-
Thần tăng Thiên Trúc
- Thích Hằng Đạt
- Phần I
1. Tôn giả Nhiếp Ma
Đằng (Kasyapa-Matanga, Ca Diếp Ma Đằng)
[^]
Tôn Giả vốn là người trung Thiên
Trúc (trung Ấn Độ). Đối với cử chỉ thần thái hằng ngày, tùy thời
mà lộ vẻ xuất thần, với cung cách cao quý hòa nhã. Đối với kinh
điển Đại Thừa và Tiểu Thừa, Tôn Giả đều thường quán thông dung hội
triệt để. Chí nguyện suốt đời là thích đi chu du các nước để hóa
độ dân chúng.
Lần nọ, đang giảng kinh Kim
Quang Minh tại một tiểu quốc ở Thiên Trúc, chợt có quân của nước
ngoài xâm lăng tiến vào cung thành, nên Tôn Giả phải ngừng giảng
kinh. Tôn Giả suy nghĩ: ỀKinh thường dạy rằng nếu thường giảng
giải kinh điển Phật pháp, thì sẽ được địa thần bảo hộ, và khiến
nơi cư trú đều được an lạc. Hiện tại, chiến tranh đang bộc phát.
Thế thì có tương phản với việc ở trên không ?
Suy nghĩ xong, Tôn Giả quên cả
sự hiểm nguy, tự thân mau chóng đến hai nước, kêu gọi họ bỏ vũ khí
và ngưng đánh nhau. Do oai đức của Tôn Giả, cuối cùng hai nước đều
bỏ qua sự hiềm khích, và bắt tay giảng hòa. Nhờ vậy mà danh của
Tôn Giả vang xa.
Hán Minh Đế (58-75), trong niên
hiệu Vĩnh Bình, vào một đêm nọ, mộng thấy một điềm lạ kỳ. Trong
giấc mộng, ông thấy một vị thân vàng, cao hơn một trượng sáu, lưng
phóng ánh sáng mặt trời mặt trăng, bay trên không trung, đến trước
cung điện. Hôm sau, Hán Minh Đế hội tất cả quần thần để bàn đoán
mộng đó, xem coi có ý nghĩa gì. Thái sử Phó Nghị bốc chiêm tinh
rồi tấu trình:
- Thời Chu Chiêu Vương, thời
tiết có khí tượng lạ kỳ, xuất hiện những tia sáng năm màu xoay vần
trên sao Thái Vi. Đương thời quan thái sử Tô Do phụng tấu: "Nhất
định có thánh nhân giáng sanh tại phương tây, nên mới xuất hiện
điềm cảm ứng tốt lành trên trời như vầy. Một ngàn năm sau, giáo
pháp của vị thánh nhân đó sẽ được truyền sang Trung Thổ".
Nghe như thế, Chu Chiêu Vương
lập tức hạ lệnh khắc việc này trên đá, để làm bia truyền mãi mãi.
Giấc mộng đêm hôm qua của Điện Hạ, nếu tính theo thời gian, thì
hiển nhiên có sự liên quan mật thiết. Hiện tại, Thần lại nghe rằng
ở Tây Vức có đức Phật. Điện Hạ mộng thấy người vàng, thì nhất định
đó là đức Phật vậy.
Nghe qua lời này, Hán Minh Đế
bèn sai đoàn sứ giả mười tám người như quan Lang Trung, Tần Cảnh,
Thái Hâm, Bác Sĩ, Vương Tuân v.v... do Đậu Cố (cháu ngoại của Đậu
Dung, đệ nhất công thần kiến quốc của nhà Hậu Hán) dẫn đầu qua
nước Đại Nhục Chi ở Thiên Trúc, để tầm cầu Phật pháp. Trên đường
cầu pháp, gặp được Tôn Giả, họ bèn thỉnh cầu qua Trung Thổ hoằng
hóa. Tôn Giả vốn có đại nguyện hoằng pháp, nên chấp thuận lời
thỉnh cầu. Trải qua bao gian nan hiểm trở trên đường lộ, cuối cùng
Tôn Giả cùng với đoàn sứ giả đồng dùng ngựa trắng chở kinh, đi đến
Lạc Dương. Nhân đó, nhà vua cho lập chùa Bạch Mã tại Lạc Thành,
phía tây Ủng Quan, để làm nơi cư trú cho Tôn Giả. Trung Thổ có
tăng sĩ khởi đầu từ đó.
Truyện Cao Tăng ghi rằng ngôi
chùa này vốn tên là Chiêu Đề, sau đổi thành Bạch Mã:
- Tương truyền có một quốc vương
ngoại quốc tên là Khải Vương thường đem quân đến phá các ngôi chùa,
nhưng chỉ có chùa Chiêu Đề là chưa bị phá hoại. Đêm nọ, có một con
ngựa trắng đi nhiễu quanh tháp của chùa mà kêu rống bi ai. Nghe
tiếng này, Khải Vương bèn ngưng hủy phá các chùa chiền, nên từ đó
đổi tên chùa Chiêu Đề thành chùa Bạch Mã. Việc lập danh của các
ngôi chùa, thường dựa theo phép tắc của những điềm lành.
Trên đây nói về các quốc vương
ngoại quốc, đó chính là các quốc vương Ngũ Hồ làm loạn Trung
Nguyên, nhưng danh tánh khó mà biết chính xác. (Pháp Bổn Nội
Truyện có kể đến chùa Bạch Mã và Hưng Thánh).
Hán Pháp Bổn Nội Truyện ghi rằng
sau khi tôn giả Ca Diếp Ma Đằng đến Lạc Dương, các đạo sĩ ở mười
tám ngọn núi tại Ngũ Nhạc dâng sớ lên vua Hán Minh Đế, vào mồng
một tháng giêng, niên hiệu Vĩnh Bình thứ 14. Họ muốn cùng tăng sĩ
Phật giáo tranh tài lý luận và pháp thuật. Hán Minh Đế bèn sai
quan Tống Tường, truyền dụ cho tăng sĩ Phật giáo và đạo sĩ Đạo
giáo tranh tài pháp thuật tại chùa Bạch Mã. Trử Thiện Tín ở Nam
Nhạc, Lưu Chánh Niệm ở Hoa Nhạc, Hoàn Văn Độ ở Hằng Nhạc, Tiêu Đắc
Tâm ở Đại Nhạc, Lữ Huệ Thông ở Sùng Nhạc, cùng với 690 đạo sĩ, lập
ba đàn tràng ở phía ngoài chùa: Đàn phía tây, họ bày biện phù lục
thư; đàn chính giữa, họ bày biện các kinh thư của hoàng lão; đàn
phía đông, họ bày la liệt các thức ăn đồ vật để cầu thỉnh quỷ thần.
Chư tăng Phật giáo an trí xá lợi của Phật và kinh tượng ở bên vệ
đường phía tây. Sắp đặt đâu đấy xong xuôi, các đạo sĩ bèn đọc chú
thuật, làm cháy đàn tràng mà không đốt được kinh điển Phật giáo.
Họ càng gắng sức bao nhiêu thì lửa càng mau tắt bấy nhiêu. Xá lợi
của Phật phóng năm ánh hào quang, bay vần trên không trung. Tôn
giả Ca Diếp Ma Đằng bay lên hư không hiện bao thần biến. Người xem
đều khâm phục. Lưu Huệ Thông và các đạo sĩ khác, cùng phụ nữ trong
nội cung khoảng 230 người, đồng phát nguyện xuất gia. Triều đình
bèn ra lịnh cho xây mười ngôi chùa; dùng bảy ngôi làm chùa của
tăng chúng, và ba ngôi làm chùa của ni chúng. Chùa của tăng chúng
được kiến lập bên ngoài thành Lạc Dương. Chùa của ni chúng được
kiến lập trong thành Lạc Dương. Một số đạo sĩ ở núi Nam Nhạc, trổ
hết mọi tài năng, mà pháp lực không bằng tăng sĩ Phật giáo, nên hổ
thẹn phẫn uất mà chết.
Sau khi đến Trung Nguyên, tôn
giả Ca Diếp Ma Đằng cùng với tôn giả Trúc Pháp Lan phiên dịch kinh
Tứ Thập Nhị Chương, năm quyển kinh Phật Bổn Hạnh, bốn quyển kinh
Thập Địa Đoạn Kết, hai quyển 260 giới Hợp Dị, một quyển kinh Pháp
Hải Tạng, và một quyển kinh Phật Bổn Sanh. Hiện nay, chỉ có kinh
Tứ Thập Nhị Chương là còn tồn tại. Các bộ kinh khác do hai tôn giả
phiên dịch, đều bị thất lạc vì binh đao hỏa hoạn. Bộ kinh Tứ Thập
Nhị Chương1 là quyển kinh đầu tiên nhất được hai tôn giả phiên
dịch từ chữ Phạn sang chữ Tàu.
Tương truyền, sau khi dịch xong,
kinh này được triều đình cho khắc vào tạng thạch thất, rồi bắt đầu
được lưu truyền. Truyện Cao Tăng ghi:
- Đầu tiên, quyển kinh này được
để trong thạch thất Lan Đài thứ mười bốn (Thất Lan Đài vốn là tạng
cấm thư phủ của đời Hậu Hán).
Sau này, tôn giả Ca Diếp Ma Đằng
thị tịch tại chùa Bạch Mã.
2. Tôn giả Trúc
Pháp Lan (Dharmaraksa)
[^]
Tôn Giả cũng là người trung
Thiên Trúc. Tôn Giả đọc thuộc kinh luận cả trăm ngàn chương. Trước
khi sang Đông Độ, Tôn Giả đã từng được tôn sùng là bậc thầy của
các học giả ở bên Thiên Trúc.
Tôn Giả vốn là pháp hữu thân
thiết của tôn giả Ca Diếp Ma Đằng, nên cũng thường đi chu du các
nước, hóa độ dân chúng. Sau này do đoàn sứ giả nhà Hán thỉnh cầu,
Tôn Giả cùng với ngài Ca Diếp Ma Đằng sang Đông Độ2. Tuy nhiên,
các học giả đương thời tại Thiên Trúc đều muốn giữ Tôn Giả ở lại.
Vì có đại nguyện hoằng dương Phật pháp, nên Tôn Giả vẫn cứ đi sang
Đông Độ. Sau khi đến Lạc Dương, hai tôn giả Trúc Pháp Lan và Ca
Diếp Ma Đằng được Hán Minh Đế cho cư trú tại chùa Bạch Mã. Hai tôn
giả cùng nhau phiên dịch các bộ kinh như đã kể bên trên. Ngoài ra,
tôn giả Trúc Pháp Lan còn tự phiên dịch kinh Văn Thù Sư Lợi Tịnh
Luật và kinh Ma Nghịch.
3. Ngài An Thế Cao
(Parthamasiris)
[^]
Tên của Ngài vốn là An Tịnh,
nhưng vì là thái tử nước An Tức (Parthian), nên người đời sau xưng
danh Ngài là An Thế Cao. Đối với nước An Tức, sử nhà Tiền Hán và
Hậu Hán, đời Tam Quốc, Nam Bắc triều, đã từng ghi rõ. An Tức là
nước sáng lập ra quốc gia A Lỗ Tát Khải Tư (Arsakes). Vào đời Hán
Minh Đế niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười sáu (73), Ban Siêu thọ mạng
làm sứ giả sang Tây Vực. Đời Hán Hòa Đế, niên hiệu Vĩnh Nguyên thứ
ba (91), Ban Siêu nhậm chức Kỵ Đô Úy, thống trị ba mươi nước ở Tây
Vực. Vào đời Đông Hán, niên hiệu Chương Hòa nguyên niên (87) nước
An Tức triều cống sư tử cho Trung Thổ. Lại nữa, vào niên hiệu Dực
Niên, quốc vương nước An Tức phái sứ giả mang lễ vật triều cống
sang Trung Thổ, mở đầu cho sự giao thương giữa hai nước. Vào niên
hiệu Vĩnh Nguyên thứ mười ba (101), nước An Tức lại thường mang lễ
vật sang triều cống cho triều Đông Hán. Bốn mươi bảy năm sau, ngài
An Thế Cao mới qua Trung Thổ.
