|

- Pháp
Ngữ của Thiền Sư Hư Vân
- Thích Hằng Đạt
-
Chương
II
VIII. Khai thị tại Đại Hội Hoan Nghinh Các Giới Chức, tại hội quán
Trung Sơn ở Quảng Châu vào ngày 18-8-1946
[^]
Lần này, bốn chúng cùng quý vị đại
hộ pháp tại các tỉnh hội mời Hư Vân tôi đến đây để hoằng dương Phật
pháp. Hư Vân tôi tri thức cạn cợt, thẹn thùng chẳng dám đảm nhận.
Hôm nay cùng quý vị đại biểu phân rõ ba điều: Thứ nhất, cung kính
hoan nghinh quý vị đến đây. Thứ hai cám ơn quý vị đã cúng dường trai
tăng. Thứ ba, không thể ở đây lâu được. Do quý vị đại biểu yêu cầu,
Hư Vân tôi mới xuống núi. Đến đây, lại được sự ân cần tiếp đãi của
quý vị. Chùa Lục Dong nhỏ hẹp. Người đến đây không phải ai ai cũng
được tiếp đón nồng hậu. Hôm nay, đại chúng đồng thỉnh tôi đến đây
giảng vài lời. Có vị bảo rằng người như Hư Vân tôi thật rất khó gặp.
Thật ra, tôi chỉ là một cây gỗ già nua mục nát rất vô dụng, chẳng có
tài cán, lời hay ho, hoặc pháp gì để nói.
Hôm nay, các giới chức đồng phát
tâm kiến lập pháp hội Thủy Lục để truy điệu các chiến sĩ trận vong,
đồng bào tử nạn. Vì vậy, tôi sẽ giảng thuyết sơ về duyên khởi của sự
kiến lập đàn tràng Thủy Lục.
Sao gọi là Thủy Lục ? Thủy tức là
nước tại sông biển ao hồ. Lục tức là đất đai tại núi non, cao nguyên,
đồng bằng. Thủy Lục (đất nước) bao hàm cả hư không. Nếu là vật có
hình tướng thì không vượt ngoài ba vật này (đất, nước, hư không).
Đấng Như Lai của chúng ta khởi tâm
đại từ bi, cứu tế khắp loài hữu tình, nên mới lập ra pháp môn này.
Duyên khởi của pháp hội Thủy Lục là khi tôn giả A Nan tu tập thiền
định trong rừng, có một con quỶ chúa đến cầu xin cứu độ. Tôn giả A
Nan liền trở về núi Linh Thứu, cầu Phật dạy bảo. Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni nhân đó mà thuyết pháp Thủy Lục. Con quỶ chúa vốn là hóa thân
của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì thương xót chúng sanh trên đất liền đang
chịu bao thống khổ, và muốn giúp cho âm hồn trong cõi địa ngục U
Minh được vãng sanh lên cõi Cực Lạc, nên thiết pháp siêu độ.
Pháp hội này khởi đầu từ đời vua
Lương Võ Đế ở nước Tàu. Nhà vua phát tâm Bồ Đề rất mực chân thành mà
cung thỉnh hòa thượng Chí Công, định chế nghi thức lập đàn tràng "Thủy
Lục" để làm lợi ích cho các oan hồn uổng tử. Sắp đặt đèn cầy xong,
vua Lương Võ Đế lễ một lạy; kế đến thắp đèn "Tận Minh", rồi lễ thêm
một lạy. Khi đó, cung điện chấn động. Vua lễ lần thứ ba thì trời mưa
hoa báu. Công đức đàn tràng "Thủy Lục" như thế.
Đời Đường, tại chùa Pháp Hải,
thiền sư Anh Công lại kiến lập đàn tràng Thủy Lục để cầu siêu độ cho
vua Tần Trang Nhượng, Phạm Tuy, Bá Khởi, Vương Long Vũ, Trương Nghị,
Chẩn Muội, v.v... đã bị trầm luân cả ngàn năm, khiến họ siêu thăng
cõi trời. Cư sĩ Tô Đông Pha đời Tống, đại sư Liên Trì đời Minh, v.v...,
cùng chư thánh hiền bao đời bổ sung thêm vào, khiến cho nghi thức
lập đàn tràng Thủy Lục ngày một hoàn bị. Muôn pháp do tâm tạo. Mọi
người đều thành tâm, tất sẽ có cảm ứng.
Hư Vân tôi thể theo lời khẩn thỉnh
của các vị đại hộ pháp mà làm pháp chủ cho đàn tràng này, thật khó
từ chối được.
Các chiến sĩ trận vong trong thời
kỳ kháng chiến, xả thân báo quốc, nhưng hồn họ vất vưỡng, không nơi
nương tựa. Vì tôn sùng ân đức này, chúng ta kiến lập đàn tràng để
cầu siêu độ cho họ. Nghĩa dân bất khuất, lưu lạc đường hoang, nhà
tan người mất, không hàng phục quân địch, trung thành vì nước. Cô
hồn vô chủ, lang thang khắp nơi. Lại có những vong hồn uổng tử, chết
vì bị trúng đạn, xe cán, bịnh dịch, chết đuối, chết oan v.v... Chúng
ta phải đều cầu siêu độ hết để an ủi chúng sanh ở cõi u linh. Kẻ
chết được an, người sống được ích lợi, tức là làm lợi ích khắp cõi
dương và cõi âm.
Đây là lý nhân quả tuần hoàn. Xoay
lại đạo lý nhân tâm, không ngoài các việc ác chớ làm mà phải hành
theo những việc lành. Bao việc khổ sở trên thế gian đều do đã trồng
nhân xấu đời trước. Nếu tán tận lương tâm, bỏ quên hiếu để, trung
tín, lễ nghĩa, khiêm, sĩ, cứ làm càn làm bậy, thì khiến lụy đến
người hiền, và thế giới mãi mãi vẫn còn loạn lạc. Đất nước vừa được
trùng quang độc lập, phải cực lực hưng thiện dẹp trừ việc xấu, cải
ác theo lành, thì mới không bị nước ngoài xâm lăng. Nếu không lo
chuyện đại cuộc mà vẫn cứ khởi nội loạn, thì nhân dân không biết sẽ
chết nơi nào. Lúc này, nếu người có lương tâm phải sớm giác ngộ,
biết đoàn kết, giải trừ kiếp vận cho đất nước. Nước Tàu từ lúc Hoàng
Đế khởi binh đánh vua nước Cửu Lệ cho đến ngày nay, chiến tranh mãi
không dừng.
Nếu muốn hòa bình mãi mãi thì mọi
người phải nên phát tâm Bồ Đề, và tâm đại từ đại bi. Bồ Đề là chữ
Phạn, nghĩa tức là giác. Giác tức là đất tâm sáng chiếu. Sự khác
biệt giữa chư Phật và chúng sanh là việc giác ngộ hay chưa giác ngộ.
Những vị đã giác ngộ tất cả các pháp trên thế gian đều do duyên sanh
như mộng như huyễn, và thể tánh vốn không, chẳng bị nhiễm ô, được
gọi là thánh hiền. Bất giác tức là vô minh. Một khi vô minh khởi lên
thì mê mờ sự lý. Từ tự tâm của chúng ta, sanh ra mười pháp giới.
Mười pháp giới đều do tâm tạo. Mười pháp giới gồm có bốn pháp giới
thánh hiền và sáu pháp giới phàm phu. Bốn pháp giới thánh hiền là
pháp giới của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Gọi là cảnh giới
thánh hiền vì nơi đó các ngài đã vượt ngoài ba cõi, không còn thọ
luân hồi. Nếu phân biệt thì giữa bốn pháp giới thánh hiền có phân
chia cao thấp. Pháp giới tối thượng tức là pháp giới của chư Phật.
Kế tiếp là pháp giới của Bồ Tát, rồi đến pháp giới của Duyên Giác,
và cuối cùng là pháp giới của Thanh Văn. Sáu pháp giới phàm phu vẫn
còn nằm trong biển khổ luân hồi là pháp giới của trời, người, A Tu
La, súc sanh, địa ngục, ngạ quỶ. Pháp giới của cõi trời có ba mươi
hai tầng trời. Sau khi thọ hết phước báu, chư thiên vẫn bị luân hồi
như thường. Con người từ đế vương, tể tướng cho đến nông dân, công
thương, sĩ thứ, đều thọ hết tất cả khổ của sanh già bịnh chết. Loài
A Tu La có phước nhưng không có đức như chư Thiên nên cuối cùng vẫn
phải bị hoại diệt. Trong loài súc sanh, cũng có sự khác nhau về việc
hưởng lạc và thọ khổ, như loài rồng phượng, sư tử, lân giác thì
thường hưởng lạc, và ít thọ khổ hơn loài trùng kiến thấp sanh, hóa
sanh. Khổ nhọc hay an lạc trong loài quỶ cũng không đồng. Các quỶ
vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng lạc nhiều mà thọ khổ
ít hơn những loài quỶ cô hồn vô chủ. Khổ nhất là loài ngạ quỶ. Chúng
sanh trong địa ngục thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung
sướng.
