- Những bài pháp tiêu biểu của HT. Tuyên Hóa (I)
- Thích Hằng Đạt
tuyển chọn
Tu hành
Trì Giới và Nhẫn Nhục
Tham Thiền và Niệm Phật
Hạnh của Người Xuất Gia
Nhân Quả, Sám Hối, và Chuyển Hóa
Quy Y Tam Bảo
Giáo Dục
Đạo Phật và Phật Pháp
Trí Huệ
Gia Phong của chùa Vạn Phật Thành
Ba tông chỉ
Pháp Môn Tu Đạo
(Xem thêm Phần II)
1. Tu hành
[^]
Tu đạo là cần phải
Quay Trở Lại. Nghĩa là gì ? Tức là phải nhường cho người việc tốt
lành, còn mình thì nhận phần hư xấu. Xả Tiểu Ngã để thành tựu Đại
Ngã.
Đối với ma đừng
khởi tâm thù nghịch. Hãy xem chúng như các bậc Thiện Tri Thức trợ
Đạo cho mình.
Từ vô lượng kiếp
đến nay, hết đời này sang đời khác, mỗi người tạo bao nghiệp khác
nhau, nên vọng tưởng cũng không đồng. Nghiệp nặng thì vọng tưởng
nhiều, còn nghiệp nhẹ thì vọng tưởng ít.
Người tu hành phải
vì cắt đứt dòng sanh tử luân hồi, vì hóa độ chúng sanh, chứ không vì
cầu cảm ứng mà tu Đạo.
Người tu Đạo phải
luôn luôn hồi quang phản chiếu, chứ không nên hướng ngoại truy cầu.
Không thể chạy tìm cầu chân tâm ở bên ngoài được, mà phải quay về tự
tánh thì tự nhiên đầy đủ cả.
Đối với người mới
phát tâm tu hành, điều chướng ngại trọng yếu nhất khi dụng công là
tâm tham luyến sắc dục giữa nam và nữ. Đây là vấn đề căn bản nhất.
Người tu Đạo nên
chú ý ! Chớ gieo duyên nhiễm ô với người khác. Sợi dây trói buộc bất
tịnh này sẽ làm chúng ta đọa lạc.
Hiện tại, chúng ta
may mắn có được thân người. Nếu không biết dùng thân người để tu
hành thì đợi đến khi nào mới chịu tu ? Chỉ e đến lúc mất thân này
rồi, dẫu có muốn tu hành thì đã quá muộn màng !
Khi tu học Phật
pháp, điều thiết yếu là phải chân thật. Nơi mỗi hành động, lời nói,
cử chỉ đều phải chân thật.
Sống trong tự viện,
chúng ta phải biết tiết kiệm mọi vật dụng. Có câu: Giữ gìn vật của
chùa như bảo vệ tròng con mắt.
Không thương cùng
không ghét chính là nghĩa Trung Đạo.
Tu đạo là gì ? Tức
là tu theo Trung Đạo. Khi đối xử với mọi người, phải lấy lòng bình
đẳng và lòng từ bi làm căn bản. Khi hành sự, phải cẩn thận, chớ đi
lạc vào lưới rọ tình ái.
Chưa bao giờ có
việc Ngày nay tu Đạo thì ngày mai thành Phật. Mới cuốc một nhát đâu
có thể đào giếng nước ngay được. Tu hành là đem khối sắt mài thành
cây kim. Khi công phu đầy đủ thì tự nhiên sẽ thành tựu.
Việc đầu tiên khi
tu học Mật chú là phải chánh tâm thành ý. Nếu tâm không chân chánh
thì khi tu học, Mật chú nào cũng thành tà. Tâm nếu chân chánh thì
việc tu học Mật chú mới được cảm ứng.
Vô minh có hai đồng
bạn. Hai đồng bạn đó chính là tham ăn và tham sắc dục. Cả hai việc
này trợ giúp vô minh tạo ra vô số nghiệp xấu.
Có câu:
- Khi muốn làm người tốt thì
nghiệp báo hiện,
- Khi muốn thành Phật thì ma đến
thử thách.
Nếu không muốn trở
thành người lành thì nghiệp báo không tìm đến. Càng quyết chí làm
người lành bao nhiêu thì nghiệp báo càng tìm đến tới tấp bấy nhiêu
để đòi chúng ta thanh toán nợ nần cho rõ ràng.
Phật và ma chỉ khác
nhau nơi một tâm niệm: Phật thì có tâm từ bi, còn ma thì có tâm
tranh hơn thua.
Người thực sự biết
cách tu hành thì nhất cử nhất động đều là tu cả.
Người tu Đạo không
nên đi khắp nơi quảng cáo sự tu hành của mình. Ai thường làm việc đó
thì nhất định sẽ đọa lạc vào đường ma.
Khi ở bất cứ nơi
nào, người tu Đạo cũng đều phải che giấu và tẩy xóa tông tích; chớ
nên để lộ diện.
Tâm của chúng ta
thường trú tại những nơi khác chứ không trú tại trong tâm mình. Trú
tại những nơi khác nghĩa là có thân mà tâm lại chạy tán loạn.
Giảng Kinh thuyết
Pháp là tu Huệ. Ngồi Thiền là tu Định. Không nói lời tạp nhạp là tu
Giới.
Phiền não tức Bồ Đề.
Nếu biết cách tu hành thì phiền não tức là Bồ Đề, bằng ngược lại thì
Bồ Đề biến thành phiền não.
Tu Đạo cần phải tập
dại khờ. Càng dại khờ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Dại khờ cho
đến lúc buông xả muôn việc thì vọng tưởng sẽ không còn.
Vô minh nghĩa là
không hiểu rõ. Gốc rễ của vô minh là ái dục.
Mục đích chủ yếu
của sự tu hành là cắt đứt dòng sanh tử, chứ không phải cầu cảm ứng.
Tu hành thì cần
phải giữ mình cho trong sạch, như giữ đôi mắt không để dính một hột
cát.
Cờ bạc thì tạo
nghiệp nặng. Bố thí thì tích lũy công đức. Ngồi Thiền thì trừ ngu si,
giúp sanh trí huệ.
Người tu hành nên
cẩn thận lời nói nơi chỗ đông người và phòng hộ tâm niệm khi ngồi
một mình. Lúc ở giữa đại chúng, đừng nên nói nhiều. Khi ở riêng một
mình nên đề phòng tâm ích kỶ và vọng tưởng. Nếu làm được như thế thì
chẳng bao lâu sự tu hành sẽ được chuyên nhất và thấy rõ chân tâm.
Thọ khổ thì dứt khổ.
Hưởng phước thì hết phước.
Người chân chánh tu
Đạo phải quán xét mọi hành vi, cử chỉ của chính mình. Lúc đi, đứng,
nằm, ngồi, chớ rời chánh niệm. Đừng giống như tấm gương, chỉ biết
soi mặt người mà không thể tự soi lại bộ mặt thật của mình.
Nếu còn chấp trước
thì đó là tâm người thế tục. Nếu xả chấp thì đó là tâm Đạo.
Nếu không muốn chết,
phải sống như người đã chết, tức là phải giữ tâm đừng để tham lam,
sân hận, si mê nổi lên.
Người học Đạo nhất
định phải phát nguyện. Nguyện lực có khả năng thôi thúc chúng ta
tiến tu theo Chánh Đạo mà không lạc vào đường tà. Tuy nhiên, phát
nguyện mà không hành thì giống như cây có hoa nhưng không đơm trái,
thật vô ích !
Dùng lưỡi để thuyết
pháp thì tích lũy công đức. Ngược lại, nếu dùng lưỡi để nói chuyện
thị phi thì tạo nghiệp xấu. Thay vì thuyết Pháp mà lại nói những lời
thị phi vô nghĩa, chính là tạo 1.200 tội lỗi.
Đối với kẻ trong
người ngoài, già, trẻ, lớn, bé, sang giàu, hèn hạ, người tu Đạo phải
nên dùng tâm Từ, Bi, HỶ, Xả. Nhờ những tâm hạnh đó mới được cảm ứng.