Đối với cha mẹ, Ngài rất là hiếu
thảo, nên được dân chúng tán thán ca ngợi. Thiên tánh của Ngài rất
minh mẫn, lại siêng năng học hành, nên thông suốt hết các điển
tích ngoại quốc, cùng bảy diệu (mặt trời, mặt trăng, tinh tú), ngũ
hành, y thuật, khí tượng, thiên văn. Quán xem sắc diện của người,
Ngài liền biết bịnh tình, rồi chế thuốc thang mà trị bịnh cho.
Nghe thinh âm của các loài cầm thú chim chóc đều biết qua ý của
chúng. Lần nọ, đang đi trên đường, chợt có một đàn chim yến bay
ngang, Ngài bèn bảo với đồng bạn:
- Những con chim yến kia bảo
rằng lát nữa sẽ có người mang thức ăn đến cho chúng ta.
Chốc lát sau, quả nhiên ứng
nghiệm có thật. Dân chúng nghe qua việc này rất đỗi kinh ngạc và
thán phục Ngài. Vì vậy, thanh danh của Ngài từ đó lan truyền và
chấn động khắp các nước ở Tây Vực, cùng được các quốc vương xa gần
tôn kính.
Lúc còn tại gia học Phật pháp,
Ngài thường nghiêm thủ giới luật rất cẩn mật, không có chút giải
đãi. Ngài thường tụ hội dân chúng lại để giảng kinh thuyết pháp.
Phụ vương vừa băng hà, Ngài bèn lên ngôi. Bấy giờ, vương triều Quý
Sương (Kushans, 78-320; kiến lập nước Đại Nhục Chi) liên tiếp
chinh phạt các nước ở phía tây, và uy hiếp nước An Tức. Ngài An
Thế Cao thấy thế sự bất an, khổ, không, vô thường, nên đối với
ngôi vua, Ngài rất chán chường khổ não. Do đó, lo an táng phụ
vương xong, Ngài liền nhường ngôi cho người chú, rồi xuất gia học
đạo, mà không lưu luyến gì với ngai vàng, chỉ một mực tinh tấn tu
hành. Năm mươi năm sau khi Ngài viên tịch, nước An Tức bị diệt
vong vì quần thần tranh ngôi vị.
Xuất gia xong, Ngài duyệt xem
khắp tạng kinh thư, mà trong đó đối với luận học A Tỳ Đàm rất được
tâm đắc. Ngài thường tụng trì thiền kinh nên hằng đạt được những
sự vi diệu. Vì muốn hoằng dương Phật pháp, Ngài đi khắp các nước,
nên rất thông thạo ngôn ngữ của các nước đó. Tạ Phu đời Tấn có
viết: "Cao Tông bác thù tục, thiện chúng quốc chi âm", nghĩa là
ngài An Thế Cao hiểu rõ phong tục khác nhau của mỗi nước và thông
thạo âm thanh ngôn ngữ của các nước đó. Trước khi qua Trung Thổ,
lúc còn ở tại nước An Tức, cho đến khi tới Tây Vực, Ngài đã từng
tinh thông tiếng Tàu. Đến đời Hán Hoàn Đế (147-167), vào khoảng
năm ba mươi tuổi, Ngài qua Đông Độ tới đất Trường An. Với tài năng
cao tuyệt, cơ ngộ mẫn tiệp, nên chỉ xem qua một lần về điều gì,
Ngài liền liễu giải. Đến nơi, Ngài bắt tay ngay vào việc hoằng
dương Phật pháp, và phiên dịch rất nhiều kinh điển, như kinh An
Ban Thủ Ý, Âm Trì Nhập, Đại Thập Nhị Môn, Tiểu Thập Nhị Môn, v.v...
Xưa kia, có một vị tam tạng pháp
sư, người Thiên Trúc, tên là Tố Chúng Hộ, đã từng soạn viết yếu
nghĩa kinh tích thành hai mươi bảy chương. Ngài An Thế Cao căn cứ
bộ trước tác đó, tuyển chọn ra bảy chương rồi dịch sang chữ Tàu,
tức là bộ kinh 'Đạo Địa' ngày nay. Tổng cộng, Ngài phiên dịch được
hơn ba mươi bộ kinh. Tất cả nghĩa lý đều rõ ràng trong sáng, và
văn tự rất chính xác. Lời văn tuy không hoa mỹ, nhưng thể chất
không thô sơ.
Ngài An Thế Cao thường kể về
nghiệp duyên tiền kiếp thần dị của mình mà người khác không thể
hiểu nổi. Ngài kể rằng tiền kiếp của Ngài cũng là người xuất gia.
Đương thời, Ngài có một người bạn đồng tu, tánh tình rất nóng nảy.
Lúc gặp thí chủ nào làm không vừa ý thì bèn nổi tâm sân hận. Đã
bao lần Ngài thường khuyên nhủ, nhưng tánh tình của vị tăng đó vẫn
y nguyên. Hơn hai mươi năm sau, ngài An Thế Cao (thứ I) từ biệt vị
tăng đó rồi nói:
- Tôi phải qua Quảng Châu để đền
trả món nợ trong đời tiền kiếp. Thầy hiểu thâm sâu về kinh luận,
lại tinh cần dụng tâm. Tuy nhiên, vì tánh tình của Thầy nhiều sân
hận, nên sau khi xả báo thân, sẽ bị thọ hình tướng ác quỷ. Nếu tôi
chứng quả thánh thì nhất định sẽ cứu độ Thầy thoát tai ương.
Nói xong, ngài An Thế Cao bèn đi
qua Quảng Châu. Đương thời, vùng đó bị nạn loạn lạc, giặc cướp nổi
lên như ong. Giữa đường, Ngài gặp một thiếu niên từ xa đi tới. Gã
thiếu niên đó bèn tuốt đao ra bảo:
- A ! Thầy tới đây để nạp mạng
cho Ta !
Ngài bảo:
- Đời trước tôi thiếu ông một
mạng, nên mới lặn lội bao dặm đường xa đến đây để đền trả. Vừa
thấy tôi là ông liền khởi tâm sân hận. Đây chính là vì mối oán cừu
chưa hóa giải xong !
Nói xong, Ngài an nhiên đưa đầu
để bị chém, mà thần sắc chẳng chút kinh sợ. Không chút chậm trể,
gã thiếu niên bèn vung đao chém đầu của Ngài. Đương thời thần thức
bay qua nước An Tức, cũng đầu thai làm thái tử, tức là An Thế Cao
(thứ II).
Trong đời Hán, hoạn quan tranh
quyền. Giặc giã nổi lên không ngừng. Vì vậy, ngài An Thế Cao (thứ
II) phải rời thành Lạc Dương, đến vùng Giang Nam để tiếp tục hoằng
pháp. Ngài tự bảo:
- Trước tiên, Ta phải qua Lô Sơn,
để hóa độ pháp lữ đồng học đời tiền kiếp.
Lúc đến Lô Sơn, Ngài cư trú tại
am Đình Hồ. Theo ngài Huệ Viễn (334-417), trong quyển 'Lô Sơn Lược
Ký' có ghi như sau: "Nơi đỉnh núi phía nam, dưới hồ Lâm Cung Đình,
có một miếu thần. Dân chúng y theo danh tự của hồ mà đặt tên cho
miếu thần la Cung Đình Hồ. Thần tại miếu Cung Đình Hồ, được ngài
An Thế Cao cảm hóa. Sự tích vẫn còn ghi trong Tự Sơn Bắc Thiên".
Tương truyền, miếu Cung Đình Hồ
rất linh dị. Các thương nhân qua lại vùng đó, trước tiên phải cầu
khẩn cúng bái, thì mới được bình an vô sự. Một gã nọ, lén lên núi
để chặt tre, mà không chịu qua miếu lễ bái. Thuyền chở tre của gã
đó vừa ra khỏi bến sông thì bị sóng đánh lật chìm. Các thương nhân
thấy vậy, nên lại càng kính thờ thần miếu.
Hôm nọ, ngài An Thế Cao theo hơn
ba mươi thương nhân lên thuyền để đến miếu thần đó. Đến nơi, các
thương nhân đi vào thần miếu lễ bái, còn Ngài thì ở trên thuyền.
Sau khi họ dâng cúng các phẩm vật để cầu được bình an xong, thần
trong miếu bèn bảo họ:
- Trên thuyền có một vị hòa
thượng, vậy hãy mời vị đó đến đây.
Thương nhân nghe thế kinh hoàng,
bèn vội chạy ra thỉnh Ngài vào miếu. Vừa bước vào, Ngài nghe thần
nói:
- Tiền kiếp tôi đã từng cùng với
Thầy xuất gia tu đạo tại Tây Vực. Tuy thường hành bố thí, nhưng
tánh khí nhiều sân hận, nên mới làm thần tại miếu Cung Đình Hồ này.
Chu vi miếu một ngàn dặm, đều do tôi cai quản. Vì nhờ đời trước
thường tu hành hạnh bố thí, nên nay mới được thọ vô số tài vật
trân bảo vô giá. Tuy nhiên, do tâm sân hận, nên thọ quả báo làm ác
quỷ, có thân hình to lớn xấu xa. Mạng tôi sắp dứt. Lúc chết, thân
thể sẽ tiết ra mùi hôi thúi khắp sông hồ. Vì vậy, tôi phải lên nơi
khe suối ở vùng núi phía tây mà chết. Sau khi chết, sẽ bị đọa vào
địa ngục thọ khổ. Xin Thầy từ bi, mang tất cả đồ vật trân bảo mà
thay tôi cúng dường Tam Bảo, cùng xây cất chùa chiền, khiến đời
sau của tôi được sanh lên cõi lành.
Nghe qua lời này, ngài An Thế
Cao (thứ II) bảo:
- Ta vốn đến đây để hóa độ ngươi.
Sao không hóa hiện nguyên hình ?
Thần đáp:
- Tôi vốn có hình dạng ác quỷ
xấu xa. Nếu hiện hình thì dân chúng chắc sẽ kinh sợ !
- Chỉ việc hiện hình ra là đủ.
Dân chúng không sợ hãi đâu !
Từ trong đền thờ, xuất hiện ra
một con thuồng luồng to lớn, bò đến kế bên ngài An Thế Cao (thứ
II). Ngài bèn thuyết pháp, và tụng thần chú bằng tiếng Phạn. Một
lát sau, con thuồng luồng cảm động tuôn trào rơi lệ như mưa, rồi
từ từ biến mất. Ngài bèn nhặt lấy các trân bảo, rồi cùng các
thương nhân trở lên thuyền. Bấy giờ, mọi người đều thấy con thuồng
luồng hiện nguyên hình trên đỉnh núi phía tây, thân dài cả mấy dặm.
Vào lúc hoàng hôn, thuyền đang lướt trên sông, chợt có một thiếu
niên xuất hiện, tiến đến cúi đầu đảnh lễ Ngài. Được Ngài chú
nguyện ban phước lành xong, thiếu niên đó chợt biến mất. Ngài bảo
các thương nhân:
- Thiếu niên kia vốn là thần
miếu Cung Đình Hồ. Nay đã thoát thân ác quỷ và thăng lên cung trời.
Miếu Cung Đình Hồ từ đó không
còn linh hiển nữa. Sau này, dân chúng địa phương phát hiện một xác
con thuồng luồng to lớn, dài cả mấy dặm, nằm tại một khe suối về
phía tây của ngọn núi Lô Sơn. Hiện nay, vùng núi đó có tên là Xà
Thôn, quận Tầm Dương, ở Giang Tây.