Mười pháp giới không ngoài một tâm.
Giác ngộ hay chưa giác ngộ cũng từ tâm này ra. Đức Phật của chúng ta
thật rất đại từ đại bi. Ngài giảng kinh thuyết pháp để khiến cho mọi
người phát tâm Bồ Đề. Phát tâm Bồ Đề cũng sai khác. Bậc lớn thì phát
tâm tu hành thành Phật. Bậc trung thì phát tâm tu hành thành Bồ Tát.
Bậc nhỏ thì phát tâm tu hành thành Thanh Văn Duyên Giác. Chư thiên
cũng có vị phát tâm Bồ Đề. Do sự phát tâm rộng hẹp, lớn nhỏ, nên
việc thành tựu đạo quả mau chậm không đồng. Chúng ta đang sống trong
cõi người, phải nên phát tâm Bồ Đề rộng lớn, cứu độ chúng sanh, thay
họ chịu khổ. Lại nữa, nên nguyện rằng sẽ dẹp trừ khổ lụy và khiến
chúng sanh được siêu thăng. Nếu người người đều phát tâm như thế thì
cõi nhân gian sẽ không còn khổ đau.
Có người hỏi tôi về thần thông
biến hóa, thế giới chừng nào hòa bình, vận nước tốt xấu như thế nào
? Tuy nhiên, tôi vốn là phàm phu, không biết việc chi, lại chỉ là
cây gỗ già nua khô mục, không thể chạm khắc. Bất quá, so với quý vị
thì ăn cơm hơn nhiều năm, ngu si hơn nhiều năm, nghe các ngôn ngữ
lời nói nhiều hơn, xem nhiều quyển kinh hơn. Nhận biết làm người là
khổ đau, nên tôi mới nói ra những lời này. Quý vị chớ nên hỏi việc
quốc gia có hòa bình an lạc hay không, mà chỉ nên tự hỏi ngay tâm
địa của mình. Ngày đêm sáng tối, chớ nên phân biệt quan dân, nam nữ.
Tự khắc phục tâm tánh, chớ để tự tâm mê mờ. Phải thật hành hiếu để
trung tín, và cùng mọi người hỗ tương khích lệ. Phải nên trung thành
với quốc gia, giáo dục con cái đàng hoàng, hòa thuận vợ chồng, lễ
kính thân bằng quyến thuộc bà con láng giềng, có tín nghĩa khi giao
hảo với bạn bè. Nếu người người làm được như thế thì thế gian tự
nhiên thái bình. Ngược lại, nếu biết sai mà không sửa đổi thì khổ
não tất sẽ chạy theo, không thể tránh được. Dầu nhân tâm có phức tạp
như thế nào, vẫn tự giữ bổn phận của mình, không chìm đắm trong muôn
ngàn mong cầu.
Hôm nay, tôi bàn đến việc nước nhà
bị ngoại xâm. Từ đời Thanh niên hiệu Đạo Hàm cho tới nay, người
ngoại quốc đến nước Tàu, không phải hoàn toàn muốn chiếm đất đai mà
chỉ có mục đích quan trọng nhất là muốn thông thương vì tiền tài lợi
lộc. Chúng ta phải tự giữ bổn phận của người quân tử: Thân không cầu
an, ăn không cầu no, mến đạo không sợ nghèo, chẳng ham hưởng nhàn.
Lịch sử mấy ngàn năm đều có những bậc quân tử như thế. Tại sao hiện
nay lại không có được những vị như vầy ? Nếu mọi người đều đồng tâm
nhất chí, giữ bổn phận của mình, dùng đồ nội hóa thì người ngoại
quốc không thể mưu đồ lợi ích gì cả, và tự nhiên sẽ không sanh tâm
xâm lược. Vàng bạc tiền tài nếu không mang ra nước ngoài thì dân
giàu nước mạnh mà không cần phải dùng đến máy bay, bom đạn.
Hiện tại, con người tham dục vô
cùng. Ai ai cũng đều bỏ quên, khinh rẻ học đạo đức làm người. Kẻ có
lương tâm, ưu sầu sống ẩn dật, vì sợ không có cách dạy bảo kẻ hậu
lai, nhưng cũng không tránh được kiếp đao binh chiến nạn. Chúng ta
chớ bị truyền thống phong tục của người thế gian lôi cuốn; phải rõ
nhân quả, biết báo ứng; trồng nhân xấu tức gặt quả ác; cố đề xướng
đạo đức. Thế nên, nhà nào tích tụ hạnh lành thì luôn có việc vui, và
tự nhiên được trời rồng ủng hộ, khiến con cháu đầy đàn sung túc;
người người nếu an phận thủ thường thì quốc gia cũng nhờ đó mà được
thái bình an lạc.
Hư Vân tôi tri thức cạn cợt, nay
chỉ nhờ duyên khởi của thắng hội tế trai, lược nói đại khái, khiến
quý vị thêm mệt nhọc.
IX. Khai thị tại Đông Liên Giác Uyển, Hồng Kông, năm 1947
[^]
Tuy cơ duyên khó gặp, nhưng bảo
rằng tôi nói lời khai thị thì thật rất hổ thẹn. Quý vị thiện tri
thức ! Nhân duyên tới Quảng Châu lần này của tôi là do sự thỉnh mời
của tướng quân Trương Phát Khuê và chủ tịch La Trác Anh đến đây kiến
lập pháp hội Thủy Lục để cầu siêu độ cho các vong hồn chiến sĩ, đồng
bào tử nạn trong đại chiến thế giới lần thứ hai. Lại vì ước hẹn với
hội Phật giáo tại Hồng Kông cùng muốn gặp gỡ các đệ tử hộ pháp, nên
nay tôi mới đến đây. Hôm nay gặp quý vị tại pháp đường, thật là một
cơ duyên khó được. Nếu nói khai thị pháp yếu, tôi cảm thấy rất xấu
hổ muôn phần. Thứ nhất ngôn ngữ không thông, mình người ngăn cách.
Thứ hai, tự không thể khai thị cho chính mình, sao dám nói đến việc
khai thị cho người ? Thế nên, chỉ có thể cùng quý vị tùy duyên mà
đàm luận.
"Thường nghe được Phật pháp, người
Hồng Kông quả thật có phước báu".
Chúng ta là đệ tử Phật, biết rõ
Phật pháp khó được nghe. Tuy nhiên, tại Hồng Kông, thường có chư vị
đại pháp sư từ các đạo tràng Phật giáo khắp nơi, qua đây giảng kinh
giảng luận. Sao không thể bảo là người Hồng Kông có phước báo nhiều
ư ? Pháp sư giảng kinh nhiều; người hiểu rõ giáo lý cũng nhiều. Tuy
nhiên, trong việc hoằng pháp, điều trọng yếu là phải dạy người chẳng
nên chấp trước hình tướng bên ngoài. Kinh nói: "Đối với tất cả vật
có hình tướng, đều là hư vọng".
Kinh lại bảo: "Chúng sanh trên cõi
đất này đều có đầy đủ trí huệ phước đức của Như Lai".
Chúng sanh đều đầy đủ đức tướng
trí huệ phước đức của Như Lai, nhưng chưa có thể thành Phật chỉ vì
trần lao phiền não làm mê hoặc. Phước đức và trí huệ của Phật đà
viên mãn tròn đầy; chân tâm thường trụ không còn bị mê hoặc. Thường
tức là bất biến. Trụ tức là bất động. Chân tức là không giả dối. Tâm
bất biến, bất động, không giả dối này giác ngộ liễu tri được hết tất
cả pháp, nên gọi là chân tâm thường trụ.
"Khởi hoặc tác nghiệp, tạo vô
lượng bịnh khổ".
Chúng sanh vì mê mờ chân tâm
thường trụ nên khởi mê hoặc mà tạo nghiệp xấu. Trong bân khuân rối
rít hiện ra vô lượng thống khổ. Đại Thừa Khởi Tín Luận viết: "Vô
minh bất giác sanh ba tế. Cảnh giới do duyên khởi thành sáu thô".