Tu Đạo là tu chân
thành và thiết thật. Thế nên, có câu: Tâm thành thì được cảm ứng.
Sống trên cõi này,
chúng ta phải luôn luôn làm việc lành. Nơi mỗi hơi thở và sức lực,
chúng ta đều phải làm việc lành để tích lũy công đức. Trong hiện đời,
chớ nên dựa vào căn lành đã trồng trong những đời tiền kiếp mà tận
hưởng hết phước báo.
Phật có thể chuyển
hóa tất cả chúng sanh thành Pháp Khí, nên có câu: Mượn cái giả để tu
việc chân. Túi da hôi thối này chỉ là căn nhà tạm bợ. Chúng ta trú
tại căn nhà này để tu Đạo, nghĩa là mượn căn nhà sắc thân giả tạm để
tu thành Pháp Thân chân thật.
Nếu tâm tham lam
tràn trề không biết đủ thì tương lai sẽ bị đọa lạc vào địa ngục. Nếu
từ sáng đến tối luôn giận dữ với tâm sân hận nặng nề thì sẽ trở
thành ngạ quỶ. Nếu tâm ngu si nặng nề, chỉ làm những việc ngu xuẩn
thì sẽ trở thành thú vật.
Khuyết điểm lớn
nhất của chúng sanh là tình ái si mê; ngày đêm chúng sanh sống trong
tình ái si mê, không thể nào xả bỏ được. Nếu chuyển được tâm háo sắc
thành tâm tu học Phật pháp trong từng giây phút mà không lãng quên,
thì sẽ mau chóng thành Phật.
Người chân chánh
khai ngộ thì không bao giờ nói mình đã khai ngộ. Các bậc thánh nhân
xuất hiện nơi thế gian tuyệt đối không tiết lộ chân tướng. Phàm
những kẻ tự xưng là Phật hay Bồ Tát, đều là hạng tà ma.
Người có đức hạnh
không phải do nơi địa vị hay tuổi tác, mà trong những hành vi lại
kín đáo và im lặng, khiến tự nhiên hiển lộ phẩm cách đặc thù của họ,
làm cho người khác kính nể. Phẩm cách đặc thù này không khiến cho kẻ
khác sợ sệt, vì nếu như thế thì họ sẽ lánh xa.
Mọi người đều có ba
tên giặc phiền não trong nội tâm; chúng là tham lam, sân hận, si mê.
Chúng ta không cần diệt trừ chúng mà chỉ cần chuyển hóa chúng thành
những hạt giống Bồ Đề.
***
2. Trì Giới và Nhẫn Nhục
[^]
Người tu hành phải
tu tướng vô ngã; tu đến độ không còn cái Ta. Nếu được như thế thì có
thể nhẫn chịu tất cả; cảnh giới nào đến, tâm đều an nhiên bất động
và tâm thanh thản giống như hư không.
Việc thành Phật vốn
không phải dễ dàng ! Chưa chặt đứt tâm tham dục mà mong thành Phật
thì không bao giờ làm được. Người đời nay đa số đều thích cầu may,
đi đường tắt, nên dễ dàng bị những việc huyền ảo lạ kỳ lôi cuốn và
bị mê hoặc rồi lạc vào lưới ma.
Tại sao nói láo ?
Vì sợ mình mất quyền lợi và bị thua thiệt.
Nếu phạm giới dâm
dục thì dễ dàng phạm giới giết hại, ăn cắp, và nói láo. Vì vậy, giới
dâm dục bao gồm các giới giết hại, trộm cắp, và nói láo.
Giữ năm giới và làm
mười điều lành thì được sanh cõi trời và cõi người. Nếu còn tham
lam, sân hận, si mê thì sẽ bị đọa lạc vào ba đường ác.
Nếu hiểu rõ Giới
Luật thì có thể thâm nhập vào Phật pháp. Nếu không hiểu Giới Luật
thì giống như mây bay trên nền trời, lơ lửng không có một điểm tựa
căn bản.
Căn bản của Giới
Luật chỉ có một điều, chính là giữ tâm không ích kỶ.
Đối với việc tinh
tấn trì Giới, điều chủ yếu là trì Giới ở những nơi không ai thấy.
Không phải chỉ tinh tấn trì Giới trước mặt người khác, mà khi ở một
mình cũng phải luôn luôn siêng năng tinh tấn nghiêm trì Giới Luật.
Tu học Phật pháp
chính là tu học việc không làm não hại người khác. Là Phật tử, phải
nên ăn chay, vì nếu ăn thịt tức là làm tổn hại sanh mạng của những
chúng sanh khác.
Ăn chay phải chịu
thiệt thòi vì không thể hưởng được của ngon vật lạ trong cuộc đời.
Tuy nhiên, nếu ăn thịt loài vật thì sau khi chết phải tới địa phủ để
thanh toán nợ nần. Tôi thật tâm nói cho quý vị biết: Nếu mọi người
không ham Khoái khẩu, không tham hưởng thụ, thì sau khi chết sẽ
không phải ra tòa !
Người tu học Phật
pháp mà không giữ Giới Luật thì cũng giống như chiếc bình không đáy:
Đổ nước vào bao nhiêu thì chảy ra bấy nhiêu. Thế nên, phải nghiêm
trì Giới Luật để từ từ đạt đến cảnh giới vô lậu.
Dẫu tu pháp môn nào,
phải có tâm nhẫn nhục thì việc tu hành mới mong thành tựu. Ngược lại,
không thể tu hành thành tựu bất cứ pháp môn gì.
Người xuất gia tu
Đạo gì ? Chính là tu Đạo nhẫn nhục.
Nhẫn là hạt châu vô
giá mà người người không biết đào tìm. Nếu biết cách dùng thì mọi
việc đều tốt lành.
Người tu Đạo cần
phải nhẫn những gì mà kẻ khác không thể nhẫn, nhường nhịn những gì
mà kẻ khác không thể nhường nhịn, ăn mặc những gì mà kẻ khác không
thể ăn mặc. Nói chung, phải thọ nhận những gì mà người khác không
thể thọ nhận.
Khi chúng ta tu Đạo,
việc quan trọng nhất là không tranh; nghĩa là không cùng người khác
tranh đua hơn thiệt, hay tranh đua điểm tốt xấu, hoặc tranh luận về
việc đúng sai của kẻ khác.
Dẫu ở hoàn cảnh nào,
chúng ta cũng chớ tham lam quá độ. Phải thường biết đủ và nhẫn nhịn.
Đó là pháp vi diệu vô thượng mà mọi người lại quên đi ! Vì vậy, nếu
không tranh và không tham thì thọ hưởng phước báo vô biên. Nếu vẫn
còn tranh chấp, tham lam, nhiễu loạn, thì nghiệp xấu đến với chúng
ta không ít. Dẫu có muốn thoát ra ba cõi, nhưng cũng không có cách
gì vượt thoát được.
***
3. Tham Thiền và Niệm Phật
[^]
Tại sao chúng ta
không nhận ra cội gốc và khuôn mặt thật của chính mình ? Do vì chúng
ta chưa xả bỏ tâm chấp ngã và tâm ích kỶ của chính mình.
Tham Thiền tức là
quán chiếu. Quán chiếu những điều gì ? Quán chiếu trí huệ Bát Nhã.
Trong từng tâm niệm, chúng ta hãy quán chiếu lại chính mình; chớ nên
quán chiếu người khác. Phải quán chiếu xem coi tâm có trụ chăng ?
Người Tham Thiền
phải thấu suốt những vấn đề căn bản. Đó là những vấn đề gì ? Tức là
thói quen tật xấu của mình. Đả Thiền Thất tức là chúng ta cố gắng
dẹp trừ hết mọi tập khí xấu xa và lỗi lầm của chính mình.
Trong Thiền Đường,
mọi người ngồi Tham Thiền. Đó là lúc thử xem ai có thể trúng tuyển
quả vị Phật. Làm sao được trúng tuyển ? Cần phải Bên trong không
chấp vào thân tâm, còn bên ngoài thì không thấy thế giới'.