Tháp Tự Ký ghi: "Chùa Ngõa Quan
ở Đơn Dương, do sa môn Huệ Lập kiến lập vào thời Tấn Ai Đế. Sau
này, sa môn An Thế Cao đem dư vật từ Cung Đình Hồ đến sửa chữa".
Đền trả một phần nghiệp báo xong,
Ngài cũng đến vùng Quảng Châu, tìm đến người thiếu niên giết mình
đời trước, rồi kể lại nhân duyên tiền kiếp, để xả bỏ mối oan khiên
xưa, hầu mong cùng nhau kết tình thân hữu. Gặp mặt nhau, Ngài lại
nói với người đó:
- Tôi cũng còn một món nợ, chưa
trả xong. Hiện tại phải đến nơi đó mà đền trả.
Người đó biết Ngài chẳng phải là
phàm phu, nên cung kính cúng dường. Hôm sau, Ngài và người đó ra
phố, gặp lúc hai gã nọ đang cầm cây đánh nhau. Một gã nọ chợt đánh
nhầm vào đầu của Ngài, khiến Ngài phải vong mạng. Mục kích hai lần
nhân quả báo ứng, người đó bèn phát tâm tinh cần tu tập Phật pháp,
và cũng thường kể lại câu chuyện thật này cho người khác nghe. Bất
luận người nào, hể nghe qua câu chuyện này cũng đều tin sâu lý
nhân quả báo ứng trong ba đời.
Thế rồi thần hồn của Ngài cũng
bay trở lại làm thái tử nước An Tức, tức là An Thế Cao (thứ III).
Sau khi trưởng thành, Ngài cũng xả bỏ vinh hoa phú quý (như kể ở
phần trên) để xuất gia học đạo, rồi sang Trung Thổ dịch kinh.
Tiếng Phạn và tiếng Tàu rất khác
biệt. Tuy nhiên, những kinh điển do Ngài dịch ra, người người đều
đọc dễ dàng.
Trong tập Tam Tạng Ký, đệ tử của
ngài An Thế Cao là Nghiêm Phật Điều viết bài tựa về quyển 'Sa Di
Thập Huệ Chương Cú'. Thầy rất tán dương công đức của vị tôn sư.
Ngài Khương Tăng Hội (217-280) tán thán ngài An Thế Cao trong bài
tựa về kinh 'An Ban Thủ Ý'. Trần Huệ xưng dương ngài An Thế Cao là
Bồ Tát Phổ Kiến trong bài tựa về kinh Âm Trì Nhập. Ngài Đạo An
(312-385) cũng rất tán dương ngài An Thế Cao trong bài tựa về kinh
'An Ban Thủ Ý', và thường bảo:
- Nếu gặp được ngài An Thế Cao,
thì cũng đồng như gặp được bậc thánh nhân.
Theo ngài Đạo An thì ngài An Thế
Cao liên tiếp dịch kinh điển trong hai mươi hai năm, từ đời Hán
Hoàn Đế (148) đến đời Hán Linh Đế (169). Ngoài ra, trong các bài
tựa về kinh Đại Thập Nhị Môn, Đạo Địa, v.v... các vị cao tăng
đương thời đồng xưng tán công đức của ngài An Thế Cao.
Nghiêm Phật Điều đã từng viết: "Phàm
nơi xuất nhập của ngài An Thế Cao, hoặc dùng miệng mà giải thích,
hoặc dùng văn tự mà truyền".
Dùng miệng giải thích tức là
Ngài thường diễn giảng kinh điển. Dùng văn tự mà truyền tức là
Ngài phiên dịch kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Tàu.
Xưa kia, Phật giáo đã truyền vào
Đông Độ rất sớm. Dân gian cũng đã biết phụng tín Phật pháp. Lại
nữa, cũng có rất nhiều vị tăng từ Tây Vực sang phiên dịch kinh
điển, nhưng phần nhiều không đề rõ tên kinh, thậm chí danh tánh
của người dịch cũng không có. Mãi cho đến thời Hán Minh Đế, triều
đình mới chính thức thừa nhận sự dịch kinh của hai tôn giả Ca Diếp
Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Song, bàn về lịch sử thì ngài An Thế Cao
mới là vị phiên dịch kinh điển đầu tiên.
Hai trăm năm sau khi ngài An Thế
Cao viên tịch, vào đời Đông Tấn, ngài Đạo An (312-385) soạn viết
mục lục kinh điển. Người sau y theo đó mà viết ra quyển 'Xuất Tam
Tạng Ký Tập', phân đoạn và ghi chép lại tên của các nhà dịch giả
thời xưa. Y cứ theo quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập' thì ngài An Thế
Cao phiên dịch được ba mươi bốn bộ, và bốn mươi quyển kinh như sau:
Kinh An Ban Thủ Ý (1 quyển), Âm Trì Nhập (1 quyển), Bách Lục Thập
Phẩm (1 quyển), Đại Thập Nhị Môn (1 quyển), Tiểu Thập Nhị Môn (1
quyển), Đại Đạo Địa (2 quyển), Nhân Bổn Dục Sanh (1 quyển), Đạo Ý
Phát Hạnh (2 quyển), A Tỳ Đàm Ngũ Pháp (1 quyển), Thất Pháp (1
quyển), Ngũ Pháp (1 quyển), Thập Pháp (2 quyển), Phổ Pháp Nghĩa (1
quyển), Nghĩa Quyết Luật (1 quyển), Lậu Phần Bố (1 quyển), Tứ Đế
(1 quyển), Thất Xứ Tam Quán (2 quyển), Cửu Hoành (1 quyển), Bát
Chánh Đạo (1 quyển), Tạp Kinh Tứ Thập Tứ Thiên (2 quyển), Ngũ Thập
Giáo Kế (2 quyển), Đại An Ban Thủ (1 quyển), Tư Duy (1 quyển),
Thập Nhị Nhân Duyên (1 quyển), Ngũ Ấm Dụ (1 quyển), Chuyển Pháp
Luân (1 quyển), Lưu Nhiếp (1 quyển), Thị Pháp Phi Pháp (1 quyển),
Pháp Thọ Trần (1 quyển), Thập Tứ Ý (1 quyển), Bổn Tướng Y Chí (1
quyển), A Tỳ Đàm Cửu Thất Bá Kết (1 quyển), Thiền Hành Pháp Tưởng
(1 quyển), Nan Đề Ca La Việt (1 quyển).
Nội dung của các kinh điển mà
ngài An Thế Cao phiên dịch, đại lược chia làm hai phần: Thứ nhất
là loại kinh thuộc về thiền quán, như kinh Đại An Ban Thủ Ý, Thiền
Hành Hành Pháp Tưởng, v.v... Loại thứ hai là theo pháp số, như
kinh Âm Trì Nhập, Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Pháp, Thập Nhị Nhân
Duyên, v.v...
Kinh điển đại biểu thiền quán là
kinh An Ban Thủ Ý. Nội dung của quyển kinh này có mười điểm: Sổ
tức, tùy tưởng, chỉ, quán, hoàn, tịnh, tứ đế3.
1/ Sổ tức (ganana) là đếm hơi
thở. 2/ Tùy tưởng (anugama) là tùy theo hơi thở ra vào mà tâm
không tán loạn. 3/ Chỉ (sthana) là ngưng tâm suy nghĩ vọng động.
4/ Quán (upalaksana) là quán sát cảnh giới rõ ràng. 5/ Hoàn (vivartana)
cũng gọi là chuyển, tức là phản tỉnh mà quán tâm, biết rõ nó không
thật. 6/ Tịnh (parisuddhi) là tâm không có chỗ nương y, không khởi
vọng tưởng. Cộng thêm tứ đế là khổ, tập, diệt, đạo, thành mười
điểm phát huệ. Kinh An Ban Thủ Ý được thành lập do mười điểm huệ
này. Song, bộ kinh này nổi bật tại sáu điểm đầu. Nương vào sáu
điểm này mà sau này đại sư Trí Giả (538-596) của tông Thiên Thai
lập ra Lục Diệu Pháp Môn. Sáu loại này do sổ tức quán mà nhập vào;
từ từ điều hòa sự hô hấp, và đếm hơi thở ra vào, để khiến tâm tập
trung một nơi, tức tu tập pháp tịnh lự. Nhờ quán sát mà biết rõ
đối tượng được quán. Nhờ quán tâm mà thật ngộ lý không, rồi đạt
đến cảnh giới hoàn toàn không khởi vọng niệm. Sáu loại này tức là
An Ban Thủ Ý. Trong kinh lại dùng: Tứ niệm xứẠ là sổ tức; tứ chánh
cầnẠ là tùy tưởng; tứ như ý túcẠ là chỉ; ngũ cănẠ ngũ lựcẠ là quán;
thất Bồ Đề phầnẠ là hoàn; bát chánh đạoẠ là tịnh. Trong đó thuyết
tường tận về sổ tức. Hành trì sáu pháp này thì cũng có thể thành
tựu như trong kinh Tam Thập Thất Phẩm có dạy. Kinh An Ban Thủ Ý
thuyết tường tận về cách hành pháp của sáu việc này.
Kinh An Ban Thủ Ý, bộ kinh đại
diện cho giáo lý Tiểu Thừa do ngài An Thế Cao dịch, được người Tàu
tiếp nạp rất mau chóng. Đạo giáo dùng bộ kinh này mà lập ra pháp
'Thai Tức'.
Ý nghĩa của kinh An Ban
Thủ Ý
[^]
Đức Phật bảo:
- Ta nhờ hành pháp 'An Ban Thủ
Ý' trong chín mươi ngày mà thân tâm được tự tại. Sau khi đã hành
pháp An Ban Thủ Ý xong, thì nhiếp thu ý niệm được. An là thân. Ban
là hơi thở. Thủ là đạo, là cấm, cũng gọi là không phạm giới. Cấm
cũng gọi là hộ, tức là hộ hết tất cả giới mà không phạm. Ý tức là
tâm ý, cũng là đạo.
An Ban tức là hơi thở ra vào,
cũng là pháp hô hấp. Pháp hô hấp, tức Sổ Tức Quán, chính là nền
tảng căn bản của việc tu đạo. Y theo pháp này thì có thể sanh đức
tướng Như Lai. 'An Ban' y theo pháp hô hấp mà thành 'Thủ'. Tứ
thiềnẠ y cứ nơi thân mà hoàn thành 'Định'. Pháp hô hấp có sáu giai
đoạn: Sổ tức, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh. Người tu hành thiền quán,
thường phải trải qua bốn gian đoạn thiền định. Ngài Đạo An chỉ rõ
quán Sổ Tức cùng Tứ Thiền là những yếu điểm đặc sắc của 'An Ban'.
Sự tiếp nạp kinh 'An Ban Thủ Ý'
vào nền văn hóa tư tưởng của người Tàu như sau: Con người vốn y
theo trời đất dưỡng khí mà sống. Do đó, sanh mạng dựa trên việc
còn mất của sự hô hấp. Hô hấp tức hơi thở, là cội gốc của sanh
mạng, cũng là lực hoạt động của trời đất. Nếu nhận rõ khí hô hấp
thường vận hành, thì con người có thể hòa cùng trời đất đồng thành
một thể. Pháp này đồng với lý thuyết của Trang Tử. Từ xưa đến nay,
thân người thường hít vào hơi mới, và thở ra hơi cũ.
Pháp Thai Tức của người Tàu do
các đạo sĩ Đạo giáo phát minh. Trong các bộ kinh do ngài An Thế
Cao dịch như kinh An Ban Thủ Ý và Âm Trì Nhập, thì pháp 'An Ban'
bị các đạo sĩ lợi dụng tiếp nạp mà biến chế ra pháp 'Thai Tức'.
