua Thác Bạt Khuê
(386-409) của Hồ tộc tôn kính, sai sứ đem lễ vật cúng dường đến
núi Thái Sơn như lụa tơ, bình bát bằng bạc, v.v...
Vua Dao Hưng (393-415) đời Hậu
Tần cũng sai sứ đem ba cấp kim phù đàn, một bộ kinh, và một bảo
đài đến núi Thái Sơn, cúng dường Ngài.
Vua Đông Tấn, Hiếu Võ Đế, cũng
từng gởi thơ đến thăm hỏi Ngài. Sau khi nước Tiền Tần của Phù Kiên
diệt vong, vùng Hà Bắc do Hậu Yến Mộ Dung Thùy, và vùng Hà Nam do
Hậu Yến Mộ Dung Đức cai quản. Hai vị vua này cũng từng gởi thơ và
lễ vật đến cho Ngài. Mộ Dung Thùy sai sứ đem thơ và lễ vật đến
cúng dường. Thơ viết: "Nguyện cầu quân binh không còn chém giết
lẫn nhau để bốn bể đều được thái bình. Nay Ta đem tâm thành kính,
sai sứ giả mang một trăm xấp lụa, năm mươi cân bông vải, ba bộ y
ca sa, để cầu mong Ngài chú nguyện cho thiên hạ thái bình".
Hậu Yến Mộ Dung Đức viết thơ: "Trẫm
vốn vô đức, sanh làm dị dân, vào nhằm thời loạn, chợt được kế thừa
vương vị, đều nhờ Hòa Thượng và chư thần đại ân gia hộ. Vì vậy,
không những sai sứ mang tơ lụa đến cúng dường, mà phong cho Ngài
danh hiệu là Đông Tề Vương, cấp cho hai huyện Thái An và Trường
Thanh ở Sơn Đông. Thư chưa viết hết ý. Xin hiểu tâm của Trẫm !"
Qua lời này, thấy rõ ngài Tăng
Lãng được Mộ Dung Đức ban hiệu là Đông Tề Vương, và ban cho hai
huyện để xây chùa viện tháp tự, cùng được miễn thuế để tạo công
đức.
Lúc đến cốc Kim Dư lập am tranh
tịnh xá, Ngài thường tu thiền và hiển hiện những thần lực để trị
loài hổ, cứu dân trong vùng. Thông thường loài hổ là hóa thân của
của các vị thần núi. Ngài hàng phục được loài hổ, tức là đã khiến
thần núi tín phụng Phật pháp. Vì có danh tiếng phục hổ, nên người
đương thời thường gọi Ngài là 'Tăng Công Cốc'.
Ngài Tăng Lãng tuy không để lại
những trước tác gì, nhưng lại dùng thân giáo hóa đồ chúng, và dùng
năng lực thần kỳ cùng tài trí cơ phong để hóa độ vua chúa. Am
tranh nơi cốc Kim Dư của Ngài, sau này được xây cất thành chùa
Thần Thông, và là nơi hội tụ của các bậc thiền gia, cùng học giả
đến tu hành, điển hình là ngài Tăng Ý (vị chứng quả Tu Đà Hoàn),
thiền sư Hàng Ma Tạng (đệ tử của ngài Thần Tú), v.v... Thiền sư
Hàng Ma Tạng cũng dùng hình thức không y theo văn tự mà giáo hóa
đồ chúng như ngài Tăng Lãng tại đó. Thiền Sư cũng xưng tán ngài
Tăng Lãng là 'Á Lưu Thiền Giả'.