Nhiều người Tham
Thiền thường rơi vào hai lỗi: Trạo cử (tán loạn) và hôn trầm (ngủ
gục). Nếu không ngủ gục thì cũng khởi vọng tưởng trong Thiền Đường.
Khi Tham Thiền,
việc quan trọng là phải có tâm nhẫn nhục và tâm bền bỉ. Bí quyết của
việc Tham Thiền là nhẫn. Không nhẫn được cũng cứ cố gắng chịu nhẫn.
Nhẫn cho đến cực điểm thì tự nhiên tâm sẽ khai thông, sáng suốt,
liễu ngộ.
Khi Tham Thiền đến
lúc chín muồi thì không những hết vọng tưởng mà còn bớt vọng tưởng
và phiền não, khiến phẩm cách cao thượng hơn cũng như khí phách được
hùng dũng thêm.
Tại sao tâm chưa
tương ưng với Đạo ? Vì tâm cuồng loạn chưa dừng.
Tham Thiền cần có
lòng nhẫn nại, vì đó là vốn liếng của sự khai ngộ.
Khi Tham Thiền,
chúng ta có cơ hội khai ngộ; lúc đó tự tánh sáng ngời sẽ hiện rõ như
mùa xuân về trên cõi đất và vạn vật đều sinh sôi nẩy nở.
Người chân chánh
Tham Thiền là người chân chánh niệm Phật. Ngược lại, người chân
chánh niệm Phật cũng là người Tham Thiền. Kẻ chân chánh trì Giới
cũng là kẻ chân chánh Tham Thiền.
Chân Ngã là gì ?
Tức là tự tánh, cũng tức là quả vị Phật. Thành tựu quả vị Phật mới
đạt được chân ngã. Trước khi thành Phật thì tất cả đều là giả.
Thân tâm ai không
nhiễm ô thì người ấy là Phật. Ngược lại thì là chúng sanh. Nhiễm ô
là gì ? Nói vắn tắt, nhiễm ô tức là nhìn không thông, xả không được,
khởi vọng tưởng trong từng giây phút.
Dụng công cho đến
lúc thành thục rồi thì chúng ta sẽ ăn mà không chấp là mình đang ăn,
mặc mà không chấp vào y phục mình đang mặc, còn nói chi đến những
vật ngoài thân. Tất cả đều xả bỏ hết.
Tu hành không chỉ
hạn cuộc trong việc Tham Thiền, tụng Kinh mà thôi. Phải tùy thời tùy
nơi mà tu hành. Đừng móng tâm phân biệt nhiều. Chớ tranh đấu vì
quyền lợi, giành chức lãnh đạo để sai khiến người khác, và cũng chớ
nên biểu diễn hay thi thố tài năng trước mặt Thầy mình.
Tu Đạo quý tại
chuyên nhất. Tướng tài do mưu lược chứ không do hùng dũng. Binh lính
cần tinh nhuệ chứ không cần nhiều.
Chân thật niệm Phật
là luôn luôn niệm trong từng giây phút; vọng tưởng hay ý nghĩ gì về
ăn uống cũng không có cả; xả bỏ muôn sự chính là chân thật niệm Phật.
Khi chúng ta niệm
Phật, Phật cũng niệm chúng ta, giống như gởi điện tín đến Phật A Di
Đà. Đó gọi là cảm ứng đạo giao. Nếu chúng ta không niệm Phật thì
Phật không có cách gì tiếp độ chúng ta. Vì vậy, phải thường trì niệm
danh hiệu Phật.
Khi niệm Mật chú,
cần phải niệm cho đến lúc Mật chú lưu xuất từ tâm ra và đồng nhập
vào tâm. Mật chú và tâm đồng hợp nhất vào một âm thanh mà không thể
phân biệt được. Niệm mà không niệm; không niệm mà niệm.
Khi chúng ta lễ
Phật, Phật là vị nhận lễ, còn phước huệ của chúng ta thì được tăng
trưởng. Thế nên, lễ Phật là cảm; Phật nhận lễ là ứng; đó là đạo giao.
***
4. Hạnh của Người Xuất Gia
[^]
Phải bốn người xuất
gia trở lên cùng hòa hợp sống chung thì mới gọi là Tăng Đoàn. Đó là
hòa giai cộng trụ (cùng sống hòa hợp với nhau), không tranh không
chấp. Nơi một người xuất gia sống đơn độc không thể gọi là Tăng đoàn.
Không thể muốn pháp
xuất thế gian cùng pháp thế gian đồng một lúc. Chân không thể đứng
trên hai chiếc thuyền: Một hướng ra Giang Bắc, còn một thì xuôi về
Giang Nam.
Quý vị thường biết
rằng chư Đại-đức, Cao-tăng thuở xưa đều ngộ Đạo trong khi tu hành
khổ hạnh. Không một vị Tổ-sư nào khai ngộ trong khi hưởng thụ; tìm
trong Đại Tạng Kinh không thấy có một vị nào như thế cả.
Tiêu chuẩn tuyển
chọn vị Trụ-trì phải như thế nào ? Điều kiện tiên quyết là phải
không có tâm nóng giận, biết dùng tâm ôn hòa đối đãi với người khác,
nơi nơi đều có duyên lành với người, không dùng quyền uy mà bức bách
kẻ khác, phải có tác phong và tinh thần dân chủ, khiến người người
đều cung kính tôn trọng.
Người xuất gia có
thể nhận sự cúng dường, nhưng không được tham cầu sự cúng dường. Có
như thế mới xứng đáng là đệ tử chân chánh của đức Phật.
Hai chúng đệ tử
xuất gia, Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni, không nên tu hành chỉ vì danh vọng
và địa vị, mà cần phải có tinh thần thay thế chúng sanh chịu khổ với
tâm bình đẳng cứu giúp họ.
Người xuất gia nếu
không tinh tấn tu Thiền tập Định, tụng Kinh, trì Chú, nghiêm thủ
Giới Luật, mà chỉ nương tựa vào Phật hầu có được miếng cơm manh áo
thì chắc chắn sẽ bị đọa lạc vào ba đường ác.
- Tinh lực dồi dào thì không cảm
thấy lạnh.
- Khí lực sung túc thì không cảm
thấy đói.
- Thần lực đầy đủ thì không cảm
thấy mệt.
- Tinh, khí, thần là ba báu vật
mà người xuất gia phải cần tu trì.
Người xuất gia phải
làm gương cho những kẻ tại gia; nếu không nêu được gương tốt thì
người tại gia sẽ không khởi tâm tin tưởng thâm sâu, và không thể
gieo ảnh hưởng gì với họ cả. Thế nên, làm người xuất gia thì phải có
hình tướng của người xuất gia.
Người xuất gia phải
có chánh tri chánh kiến, bằng không thì nhất định sẽ đi lạc vào
đường ma, rồi bị năm mươi ấm ma lôi kéo đi. Người xuất gia phải cùng
nhau làm việc; không được tự mình làm việc khác lạ và muốn làm gì
thì làm.
Chuyên nhất thì
linh. Phân tán thì chướng ngại. Chuyên nhất về việc gì ? Tức là
chuyên nhất đoạn trừ dục vọng và tham ái, bằng không thì dẫu có xuất
gia tu Đạo đến tám mươi bốn ngàn kiếp đi nữa cũng vẫn không đạt
thành tựu. Vì vậy, đây là điều rất trọng yếu.
Phải luôn luôn tu
Đạo bồi Đức. Khi đức tánh đã được tròn đầy và hạnh tu đã được viên
mãn thì chúng ta mới xứng đáng là người xuất gia.
Người xuất gia phải
lấy việc hoằng dương Chánh Pháp làm sự nghiệp vì đó là bổn phận và
trách nhiệm. Thế nên, trong từng tâm niệm, chúng ta phải luôn luôn
hoằng dương Chánh Pháp. Ngoài ra, nơi mọi hành động và cử chỉ đều
thuyết Pháp cho chúng sanh.
Phật pháp được
người Phật tử xiển hưng và nhất là được truyền thừa dựa vào chư Tăng.