Sau này đại sư Trí Giả nương vào
lục hạnh (sáu hạnh) của kinh An Ban Thủ Ý để lập ra 'Lục Diệu Pháp
Môn'. Thật vậy, phần thứ tư của Thiên Thai Tiểu Chỉ Quán đều đàm
luận về pháp hô hấp. Thiền sư Đạo Nguyên người Nhật, khi thuyết về
pháp môn tọa thiền, cũng bàn về pháp hô hấp.
Do đó, về phương diện tư tưởng
pháp thức tu hành, trải qua bao đời, kinh An Ban Thủ Ý ảnh hưởng
rất lớn đối với người tu hành thiền quán.
Đại biểu cho kinh pháp số mà
ngài An Thế Cao phiên dịch là kinh Âm Trì Nhập. Trong đó có: Năm
ấmẠ, sáu thểẠ, mười hiện sắcẠ, sáu thứcẠ, tứ đếẠ, ba mươi bảy phẩm
trợ đạoẠ, bốn sangẠ, ba cõiẠ.
-
nhà
dịch giả kinh điển Đại Thừa
[^]
Thời Đông Hán, tiếp tục sự
nghiệp phiên dịch của ngài An Thế Cao có các ngài Chi Lâu Ca Sấm,
An Huyền, Trúc Sóc Phật, Nghiêm Phật Điều, v.v...
Thời đại Tần và Hán, nước Đại
Nhục Chi tung hoành tại Trung Á, khống chế vùng bắc bộ A Phú Hãn,
Kiền Đà La, v.v... Nhà đại dịch giả đầu tiên từ nước Đại Nhục Chi
đến Trung Thổ là ngài Chi Lâu Ca Sấm, gọi tắt là Chi Sấm. Tánh
tình của Ngài hoạt bát minh mẫn; suốt đời tu hành nghiêm thủ giới
luật, không vượt ngoài giới pháp một ly tấc; tinh cần tụng trì bao
kinh điển; cả đời lấy chí nguyện hoằng dương Phật pháp làm trọng
trách.
Ngài đến Lạc Dương vào những năm
cuối cùng của Hán Hoàn Đế (147-167). Trong thời Linh Đế Quang Hòa,
niên hiệu Trung Bình (178-190), Ngài chuyên phiên dịch kinh điển.
Tuy vậy, tiểu sử về cuộc đời của Ngài rất là đơn giản; thậm chí
nhập tịch vào niên đại nào, tại nơi nào, cũng không rõ. Y cứ theo
'Tam Tạng Ký', ngài Chi Sấm phiên dịch mười ba bộ kinh, và hai
mươi bảy quyển như sau: 1/ Kinh Thủ Lăng Nghiêm (2 quyển); 2/ Ban
Chu Tam Muội (1 quyển); 3/ Bát Nhã Đạo Hạnh Phẩm (10 quyển); 4/
Truân Chân Đà La Ni (2 quyển); 5/ Phương Đẳng Bộ Cổ Phẩm Viết Di
Nhật Thuyết Bát Nhã (1 quyển); 6/ Quang Minh Tam Muội (1 quyển);
7/ A Xà Thế Vương (2 quyển); 8/ Bảo Tích (1 quyển); 9/ Vấn Tự (1
quyển); 10/ Hồ Bát Nhã Nê Hoàn (1 quyển); 11/ Suất Sa (1 quyển);
12/ A Xà Phật Quốc (1 quyển); 13/ Bột Bổn (2 quyển); 14/ Nội Tạng
Bách Phẩm (1 quyển).
Ngài An Thế Cao phần nhiều
chuyên dịch về kinh điển Tiểu Thừa. Phần đặc sắc của ngài Chi Sấm
là chuyên dịch về kinh điển Đại Thừa. Lý do có sự khác biệt này là
vì vào đương thời, tại nước An Tức của ngài An Thế Cao, Phật giáo
Tiểu Thừa rất hưng thạnh, còn tại nước Đại Nhục Chi của ngài Chi
Sấm thì Phật giáo Đại Thừa lại phát triển mạnh mẽ. Ngoài ra, ngài
Trúc Sóc Phật chỉ mang kinh điển Đại Thừa từ Tây Vực sang Trung
Thổ, rồi truyền lại cho ngài Chi Sấm phiên dịch. Ảnh hưởng đến hậu
thế mạnh mẽ nhất là bản kinh Đạo Hạnh Bát Nhã do ngài Chi Sấm
phiên dịch. Dĩ nhiên, cách thiền quán trong kinh Thủ Lăng Nghiêm
không đồng quan điểm cách hành thiền trong các bộ kinh Tiểu Thừa
do ngài An Thế Cao dịch, vì bộ kinh này thuyết minh thiền quán của
Đại Thừa. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội là bộ kinh mà ngài Chi Sấm dịch
trước nhất. Trong đời Ngụy và Tấn, thiền quán Đại Thừa đã được lưu
hành, nên sứ mạng phiên dịch kinh điển Đại Thừa của ngài Chi Sấm
rất quan trọng. Cái khó của dịch giả là sự vận dụng văn tự. Ngài
thường không câu nệ nơi lời văn trau chuốt, mà chỉ cầu dịch toát
được ý kinh.
Vị tăng có mối quan hệ mật thiết
với ngài Chi Sấm là ngài Trúc Sóc Phật. Đời Hán Linh Đế, Quang Hòa
năm thứ hai (179), ngài Trúc Sóc Phật mang kinh điển đến Lạc Dương,
và cùng với ngài Chi Sấm bắt tay vào sự nghiệp phiên dịch kinh
điển. Theo sử viết thì vào rằm tháng chín năm 179, ngài Trúc Sóc
Phật khẩu truyền đọc kinh Đạo Hạnh và Ban Chu Tam Muội; ngài Chi
Sấm phiên dịch; thị giả là Nam Dương Trương Thiếu An, Nam Hải Tử
Bích. Người trợ giúp là Tôn Hòa, Chu Đề Vị.
Ngoài ngài Trúc Sóc Phật ra,
ngài Chi Sấm còn có mối quan hệ mật thiết với ngài Chi Diệu, vốn
là một tăng sĩ của nước Đại Nhục Chi. Ngài Chi Diệu cũng dịch được
một quyển kinh Thành Cụ Quang Minh Tam Muội, mà bộ kinh này cũng
đồng với kinh Quang Minh Tam Muội do ngài Chi Sấm dịch. Theo Huệ
Kiểu trong quyển Cao Tăng Truyện thì ngài Chi Diệu dịch kinh A Na
Luật Bát Niệm, Tiểu Đạo Địa, Thành Cụ Quang Minh Định Ý, Mã Hữu
Tam tướng, Mã Hữu Bát Thái Dụ Nhân, v.v...
Ngoài ra, có hai nhà dịch giả
cũng từ nước Đại Nhục Chi đến Đông Độ là Chi Việt và Chi Lượng.
Chi Việt cũng được gọi là Chi Cung Minh. Trong thời đông Hán Linh
Đế, người cha đã đến Trung Thổ, nên ngài Chi Việt xuất sanh tại
Đông Độ. Do đó, ngài Chi Việt đã sớm thông thạo tiếng Tàu. Tuy đã
từng gặp ngài Chi Sấm, nhưng không thể thờ làm thầy, mà chỉ y theo
đệ tử của ngài Chi Sấm là Chi Lượng mà học đạo; có lẽ vì lúc đó
ngài Chi Sấm đã già hay sắp viên tịch.
Ngài Chi Việt tài hoa xuất chúng,
thông suốt thâm sâu nội điển và ngoại điển. Ngài Chi Việt dịch
kinh rất lưu loát, uyển chuyển, và đạt được ý kinh. Vì loạn lạc
sau đời Đông Hán, ngài Chi Việt vào nam đến nước Ngô. Từ năm 139
đến năm 153, ngài Chi Việt dịch được mười quyển kinh.
Trong thời Hán Linh Đế, xuất
thân từ nước An Tức cùng với ngài An Thế Cao là An Huyền. Ông vốn
là ưu bà tắc, tánh tình ngay thẳng, nghiêm túc thủ trì năm giới
tại gia, uyên bác thông suốt rất nhiều kinh điển. Cuối đời Hán
Linh Đế, niên hiệu Quang Hòa thứ tư (181), ông đến Lạc Dương. Vì
cần người giao dịch, nên ông được ban chức Kỵ Đô Úy. Tánh tình của
ông rất hòa nhã, thường lấy việc hành trì Phật pháp hằng ngày làm
bổn phận sự. Dần dần biết tiếng Hán, nên ông nỗ lực tuyên giảng
kinh điển Phật pháp, và thường cùng với các vị sa môn đàm luận.
Những Phật tử tu theo pháp Đại Thừa đều gọi ông là Đô Úy Huyền.
An Huyền đã từng cùng với Nghiêm
Phật Điều dịch kinh Pháp Kính. Kinh Pháp Kính này do An Huyền đọc
từ tiếng Phạn chuyển sang tiếng Hán, rồi do Nghiêm Phật Điều nhuận
sắc, nên văn dịch rất hay, mà người đời sau thường tán thán.
Nghiêm Phật Điều là người đã
giúp An Huyền dịch kinh Pháp Kính. Vốn là người An Huy, Nghiêm
Phật Điều thuở ấu thơ rất hiếu học, và lòng tín thành cùng trí huệ
đều đầy đủ. Sau này xuất gia tu học, làm đệ tử của ngài An Thế Cao.
Theo lịch sử Phật giáo Trung Quốc thì thầy Nghiêm Phật Điều là
người Tàu xuất gia đầu tiên nhất. Nghiêm Phật Điều cũng thường chú
trọng vào việc phiên dịch kinh điển. Người đương thời đều xưng tán
ba nhà dịch giả: An Thế Cao, An Huyền, Nghiêm Phật Điều. An Huyền
xưng tán Nghiêm Phật Điều dịch kinh như sau:
- Thầy Nghiêm Phật Điều dịch
kinh, khiến người đọc tỏ ngộ mà không còn phiền lụy. Văn dịch rất
tinh tường diệu xảo.
Ngài Khương Tăng Hội tán thán An
Huyền và Nghiêm Phật Điều trong bài tựa về kinh Pháp Kính: "Hai vị
hiền giả Kỵ Đô Úy An Huyền và Lâm Hoài Nghiêm Phật Điều vào tuổi
tráng niên, chí hướng hoằng dương sự nghiệp của thánh hiền; lời lẽ
sâu xa, tận cùng ý thần, đạt mối u huyền; vì thương cho thế nhân
mù lòa mê muội, không biết đến đại Pháp, nên cả hai vận dụng hết
mọi tư tưởng để phiên dịch quyển kinh mẫu mực này. Đô Úy khẩu trần
thuật. Nghiêm Phật Điều thọ bút".
Cuối đời Hậu Hán, giữa các nhà
dịch giả có Nghiêm Phật Điều là người chú mục kinh điển. Quyển 'Sa
Di Thập Huệ Chương Cú' vốn do ngài An Thế Cao dịch chưa xong, nên
đệ tử của Ngài là Nghiêm Phật Điều tiếp tục dịch cho đến khi hoàn
tất.
Ngoài ra, trong đời Hán Linh Đế,
còn có các nhà dịch giả như Chi Diệu (sa môn của nước Đại Nhục
Chi), Khương Cự (người nước Khương Cư), Khương Mạnh Tường (người
nước Khương Cư). Chi Diệu dịch quyển kinh Thành Cụ Định Ý Tiểu Bổn
Khởi, v.v... tại Lạc Dương. Khuơng Cự dịch kinh Vấn Địa Ngục Sự
vào năm 187; lời văn chỉ thẳng vào bổn ý chỉ của kinh, không gia
sức nhuận sắc. Khương Mạnh Tường cùng với Trúc Đại Lực (người
Thiên Trúc) dịch quyển Trung Bổn Khởi và Đạo Hạnh Khởi vào năm
199. Hai quyển kinh bằng tiếng Phạn này vốn do sa môn Đàm Quả
thỉnh tại nước Ca Duy La Vệ.