Thô tức là tướng sự vật có thể
thấy được. Những hiện tượng trước mắt trên thế gian như tham sân si,
cùng bao nghiệp ác giết hại, ăn cắp, tà dâm, nói láo, v.v... đầy dẫy
khắp cả. Do những nghiệp ác này, chúng dẫn dắt chúng ta lưu chuyển
thọ quả báo, cho đến có sự lưu chuyển liên tục của chúng sanh và thế
giới. Truy cứu nhân duyên luân hồi, biết rõ chỉ vì tâm mê chấp ngoại
cảnh. Nếu thường giác ngộ, bỏ vọng xoay về chân thì sẽ tiêu diệt bao
thống khổ của dòng sanh tử luân hồi.
Vì sao có tham sân si khiến sanh
khởi những nghiệp ác, giết hại, ăn cắp, tà dâm ?
"Nếu tâm mọi người đều thanh tịnh
thì thế giới sẽ được thanh bình, và nhân dân được an lạc".
Như trong một gia đình, cha mẹ
luôn thương mến ái hộ con cái, trai lẫn gái. Vì có ái nên có tham.
Vì tham đắm ái dục này, nên thường thích hưởng thụ những việc sung
sướng. Vì tham cầu không được nên tâm sân hận nổi lên. Tâm sân nổi
lên hừng hực nên khởi tranh đấu. Việc nhỏ thì nhà này cùng nhà khác
tranh. Việc lớn thì nước này cùng nước khác tranh, rồi khởi bao
chiến tranh khốc liệt. Nếu muốn thế giới hòa bình nhân dân an lạc
thì mỗi người phải tự thanh tịnh thân tâm. Có tham sân si cũng như
người có tâm bịnh. Nếu muốn dẹp trừ tâm bịnh này thì phải y theo lời
chỉ bảo, rồi dùng toa thuốc vi diệu của thầy thuốc. Đức Phật là vị
lương y, trị tâm bịnh cho tất cả chúng sanh. Tất cả Phật pháp đều là
những toa thuốc vi diệu. Tâm bịnh của chúng sanh có rất nhiều loại,
nên phải có nhiều pháp môn để trị liệu.
"Học Phật pháp phải nên chú ý phần
thực hành".
Nếu tin tưởng sự chẩn bịnh và toa
thuốc của thầy thuốc, rồi tự dùng thuốc đó thì bịnh tất sẽ tiêu trừ.
Ngược lại, tuy tin thầy thuốc và toa thuốc vi diệu, nhưng lại không
uống thì bịnh vẫn y nhiên còn mãi. Cũng như thế, người tu học Phật
pháp nếu muốn tự thanh tịnh thân tâm thì phải chú trọng phần thực
hành. Vì tâm bịnh của chúng sanh không đồng, nên Phật thiết lập ra
bao loại pháp môn. Đối với người có tâm sân hận nặng nề thì dạy tu
quán từ bi. Để trị tâm tán loạn, phải dạy tu chỉ quán. Để trị bịnh
nghiệp chướng nặng nề, phải dạy niệm Phật. Đức Như Lai thuyết ba
tạng kinh điển, mười hai phần giáo mà không thiên vị gì là trọng (nặng)
hay gì là khinh (nhẹ); thật không thể nghĩ bàn !
"Bất ly bổn tông, chuyên tâm tín
lại".
Chỉ nên chọn lựa pháp môn nào
thích hợp cho chính mình, rồi dùng pháp môn đó làm chính, còn những
pháp môn khác thì làm phụ. Trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi
thường chuyên tâm tu học mà không rời tông chính. Ví dụ, niệm Phật
thì lúc nào cũng không quên niệm. Kinh nói: "Thọ trì danh hiệu sáu
mươi hai ức hằng hà sa số chư Bồ Tát cũng đồng như nhất tâm niệm một
danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát. Công đức trì niệm này, thật không
khác biệt".
Vì miễn cưỡng, muốn khích lệ chúng
sanh chuyên tâm tin tưởng tông này, nên đức Phật mới thuyết như thế.
Người học Phật, nếu không biết gì là chủ bạn, và không chuyên tu học,
thì kết quả nhất định sẽ không đạt chi cả.
"Nỗ lực phá trừ tất cả vọng tưởng".
Lại nữa, người học Phật phải y
theo giới luật Phật chế. Giới là cội gốc của đạo Bồ Đề vô thượng.
Nếu y theo giới luật của Phật chế thì không luận tham thiền, niệm
Phật, giảng kinh, v.v... tất cả đều là Phật pháp. Nếu không y theo
giới luật Phật chế mà cuống quẩn tham thiền, niệm Phật, giảng kinh,
thì cùng đạo cách xa muôn trùng, và dễ dàng lạc vào ngoại đạo. Người
tu hành học Phật, chớ hướng ngoại truy cầu, chỉ nên tự trừ khử
nghiệp chướng, thì sẽ không lưu chuyển trong dòng sanh tử. Nếu cắt
đứt được dòng sanh tử thì không cần hành trì chi nữa.
Kinh thuyết: "Phật thuyết hết thảy
pháp, để đối trị hết thảy tâm. Nếu không có tất cả tâm, thì không có
tất cả pháp".
Tâm này chỉ cho tâm vọng tưởng. Ý
của đoạn kinh này là nếu không có bịnh thì cần gì đến thuốc.
Lại nữa, người học Phật phải có
đầy đủ niềm tự tin. Trong kinh Phạm Võng, đức Phật nói:
- Ta đã thành Phật. Các ông trong
tương lai cũng sẽ thành Phật. Phải có niềm tin như thế thì giới phẩm
mới đầy đủ.
Đoạn kinh này bảo rằng nếu người
người tự tin là mình có đầy đủ đức tánh của chư Phật thì đời tương
lai sẽ thành Phật. Vì thế, phải nỗ lực giải trừ hết tất cả vọng
tưởng khách trần.
"Lại như một tuồng kịch, đời người
vốn là mộng huyễn".
Phải tự tin tâm mình vốn là Phật.
Tất cả phiền não, tất cả tướng, tất cả chướng ngại, đều là vọng
tưởng điên đảo. Do đó, người tu đạo chớ nên chấp trước mà phải xả bỏ
hết tất cả. Vì thế bảo rằng muôn pháp đều là không, nên chẳng thể
chứng đắc một pháp gì. Kinh Kim Cang thuyết:
- "Tất cả pháp hữu vi,
- Như mộng huyễn, như bong bóng nước
- Như sương mai, như điện chớp
- Phải nên quán sát như thế".
Tại sao tất cả pháp hữu vi trên
thế gian đều như mộng huyễn không thật ? Lấy một ví dụ để hiểu rõ
ràng. Như trong một tuồng kịch cải lương, khi đánh trống khởi nhạc
lên, các nghệ sĩ nam nữ già trẻ y theo vai tuồng của mình mà lên sân
khấu diễn xuất. Trong khi diễn xuất, có bao tình tiết vui buồn, nóng
giận, ghen ghét, v.v... Có người đóng vai làm Hoàng Đế oai phong lẫm
liệt, nhưng khi xuống sân khấu thì trở lại làm người dân bình thường.
Khi lên sân khấu thì diễn xuất bao cảnh giết người phạm pháp, hung
ác, cùng bao cảnh tượng kinh hoàng khủng khiếp, hay ưu sầu buồn bã.
Tuy nhiên, khi xuống sân khấu thì cười bảo:
- Chỉ đóng tuồng thôi.
"Phải nên hiểu rõ, vì sao có khổ
đau sung sướng ?"
Khi diễn tuồng thì những tình tiết
trên sân khấu trông giống như thật, nhưng lúc hạ màn thì chẳng có
một tình tiết nào là thật cả. Chúng sanh cũng như thế. Lúc chưa cắt
đứt hết phiền não thì vinh hoa phú quý, vui buồn giận tức, xuất hiện
rõ ràng. Ai ai cũng vốn là Phật, giống như người đóng kịch. Lúc lưu
chuyển theo phiền não, cũng giống như đang đóng tuồng trên sân khấu.
Phải nên hiểu rõ cảnh tượng thế gian giống như kịch trường sân khấu.
Được lên tận thiên đường chưa phải là vui. Bị đọa xuống địa ngục
chẳng phải là khổ. Người nam vốn chẳng phải nam. Người nữ vốn chẳng
phải nữ. Phật tánh đồng một thể. Người thế gian không biết, trong
mộng tự phân biệt rằng đây là mình, đây là người, đây là thân, đây
là oán, nên mê muội không ngừng nghỉ. Người xuất gia tuy xả bỏ thân
bằng quyến thuộc, nhưng vẫn phân biệt chấp trước mê muội rằng đây là
chùa viện, là thầy, là đệ tử, là pháp hữu, và là bạn thân của tôi.