Tuy nhiên, phải lấy giới luật làm nền tảng căn bản. Nếu người Phật
tử xuất gia hay tại gia không trì giới thì Phật pháp sẽ bị suy vi.
Người xuất gia phải
làm đúng theo bổn phận của mình. Nếu đã xuất gia tu hành thì trên
căn bản không thể tham cầu sự cúng dường, danh lợi, hoặc dùng thủ
đoạn để dụ dỗ và lôi cuốn tín đồ. Dẫu họ là người hộ pháp hay không,
vẫn phải đối xử bình đẳng.
***
5. Nhân Quả, Sám Hối, và Chuyển Hóa
[^]
Không thể cầm nắm
được nghiệp. Chúng ta bị nghiệp dẫn dắt nên sanh ra ở thế gian này
để trả nghiệp báo đời tiền kiếp của mình. Trong quá khứ, chúng ta
tạo những nghiệp khác nhau, nên hôm nay thọ nhận những quả báo khác
biệt. Vì vậy có câu: Lưới nghiệp vây bủa chằng chịt.
- Nhất thiết thị khảo nghiệm
- Khán nhi thậm ma biện
- Địch diện nhược bất thức
- Tu tái tùng đầu luyện.
Tạm dịch:
- Tất cả đều khảo nghiệm
- Xem coi ta làm gì
- Trước mặt chưa nhận ra
- Phải bắt đầu trở lại.
Chữ Nhục (Thịt)
trong tiếng Tàu gồm có một kẻ bị ăn và một kẻ đang ăn. Kẻ đang ăn
thì ở phía ngoài và vẫn còn làm người. Kẻ bị ăn thì đã biến thành
loài vật. Kẻ đang ăn và kẻ bị ăn có mối liên hệ oán thù với nhau mà
không thể hóa giải được; họ cứ giết hại lẫn nhau từ đời này sang đời
nọ.
Nếu thực sự muốn
giải độc cho thế giới thì mọi người phải ăn chay, chớ nên ăn thịt.
Người xưa nói:
Người quân tử tự tạo mạng. Những người đạo đức, quân tử chân chánh
có thể sửa đổi vận mạng của họ vì họ vượt thoát được số mạng. Tại
sao không có những điềm lành ? Vì tâm niệm xấu xa. Trồng nhân xấu
thì đương nhiên phải gặt quả xấu. Nếu có thể sửa đổi tâm tánh, làm
lành tránh ác, thì điềm lành sẽ đến và xa lìa điềm xấu.
Tập khí xấu xa khó
trừ bỏ được. Tuy nhiên, nếu xả bỏ được thì thật là người có Định-lực.
Người thấy lỗi
chúng ta là Thầy của chúng ta. Người nói ra lỗi của chúng ta chính
là bậc Thiện-tri-thức. Vì thế, chúng ta phải nên cảm ơn, chớ sanh
tâm oán thù.
Tâm cung kính có
thể chuyển hóa tâm chấp nê thành tâm dịu dàng, hiền từ.
Lễ Phật tức là lễ
tự tánh Phật; nghĩa là lễ vị Phật trong tự tánh của mình. Tương lai
sẽ thành Phật tức là tự tánh mình sẽ thành Phật.
Tại sao chúng ta có
nghiệp ma ? Vì trong đời quá khứ không chịu nghe lời dạy bảo và
khuyên răn của các vị Thiện-tri-thức, cứ mãi chạy theo vọng tưởng,
tạo bao nghiệp xấu. Thế nên, đời này thường bị nghiệp ma ràng buộc,
khiến cho mọi việc đều không được vừa ý và mãn nguyện.
Tâm tư và hành vi
của con người luôn luôn thay đổi theo ngày tháng. Làm thế nào chúng
ta không biết rằng chúng ta sẽ thay đổi tôn giáo ? Có thể tin theo
tín ngưỡng này trong đời hiện tại, nhưng không chắc chắn rằng chúng
ta sẽ tin theo tín ngưỡng đó trong đời vị lai. Nếu có ai chưa tin
tưởng Phật pháp, chớ thất vọng. Tất cả chỉ tùy thuộc vào thời gian
và nhân duyên. Họ có thể chưa tin tưởng Phật pháp hôm nay, nhưng có
thể vào ngày mai sẽ tin tưởng. Quý vị có thể nói: Nếu họ chưa tin
tưởng Phật pháp đời này, tôi sẽ đợi họ đến đời sau. Nếu đời sau họ
vẫn chưa tin tưởng Phật pháp, tôi sẽ đợi họ đến đời kế. Nếu họ chưa
tin tưởng trong đại kiếp này, tôi sẽ đợi họ sang đại kiếp sau. Nếu
sau khi một đại kiếp đã trôi qua mà họ chưa tin tưởng Phật pháp, tôi
sẽ đợi thêm một đại kiếp kế. Trong những lúc đó, sẽ có ngày họ tin
tưởng Phật pháp.
Hiện tại là thời
đại thông tin, nên Phật giáo bước vào thiên niên kỶ mới. Chúng ta
muốn hợp nhất tất cả tôn giáo vào trong đạo Phật. Do đó, trước hết
người Phật tử chúng ta phải học cách cảm thông với nhau. Chúng ta
chớ có chấp vào Đại Thừa hay Tiểu Thừa mà phải học hỏi lẫn nhau.
Những gì chưa từng biết đến, chúng ta phải đi học hỏi nơi người khác.
Dẫu người khác có học hỏi gì nơi chúng ta hay không, chớ bận tâm.
***
6. Quy Y Tam Bảo
[^]
Sau khi đã quy y
Tam Bảo, chớ tạo thêm nghiệp xấu mà phải làm tất cả điều lành. Tôi
tuyệt đối chịu trách nhiệm tất cả nghiệp xấu mà mọi người đã tạo
trong quá khứ vì tôi chưa có thể giáo hóa quý vị được. Lẽ ra quý vị
phải bị đọa địa ngục vì nghiệp xấu đã tạo trong quá khứ, nhưng tôi
bảo đảm rằng quý vị sẽ không bị đọa lạc. Lẽ ra quý vị sẽ bị tái sanh
làm loài ngạ quỶ vì nghiệp xấu đã tạo xưa kia, nhưng nhờ quý vị tự
sám hối sửa đổi lỗi lầm, nên tôi sẳn sàng thay thế quý vị đọa làm
loài ngạ quỶ để chịu hình phạt. Lẽ ra quý vị sẽ bị đọa làm súc sanh
vì nghiệp xấu xa xưa, nhưng hiện nay quý vị tránh làm việc xấu và
thường hành việc lành, nên tôi sẳn sàng thay thế quý vị làm loài súc
sanh. Dẫu nghiệp xấu gì quý vị đã tạo, tôi sẳn sàng gánh chịu hết
cho quý vị.
Chớ nghe theo tôi.
Hãy lắng nghe lại trí huệ của chính mình. Hy vọng những người đệ tử
của tôi có đầy đủ trí huệ mà không bị mê tín.