Sau khi nhà Hậu Hán mất, nước
Tàu phân thành ba nước: Ngụy, Thục, Ngô. Vào thời đó, ở phía bắc,
trung tâm Phật giáo là Lạc Dương. Trung tâm Phật giáo ở phía nam
là Kiến Nghiệp (Nam Kinh). Đó là hai nơi mà các nhà dịch giả từ
Thiên Trúc và Tây Vực thường lui tới. Theo quyển 'Khai Nguyên Lục'
thì các nhà dịch giả tại nước Ngụy như: 1/ Ngài Đàm Kha Ca La,
nguời trung Thiên Trúc, đến Trung Thổ vào đời Tào Ngụy, niên hiệu
Gia Bình thứ hai (250); 2/ ngài Khương Tăng Khải, người Thiên Trúc,
đến Trung Thổ vào đời Tào Ngụy, niên hiệu Gia Bình thứ tư (252);
3/ ngài Đàm Vô Đế, người nước An Tức, đến Trung Thổ vào đời Tào
Ngụy, niên hiệu Chánh Nguyên nguyên niên (254); 4/ ngài Bạch Diên,
người Tây Vực, đến Trung Thổ vào đời Tào Ngụy, niên hiệu Cam Lộ
thứ ba (258); 5/ ngài An Pháp Hiển, người Tây Vực, đến Trung Thổ
vào đời Tào Ngụy (không rõ niên đại).
5. Ngài Đàm Kha Ca
La (Dharmakala)
[^]
Sự phiên dịch luật điển của ngài
Đàm Kha Ca La ảnh hưởng rất lớn đối với giới tăng chúng tại đất
Tào Ngụy.
Ngài Đàm Kha Ca La tiếng Tàu
dịch là Pháp Thời, xuất thân từ trung Thiên Trúc, gia thế đời đời
đều là phú hộ giàu sang, thường tu theo phước trời Phạm Thiên. Từ
thuở nhỏ, tài năng của Ngài vốn vượt hơn người thường. Uyên bác
học rộng, thông suốt bốn quyển Phệ Đà, am tường thiên văn, tinh
sao, địa lý, vận thế, đồ thư, sấm vĩ. Ngài từng bảo:
- Văn tự và lý lẽ của thiên hạ
đều nằm trong bụng Ta.
Đó là lời tự tín. Tuy nhiên, lúc
gặp Phật pháp thì những điều chấp đó đều tiêu tan. Vào năm hai
mươi lăm tuổi, Ngài đến tham kiến một vị tăng tại tịnh xá nọ, chợt
thấy quyển Thắng Pháp A Tỳ Đàm Tâm Luận, nên bèn lấy đọc. Đối với
quyển này, Ngài hoàn toàn hoang mang, không thể hiểu nổi. Dẫu đọc
cả ba lần mà cũng không hiểu rõ, nên than:
- Từ lúc trưởng thành, tất cả sự
học vấn, điển tích, v.v... Ta chỉ cần đọc qua một lần là thông đạt
ý chỉ, mà chẳng bao giờ xem quá ba lần. Hôm nay xem quyển kinh
Phật giáo, thật vượt ngoài lý giải của mình. Đạo lý trong đây thật
thâm sâu, tất phải là tinh yếu.
Do đó, Ngài cầm quyển luận này,
đi đến tăng phòng, vấn hỏi chư tăng, giải thích về huyền học A Tỳ
Đàm. Được giải thích xong, Ngài bèn thâm ngộ lý nhân quả báo ứng,
và thông hiểu đạo lý luân hồi trong ba đời. Từ đó, Ngài hiểu rõ
Phật giáo thâm sâu quảng bác mà sách vở thế tục không thể bì được.
Do đó, Ngài quyết định xả bỏ vinh hoa phú quý ở thế gian mà xuất
gia tu đạo. Ngài thường tu hành khắc khổ, đọc tụng kinh điển Đại
Thừa và Tiểu Thừa cùng các bộ luật Tỳ Ni, rồi lại đi giáo hóa dân
chúng.
Đời Tào Phế Đế, niên hiệu Gia
Bình thứ hai (250), Ngài đến Lạc Dương. Đương thời, tuy đã có Phật
pháp mà đạo phong suy đồi. Rất nhiều tăng sĩ chưa từng đăng đàn
thọ giới, chỉ hành giống như kẻ tục. Sự khác biệt là họ cạo đầu
đắp y, và thường lo hành trì lễ sám, tế hội, hay tế tự. Tế hội do
Sở Vương Anh hay Hán Hoàn Đế lập ra. Tế tự vốn là pháp cúng bái
của Hoàng Lão, rồi lại thêm nghi thức lễ bái của Phật giáo. Tăng
sĩ vào đời Tào Ngụy không cần thọ giới. Đối với các phương pháp lễ
sám, cứ y theo pháp thức mà hành, chứ không hiểu gì về thể pháp
của Phật giáo.
Vì vậy, vừa đến Lạc Dương, ngài
Đàm Kha Ca La chủ trương rằng tất cả nghi thức, phải tôn theo
những điều Phật chế. Do Ngài tinh thông luật học, chư tăng nơi đó
bèn cầu thỉnh Ngài phiên dịch kinh điển giới luật. Văn nghĩa trong
luật tạng rất là phong phú và phức tạp, mà Phật giáo vào đương
thời chưa được hưng thịnh. Nếu y chiếu theo luật tạng mà phiên
dịch, thì e rằng đại chúng khó lòng tiếp thọ, nên Ngài chỉ dịch ra
một quyển Tăng Kỳ Giới Tâm (toát yếu giới luật của Đại Chúng Bộ).
Quyển 'Phật Tổ Thống Ký' thứ ba mươi lăm, ghi như sau: "Niên hiệu
Gia Bình thứ hai, tam tạng pháp sư Đàm Kha Ca La (hay Đàm Ha Ca
La) từ trung Thiên Trúc đến Lạc Dương, dịch quyển 'Tăng Kỳ Giới',
và lập pháp Yết Ma thọ tăng đại giới. Trước kia, tỳ kheo xuất gia
chỉ cần xuống tóc mà thôi, vì chưa từng biết y theo luật nghi, mà
chỉ y theo sám pháp như tế tự. Lúc đến Lạc Duơng, ngài Đàm Kha Ca
La dịch ra quyển giới bổn để làm chuẩn tắc tu hành hằng ngày cho
tăng chúng".
Xưa kia, hai chúng tỳ kheo và tỳ
kheo ny chỉ thọ tam quy y. Đại tăng và sa di không có phân biệt rõ
ràng. Vì vậy, ngài Đàm Kha Ca La cùng với sa môn nước An Tức là
Đàm Đế, dịch bộ giới bổn Tứ Phần Luật Đàm Vô Đức. Kế đến mười vị
sa môn Thiên Trúc cùng nhau hành pháp Yết Ma truyền giới. Sa môn
Châu Sĩ Hành đầu tiên thọ giới. Cao Tăng Truyện ghi: "Tại miền
Trung Thổ, giới luật phát xuất từ lúc này".
Thế nên, tại Đông Độ người sau
tôn ngài Đàm Kha Ca La là sơ tổ của Luật Tông.
Lúc trước, ngài An Thế Cao đã
từng dịch những quyển giới luật pháp Tiểu Thừa như: Kinh Xá Lợi
Phất Hối Quá, kinh Pháp Luật Tam Muội, kinh Phạm Giới Báo Ứng
Khinh Trọng, kinh Đại Tỳ Kheo Ba Ngàn Oai Nghi (2 quyển).
Tiếp tục sự nghiệp phiên dịch
giới luật Đại Thừa của ngài Đàm Kha Ca La là ngài Khương Tăng Khải
và Đàm Đế.
6. Ngài Khương
Tăng Khải
[^]
Ngài Khương Tăng Khải (Samgaraman)
tuy không rõ xuất thân từ đâu, nhưng có thể là người nước Khương
Cư. Cuối niên hiệu Gia Bình (253), ngài Khương Tăng Khải đến Lạc
Dương. Theo quyển 'Khải Nguyên Lục' thứ nhất viết thì tại chùa
Bạch Mã ở Lạc Dương, ngài Khương Tăng Khải dịch Ức Già Trưởng Giả
Vấn Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh (2 quyển), Tứ Phần Tạp Yết Ma. Đối với
kinh Vô Lượng Thọ, có nhiều thuyết khác nhau. Thuyết thứ nhất cho
rằng kinh này do ngài Khương Tăng Khải đời Tào Ngụy dịch. Thuyết
thứ hai cho rằng ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. Thuyết thứ ba
cho rằng ngài Phật Đà Bạt Đà La cùng thầy Bảo Vân dịch.
7. Ngài Đàm Đế hay
Đàm Vô Đế (Dharmasatya)
[^]
Theo Cao Tăng Truyện thì sa môn
Đàm Đế vốn là người nước An Tức, đến Lạc Dương vào đời Tào Ngụy
vào năm 254, và dịch ra quyển Đàm Vô Đức Yết Ma.
Từ đời Đông Hán đến Tam Quốc, đa
số các nhà dịch giả đều chuyên phiên dịch kinh điển. Đối với giới
luật căn bổn cốt yếu của tăng đoàn, ít có ai xiển dương truyền bá.
Mãi cho đến cuối đời Tấn, và đời Tào Ngụy, luật điển mới từ từ
được phiên dịch.
Ngoài ra, có ngài Bạch Diên
người nước Quy Từ, vào đời Tào Ngụy, cuối niên hiệu Chánh Thủy,
phiên dịch kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Tu Lại, kinh Trừ Não Hoạn.
Y cứ theo quyển 'Lịch Đại Tam
Bảo Thống Ký' của ngài Trúc Đạo Tổ, còn có nhà dịch giả là An Pháp
Hiển. Ngài An Pháp Hiển dịch kinh La Ma Già (3 quyển), kinh Đại
Bát Niết Bàn (2 quyển), cùng bốn bộ và hai quyển kinh khác. Ngài
Vô La Xoa (Moraksa), người ở Tây Vực, vốn là vị đa văn bác học,
cùng với cư sĩ Trúc Thúc Lan (vốn là người Thiên Trúc, theo cha
chạy lánh nạn sang Hà Nam) dịch kinh Phóng Quang Minh Bát Nhã vào
niên hiệu Nguyên Khang (291).
Ngoài ra, còn có các nhà dịch
giả như: Cương Lương Lâu Chí (Kalaruci) người Thiên Trúc, phiên
dịch kinh tại Quảng Châu vào năm 281. Ngài An Pháp Khâm, người An
Tức, dịch kinh tại Lạc Dương từ năm 281 đến năm 306. Ngài Chi Pháp
Độ, người nước Đại Nhục Chi, dịch kinh tại Lạc Dương vào năm 301.
Ngài Nhã La Nghiêm, người Thiên Trúc, dịch kinh tại Lạc Dương vào
khoảng năm 316.
8. Ngài Khương
Tăng Hội
[^]
Tổ tiên của Ngài vốn là người
nước Khương Cư, sau này qua định cư sống tại Thiên Trúc. Người cha
vì việc buôn bán, nên di cư sang Việt Nam (Giao Châu). Vì vậy,
Ngài được sanh ra tại Việt Nam (Giao Châu). Lúc lên mười tuổi, cha
mẹ đều qua đời. Mãn hạn tang chế, Ngài quyết chí xuất gia làm tăng.
Trong tăng chúng, Ngài gắng sức tu hành, không giải đãi chút nào.