"Bỏ vọng xoay về chân. Tự lợi
chính mình và làm lợi ích cho người".
Người tại gia bị ái dục thế tình
làm mê mờ. Người xuất gia cũng bị pháp hữu, và pháp quyến thuộc làm
mê hoặc. Những người như thế, vẫn chưa đắc được giác ngộ chân thật.
Nếu cố gắng thoát ly hết tất cả mê hoặc, bỏ vọng xoay về chân thì
mới thành Phật. Do đó, Lục Tổ đại sư khi nghe đến đoạn "ưng vô sở
trụ, nhi sanh kỳ tâm" trong kinh Kim Cang liền đột nhiên đốn ngộ.
Tám chữ này, nếu dùng ngôn từ để giải thích thì không thể được mà
nội tâm phải lãnh hội. Chân lý Phật giáo tuy không thể dùng ngôn ngữ
để biểu thị, nhưng nếu phế bỏ hoàn toàn thì không thể được. Phải y
theo văn tự mới có thể hiểu rõ nghĩa lý. Ngày nay, người học Phật
phải nghiên cứu tất cả giáo lý, nhưng vẫn lấy sự hành trì làm căn
bản, rồi hoằng dương Phật pháp, khiến ngọn đuốc chánh pháp mãi mãi
tiếp tục lan truyền.
"Tương thử thâm tâm phụng trần sát.
Thị tắc danh vi báo Phật ân", tức là dùng thâm tâm này để phụng sự
chúng sanh như số cát vi trần. Đây gọi là báo ân chư Phật".
Hy vọng tất cả người học Phật, nên
lấy hai câu này làm tiêu chuẩn cho việc tự lợi và lợi người.
X. Khai thị tại Áo Môn, hý viện Bình An vào 1-8-1947
[^]
Do sự yêu cầu của hội Phật giáo
tại hý viện Bình An, Hư Vân tôi nay đến đây để cùng quý vị đàm luận.
"Pháp" tức là tâm chúng sanh. Tâm
chúng sanh cùng tâm Phật vốn không khác biệt. Tâm này đầy đủ tất cả
pháp. Pháp tức là tâm, và tâm tức là pháp. Luận Khởi Tín viết: "Gọi
là pháp, tức tâm chúng sanh. Tâm này vốn đầy đủ tất cả pháp thế gian
và xuất thế gian".
"Pháp thế gian" tức là trời, người,
A Tu La, địa ngục ngạ quỶ, súc sanh. Hết thảy loài hữu tình và vô
tình hoặc những pháp y báo hay chánh báo, v.v... đều thuộc về sáu
pháp giới của phàm phu.
"Pháp xuất thế gian" tức là Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, cũng được gọi là bốn pháp giới Thánh
Hiền. Gom chung bốn pháp giới của Thánh Hiền và sáu pháp giới của
phàm phu, thành mười pháp giới. Mười pháp giới này chẳng ngoài một
tâm niệm tạo nên. Nếu chạy theo duyên điên đảo ô nhiễm mê mờ thì
sanh ra sáu pháp giới của phàm phu. Nếu không chạy theo duyên điên
đảo ô nhiễm mê mờ mà tịnh tâm giác ngộ thì sẽ nhập vào bốn pháp giới
của Thánh Hiền. Quán sát như thế, thấy rằng Thánh Hiền hay phàm phu
đều do tâm cấu uế hay thanh tịnh mà hiển hiện. Tâm cấu uế của sáu
loài phàm phu khiến hiện ra tướng của sáu đường thiện ác, tội phước.
Bốn pháp giới Thánh Hiền, do tâm tịnh nên hiện oai đức tự tại, quang
minh sáng chói, đức tướng dung mạo từ bi. Kinh nói: "Bồ Tát như vầng
trăng sáng thanh tịnh mát lành, thường đi khắp hư không. Trong tâm
thanh tịnh và cấu uế của chúng sanh, Bồ Đề thường ảnh hiện".
Thế nên khổ đau hay an lạc đều do
tâm. Nóng lạnh do mình. Tự tâm tạo nghiệp, rồi tự thân thọ quả báo.
Cảnh Thánh cùng phàm hãy hỏi lại tự tâm thì sẽ rõ !
Phàm phu ngu muội hôn ám chẳng
biết yếu chỉ tất cả đều do tâm tạo, nên vọng khởi nghi hoặc. Nếu gặp
nghịch cảnh thì oán trời hận người. Nếu gặp thuận cảnh thì kiêu căng
tự thị. Hoặc cả đời làm việc thiện nhưng lại bị quả báo ác, hoặc làm
ác nhưng hưởng quả báo lành, nên hủy báng nhân quả. Phải biết rằng
lý nhân quả rất thâm sâu; ví như sau khi gieo giống trồng cây, quả
nào chín trước thì rụng trước. Đời nay, tuy mình luôn làm nghiệp
lành, nhưng lại chiêu quả báo xấu; phải biết đó là do nghiệp ác
trong đời quá khứ đã thành thục chín mùi, nên đầu tiên phải thọ quả
báo xấu. Nghiệp lành làm trong đời nay, vì chưa thành thục, nên hiện
tại không thể thọ quả báo lành. Nếu tin lý này thì không nghi hoặc
gì hết. Từ đời vô thủy, lầm đường lạc lối, tạo bao nghiệp chướng
thâm trọng. Ngày nay quả báo chín muồi, nên phải thọ biết bao đắng
cay khổ nhọc, không có lối thoát. Muốn thoát khổ thì phải làm sao ?
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Tất cả chúng sanh, bị sanh tử liên tục, đều
do không biết chân tâm thường trụ, tánh tịnh thể sáng. Vì sống với
vọng tưởng không chân thật, nên mới bị luân hồi".
Nếu muốn không bị thọ quả báo
trong vòng sanh tử thì phải thường thanh tịnh hóa các vọng tưởng.
Vọng tưởng nếu được thanh tịnh thì dòng luân hồi sẽ ngưng ngay. Do
đó, tâm mê thì gọi là chúng sanh. Tâm giác gọi là Phật. Vì vậy, Phật
và chúng sanh chỉ khác nhau ở mê và ngộ. Nên biết tâm giác tri linh
minh sáng suốt này tức là Phật tánh tự nhiên mà ai ai cũng có đầy đủ,
mỗi mỗi hiện thành. Phàm phu tuy có đủ Phật tánh, như vàng thật
trong mỏ vàng, nhưng chỉ vì đất cát phiền não che lấp, nên trước mắt
không thể dùng được. Đức Như Lai bao kiếp tu hành, đã đào thải cát
đá hoặc nghiệp. Ngày nay, Ngài đã được một khối vàng tinh khiết,
không lẫn lộn với cát đá, nên đại dụng hoàn toàn hiện rõ, và được
gọi là bậc vượt khỏi chướng ngại, bậc viên minh, bậc Thế Tôn đại
giác.
Hiện tại, chúng ta nếu muốn tu
hành thành Phật, đầu tiên phải xem thử nhân địa phát tâm tu hành của
mình như thế nào. Phải trừ khử cội gốc phiền não. Gốc khổ của phiền
não nếu diệt thì Phật tánh hiển hiện tròn đầy. Nếu nhân địa tu hành
không chân chánh, thì sẽ chịu quả báo cong vạy.
Luận về phương pháp tu hành, có ba
thành phần: Thượng, trung, hạ khác nhau. Pháp cũng có ba thừa. Pháp
môn tu học của loài người và loài trời đều không đồng. Đối với người
căn cơ bậc thượng thì thuyết giảng pháp môn Đại Thừa vi diệu. Người
căn cơ bậc trung thì thuyết giảng các pháp môn giải thoát xuất thế
gian. Đối với những kẻ căn cơ bậc kém, thì thuyết pháp môn giải
thoát khiến họ thoát khỏi những đường khổ nhọc của địa ngục, ngạ quỶ,
súc sanh. Phật tuy thuyết bao pháp môn, như giới luật Đại Thừa và
Tiểu Thừa, nhưng đều dùng tam quy ngũ giới làm căn bản, khiến người
thọ những giới luật này, thường không làm các việc ác, và luôn hành
các điều lành. Phải y theo những lời bên trên mà lập thân, tề gia,
trị quốc, thì đó mới là điều rốt ráo của chủ nghĩa nhân đạo. Nếu
ngừng gieo nhân khổ thì quả khổ sẽ tự diệt mất. Thoát khỏi ba đường
khổ và sanh trong cõi trời người thì dễ dàng nhập vào Phật thừa. Đó
là nền tảng căn bản học Phật. Tam quy ngũ giới là bờ bến của thế
gian, và là diệu pháp an lạc cứu khổ. Đầu tiên giải nghĩa tam quy y,
sau đó nói rõ về ngũ giới.