Đối với những ai đã
từng thọ tam quy y và năm giới với tôi, tất cả đều là thịt thà máu
huyết của tôi. Dẫu thân phần nào của tôi bị cắt đứt, tôi đều đau
nhức. Dẫu máu huyết trên thân chảy ra nơi nào, nguồn khí lực của tôi
đều bị tổn thương. Do đó, quý vị phải đoàn kết với nhau. Để giúp cho
Phật giáo được phát triển mạnh mẽ, quý vị phải chịu đựng thua thiệt
và những lời mắng chửi mà những người khác không thể chịu nổi. Phải
mở rộng tâm lượng và hành vi phải chân chánh. Nếu không làm việc
chân chánh thì chư Phật và chư Bồ Tát sẽ biết rõ; quý vị không thể
lừa dối được các ngài. Mọi người phải tự kiểm nghiệm và tinh tấn sửa
đổi lỗi lầm đã tạo tác trong quá khứ. Chân thật nhìn nhận những việc
làm điên đảo và những hành vi bất chánh đáng của mình. Phải sống
ngay thẳng chân thật. Phải hoàn toàn quên mình để hy sinh làm việc
cho Phật pháp và xã hội. Trên thế gian, trong mỗi hội đoàn và cộng
đồng đều có những sự phức tạp cùng những điều gay cấn. Tại chùa Vạn
Phật Thành, chùa Kim Sơn, chùa Kim Luân và tất cả những chi nhánh
khác thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, chúng ta phải cải thiện
những điều đó. Dĩ nhiên, chúng ta không thể làm hoàn mãn ngay lập
tức, nhưng phải thay đổi từng bước cho đến khi đạt tới nơi hoàn mãn
nhất, triệt để nhất, rốt ráo nhất. Từ đó, chúng ta mới có thể duy
trì được những hành vi lương thiện để giúp cho Phật pháp được phát
triển và xiển dương. Mọi người đệ tử của tôi phải gánh vác lấy trách
nhiệm đó và suy nghĩ: Nếu đạo Phật chưa được xiển dương, đó do vì
tôi chưa hoàn thành trọng trách của mình. Chớ đổ gánh nặng lên vai
những người khác. Nếu mọi người đều suy nghĩ theo cách đó thì trong
tương lai chắc chắn đạo Phật sẽ được phát triển và lan tràn khắp nơi
trên thế giới.
***
7. Giáo Dục
[^]
Hiện tại mọi người
đi học chỉ vì danh lợi. Cách phát âm hai chữ Minh Lý và Danh Lợi
trong tiếng Tàu gần giống nhau, nhưng ý nghĩa thì lại khác xa đến
tám mươi bốn ngàn dặm !
Trẻ em như mầm non
đang lớn; cành cây mọc ra um tùm cần phải được cắt tỉa thì tương lai
mới trở thành vật liệu hữu ích được.
Nầy các bạn trẻ !
Các bạn có biết căn bản làm người là gì không ? Đó là tám đức tánh
hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sĩ.
Tại sao hiện nay
trên thế giới đầy dẫy những tội lỗi do thanh thiếu niên gây ra ? Vì
những bậc làm cha mẹ chỉ lo sanh con chứ không lo chăm sóc, dạy dỗ.
Tâm tham của chúng
ta là cái hố không đáy; nó cao hơn trời, dày hơn đất, sâu hơn biển
cả, nên mãi mãi không thể lấp đầy.
Người không đạo đức
mới thật là kẻ nghèo cùng.
Nếu có người đến
cầu Pháp, tôi sẽ bảo người ấy nên ăn ít, mặc ít, ngủ ít một chút, vì
lý do: Mặc ít thì tăng phước. Ăn ít thì tăng thọ. Ngủ ít thì tăng
lộc.
Con người sống
không phải vì miếng ăn mà sống để làm lợi ích cho xã hội, ban phước
đức cho nhân dân, và hỗ trợ cho thế gian. Người người phải: Thay
Trời đem lòng từ bi giáo hóa chúng sanh. Một lòng trung thành vì
nước, cứu dân.
Suốt cuộc đời, tôi
không bao giờ bận rộn vì mình và cũng không bao giờ để ý đến bọc
thịt thúi này.
Tại sao thế giới
ngày càng băng hoại ? Vì ai ai cũng tranh danh, tranh lợi, tranh
quyền, tranh địa vị, và nghiêm trọng nhất là tranh sắc dục.
Tôi muốn xin quý vị
món quà lớn; đó là tánh nóng giận, ngu si, phiền não, và những tâm
sân hận của quý vị.
Thiên tai không
phải là thiên nhiên gây tai nạn hay thiên nhiên gặp họa nạn, mà
chính là tai họa nhân loại chúng ta phải gánh chịu. Những tai họa đó
chính do chúng ta tự tạo ra rồi tự chuốc lấy.
Muốn phát triển
Phật giáo, chúng ta phải bắt đầu từ đâu ? Theo ý tôi, trước nhất
phải bắt đầu từ nền giáo dục. Nếu bắt đầu với giáo dục thì trẻ em sẽ
hiểu rõ Phật giáo. Đến khi khôn lớn, tự nhiên các em sẽ giúp cho
Phật giáo được phát triển rộng rãi.
Làm việc ma tức là
ma. Làm việc người tức là người. Làm việc Phật tức là Phật.
Hiện tại, tôi đang
ở xứ MỸ. Tôi hy vọng dân chúng xứ này đều y theo luật pháp và thay
đổi những tập tục xấu xa... Nếu hành theo luật pháp thì sẽ làm công
dân tốt. Nếu dân chúng trong một quốc gia đều là công dân tốt thì họ
cũng là công dân tốt của toàn thế giới.
Một trong những mục
tiêu của nền giáo dục là tuyển chọn nhân tài. Nhân tài là những ai ?
Là những người có trí huệ thông minh. Đối với những người chậm hiểu,
chúng ta phải cố gắng giúp họ khai mở trí huệ. Đó là mục đích chính.
Tôi muốn cống hiến
một nền giáo dục không những nối tiếp huệ mạng của chư Phật mà cũng
nối tiếp huệ mạng của chúng sanh.
Đã hàm thụ nền giáo
dục lành mạnh, sau khi ra trường, học sinh sẽ biết cách hành xử
trong xã hội. Chúng sẽ có khả năng tạo ảnh hưởng tốt để thay đổi tập
quán trong xã hội.
Nhân loại gần đi
đến chỗ diệt vong ! Điều này không do thiên tai hoạn nạn mà do con
người đã từ từ quên dần nền luân lý đạo đức.
Tạo lỗi lầm trong
sự giáo dục nghiêm trọng hơn bịnh ung thư và nạn bom nguyên tử. Nền
giáo dục bất chánh sẽ vô hình chung giết chết thế hệ trẻ và khiến
cho họ đánh mất đi bản chất làm người, quên đi tâm linh, và không
màng đến sanh mạng.
Con gái phải đợi
đến hai mươi tuổi mới được có bạn trai. Con trai phải đợi đến hai
mươi lăm tuổi mới có bạn gái. Bằng cách đó, thanh thiếu niên sẽ
không bị hại. Nếu có bạn trai hay bạn gái quá sớm, thì các em sẽ
không thể trở thành người học sinh giỏi và công dân gương mẫu. Các
em phải làm người tốt và học trò giỏi để có khả năng làm việc lành
trong tương lai. Nếu gặt mạ sớm trước khi chính mùi thì đó chỉ là
đám mạ vô ích. Trong tương lai, nếu con người phát triển tình dục
sớm, thì thế hệ sau sẽ tệ hại hơn thế hệ trước.
Trẻ em ở nước này
xem tivi quá nhiều. Kết quả, trước tuổi mười bảy mười tám, chúng đã
biết hẹn hò. Điều này thật tai hại vô cùng ! Chúng ta sẽ không có
những nhân tài trong tương lai, vì đa số những người đó sẽ là người
đần độn.
Phải dạy trẻ em
những nề nếp giáo dục căn bản như không tranh, không tham, không tìm
cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo, không uống rượu,
không hút chích, không tà dâm. Nếu làm được như thế thì vẫn còn hy
vọng để thay đổi nền giáo dục... Thật ra, nền quốc phòng căn bản
nhất và triệt để nhất chính là nền giáo dục. Nếu nền giáo dục không
đúng đắn thì dẫu có vũ khí quốc phòng gì cũng là vô ích... Nền giáo
dục của đạo Phật là sự giáo dục cứu vớt con người bảo tồn chân tánh,
tâm linh, và sanh mạng. Chúng ta đi khắp nơi đánh thức con người và
thúc giục họ cải tiến nền giáo dục, kéo thế hệ trẻ tránh khỏi bờ vực
tiêu vong, và xoay chuyển mối nguy hiểm diệt vong của nhân loại ở
các quốc gia và trên toàn thế giới.
Tất cả sự giáo dục
không thể tách rời từ chữ hiếu. Tách rời hiếu hạnh ra thì không còn
nền giáo dục. Trong trời đất có vô số bài học, nhưng thực sự chỉ có
một bài học Hiếu hạnh. Bài học này bao trùm tất cả sự học hỏi. Học
hoàn mãn bài học này thì những bài học khác cũng sẽ được hoàn tất.