Ngài dùng tâm nhu hòa nhã nhặn mà đối xử với người khác. Dẫu có
kiến thức rộng, Ngài vẫn luôn dốc chí tu học. Đối với ba tạng kinh,
luật, luận Ngài đều liễu ngộ thấu triệt. Đối với thư, thi, dịch,
lễ, xuân thu của Nho giáo cùng các điển tích khác, Ngài đều am
tường hiểu rõ. Ngoài ra, về thiên văn, địa lý, và các loại thư
tịch, Ngài đều thông suốt. Biện tài mẫn tiệp, văn chương lưu loát.
Đương thời, vùng Giang Nam do
Ngô Tôn Quyền khống chế. Phật giáo chỉ vừa truyền đến nơi đó, nên
sự giáo hóa chưa được mở rộng. Vì quyết chí làm Phật pháp hưng
thịnh, nên Ngài từ Việt Nam (Giao Châu) sang đến Giang Nam xây
chùa tạo tượng Phật. Vào niên hiệu Xích Điểu thứ mười (247), Ngài
đến Kiến Nghiệp (Nam Kinh, kinh đô của nhà Ngô), xây am tranh, lập
tăng phòng, tạo tượng Phật.
Vì Phật giáo mới được truyền vào,
nên dân chúng chỉ hiểu Phật pháp qua những lời truyền tụng của các
sa môn thường du hành khất thực. Do đó, ít có ai lãnh hội được
nghĩa lý Phật pháp, và rất ít người biết đến công hạnh xuất gia
làm sa môn. Một ông quan nọ đã từng tâu với Ngô Tôn Quyền:
- Những người Thiên Trúc từ
phương tây đến, rồi tự xưng là sa môn. Dung mạo y phục đều khác
với người Tàu. Xin Điện Hạ hãy thẩm tra những hành động cử chỉ của
họ.
Ngô Tôn Quyền bảo:
- Trẫm đã từng nghe xưa kia Hán
Minh Đế mộng thấy thần nhân, danh xưng là Phật. Những hành vi cử
động của các sa môn đó, chẳng giống với đạo phong của Phật sao ?
Ngô Tôn Quyền sau này triệu Ngài
vào kinh để chất vấn:
- Sa môn các ngài tu hành theo
Phật giáo, có được những điềm linh ứng gì ?
Ngài nói:
- Đức Như Lai nhập diệt đã hơn
một ngàn năm, mà xá lợi lưu lại đến ngày nay, vẫn hiển hiện bao
điềm linh diệu. Xưa kia, vua A Dục đã từng kiến tạo tám mươi bốn
ngàn ngôi tháp để thờ xá lợi. Tháp tự chính là biểu thị cho sự
giáo hóa của Phật pháp.
Nghe qua những lời đối đáp này,
Ngô Tôn Quyền cho rằng đó chỉ là những lời nói khoác, nên ra lịnh,
bảo:
- Nếu Ngài cầu được xá lợi, thì
Trẫm cho phép kiến lập tháp tự. Nếu có điều chi dối trá, Trẫm sẽ y
theo quốc pháp mà trị tội !
Nghe như thế, Ngài định ước với
Ngô Tôn Quyền là trong kỳ hạn bảy ngày, sẽ cầu được xá lợi. Trở về
chùa, nhận thấy việc này rất quan trọng, liên hệ tới sự tồn vong
của Phật pháp, nên Ngài vân tập đồ chúng, bảo:
- Sự tồn vong và hưng thịnh của
Phật pháp đều do việc khẩn cầu xá lợi. Nếu chúng ta không chí
thành khẩn cầu xá lợi, thì e rằng Phật pháp khó mà lưu truyền tại
vùng này !
Thế nên, Ngài cùng với các đệ tử
quét dọn phòng ốc, tắm gội sạch sẽ, trai giới tinh nghiêm, rồi đặt
một bình đồng để trên tòa cao, và thành tâm dâng hương, cầu nguyện
xá lợi Phật hiển hiện oai linh.
Qua bảy ngày, chưa có điềm cảm
ứng gì, nên Ngài đành xin khất thêm bảy ngày nữa. Đến ngày thứ
mười bốn cũng chưa có điềm lành gì cả. Vì vậy, Ngô Tôn Quyền cho
là Ngài đặt điều dối trá, nên định ra lịnh gia tội, nhưng Ngài lại
quyết tâm cầu thỉnh hoãn thêm bảy ngày nữa, và được Ngô Tôn Quyền
chấp thuận. Tới chiều ngày thứ hai mươi mốt mà cũng chưa thấy hột
xá lợi nào. Đêm hôm đó, vào canh năm, đại chúng chợt nghe có tiếng
leng keng trong bình đồng. Mở ra, thấy xá lợi đã xuất hiện trong
đó. Sáng hôm sau, Ngài đem xá lợi chiếu năm màu rực rỡ trong bình,
trình lên Ngô Tôn Quyền. Tất cả triều thần đều tụ hội để xem xá
lợi. Họ chỉ thấy ánh sáng năm màu vi diệu tỏa ra từ trong bình
đồng. Ngô Tôn Quyền tự tay cầm lấy bình chứa xá lợi, rồi đổ xá lợi
lên mâm đồng. Hạt xá lợi vừa rơi xuống thì mâm đồng liền bị bể
tan. Chứng kiến tận mắt việc này, Ngô Tôn Quyền kinh hãi, khởi tâm
cung kính, nói:
- Thật là điềm hy hữu !
Ngài bèn bảo:
- Oai thần xá lợi chẳng phải chỉ
có tỏa sáng năm màu thôi. Dẫu bỏ vào lửa, lửa không thể đốt cháy.
Dẫu có dùng chày kim cang đập mãi, nhưng không thể nào làm tan nát
!
Nghe lời này, Ngô Tôn Quyền để
xá lợi trên cái đe bằng sắt, rồi sai đại lực sĩ dùng chùy sắt mà
đập. Bấy giờ, Ngài khấn niệm:
- Phật pháp vừa hiển lộ. Thiên
hạ vừa mới sanh tâm ngưỡng mộ ân trạch của chánh giáo. Ngưỡng vọng
đức Thế Tôn từ bi thị hiện thêm thần tích oai linh cảm ứng !
Đại lực sĩ đập mãi, mà chỉ thấy
cái đe bị lún xuống, còn xá lợi thì không sứt mẻ chút nào, và vẫn
tỏa ánh hào quang sáng ngời. Thấy điềm linh dị rõ ràng, Ngô Tôn
Quyền tán thán vô ngần, rồi bèn ra lịnh cho xây tháp tự ngay lập
tức. Đó là ngôi chùa đầu tiên được kiến lập tại Giang Nam, được
gọi là Kiến Sơ, cũng gọi là Kiến Phật. Ngô Tôn Quyền cũng đổi tên
vùng đất xung quanh chùa là Phật Đà Lý. Phật pháp nhờ đó mà phát
khởi hưng thạnh.
Sau khi Ngô Tôn Quyền mất, Ngô
Lâm lên chấp chính vào năm 256. Ngô Lâm chuyên quyền vô độ, giết
hại tăng sĩ, đập phá chùa chiền, bức hại tín ngưỡng của quần chúng.
Vì hành vi tàn ác, cuối cùng Tôn Lâm bị giết chết, và Tôn Hạo lên
ngôi (264-280). Giống như Tôn Lâm, tánh tình của Tôn Hạo cũng thô
bạo, kiêu căng, cùng lạm dụng quyền thế. Tôn Hạo ra lịnh phá rất
nhiều đền miếu, và đốt phá chùa chiền. Ngô Tôn Hạo bảo với quần
thần:
- Chùa chiền Phật giáo sao lại
được lập nhiều quá lắm ? Nếu giáo nghĩa Phật giáo tương hợp với
thánh điển thì có thể phụng hành và bảo tồn. Nếu chỉ là hư ngụy
thì phải nên đốt sạch.
Quần thần bèn phân trần ngăn cản:
- Oai thần Phật lực vô biên. Đức
Phật không đồng với những dị thần khác. Ngài Khương Tăng Hội dùng
tâm chí thành mà cảm chiêu điềm lành linh ứng, nên Ngô Đại Đế mới
cho xây chùa chiền. Nếu tùy tiện mà hủy hoại, thì e rằng sau này
hối hận không kịp !
Nghe quần thần can gián, Ngô Tôn
Hạo không biết thật hư, nên phái đại thần Trương Dục đến chùa Kiến
Sơ, chất vấn ngài Khương Tăng Hội. Vốn là kẻ cơ trí biện tài,
trước khi đến chùa, đại thần Trương Dục chuẩn bị những câu hỏi
hiểm hóc, hầu mong làm xấu mặt ngài Khương Tăng Hội trước đại
chúng. Tuy nhiên, Ngài tùy cơ ứng biến, đối đáp lưu loát, chẳng có
chút gì thua kém. Bàn luận mãi từ sáng đến tối, Trương Dục vẫn
không thể khuất phục nổi Ngài, nên đành phải cáo từ. Vừa bước ra
cổng chùa, Trương Dục thấy một ngôi miếu ngay bên cạnh của chùa,
nên bèn hỏi:
- Chánh giáo Phật pháp đã đắc
được nhân tâm. Sao ngôi miếu đó lại còn nằm kế bên chùa chiền,
khiến làm ô uế sự giáo hóa của Phật pháp ?
Ngài bảo:
- Ví như sét đánh sấm nổ, khiến
núi non tan vỡ. Tuy nhiên, đối với kẻ điếc, họ không nghe được âm
thanh gì cả. Vì vậy, vấn đề là chẳng phải ở nơi tiếng sấm sét vang
to hay nhỏ. Vạn vật nếu hòa cùng trời đất, thì dẫu có cách xa muôn
dặm, cũng vẫn có điềm cảm ứng. Vì những ngôi đền miếu đó không đi
đúng với chánh đạo, nên dẫu gần kề trong gang tấc mà không có cảm
ứng được gì.
Trở về, Trương Dục thuật lại
những lời đối đáp cho Ngô Tôn Hạo nghe, và tán thán Ngài là một vị
tài trí cao nhân đệ nhất. Dẫu nghe như thế, Tôn Hạo vẫn không tin
phục, nên hội tập quần thần và hiền sĩ tại triều đình, rồi cho
người đem xe đi rước Ngài vào cung để chất vấn, hầu mong làm nhục
Ngài trước bá quan văn võ. Ngài vừa đến, Tôn Hạo bèn hỏi:
- Nghĩa lý về thuyết nhân quả
báo ứng của Phật giáo như thế nào ?
Ngài đáp:
- Hiền minh quân chúa dùng nhân
từ bác ái mà huấn dụ răn nhắc người đời, và dùng đạo đức nhân hòa
để giáo hóa cùng trưởng dưỡng vạn vật. Gió hòa mưa thuận, vạn vật
tốt tươi sinh sôi nẩy nở đều nhờ làm lành mới có báo ứng điềm lành,
còn làm ác thì không bao giờ có được như thế. Dẫu người đời không
ai biết mình làm việc quấy, nhưng không thể trốn khỏi tai mắt của
lưới trời, và cuối đời sẽ bị quỷ thần tru diệt. Làm việc ác mà
người người đều biết, thì nhất quyết sẽ bị người giết hại. Kinh
Dịch nói: "Tích thiện dư khánh", và Kinh Thi cũng nói: "Cầu thiện
bất hồi". Đây là thư điển của Nho giáo, nhưng cũng tương đồng với
những lời giáo huấn của Phật pháp.
- Đạo lý này thật đúng, nhưng
Chu Công, Khổng Tử đã từng chỉ dạy rõ rồi, thì giáo huấn của Phật
đà còn tồn tại để làm gì ?