Tam quy y: Thứ nhất là quy y Phật.
Thứ hai là quy y Pháp. Thứ ba là quy y Tăng.
Tại sao đầu tiên phải quy y Phật ?
Phật là đấng Thế Tôn đại giác, cứu cánh thường lạc, mãi mãi xa lìa
khổ não, dạy dỗ chúng sanh, xuất ra khỏi lưới mê, đi trên đường giác.
Phật Thích Ca là vị giáo chủ ở cõi Ta Bà, nên đầu tiên phải quy y
Phật.
Thứ hai, quy y Pháp, tức là những
pháp môn của Phật truyền dạy. Ba đời chư Phật đều y theo những giáo
pháp này mà tu hành, thành tụu vô lượng công đức thanh tịnh. Ngày
nay muốn xoay về cội gốc, tịnh trừ tâm cấu uế, cần phải tu trì theo
Phật pháp. Vì thế, phải quy y Pháp.
Thứ ba là quy y Tăng. Xả thân vì
Phật pháp, và xiển dương chánh pháp, phải có người đảm đương hoằng
truyền. Dùng phương tiện văn, tư, tu mới chứng quả thành Phật. Nếu
Phật pháp không có người thuyết giảng, tuy biết mà khó có thể lãnh
hội. Phật pháp thâm sâu khó hiểu, phải nghe chư tăng giảng giải, nên
ân đức của các ngài vô cùng cực. Do đó, phải quy y Tăng.
Lại nữa, nghĩa của sự quy y Tam
Bảo được phân biệt thành ba. Thứ nhất là nhất thể Tam Bảo. Thứ hai
là biệt tướng Tam Bảo. Thứ ba là trụ trì Tam Bảo.
Nhất thể Tam Bảo tức là tự thể của
nhất tâm. Phật đà là tiếng Phạn, dịch là Giác Giả. Nhất niệm linh
minh tâm giác liễu, tức là tự tánh nhất thể Phật Bảo. Pháp đã đầy đủ
ba đức Phật Pháp Tăng, Tam Bảo. Pháp nghĩa là quỸ trì. Tâm tánh này
có thể giữ gìn quy tắc của tất cả pháp thế gian lẫn xuất thế gian,
tức là tự tánh nhất thể Pháp Bảo. Tăng, tiếng Phạn là Tăng Già Da,
nghĩa là một đoàn thể hay chúng hòa hợp. Tâm giác có khả năng hằng
trì tất cả pháp. Tâm tức là pháp. Mọi pháp đều là một tâm. Pháp tức
là tâm. Tâm và pháp không hai, lý sự hòa hợp, tức tự tánh nhất thể
Tăng Bảo. Một tâm như thế đầy đủ Phật Pháp Tăng. Tam Bảo chỉ là một
tâm, nên gọi là nhất thể Tam Bảo. Chúng sanh vì mê mờ tâm này mà
hướng ngoại truy cầu, nên lưu chuyển trong sanh tử. Chư Phật nhờ
giác ngộ được tâm này nên chứng được đạo Bồ Đề.
Thứ hai là biệt tướng Tam Bảo.
Danh tướng của ba danh tự Phật, Pháp, Tăng khác nhau. Phật, tiếng
Phạn là Phật Đà Da, nghĩa là bậc giác ngộ. Giác ngộ tận nguồn tâm,
đạt tận thật tướng, gọi là tự giác. Dùng pháp môn tự chứng mà giác
ngộ cho tất cả chúng sanh, gọi là giác tha. Tự giác đã viên mãn,
giác tha cũng đã đạt đến cứu cánh, nên gọi là giác hạnh viên mãn. Ba
giác viên mãn, muôn đức đều tròn đầy, nên cuối cùng thành Phật. Đầu
tiên, Phật Thích Ca thành đạo dưới cội Bồ Đề, thị hiện thân vàng sáu
trượng. Nơi pháp hội Hoa Nghiêm, Ngài thị hiện pháp thân Phật Lô Xá
Na. Đó là biệt tướng của Phật Bảo. Đức Như Lai tùy cơ thiết giáo,
trong năm thời thuyết giảng các kinh điển quyền thiết và chân thật.
Ba tạng mười hai phần giáo, lý, hạnh, chứng, nhân, quả, trí, đoạn,
các loại không đồng, gọi là biệt tướng Pháp Bảo. Theo giáo lý mà tu
hành. Do tu hành mà khế hợp, rồi chứng ba thừa, như Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát, nhưng giai đoạn thứ lớp không đồng, nên gọi là biệt
tướng Tăng Bảo. Nơi đây đã bàn xong về biệt tướng Tam Bảo.
Thứ ba là trụ trì Tam Bảo. Sau khi
Phật diệt độ, tượng Phật được đắp bằng xi măng, khắc trên gỗ, hay
đúc bằng năm loại kim khí, hoặc vẽ trên giấy lụa; những tượng Phật
này làm ruộng phước cho chúng sanh. Nếu cung kính như đức Phật còn
tại thế thì công đức thật khó nghĩ bàn. Trụ trì mãi không tuyệt mất,
gọi là trụ trì Phật Bảo. Vô luận sách màu vàng, hay lá Cụ Diệp đều
là ba tạng kinh điển; mười hai phần giáo của Đại Thừa và Tiểu Thừa
khiến người thấy nghe, y theo đó mà hành trì thì đều được hết khổ,
đắc an lạc, cho đến thành Phật. Ba tạng kinh điển giáo hóa chúng
sanh liên tục không ngừng, nên gọi là trụ trì Pháp Bảo. Cạo bỏ râu
tóc, đắp y hoại sắc, hoằng tông diễn giáo, hóa độ chúng sanh, nối
tiếp Phật chủng, đó gọi là trụ trì Tăng Bảo. Nơi đây, đã bàn xong về
trụ trì Tam Bảo.
Trụ trì, biệt tướng, nhất thể, đều
gọi là Châu Báu mà không thể bị pháp thế gian xâm lấn tổn hại, hoặc
phiền não làm nhiễm ô. Bảy loại châu báu ở thế gian tuy được gọi là
quý báu, nhưng thọ hưởng trong một thời gian, cuối cùng sẽ hết, vì
chỉ dưỡng sanh chứ không cứu độ cái chết. Tam Bảo có thể chấm dứt vô
biên sanh tử, khiến xa rời tất cả sợ hãi lo âu, mãi mãi hưởng thọ
thường lạc.
Bàn về quy y Tam Bảo, không chỉ
đặc biệt quy y trụ trì Tam Bảo, biệt tướng Tam Bảo, hay nhất thể Tam
Bảo. Theo ngôn thuyết thì có ba loại Tam Bảo, nhưng thật ra chỉ sanh
từ một tâm mà chẳng có pháp nào khác, vì tất cả sự vật đều do tâm
tạo. Tâm nhiếp thọ hết muôn vật, viên mãn tròn đầy, như hạt châu Như
Ý. Thế nên bảo rằng tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng, chứ
không nói là quy y tha, tức y tựa nơi người khác.
Lục Tổ dạy:
- Tự tánh chẳng quy, không chỗ để
nương vào.
"Quy" nghĩa là xoay về cội gốc.
Sáu căn của chúng sanh từ một tâm khởi, chỉ vì bỏ gốc mà chạy đuổi
theo sáu trần. Ngày nay dùng mạng căn nhiếp sáu tình, xoay về nguồn
tâm, nên gọi là quy mạng. Vì vậy, quy y cũng nghĩa là quy mạng.
"Y" nghĩa là y chỉ. Chúng sanh
luôn chạy theo âm thanh sắc tướng, niệm niệm lưu chuyển, nên bị chìm
đắm trong biển khổ mà không biết chỗ ngừng và không có nơi nương tựa.
Ngày nay quy y Tam Bảo, tức thân có chỗ quy về, và tâm có chỗ nương
tựa. Từ nay về sau, nhờ tôn kính Tam Bảo làm thầy nên có thể xuất ra
khỏi ba cõi u mê, phát tâm Bồ Đề, và quả vị Phật có kỳ chứng đắc.
Nghĩa quy y Tam Bảo đã giải thích đầy đủ. Hiện tại, nói rõ về năm
giới cấm.
Quy y Tam Bảo rồi, phải y theo
pháp mà tu hành, mới thoát khỏi khổ đau trong ba cõi. Nếu không y
theo pháp mà tu hành thì không thể nào thoát khỏi vòng triền phược
của thế gian. Nếu muốn thoát khỏi vòng sanh tử, dứt dây phiền não,
ngoài năm giới ra không còn pháp nào khác. Vì vậy, có câu rằng nếu
không giữ năm giới cấm thì đường sanh làm trời người bị cắt đứt.