Tất cả thầy cô giáo
phải làm gương cho học sinh qua hành động của mình. Phải ngay thẳng,
chân thực, tự trọng, và truyền đạt trí huệ cùng niềm hy vọng đến cho
thế hệ sau. Chớ nên tranh đấu hay biểu tình để thêm lương.
Tất cả mọi người
đều là thầy của tôi và tôi đều là thầy của tất cả mọi người. Tôi
luôn luôn tự dạy mình, và mình tự làm thầy cho chính mình.
Học hỏi không có
bắt đầu hay chấm dứt. Không có lễ tựu trường đầu niên học, ngày nghỉ
lễ, ngày ra trường.
Dẫu ở nơi nào, tất
cả đều là trường học. Không có nơi nào mà không phải là nơi học hỏi.
Không có phút giây nào là lúc mà không học hỏi.
***
8. Đạo Phật và Phật Pháp
[^]
Tông chỉ của Phật
giáo là mọi người ai ai cũng có thể thành Phật.
Chúng sanh trong
hiện tại là cha mẹ của chúng ta thuở quá khứ và là chư Phật trong
tương lai. Nếu đối với chúng sanh mà khởi tâm sân hận tức là sân hận
với cha mẹ và chư Phật, nghĩa là trở thành đứa con bất hiếu, ngỗ
nghịch.
Tôi gọi đạo Phật là
đạo của chúng sanh, vì ai ai cũng là chúng sanh và không thể chạy ra
khỏi hư không hay Pháp giới. Thế nên, đạo Phật là đạo học của tất cả
chúng sanh.
Tôi cũng gọi đạo
Phật là đạo của con người, vì tất cả mọi người đều có tư cách thành
Phật. Chỉ cần tu hành chuyên nhất thì cuối cùng chắc chắn ai ai cũng
sẽ thành Phật.
Tôi lại gọi đạo
Phật là đạo của tâm, vì mọi người đều có tâm. Tu hành tức là dẹp trừ
vọng tâm và giữ chân tâm; có vọng tâm thì làm phàm phu; có chân tâm
thì làm Phật.
Dâm dục là nguồn
gốc của sanh tử. Nếu không đoạn trừ dâm dục thì muốn sanh lên cõi
trời cũng không được, huống hồ là muốn chứng đạo Bồ Đề vô thượng ?
Vì vậy, nếu muốn tu pháp Thiền-định Tam Ma Đề, trước hết phải vượt
qua cửa ải này.
Muốn phát tâm Bồ Đề,
nhất định phải nghe và học Phật pháp cho nhiều. Khi hiểu rõ Phật
pháp rồi thì tự nhiên sẽ phát tâm Bồ Đề.
Đạo Phật bao trùm
khắp hư không, Pháp giới. Tất cả chúng sanh đều có đủ Phật tánh và
đều có thể thành Phật. Hiện tại, nếu quý vị chưa tin tưởng Phật pháp
thì tương lai sẽ tin tưởng. Nếu trong tương lai quý vị vẫn chưa tin
tưởng Phật pháp thì trong kiếp sau sẽ tin tưởng. Không những nhất
định quý vị sẽ tin tưởng Phật pháp mà chắc chắn cũng sẽ thành Phật !
Chú Thủ Lăng Nghiêm
là vua trong các bài Chú và cũng là bài Chú dài nhất. Bài Chú này
rất quan trọng đối với sự thạnh suy của Phật giáo. Trên thế giới,
nếu còn người trì tụng chú Thủ Lăng Nghiêm thì Chánh Pháp sẽ còn tồn
tại, bằng ngược lại thì là Mạt Pháp. Chú Thủ Lăng Nghiêm là thần chú
do hóa thân của đức Như Lai từ ánh sáng trên đảnh đức Phật tuyên
thuyết. Thế nên, diệu dụng không thể nghĩ bàn; mỗi chữ đều hàm chứa
biết bao diệu dụng thâm sâu.
Thời Mạt Pháp, tất
cả Thiên ma ngoại đạo, ly, mỴ, vọng, lượng, yêu quái núi sông, v.v...
sợ nhất là thần chú Thủ Lăng Nghiêm, vì đây là thần chú phá tà hiển
chánh.
Thời Chánh Pháp,
người người đều muốn tu hành. Ngược lại, vào thời Mạt Pháp, ai ai
cũng không muốn tu hành. Nếu mọi người đều tu hành thì đời Mạt Pháp
chuyển thành đời Chánh Pháp.
Phật pháp là gì ?
Nói vắn tắt, Phật pháp nghĩa là chìa khóa. Hiện tại tôi đang giảng
Kinh, tức là giảng về chiếc chìa khóa này. Hôm nay thuyết Pháp,
nghĩa là thuyết về chiếc chìa khóa này. Đây là chìa khóa trí huệ mở
tung ống khóa vô minh.
Phật pháp vẫn còn
tại thế gian. Nếu chúng ta có thể dũng mãnh vượt ra khỏi dòng thác
điên đảo, phát tâm Bồ Đề rộng lớn, chí thành khẩn thiết mà tu trì
Phật pháp, thì vẫn còn có cơ hội thoát khỏi thế giới Ta Bà. Bằng
ngược lại, chúng ta cứ mãi xoay chuyển trong sáu đường không ngừng
nghỉ, và vĩnh viễn không thể thoát khỏi bao nạn khổ trong cõi này.
- Phật pháp vị tằng tự diệt
- Đạo đức ưng tu nhân bất tu
- Lão thật chân thành triệu vật
cơ
- Hư ngụy giảo hoạt thọ bao ưu
- Cử thế ngũ trược thanh thậm
tiên
- Chúng sanh tam túy tỉnh vô thu
- Bàn cần ký ngữ tăng thanh bối
- Triển hưng ngô giáo tại tỳ
kheo.
Tạm dịch:
- Phật pháp chưa từng tự diệt
mất
- Đạo đức nên tu, người chẳng tu
- Thành tâm chân thật bị người
cười
- Hư ngụy gian trá được khen
ngợi
- Đời năm trược người thanh tịnh
hiếm
- Chúng sanh say tỉnh chưa hề
chán
- Đôi lời khuyên nhủ Tăng hậu
bối
- Triển hưng Chánh Giáo nơi Tỳ
Kheo.
Hiện nay Phật giáo
tại Tây Phương mới vừa phát triển. Chớ khiến Chánh Pháp của Phật
giáo ở nơi đây trở thành thời Mạt Pháp. Nhất định phải hỗ trợ Chánh
Pháp thường trụ lại thế gian; nghĩa là gì ? Nếu chân thật tu hành,
không háo danh lợi hư giả và tham sự cúng dường thì Chánh pháp sẽ
được trụ lại thế gian mãi mãi. Nếu mỗi người xuất gia đều trì giới
không giữ tiền, thường ngồi tọa thiền, mỗi ngày dùng một buổi, luôn
luôn đắp y ca sa, và nghiêm thủ giới luật thì Chánh Pháp sẽ trụ lại
thế gian mãi mãi. Điều này cũng có nghĩa là thực tiễn hành trì theo
lời Phật dạy. Nếu muốn hỗ trợ Phật giáo, chính mình phải hoằng dương
Phật pháp; dùng thân làm gương mẫu cho người; chú ý vào bốn oai nghi
như đi, đứng, nằm, ngồi; nghiêm trì năm giới; dùng bốn tâm vô lượng
như từ, bi, hỶ, xả để cứu độ chúng sanh. Lại nữa, phải dùng sáu tông
chỉ chính như không tranh, không tham, không cầu, không ích kỶ,
không tự lợi, không nói láo để làm tiêu chuẩn mực thước cho ngôn
hạnh. Nếu y theo những pháp tắc đó mà tu hành thì dẫu ở nơi nào quý
vị cũng đều hoằng dương Phật pháp, và không để đời mạt pháp xuất
hiện.