- Các thuyết của Chu Công, Khổng
Tử chỉ bàn về những việc thiển cận mà thôi. Lý thuyết của Phật
giáo u huyền, thâm sâu vi tế. Phật thường dạy rằng nếu người đời
làm việc ác thì sẽ đọa vào địa ngục chịu bao thống khổ, và nếu họ
thường hành việc thiện thì sẽ sanh lên cõi trời hưởng bao sự an
lạc sung sướng dài lâu. Việc khuyến tấn làm lành tránh ác chẳng
phải là vấn đề trọng yếu sao ?
Tôn Hạo bị Ngài hỏi ngược lại,
mà chẳng có lời chi để đối đáp, nên đành tạm bãi trào. Tuy ông ta
đã nghe chánh pháp, nhưng chẳng hiểu chi hết, và cũng không biết
sám hối sửa đổi. Ngài than với tăng chúng:
- Tôn Hạo tánh tình thô bạo.
Thật không có cách nào để giảng giải về nghĩa lý thâm sâu áo diệu
của Phật pháp, hay khuyên nhủ báo ứng nhân quả cho ông ta nghe
được. Tâm của ông ta trước sau vẫn u mê mờ mịt !
Lần nọ, các vệ sĩ trong vườn
thượng uyển đào lên được một tượng Phật bằng vàng cao vài mươi
thước. Tôn Hạo hay tin, bèn sai bọn họ để tôn tượng Phật nơi chỗ
bất tịnh. Vào ngày lễ Phật đản, tức mồng tám tháng tư, thường có
hội lễ tắm Phật. Vào ngày đó Tôn Hạo đến chùa cố ý làm nhơ tượng
Phật, tự bảo: "Trẫm tắm Phật !" rồi cười riễu cợt với quần thần.
Sau này, Tôn Hạo đột nhiên bị bịnh phù thủng đau nhức nhối, và âm
bộ cũng bị sưng phù, khiến rên xiết kêu trời, nên cho vời thái sử
vào chiêm bốc. Thái sử tâu:
- Đây là bịnh do phạm đến chư
đại oai thần !
Tôn Hạo lập tức sai người đi cầu
đảo tại các đền miếu, nhưng bịnh trạng vẫn không thuyên giảm chút
nào. Đương thời, trong cung có một cung nữ rất chân thành tín
phụng Phật pháp, nên bẩm tấu với Tôn Hạo:
- Xin Điện Hạ hãy đến chùa sám
hối.
Bịnh tình đau khổ vô cùng cực,
Tôn Hạo vẫn gắng gượng hỏi cung nữ:
- Pháp lực của Phật oai linh đến
độ như vầy sao ?
Cung nữ nói:
- Phật vốn là một bậc đại oai
thần !
Nghe theo ý kiến của cung nữ,
Tôn Hạo bèn sai người đem ra tôn tượng Phật bị ông ta làm ô nhiễm
trước kia, và đặt tại cung điện, rồi cung kính dùng nước hương
trầm mà tẩy uế cả chục lần. Kế đến, Tôn Hạo dâng hương sám hối,
cùng quỳ lạy, khẩn thành tự trần thiết những tội trạng. Nhờ vậy mà
bịnh tình thuyên giảm rất nhiều. Tôn Hạo bèn đến chùa, thỉnh cầu
Ngài thuyết pháp. Ngài cũng tùy thuận theo ý ông ta mà giải thích
cặn kẽ những điểm tinh yếu của luật nhân quả cùng tội phước. Tự
thân chứng nghiệm được nhân quả báo ứng, nên Tôn Hạo mới hiểu rõ
những lời huấn dụ, nên rất vui mừng, rồi cầu Ngài cho phép xem
giới luật của sa môn. Ngài bảo rằng giới luật đó chỉ dành cho
những người xuất gia, chứ người thế tục không thể khinh xuất xem
được. Tuy nhiên, Ngài lấy ra một trăm ba mươi lăm lời nguyện trong
kinh Bổn Nghiệp, rồi phân thành hai trăm năm mươi việc, để lúc đi
đứng nằm ngồi, đều nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, và đưa cho
Tôn Hạo. Vừa xem qua những lời nguyện từ bi thiện ích đó, Tôn Hạo
bèn cầu thỉnh Ngài truyền năm giới cấm. Vài ngày sau thì bịnh của
Tôn Hạo thuyên giảm hoàn toàn. Từ đó, Tôn Hạo cho người sửa sang
chùa chiền và đổi tên chùa của ngài Khương Tăng Hội thành chùa
Thiên Tử. Ông lại hạ lịnh cho quần thần và tông quyến đồng tín
phụng Phật pháp. Nhờ tự thân cảm nghiệm rõ sự linh ứng của nhân
quả báo ứng và nhờ những lời giảng dạy của ngài Khương Tăng Hội,
mà Tôn Hạo mới chuyển tánh hung bạo thành hiền lương. Tâm thức của
ông ta cũng được khai mở.
Theo quyển 'Xuất Tam Tạng Ký Tập'
thì ngài Khương Tăng Hội dịch những bộ kinh như sau: Kinh A Nan
Niệm Di, Kính Diện Vương, Sát Vi Vương, Phạm Hoàng Vương, Đạo Phẩm,
Lục Độ Tập, v.v... Ngoài ra, Ngài còn chú giải, soạn viết lời tựa
cho kinh An Ban Thủ Ý, Pháp Cảnh, Đạo Thọ, v.v...
Ngài Đạo An có ghi: "Tích xưa,
Nghiêm Phật Điều soạn Sa Di Thập Huệ Chương Cú. Khương Tăng Hội
hội tập Lục Độ yếu mục, cùng kinh Ngô Phẩm".
Lục Độ Yếu Mục của ngài Khương
Tăng Hội hiện nay vẫn còn: 1/ Bố Thí Độ Vô Cực Chương; 2/ Giới Độ
Vô Cực Chương; 3/ Nhẫn Nhục Độ Vô Cực Chương; 4/ Tinh Tấn Độ Vô
Cực Chương; 5/ Thiền Độ Vô Cực Chương; 6/ Minh Độ Vô Cực Chương.
Đó là lục độ ba la mật mà bao ức kiếp trong đời quá khứ, đức Phật
đã từng thật tiễn hành trì.
Trong các quyển kinh do Ngài
dịch và chú giải hay soạn viết lời tựa, như kinh An Ban Thủ Ý,
kinh Pháp Kính, kinh Tạp Thí Dụ, Tiểu Phẩm, v.v... văn từ rất điêu
luyện tinh mật, khiến ai ai đọc qua cũng lấy làm thán phục. Ngoài
ra, Ngài còn giảng giải về kinh Phạm Hoàng, Sát Vi Vương, Kính
Diện Vương, A Nan Niệm Di.
Ngài Khương Tăng Hội tịch vào
đời Tấn Võ Đế, niên hiệu Thái Khang nguyên niên (280).
Vào thời Tam Quốc, do sự phiên
dịch và chú giải của ngài Khương Tăng Hội, tư tưởng Phật học được
lưu truyền rộng rãi, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tu học của quần
chúng, cùng việc xây cất chùa chiền của chư tăng người Tàu.
Phật giáo ở đời Đông Hán như Sở
Vương Anh hay Hán Hoàn Đế, chỉ hạn cuộc trong việc xây cất chùa
chiền, tạo tượng Phật, hoặc hành sự theo những nghi thức cổ truyền,
còn việc phiên dịch kinh điển thì chưa được phát triển cho lắm.
Khởi đầu sự nghiệp phiên dịch kinh điển Tiểu Thừa là ngài An Thế
Cao, và phiên dịch kinh điển Đại Thừa là ngài Chi Lâu Ca Sấm, mà
kế thừa sự nghiệp này là ngài Khương Tăng Hội và Chi Khiêm. Những
bộ kinh về thiền học và số học của ngài An Thế Cao sau này được kế
thừa bởi các ngài An Huyền, Nghiêm Phật Điều, Nam Dương Hàn Lâm,
Đãnh Xuyên Bì Nghiệp, Hội Kê Trần Huệ, Khương Tăng Hội, v.v...
Ngài Khương Tăng Hội xuất thân
từ Việt Nam, lại thông suốt văn hóa cùng văn chương nước Tàu, nên
lẽ đương nhiên là trong lúc phiên dịch kinh điển, ngài mong muốn
dung hợp tư tưởng Phật giáo với tư tưởng người Tàu. Ví dụ, trong
bài tựa về kinh An Ban Thủ Ý, ngài Khương Tăng Hội dùng rất nhiều
thuật ngữ của Lão Trang.
Nhờ hai nhà đại dịch giả An Thế
Cao và Chi Khiêm mà giáo lý Tiểu Thừa được lưu truyền rộng rãi.
Ngoài ra, giáo lý Bát Nhã của Đại Thừa được khởi xướng từ hai nhà
đại dịch giả là Chi Lâu Ca Sấm và Khương Tăng Hội.
Tuy cha mẹ gốc là người Khương
Cư, nhưng ngài Khương Tăng Hội được sanh ra và trưởng thành ở Việt
Nam (Giao Châu). Vì vậy, không giống với các vị thần tăng người
Thiên Trúc, Tây Vực, v.v... ngài Khương Tăng Hội vốn là người Việt
Nam, xuất gia đắc đạo, thắp lên ngọn đuốc thiền tông cùng giáo lý
Đại Thừa ở Việt Nam, rồi dẫn chư đệ tử sang truyền bá Phật pháp
ngay trên đất Tàu. Nhờ công lao của Ngài mà Phật giáo vùng Giang
Nam mới được phát khởi hưng thạnh. Do đó, công nghiệp truyền bá
Phật pháp của ngài Khương Tăng Hội ảnh hưởng lớn lao đối với lịch
sử Phật giáo Trung Quốc. Ngọn đuốc chánh pháp do Ngài truyền sang,
mãi mãi chiếu soi trong tâm thức của người Tàu. Dĩ nhiên, oai danh
tài đức của Ngài đã tô đậm nét son vàng cho lịch sử Phật giáo Việt
Nam. Ngài là vị đại diện cho biết bao vị cao tăng khác ở Việt Nam
sang Trung Thổ truyền bá chánh pháp, và dạy đạo cho các vua chúa
cùng dân chúng người Tàu, như pháp sư Phụng Đình (vào giảng kinh
trong cung vua Đường), pháp sư Duy Giám (sang giảng kinh trong
cung vua Đường), v.v... Thật vậy, nhờ địa thế mà Phật giáo được du
nhập vào nước Việt Nam sớm hơn nước Tàu. Điều này được cuốn Phật
Giáo Việt Nam Sử Luận chứng minh rõ ràng:
"Trung tâm Luy Lâu (ở Giao Châu)
được thành lập sớm nhất và trung tâm này đã làm bàn đạp cho sự
thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa".
Bàn về địa thế, trong những năm
dài tối tăm bị đô hộ, Việt Nam (Giao Châu) là thương cảng quan
trọng nhất của đế quốc phương bắc từ đời Tiền Hán đến đời Đường
(111 t.TL - 907 s.TL). Theo thầy Thích Đông Sơ trong quyển Trung
Ấn Phật Giáo Giao Thông Sử thì sự giao thương giữa nước Tàu và Ấn
Độ vào những thế kỷ trước và sau tây lịch qua ba con đường chính:
Thứ nhất là theo con đường lụa (silk route), tức là từ Ấn Độ, vượt
ngọn Thông Lĩnh, đi về hướng đông, qua các nước ở Tây Vức như Kế
Tân, Vu Điền, băng ngang các bãi sa mạc, rồi vào Cô Tạng hay Lương
Châu, để đến Trường An hoặc Lạc Dương. Trên đất liền, đây là tuyến
đường mà chư tăng người Ấn Độ thường dùng nhất. Thứ hai là từ Ấn
Độ, đi ngang qua Miến Điện, rồi vào Vân Nam. Tuy nhiên, tuyến
đường này rất ít người dùng đến. Thứ ba là đường biển. Xuất phát
từ Ấn Độ Dương, các chư tăng người Ấn Độ hay Tây Vực thường theo
thương thuyền mà đến Việt Nam (Giao Châu), trước khi vào đất Tàu.