Thế nên, "Giới" là nền tảng căn
bản, sanh ra điều thiện lành, diệt bỏ điều ác, và là cội gốc của đạo
đức, cùng là công cụ vượt ra khỏi cõi phàm mà nhập vào dòng thánh.
Từ giới sanh định. Từ định phát huệ. Nhờ giới định huệ, mới bước
trên đường Bồ Đề mà thành chánh giác. Vì vậy, đạt được giới phẩm thì
quả vị Phật sẽ có kỳ chứng đắc.
"Giới là cội gốc của đạo Bồ Đề vô
thượng".
Đức Phật của chúng ta mở pháp môn
phương tiện, bằng cách đầu tiên thuyết tam quy y, rồi lại dạy năm
giới; cứ như thế lần lượt thiết lập giới Đại Thừa, Tiểu Thừa, v.v...
Do căn cơ và tâm hạnh của chúng
sanh không đồng nhất, nên mới lập giới từ thô thiển đến thâm sâu, từ
vi tế đến hiển lộ, nhưng cứu cánh luôn xoay về nguồn, chẳng có hai
hoặc ba.
Năm giới: Thứ nhất là giới cấm
giết hại. Thứ hai là giới cấm ăn cắp. Thứ ba là giới cấm tà dâm. Thứ
tư là giới cấm nói láo. Thứ năm là giới cấm uống rượu. Năm giới này
được gọi là học xứ và học tích. Nam nữ tại gia phải nên học theo.
Những giới này cũng được gọi là đường lộ, vì nếu đi trên đường đó có
thể thăng lên cung điện trí huệ. Tất cả luật nghi diệu hạnh thiện
pháp đều xuất phát từ con đường này. Chúng cũng được gọi là học bổn
mà người người phải học theo, nên gọi là căn bổn; chúng cũng được
gọi là năm đại thí. Năm giới này nhiếp thọ vô lượng chúng sanh,
khiến họ thành tựu vô lượng công đức. Năm giới này nơi trời thì gọi
là năm tinh sao; nơi núi thì gọi là năm ngọn; nơi con người thì gọi
là năm tạng, trong nhà Nho thì gọi là ngũ thường. Người nhân đức
không giết hại. Người nghĩa khí không ăn cắp. Người lễ mạo không tà
dâm. Người trí không uống rượu. Người tín không nói láo. Nếu giữ năm
giới hoàn toàn thì không cầu thành bậc nhân đức cũng vẫn thành người
nhân đức. Không thích nghĩa mà nghĩa vẫn vẹn toàn. Không cầu lễ mà
lễ vẫn lập. Không hành mà trí vẫn sáng. Không mong được tin tưởng mà
chữ tín vẫn nổi. Thế nên, "giăng lưới thì được lưới" cần gì gia công
sức thêm. Đây là nói tổng quát về năm giới.
Hiện tại, bàn về nghĩa của năm
giới. Thứ nhất là bàn về giới không giết hại. Chủng tử giết hại nằm
ẩn tàng trong tâm của mỗi người mà ai ai cũng có. Mạnh Tử còn bảo:
- Nghe tiếng kêu la của con vật,
không đành lòng ăn thịt chúng.
Huống chi người học Phật, sao lại
hàm hồ có tâm niệm giết hại, để chịu quả khổ sau này ? Thế nên, đức
Phật chế giới không giết hại cho các đệ tử; nếu muốn hành đạo nhân
từ thì đầu tiên phải giữ giới không giết hại. Nếu giữ được giới
không giết hại thì đường luân hồi sẽ chấm dứt. Nghiệp giết hại khởi
đầu không ngoài việc Ỷ sức mạnh mà giết hại kẻ yếu. Hoặc vì tham đắm
mùi vị thức ăn, hoặc vì tiền tài mà giết hại kẻ khác. Người giết hại
người, và súc vật giết hại súc vật v.v... đều do tâm sân hận, kiêu
căng ngã mạn. Nếu vì tham đắm mùi vị thơm ngon mà giết hại loài vật
thì đó là do ngu si. Dùng thịt loài khác để tẩm bổ cho thân mình,
người quân tử sao lại nhẫn tâm ? Sao không biết rằng nếu tạo nghiệp
giết hại bừa bãi thì cừu oán tự khởi ? Kinh Lăng Nghiêm thuyết: "Sau
khi ăn thịt dê, dê chết trở lại thành người. Người chết trở lại
thành dê. Mười loài như thế. Chết rồi lại sanh. Ăn nuốt lẫn nhau. Ác
nghiệp đầy dẫy, cho đến cùng tận đời vị lai, cũng chỉ vì gốc tham
lam trộm cướp".
Bị quả báo xấu, trải qua bao số
kiếp khó mà tránh khỏi. Giết người hại mạng thì phải đền mạng. Giết
súc vật cũng phải đền mạng. Tích xưa, khi vua Lưu Ly giết sạch dòng
họ Thích Ca, đức Thế Tôn bị đau đầu nhức nhối; quả báo này do nhân
nào tạo ? Trong thời quá khứ, vua Lưu Ly vốn là một con cá lớn. Lúc
đó, dòng họ Thích Ca bắt giết, rồi ăn thịt con cá lớn. Đức Phật thuở
đó là đồng tử, giỡn chơi lấy cây côn đánh vào đầu con cá lớn ba lần,
nên nay mới thọ quả báo nhức đầu. Dòng họ Thích Ca vì ăn thịt con cá
lớn, nên ngày nay bị vua Lưu Ly, tức tiền thân của con cá lớn, giết
sạch hết.
Quán sát kỸ càng, nhân quả vay trả
lẫn nhau, thật rất đáng sợ. Kinh Lăng Nghiêm bảo: "Trên thế gian,
những loại thai sanh, thấp sanh, noãn sanh, hóa sanh tùy theo sức
mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau. Đó là do gốc tham ăn nên mới giết hại."
Không những đức Phật khởi lòng từ
bi đến với nhân loại, mà Ngài còn trải lòng từ đến với loài trùng
kiến. Phật pháp vốn bình đẳng, không có cao hay thấp. Theo mắt đức
Phật quán sát thì chúng sanh trên cõi đất đều có thể thành Phật.
Kinh Phạm Võng bảo: "Tất cả người nam là cha mình. Tất cả người nữ
là mẹ mình. Chúng sanh trong sáu đường thọ sanh trong đời này, đều
là cha mẹ của mình. Nếu giết hại ăn nuốt chúng sanh, tức là giết hại
ăn nuốt cha mẹ mình".
Người thế gian không biết nên ăn
nuốt lẫn nhau. Vì vậy, đức Thế Tôn mới chế ra giới không giết hại
sanh mạng chúng sanh. Tất cả sanh linh động vật đều có Phật tánh.
Ngay cả côn trùng còn không thể giết hại, sao lại nỡ lòng tương tàn
tương sát đồng loại ? Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đời vị lai
họ sẽ thành Phật. Họ là cha mẹ chúng ta trong đời quá khứ, và sẽ là
những vị Phật trong đời tương lai. Sao lại dám giết hại ? Phàm phu
tục tử chúng ta nếu muốn được lợi lạc chớ nên giết hại đồng loại.
Mạnh Tử nói:
- Kẻ thất nhân chỉ lo sợ không hại
được người.
Hiện nay, người người luôn tranh
thắng bại, nên tạo vũ khí giết hại lẫn nhau ở trên đất liền, trên hư
không và dưới nước. Nhân tâm ngày càng hiểm ác. Thế đạo ngày càng
cuồng loạn. Tương sát tương tàn đến khi nào mới ngưng ? Nếu không
tìm cách cứu vãn thì thế gian này mãi mãi biến thành biển khổ. Kẻ sĩ
quán sát thế đạo nhân tâm không khỏi buồn thương. Phải nên nỗ lực
cầu hòa bình, cứu vãn nhân tâm mê muội, khiến họ quay về đường chánh.
Trọng nhân từ, chứ không trọng võ lực. Chẳng tham đắm mùi vị ngon
hay thấy lợi mà quên nghĩa, thì tâm giết hại không thể khởi lên.