***
9. Trí Huệ
[^]
Chí công vô tư là
Chánh Pháp. Ích kỶ, tự lợi là tà pháp.
Làm thế nào để diệt
trừ tâm sân hận do vô minh sai khiến ? Phải tu pháp môn Nhẫn Nhục Ba
La Mật; nghĩa là tuyệt đối không nên khởi tâm nóng giận, vì đây là
điều rất quan trọng. Nếu không khởi tâm nóng giận thì sẽ phát sinh
trí huệ.
Đời Mạt Pháp, người
người đều phạm một lỗi lầm chung là quá cao ngạo; nghĩa là lấy tai
thay mắt; nghe có điều gì hay thì liền chạy đuổi theo.
Chúng ta, những
người tin Phật pháp, chớ nên lạc vào lưới mê tín. Mê tín là gì ? Là
tin bậy, tin cuồng, tin một cách mê muội, như tin tưởng ngay những
lời người khác vừa nói.
Tại sao chúng sanh
lại mê lầm điên đảo ? Vì nhận lầm vô minh là ông chủ và tống khứ trí
huệ đi mất. Vô minh đưa ra mệnh lệnh: Cho việc đúng là sai; cho việc
trái là phải.
Từ trong Thiền định,
hãy gạn lọc tâm tư, trừ bớt tham dục, để giúp trí huệ nảy sanh.
Những ai thường
thích khởi tâm nóng giận đa số là những kẻ ngu si, vô minh nặng nề,
không trưỡng dưỡng chút công phu nào.
Vọng niệm là tâm
niệm hư dối không chân thật. Kẻ thường khởi vọng tưởng điên đảo
chính là kẻ tuy biết rõ việc đó không đúng, nhưng vẫn cố làm, rồi
xảo quyệt biện luận cho là đúng.
Nếu quý vị thường
hồi quang phản chiếu (xoay lại ánh sáng tự tâm), thấy rõ tự tánh,
khiến phát sanh trí huệ Bát Nhã, thì đó là tạo công. Ứng dụng trí
huệ Bát Nhã mọi nơi mọi chốn, xoay chuyển biến hóa không cùng tận,
nhưng không nhiễm trước, không tạo những việc bất tịnh, thì đó là
lập đức.
Thật ra, trí huệ
Bát Nhã của kẻ ngu và người trí vốn không khác biệt. Có sai khác là
kẻ ngu thì không biết dùng trí huệ, còn người trí thì biết vận dụng
nó.
Nếu không chấp
trước trong ngoài thì đến và đi đều được thong dong tự tại, cũng như
biết được mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Đến có thể nói là trở về;
nghĩa là trở về lại chân tâm. Đi tức là đi đến Pháp giới.
Nếu quý vị chấp
trước vào việc có đến, có đi thì sẽ bị chướng ngại, mất tự do.
Nếu có trí thì tâm
của quý vị sẽ giống như ánh mặt trời; nếu có huệ thì tâm sẽ tựa như
vầng trăng.
Hy vọng được khai
ngộ hoặc hy vọng được thành Phật đều là những vọng tưởng điên rồ.
Mọi người phải nhớ: Chỉ cầu tu hành mà không cầu những hy vọng hão
huyền.
Nếu Bồ Tát có thần
thông mà không thị hiện thì có thần thông để làm gì ? Bồ Tát dùng
thần thông để giáo hóa chúng sanh như dựng cây để thấy hình, khiến
họ sanh lòng tín ngưỡng. Thế nên, được lợi ích hai chiều. Đó là pháp
môn phương tiện thiện xảo.
Quý vị hãy chú ý !
Ma cũng hiện thần thông, khiến những kẻ tham cầu thần thông và không
có Định lực sa vào cạm bẫy, bỏ mất Đạo nghiệp, để trở thành quyến
thuộc của ma. Thế nên, ai ai cũng phải đặc biệt chú ý cẩn thận.
Người nào muốn có
thần thông thì trước hết phải xả bỏ muôn sự, chuyên tâm tham Thiền
tĩnh tọa. Đến khi công phu chín muồi thì tự nhiên có thần thông.
Thần thông không phải là việc có thể tìm cầu ở bên ngoài, mà chỉ có
được khi nội tâm chúng ta đã chứng đắc.
Nhìn thấu suốt, xả
bỏ, tự tại. Nhìn thấu suốt tức là hiểu vấn đề một cách rõ ràng. Xả
bỏ tức là giải thoát. Chỉ khi đạt được giải thoát rồi mới có được sự
tự tại chân chánh.
Học Phật pháp thì
cần phải dùng trí huệ chứ không thể dùng tình cảm. Dùng trí huệ để
tu học Phật pháp thì đó là sống trong đời Chánh Pháp. Dùng tình cảm
tu học Phật pháp thì đó là sống trong thời Mạt Pháp.
Nhiều người nghĩ
rằng đời người là sung sướng. Thật ra, những sự vui sướng ấy đều là
giả dối. Niềm vui chân thật phải được tìm từ tự tánh, chứ không phải
đến từ bên ngoài.
***
10. Gia Phong của chùa Vạn Phật Thành
[^]
Chùa Vạn Phật Thành
có 6 tông chỉ chính để làm mục đích tu hành, bao gồm: Không tranh,
không tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo.
Nếu hiểu rõ được chân nghĩa của sáu tông chỉ chính đó thì việc quý
vị đến chùa Vạn Phật Thành không uổng công.
Sáu tông chỉ chính
đó vốn là sáu con đường sáng ngời, sáu loại trí huệ, sáu chày hàng
phục ma quân, và sáu tấm kính chiếu yêu quái.
Không tranh, không
tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo là đạo lý
căn bản làm người, là nền tảng của sự tu hành, và là tiêu chuẩn cho
chánh trị.
Bước đầu tu học
Phật pháp chính là không tranh, không tham, không cầu, không ích kỶ,
không tự lợi, không nói láo. Nếu nhớ rõ sáu tông chỉ chính đó, thì
có thừa khả năng thành Phật.
Tôi giảng về sáu
tông chỉ chính cho những ai muốn thành Phật, muốn thành Bồ Tát, muốn
thành Thanh Văn, A La Hán. Đó là những tông chỉ rất quan trọng. Nếu
thực sự hành theo thì dẫu có dùng suốt đời cũng không hết!
Nếu muốn làm người
Phật tử chân chánh, nhất định phải không tranh, không tham, không
cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo. Ngay từ thuở nhỏ,
tôi đã từng y theo sáu con đường sáng: Không tranh, không tham,
không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo. Dẫu là việc gì,
nếu người khác thích thì tôi không thích. Nếu người khác không thích
thì tôi lại thích. Đó là cách của tôi. Quý vị có thể hành được không
? Nếu hành được thì tôi chúc mừng quý vị đã làm một Phật tử tốt.
Sự tu hành chân
chánh là không tranh, không tham, không cầu, không ích kỶ, không tự
lợi, không nói láo. Nếu giữ chắc được sáu tông chỉ chính đó thì quý
vị mới là người Phật tử chân chánh. Nếu không muốn bước đi trên sáu
con đường lớn đó, e rằng quý vị khó làm những điều lợi ích cho Phật
pháp.
Sao gọi là Giới
Luật ? Giới Luật chính là: Không tranh, không tham, không cầu, không
ích kỶ, không tự lợi, không nói láo. Chớ tìm kiếm Giới Luật trong
Luật Tạng. Những giới luật này ai ai cũng có khả năng hành được.
Điểm trọng
yếu của Phật pháp là gì ? Chính là không tranh,
không tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo.
Ngày ngày, hãy dùng sáu tông chỉ chính để đo lường hành vi của mình.
Nếu chưa đúng tiêu chuẩn, phải lập tức sửa đổi. Khi không còn lỗi
lầm và chỉ có công đức thì mới được xem là người Phật tử. Đó là
những tông chỉ chính của chùa Vạn Phật Thành mà tôi hy vọng mọi
người nên tuân thủ, để được khai ngộ và thành Phật.