Ngoài ra, các nước ở Nam Hải như Phù Nam (Cam Bốt), Sư Tử (Tích
Lan), v.v... và ngay cả đế quốc La Mã, muốn giao dịch với người
Tàu đều phải đến Việt Nam (Giao Châu) bằng đường biển trước nhất,
rồi mới đi vào lục địa. Theo sách truyện về nước Thiên Trúc cùng
Tây Vực vào đời Hậu Hán (Hậu Hán Thư, Tây Vực Truyện, Thiên Trúc
Truyện), viết: "Trong đời vua Hòa Đế (79-104), các nước Thiên Trúc
cùng Tây Vực thường phái các đoàn sứ giả đem phẩm vật triều cống
đến Nhật Nam".
Quyển truyện Đại Tần thứ tư viết:
"Nước Đại Tần (nước Tàu) đã từng cùng với nước An Tức, Thiên Trúc
giao thương với nhau bằng đường biển, mười phần đều có lợi ích.
Các thương nhân cùng đoàn sứ giả thường đem ngà voi, sừng tê giác,
v.v... đến Nhật Nam".
Nhật Nam tức là hai tỉnh Quảng
Bình và Quảng Trị của Việt Nam hiện nay. Đường Thư Địa Lý, tức là
sách địa lý của nhà Đường (618-907) viết: "Những đoàn sứ giả và
thương nhân thuộc các nước ở vùng Hải Nam, nằm về hướng nam và
hướng tây nam của Giao Chỉ, hoặc cách năm dặm, năm ngàn dặm, trăm
ngàn dặm. Họ thường dùng thương thuyền mang hàng hóa trao đổi, hay
lễ vật triều cống, và đều tới thương cảng ở Giao Chỉ, từ đời Hán
Võ Đế (206 t. TL) cho đến nay".
Lại nữa, theo hai ông Sylvain và
Pelliot khảo cứu thì người Tàu và Ấn Độ khi giao thương với nhau
đều lấy Việt Nam (Giao Châu) làm môi giới trung gian từ năm 245
trước tây lịch đến thế kỷ thứ bảy.
Ngoài ra, bấy giờ dân tộc Chàm (Champa)
còn mạnh, và họ chịu ảnh hưởng rất sâu nặng về nền văn hóa của
người Ấn Độ. Họ thường dùng sách vở bằng tiếng Phạn, và thông thạo
tiếng Qua Oa (Java). Dân Việt Nam sống gần với họ nên lẽ dĩ nhiên
là có rất nhiều người thông thạo tiếng Phạn, và tiếng Tàu. Do đó,
các đoàn truyền giáo từ Ấn Độ sang thường tìm đến người Việt Nam
để nhờ thông dịch hay phiên dịch kinh điển chữ Phạn ra tiếng Tàu.
Các ngài cũng thường đến đó để học chữ Tàu rồi bắt đầu khởi xướng
công việc phiên dịch. Vì vậy, chẳng lấy làm ngạc nhiên cho lắm có
rất nhiều bản kinh cựu dịch thường được dịch tại Việt Nam.
Thế nên, nhờ có chư tăng người
Ấn Độ liên tục qua vùng viễn đông truyền bá đạo pháp trong thời
bắc thuộc, mà nền Phật giáo tại Việt Nam vào thời sơ kỳ được ảnh
hưởng trực tiếp từ Phật giáo Ấn Độ. Điển hình, là đầu thế kỷ thứ
nhất, chư tăng người Ấn Độ từ các trung tâm Phật giáo Đại Thừa ở
vùng duyên hải đông Ấn Độ như Nagarunakonda và Amaravati thường
theo các thương thuyền để đến vùng Đông Nam Á. Nếu muốn truyền bá
Phật giáo vào nước Tàu, thì tất nhiên là các ngài phải đến Việt
Nam (Giao Châu) trước nhất, rồi mới đi vào lục địa. Đến nơi, các
ngài phiên dịch kinh điển, thành lập tăng đoàn, rồi từ từ truyền
bá Phật pháp vào nước Tàu, Cao Ly.
Vì vậy, với địa thế thuận lợi,
Việt Nam đã sớm tiếp thọ Phật giáo chánh truyền trực tiếp từ chư
tăng người Ấn Độ trong thời bắc thuộc từ đời Tiền Hán cho đến đời
Đường, rồi dùng nguồn sinh lực và lẽ nhiệm mầu của Phật pháp làm
nơi nương tựa cho tâm linh, chứ không bị giáo điều Khổng - Mạnh
của người phương bắc nhồi nhét đồng hóa để làm nô lệ như những dân
tộc khác. Chẳng những không bị đồng hóa mà các vị cao tăng người
Việt Nam lại đem ngọn đuốc chánh pháp truyền vào tận triều đình
của người Tàu.
Ngoài ra, trong ba thời kỳ bắc
thuộc (111 tr.TL - 39 s.TL, 43-544, 603-939), ở Việt Nam có rất
nhiều vị cao tăng sang Thiên Trúc để tầm cầu Phật pháp, như thiền
sư Vận Kỳ, ngài Mộc Xoa Đề Bà, pháp sư Khuy Xung, pháp sư Huệ Diệm,
pháp sư Giải Thoát Thiên. Lại nữa, các chư tăng người Tàu cũng
thường đến Việt Nam (Giao Châu) để lên thuyền sang Thiên Trúc và
Tây Vực cầu pháp điển hình là thầy Huệ Mạnh, Đàm Nhuận, Trí Hoằng,
v.v...
Tựu chung, nhờ hấp thụ tinh hoa
của Phật pháp, nhất là thiền pháp, từ lúc ngài Khương Tăng Hội chú
giải thiền kinh An Ban Thủ Ý, đến khi thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi
(?-602) truyền bá cùng sáng lập thiền tông mà tư tưởng của dân tộc
Việt Nam luôn được rèn luyện huân tập với ý chí tự lập kiên cường.
Đây là điểm then chốt trưởng dưỡng hun đúc ý thức tự chủ, độc lập
của dân tộc Việt Nam trong bao năm bị đế quốc phương bắc đô hộ, để
rồi gặp thời điểm thuận tiện, giành lại chủ quyền vào năm 939.
Điển hình, nhờ tiếp thu tinh ba
của Phật pháp, tại Việt Nam đã sớm xuất sanh những vị cao tăng tài
đức, như Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Pháp Thuận, v.v... Các ngài đã hỗ
trợ và làm quân sư cho những vị minh quân như Đinh Tiên Hoàng, Lê
Đại Hành, Lý Thái Tổ để lèo lái con thuyền quốc gia ra chốn bùn
nhơ nô lệ, giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, rồi xây dựng
những triều đại nhân từ và hưng thịnh nhất trong lịch sử nước nhà,
qua suốt bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần (939-1400).
9. Chi Cương Lương
Tiếp
[^]
Ngài Chi Cương Lương Tiếp (dịch
là Chánh Vô Úy) vốn là người nước Đại Nhục Chi, dịch sáu quyển
kinh Pháp Hoa Tam Muội tại Giao Châu (Việt Nam) vào đời Tào Ngụy,
niên hiệu Cam Lộ nguyên niên (256). Theo quyển Lịch Đại Tam Bảo Ký,
có một vị tăng người nước Đại Nhục Chi tên là Cương Lương Lâu Chí
(Kalyanaruci) đến Phiên Ngu ở Quảng Châu vào năm 266, và dịch bộ
Thập Nhị Du Kinh. Theo ông Pelliot tra cứu thì hai người đó chỉ là
một vị.
10. Ma Ha Kỳ Vực (Mahajivaka)
[^]
Theo quyển Lương Cao Tăng Truyện
thì ngài Ma Ha Kỳ Vực vốn là người Thiên Trúc. Ngài đi từ Thiên
Trúc sang Phù Nam (Cam Bốt), qua Giao Châu (Việt Nam), rồi đến
Quảng Châu vào cuối đời Tấn Huệ Đế (290-306). Lần nọ, lúc đến
Tương Dương, Ngài muốn lên đò qua sông. Tuy vậy, chủ đò thấy Ngài
ăn mặc rách rưới nên không cho lên. Đò vừa cặp bến sông thì thấy
Ngài đã đứng trên bờ sông cùng với hai con hổ. Mọi người đều kinh
hoàng. Từ đó, có rất nhiều người đi theo Ngài học đạo. Đến Lạc
Dương, Ngài dùng những phương pháp trị bịnh thần dị để chữa những
bệnh nan y, khiến cho các bệnh nhân đều được bình phục. Về sau, vì
chiến loạn nên Ngài rời Lạc Dương, trở về Thiên Trúc. Trong quyển
Cổ Châu Pháp Vân Phật Bổn Hạnh Ngữ Lục (tập truyện viết về sử Phật
giáo Việt Nam), thiền sư Viên Chiếu có ghi: "Trong thời Hán Linh
Đế thống trị nước ta (Việt Nam), có một vị tăng tên là Kỳ Vực, dẫn
theo một đệ tử là Khâu Đà La. Ngài Kỳ Vực tay cầm cành dương chi,
đi khắp các nơi. Cuối cùng đến đất Luy Lâu. Nơi đó, có một vị
thường tu thiền định. Ông ta thỉnh mời hai thầy trò ngài Kỳ Vực
vào nhà nghỉ ngơi. Song, chỉ có Khâu Đà La là lưu lại, còn ngài Kỳ
Vực thì tiếp tục đi về hướng đông. Một tháng sau, Khâu Đà La cũng
từ biệt ra đi. Tuy nhiên, vị tu thiền định kia lập thệ nguyện kiên
trì tu hành mà lưu giữ Khâu Đà La ở lại. Khâu Đà La thường đứng
một chân tụng kinh liên tục suốt bảy ngày. Về sau, Khâu Đà La an
nhiên mà tịch. Mọi người nghe ở phía tây có âm thanh vang dội, nên
đồng tìm đến. Cuối cùng, họ phát hiện một quyển kinh dưới tàng cây
lớn (nơi Khâu Đà La thường đứng tụng kinh)".
11. Chi Khiêm
[^]
Chi Khiêm tự Cung Minh, biệt
danh là Việt, xuất thân từ nước Đại Nhục Chi. Thời Hán Linh Đế, tổ
phụ dẫn cả trăm người sang nơi đất Hán, nhân đó đổi tên thành Chi.
Chi Khiêm vốn là ưu bà tắc. Năm mười tuổi học kinh thư, có trí
thông minh mẫn tiệp hơn người. Năm mười ba tuổi học sách vở tiếng
Phạn, cùng thông thạo ngôn ngữ của sáu nước. Đời Hán Linh Đế, đệ
tử của ngài Chi Sấm là Chi Lượng sang Trung Thổ. Chi Khiêm bèn
theo Chi Lượng học Phật pháp. Cuối đời Đông Hán, Chi Khiêm chạy
loạn đến nước Ngô. Tưởng vào nam lánh được loạn lạc, nhưng vẫn gặp
khổ ách. Đương thời, Chi Khiêm cùng vài mươi người đồng hương qua
đất Ngô. Họ phải đắp chăn ngủ trên đường lộ. Trong nhóm có một
người khách; ông ta không có chăn để đắp. Thấy trời lạnh lẽo, Chi
Khiêm gọi ông ta qua cùng đắp chăn để đỡ lạnh. Giữa đêm, người
khách kia lén lấy chăn ngủ của Chi Khiêm đi mất. Sáng hôm sau, các
người đồng hành thấy thế, bèn hỏi Chi Khiêm rằng chăn đắp đâu mất
rồi. Chi Khiêm đáp:
- Đêm hôm qua người khách lạ đã
lấy mất !