Nghiệp giết hại nếu ngưng thì vận kiếp hoại sẽ ngừng. Sao lại lo tâm
không hợp với người xưa ? Nghe đến lý nhân quả liền thấu rõ nghĩa
thâm sâu, như hình với bóng, như âm với hưởng. Nếu thâm tín nghĩa lý
nhân quả thì nhân tâm không cần sửa đổi mà vẫn luôn lành thiện. Gặp
cảnh thuận nghịch, tâm không ưu sầu hay vui thích. Nên biết những
nghiệp khổ trong đời hiện tại, như nạn binh đao, kiếp hỏa tai, lụt
lội v.v... đều do tự mình tạo ra trong đời quá khứ. Như trong hai
đại chiến thế giới, chiến tranh lan tràn khắp nơi, chỉ có các người
Tàu cư ngụ tại Úc Châu là được bình an, vì do đời tiền kiếp, không
gieo nghiệp giết hại thâm trọng. Những người thường gặp tai nạn, đều
do biệt nghiệp chiêu cảm. Phải nên thấu triệt lý nhân quả, thật
không thể nghĩ bàn. Nếu thâm tín lý này thì tâm giết hại sẽ ngừng.
Nếu người thế gian thường trì giới không giết hại thì tất cả khí
giới sát cụ đều là vô dụng.
Đức Như Lai đầu tiên chế ra giới
không giết hại vì muốn khiến cho người người đều khởi lòng nhân từ,
thương người thương vật, tự trừ khổ cho mình và người, đồng chứng
cảnh giới an lạc thường hằng. Đây là sơ lược giảng giải về nghĩa của
giới không giết hại.
Thứ hai là bàn về giới không ăn
cắp. Ăn cắp do từ tâm tham phát khởi. Đức Phật dạy hàng đệ tử rằng
ngay cả một cây kim cọng cỏ mà người khác không cho thì mình chẳng
dám lấy, còn nói chi đến việc trộm cướp. Tuy nhiên, chúng sanh chỉ
vì thấy lợi trước mắt nên lập bao chước mưu, không cho mà lấy. Tìm
kiếm lợi lộc, ác cầu đa cầu, không bao giờ biết đủ, đều do tâm tham
lam sai sử. Hình tướng vi tế của tâm trộm cắp là như thế. Phạm tội
nặng nề nhất là ăn cắp và lạm dùng vật dụng của mười phương tăng
chúng, vật dụng của hiện tiền tăng, cho đến vật dụng của Phật, Pháp,
Tăng. Tuy vật chỉ nhỏ như cây kim cọng cỏ mà lấy càn, rồi tự mình
dùng hay cùng người dùng, đều là phạm tội trộm cắp nặng nề. Đại sĩ
Hoa Thủ nói:
- Đối với năm tội nghịch hay mười
nghiệp nặng, tôi đều có thể cứu hộ. Tuy nhiên, nếu ăn cắp mười
phương tăng vật thì tôi không thể cứu được.
Đối với vật dụng của cha mẹ hay sư
trưởng, không được cho chớ lấy, nếu lấy thì phạm tội nặng. Nếu thâm
tín nhân quả, chẳng phạm tơ hào, thì tuy chẳng trì giới không trộm
cắp mà vẫn tự hành trì. Nếu được như thế thì cùng đạo chẳng đổi dời.
Tối ngủ chẳng cần đóng cửa. Người người trên thế gian đều kết nghĩa
với nhau thì làm sao bị gông cùm lao ngục ? Đây là bàn xong về giới
không ăn cắp.
Thứ ba là bàn về giới không tà dâm.
Đệ tử Phật xuất gia hay tại gia đều phải nghiêm thủ giới này. Người
tại gia giữ năm giới. Tuy được có vợ chồng chánh thức, nhưng không
thể tà dâm. Đối với vợ của người khác, được họ bảo bọc, không nên
nói lời bậy bạ hàm hồ, còn nói chi đến việc xâm phạm tiết trinh, làm
ô nhiễm phạm hạnh ? Đức Phật chế giới cho người tại gia là không
được tà dâm. Đối với đệ tử xuất gia, chánh dâm hay tà dâm đều ngăn
cấm hẳn. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Người khác thương mến mình. Mình mến
yêu hình sắc của người.
Vì do nhân duyên này, trải qua
trăm ngàn kiếp thường bị triền phược trói buộc. Vì ba nghiệp giết
hại trộm cướp dâm dục làm cội gốc, nên mới có nhân duyên nghiệp quả
liên tục".
Nếu thường trì giới này thì không
cầu mà lễ vẫn lập, không răn nhắc mà vẫn uy nghiêm, oai nghi tự thủ.
Pháp đình không cần xử án lao hình. Đây là nghĩa của giới tà dâm.
Thứ tư là bàn về giới không nói
láo. Việc nói láo phải nên dứt hẳn. Thấy thì nói thấy. Nghe thì nói
nghe. Lời nói không giả dối. Những việc nhỏ nhít còn phải nói thật,
huống hồ là những việc quan trọng ! Quán sát nhân duyên nói láo, đa
số do cầu danh thơm lợi dưỡng, hoặc vì giấu diếm dục tình mà tráo
trở, hoặc vì che tâm giấu mặt. Lại nữa, chưa chứng thánh quả mà nói
là đã chứng, hay chưa chứng tâm Phật mà bảo đã chứng đắc, tức khi dễ
thánh hiền, làm mê hoặc thế nhân, đó gọi là đại vọng ngữ. Nếu tạo
tội đại vọng ngữ thì sẽ bị đọa lạc vào địa ngục vô gián. Thế nên,
phải cẩn trọng, chớ phạm giới này. Phật giáo dùng tâm chánh trực làm
đạo tràng. Tại sao không y đó mà tu học ? Nếu trì giới này thì sẽ
được người người tín nhiệm; không cầu danh mà danh tự đến; không cầu
lợi mà phước tự về. Đây là bàn về giới nói láo.
Thứ năm là bàn về giới không uống
rượu. Rượu tuy không phải là thức ăn mặn, nhưng thường khiến cho mê
tâm loạn tánh. Luận Đại Trí Độ nói uống rượu có ba mươi sáu điều tội
lỗi. Kinh Phạm Võng nói: "Đưa rượu cho người uống thì năm trăm đời
không có tay, hà huống tự uống cùng dạy người uống ?"
Thuở xưa, một vị tỳ kheo có khả
năng hàng phục độc long, nhưng lại thích uống rượu. Ngày nọ, thầy
uống rượu say sưa, nằm trên đường lộ, ói mửa hôi hám, không ai muốn
đến gần, chỉ có một con cóc nhảy đến liếm mép. Sau đó, thầy lảo đảo
trở về chùa. Phật thấy liền mắng:
- Ông có thần lực, hàng phục được
độc long. Hôm nay say sưa nằm trên đường lộ, lại bị con cóc hàng
phục. Thần thông của ông ở đâu rồi ?
Kể từ đó, Phật cấm các tỳ kheo
không được uống rượu. Rượu khiến làm loạn tâm tánh và chiêu vời tai
họa. Như thuở xưa, có một đệ tử tại gia của Phật, vì phạm giới uống
rượu nên phạm luôn bốn giới giết hại ăn cắp tà dâm nói láo. Thật rất
đáng thương !
Rượu khiến làm nhân duyên tạo tội,
sao lại tham uống ? Nếu người thế gian trì được giới này thì họa do
say sưa không thể đến mình. Đây là giải thích xong về giới cấm uống
rượu.
Nếu muốn không phạm năm giới này,
điều quan trọng là phải nhiếp tâm. Vọng tâm nếu được nhiếp phục,
không khởi phân biệt, không còn thương yêu oán ghét, thì bao loại
nghiệp ác, do đâu mà sanh ? Kinh Lăng Nghiêm nói: "Nhiếp tâm là giới.
Nhân giới mà sanh định. Từ định mà phát huệ".
Nên biết hai chữ "Nhiếp Tâm" bao
hàm ba môn học vô lậu: Giới, định, huệ. Đoạn trừ tham, sân, si thì
các việc ác không thể khởi, và tự mình luôn hành những việc lành.
Hai chữ "Nhiếp Tâm" đơn độc có thể cứu hộ nhân tâm, duy trì được thế
đạo; chỉ việc nhiếp tâm một chỗ thì chẳng có việc gì là không thể
giải quyết được; nếu nhiếp tâm được thì công phu ngày càng thâm sâu,
và đạo Bồ Đề càng sáng tỏ.
Nhờ hồng ân của chư Phật, trước
xướng tam quy y, sau lại ban năm giới. Dùng phương tiện này để cứu
khổ chúng sanh. Thâm ân chư Phật lớn lao vô ngần; dẫu đập nát thân
này thì chỉ báo đền được một trong muôn phần.
Nghe thuyết nghĩa của năm giới rồi,
phải do từ liễu giải mà thực hành. Trăm gia đình trong làng nếu có
mười người trì năm giới thì mười người đó được an vui. Trăm người tu
mười điều thiện thì trăm người hòa kính. Nếu mọi nhà đều y theo cách
thức tu trì giáo pháp này thì trăm vạn người đều nhân từ. Hành một
việc lành thì bỏ một việc ác, và tiêu một hình phạt. Một hình phạt
tiêu mất trong một nhà thì trăm hình phạt tiêu mất trong một quốc
gia. Vị nguyên thủ quốc gia không cần trị mà vẫn ngồi hưởng thái
bình. Thế nên, thọ trì năm giới, tức là không những y theo lời Phật
dạy, được thọ hưởng quả lành, mà còn trợ người khác y theo luật lệ
quốc gia, khiến nước nhà thạnh trị, nhân dân an lạc.
Đây là hành tướng cùng danh đức
của tam quy y và năm giới cấm. Quý vị nếu thường chân thật hành trì
thì gieo trồng được chủng tử thành Phật. Hạnh và giải tương ưng thì
sẽ đạt đến bờ giác. Xin cầu nguyện cho quý vị, từ đây về sau do nghe
mà sanh kiến giải. Do có kiến giải mà sanh tư duy. Do tư duy mà phát
tâm tu hành, thì thành Phật sẽ có kỳ. Mọi người phải nên thường
chuyên cần tinh tấn, rồi chỉ bảo người khác, thì mới mong báo được
ân Phật. Hy vọng quý vị, mỗi người luôn luôn nỗ lực, khiến giải trừ
tai ách, tiêu trừ hoạn nạn. Nếu thọ tam quy y và năm giới cấm, tức
là các việc ác chẳng làm, mà luôn hành các điều thiện, thì tự có khả
năng cùng đạo tương ưng và có thể đạt thành tựu Phật đạo vô thượng
viên mãn.
XI. Bài diễn thuyết tại xã Liên
Nghĩa ở Quảng Châu vào ngày hai mươi bảy tháng chín năm 1947
[^]
Quý vị thiện tri thức ! Hư Vân tôi
lần này trên lộ trình từ Hồng Kông trở về núi Vân Cư, ghé ngang qua
đây. Hôm nay do lời mời của quý vị, nên tôi mới ở lại đàm luận, chứ
chẳng vì lụy duyên trần thế.
Quý vị thiện tri thức ! Hai chữ "Phật
Pháp" thật cùng tất cả thiện pháp nơi thế gian đều đồng không khác.
Chư hào kiệt do tu dưỡng học vấn mà tiên tri tiên giác, thành tựu
kiến thức siêu việt thường tình, vượt hơn sở học kẻ khác, khiến an
định thế gian.
Chư Phật tổ do bao kiếp tu hành mà
thành tựu, chánh tri chánh giác, phát tâm từ bi rộng lớn, độ khắp ba
cõi. Chư thánh hiền tại thế gian hay xuất thế gian, do tu hành mà
chứng được thánh vị và an lạc nơi đạo.
Quý vị thiện tri thức ! Phật pháp
tức là pháp thứ và bổn phận của mọi người. Điều quan trọng là phải
đi từng bước vững chắc, xa rời vọng tưởng chấp trước thì mới đạt đến
đạo Bồ Đề vô thượng.
Cổ đức nói:
- Tâm bình thường là đạo.
Đạo của ông Khổng Tử không ngoài "Trung
Dung". Bàn về lý thuyết thì không thiên chấp tức là "Trung". Không
biến đổi tức là "Dung". Bàn về sự thì "Trung" tức là trung đạo. Việc
gì cũng không thái quá hay không thiếu thốn. Dung tức là dung thường,
xa rời tất cả quái lực loạn thần, thuận theo bổn phận làm người,
chẳng làm điều kỳ lạ. Phật pháp cũng như thế. Chúng ta phải vận dụng
tâm bình thường chân thật mà xem xét thì mới thấy chân tâm thân
thiết. Nhờ làm việc bình thường chân thật mà thấy được chân tâm thân
thiết, nên mới có ít phần tương ưng, khiến không phạm tội nói khoác.
Pháp của tâm bình thường chân thật,
không khác mười điều thiện, tức trì giới không tham lam, sân hận, si
mê, giết hại, ăn cắp, tà dâm, Ỷ ngữ, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu.
Mười việc thiện này, lão tăng đã từng đàm luận rồi. Nếu có thể hành
trì thật tiễn thì đó là nền tảng căn bản của việc tu hành thành Phật
Tổ, cũng khiến cho thế giới
thái bình, tạo nên nhân gian Tịnh
Độ. Lục Tổ bảo:
- Tâm bình thì nhọc gì trì giới.
Đó là nói về bậc thượng căn lợi
trí; các ngài nghe một lời đạo pháp thì hạnh giải đều tương ưng, như
voi vượt sông theo dòng mà qua đến bờ kia. Tướng thiện lành còn
không có, hà huống có tướng ác !
Đối với người trung căn và hạ căn,
họ thường bị gió chuyển. Hai chữ "Tâm Bình", đàm luận thì dễ. Gió có
tám loại: Lợi ích, suy đồi, hủy hoại, khen ngợi, tán thán, chửi mắng,
khổ nhọc, an lạc. Phàm phu gặp gió lợi lạc thì sanh tâm tham trước.
Gặp gió sầu thảm thì sanh tâm bi lụy khổ sở. Gặp gió hủy báng thì
sanh tâm sân hận. Gặp gió khen ngợi thì sanh tâm vui thích. Gặp gió
tán thán thì tâm trụ không nghi. Gặp gió quở trách thì sanh tâm xấu
hổ, khiến trở thành hờn oán. Gặp gió khổ đau thì tâm đầy bi thương.
Gặp gió an lạc thì liên tục chạy theo vọng tưởng. Tám gió khởi lên,
tâm liền theo đó mà chuyển. Lúc sanh lúc chết, làm sao đối kháng
được ? Phải đi từng bước, tức từ sự tướng mà nhận thức thể tánh; khi
khởi tâm động niệm, luôn tu hành mười điều lành. Sự tướng tuy là
cành lá, nhưng phải nhiếp thọ cành lá trở về cội gốc, thì mới mau
đạt đạo Bồ Đề.
Lại nữa, Phật giáo lược khai có
mười tông và hơn bốn mươi phái mà bốn tông như Thiền, Tịnh, Luật,
Mật nhiếp căn cơ chúng sanh rất rộng rãi.
Quý vị thiện tri thức ! Cảnh giới
của chư Phật như vương đô, mà các tông phái như những đại lộ. Dẫu
đại lộ nào cũng dẫn về vương đô. Chúng sanh phân tán khắp bốn phương,
do điểm xuất phát không đồng, nhưng khi đến nơi vua trú thì đồng một
dạng giao cảm. Kinh Kim Cang nói: "Pháp này bình đẳng, không có cao
thấp !"
Tuy nhiên, nếu hôm nay đi đại lộ
này, rồi ngày mai lại chạy qua đại lộ khác, cứ chạy qua đường này lộ
nọ, nên cuối cùng chẳng đi đến đâu.
Lục Tổ bảo:
- Rời đạo mà tìm đạo, thì cả đời
chẳng thấy đạo. Lang thang suốt cuộc đời, chẳng đạt được gì, phải
nên tự trách.
Thật là lời răn nhắc thâm sâu ! Vì
vậy, chúng ta phải thâm nhập vào một pháp môn mà không để phân tâm,
hay thối chuyển. Như chuột gặm quan tài, phải từ một nơi mà dụng
công thì hồi lâu sẽ đục thủng. Nếu muốn thông đạt hết các tông, phải
nên nhận ra chủ bạn. Người hành Thiền tông, phải nên lấy pháp môn
của Thiền tông làm chủ (chính), còn giáo lý của những tông khác,
phải xem là bạn (phụ). Người hành tông Tịnh Độ, phải lấy pháp môn
Tịnh Độ làm chủ, và xem giáo lý của các tông khác là bạn. Luật tông
và Mật tông cũng như thế, thì mới tránh việc Hàn Lô tranh khoảnh đất
bùn.
Đối với giới luật trong nhà Phật,
các tông phái đều phải nghiêm trì. Biết chủ bạn như đi trên đường
biết phương hướng. Trì giới luật như đi trên đường có lương thực.
Yếu chỉ của các tông phái tuy không đồng, nhưng lên đến đảnh thì
cùng một dạng. Thế nên bảo:
- Trở về nguồn tánh không hai,
nhưng phương tiện thì lại có nhiều môn.
Hôm nay, trong chúng hội đều là
những bậc thượng thiện nhân, cùng Phật có phần. Hư Vân tôi nói nhiều
lời, bất quá chỉ như vạch hư không mà thôi. Trân trọng !
|
|
|