Nếu muốn tu học trí
huệ chân chánh, việc đầu tiên là phải đoạn trừ ái dục. Làm thế nào
để đoạn trừ ái dục ? Phải đoạn trừ bằng cách: Không tranh, không
tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo. Sáu tông
chỉ chính là pháp bảo đoạn trừ ái dục và khiến đạt được trí huệ chân
chánh.
Sao gọi là tà kiến
? Nếu tranh đua, tham lam, mong cầu, ích kỶ, tự lợi, và thường nói
láo thì là tà kiến.
Đã từng tu học Phật
pháp qua bao thập niên mà vẫn còn tâm tham tiền của, cầu danh cầu
lợi ! Không ngừng tham lam và tranh đua. Đó chỉ vì không hiểu cách
tu học Phật pháp, bằng không thì đâu có thích chúng.
Trong việc tu Đạo,
nhất định phải: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỶ,
không tự lợi, không nói láo. Chỉ khi đó mới có chánh tri chánh kiến
và có khả năng tu đạo. Nếu không tu sáu tông chỉ chính đó mà lại bảo
rằng là người tu hành, thì là điều càn gỡ.
Nếu có tâm tranh
đua, tham lam, cầu danh lợi, ích kỶ tự lợi, không nói lời chân thật,
tuyên truyền quảng cáo để người khác sùng bái, thì nên biết người đó
bị lạc vào cảnh ma.
Nếu không tranh,
không tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo,
thì Chánh Pháp trụ lại thế gian.
Mục tiêu chính của
chúng ta là dừng mọi hoạt động của tâm tranh đua, tham lam, mong cầu,
ích kỶ, tự lợi, và nói láo. Lúc đó, trí huệ hiện trước mặt, phóng
ánh hào quang chiếu tan màng vô minh tăm tối, và khả dĩ thấy tâm rõ
tánh, cũng như đạt đến mục đích tu hành.
Không tranh, không
tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo được xem
là chân tâm. Khi dụng tâm chân thật thì sẽ dẹp trừ được mọi nghiệp
chướng. Nếu tâm không chân chánh thì nghiệp chướng luôn bén theo gót.
Nếu cẩn thận tôn
thủ giới không tranh, không tham, không cầu, không ích kỶ, không tự
lợi, không nói láo thì mười phương chư Phật thường đến gia trì, hộ
niệm, và ban phước lành cho quý vị.
Làm thế nào để
tránh phiền não ? Phương thức thật đơn giản là không tranh, không
tham, không cầu, không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo. Nếu làm
được như thế thì sẽ ngăn hết mọi hữu lậu và hàng phục được phiền não.
Tại sao vẫn chưa
được tự tại vô ngại ? Chỉ vì vẫn còn tâm tranh đua, tham lam, mong
cầu, ích kỶ, tự lợi, nói láo, nên chưa được tự tại.
Nền khoa học chân
chánh là gì ? Không tranh đua là khoa học. Không tham lam là khoa
học. Không mong cầu là khoa học. Không ích kỶ là khoa học. Không tự
lợi là khoa học. Không nói là khoa học.
Những ai làm công
tác phiên dịch kinh điển nhất định phải hành phù hợp với sáu con
đường sáng lớn: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỶ,
không tự lợi, không nói láo.
Nếu muốn quốc gia
thái bình an lạc, nhất định phải dùng sáu tông chỉ chính, hay sáu
tiêu chuẩn chính. Đó là những phương pháp tốt nhất để chuyển dòng
vận mạng.
Nếu muốn hỗ trợ thế
gian, việc trước nhất phải: Không tranh, không tham, không cầu,
không ích kỶ, không tự lợi, không nói láo. Phải tự làm gương tốt cho
người khác noi theo. Nhờ cách đó mà thế giới sẽ ngày một được hòa
bình an lạc.
Dẫu là ngành nghề
nào, tông nào, phái nào, tôn giáo nào, nếu tận lực mang lại lợi ích
cho người khác mà không tự lợi, thì đó là chân chánh. Nói rõ hơn,
nếu người nào biểu diễn giúp kẻ khác trên bề mặt, nhưng lại hy vọng
đạt được vài điều như dẫu không tham tiền tài mà lại tham sắc dục,
dẫu không tham sắc dục mà lại tham danh vọng lợi lạc, thì đó là
người giả dối.
Tôi đã giải thích
cho quý vị bằng cách này và cách nọ, nhưng chỉ là việc cũ thôi. Đạo
lý tuy bình thường nhưng quý vị khó lòng thực hành được. Nếu đã hành
được thì đã thành Phật từ lâu rồi. Nếu quý vị thật sự hành theo sáu
tông chỉ chính đó và nếu không thành Phật thì tôi nguyện sẽ ở mãi
trong địa ngục không bao giờ ra. Tôi bảo đảm chắc thật với quý vị
rằng những ai tu hành theo sáu tông chỉ chính đó, trong tương lai
nhất định sẽ thành Phật.
1/
Không Tranh
Nếu không tranh hơn
thua, quý vị sẽ không giết hại. Gây nghiệp giết hại chỉ vì tâm tranh
đua tác quái. Khi bắt đầu tranh hơn thua, quý vị có thái độ tránh ra
khỏi chỗ này, bằng không thì sẽ chết. Con người giết hại lẫn nhau
nhiều vô kể cũng chỉ vì tâm niệm đó.
Đối với người tu
hành, phải cẩn trọng mà không tranh đua với người. Chớ nên tranh
hùng tranh bá. Chớ nên có tâm nóng giận, Nếu được như thế thì sẽ
chặt đứt đường A Tu La.
Tại sao con người
không sống hòa bình với nhau trên thế giới ? Bởi vì họ tranh đua và
cướp đoạt lẫn nhau, chứ không bao giờ biết nhường nhịn lẫn nhau. Do
đó, chiến tranh bộc phát, tạo thành bi kịch nước mất nhà tan.
Lý do ma trở thành
ma là vì chúng có tâm ganh đua giành hạng nhất. Có câu: Do có tâm
thắng bại nên mới tranh hơn thua. Điều này trái ngược với đạo lý;
nếu khởi bốn tướng (nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả), thì làm sao đắc
thiền định tam muội ? Khi không tranh được làm bậc nhất, ma liền
khởi tâm sân hận, ganh ghét, đố kỴ, chướng ngại. Bất cứ ai có những
tâm niệm hay hành vi đó chính là ma và không bao giờ có thể thành
Phật.
Người tu hành không
tranh hơn thua với thế nhân. Mọi người đều cùng nhau dụng công tu
đạo. Nếu có ai dụng công tu đạo thì người đó cũng giống như mình
đang hành vậy. Suy nghĩ như thế thì sẽ không có tâm niệm tranh làm
người giỏi nhất.
Nếu không tồn giữ
tâm niệm tranh đua thì sẽ đoạn tuyệt sự qua lại với loài A Tu La.
Nếu không tham lam thì sẽ đoạn tuyệt việc qua lại với loài súc sanh.
Chúng ta không nên
tranh hơn thua với người. Dẫu quý vị có tranh hơn thua, tôi vẫn
không tranh. Dẫu có bị quý vị chửi mắng, tôi vẫn không chửi lại. Dẫu
bị quý vị đánh đập, tôi vẫn không đánh lại. Dẫu bị quý vị bức hiếp
bắt nạt, tôi vẫn không bức hiếp bắt nạt lại quý vị. Đây là tông chỉ
nhất quán ở Vạn Phật Thành.
2/
Không Tham Lam
Nếu không tham lam
thì sẽ không ăn cắp. Tại sao muốn đi ăn cắp vật của người ? Chỉ vì
tham lam. Nếu không tham lam, dẫu người khác có cho vật gì, quý vị
cũng không màng đến. Thế nên, để tránh gieo nghiệp trộm cắp quý vị
phải dẹp trừ tâm tham.
Người Phật tử phải
chịu đựng đói khát, nóng lạnh. Nếu được như thế thì sẽ tương ưng với
Phật pháp. Chớ tham ăn ngon, mặc đồ đẹp, hay sống nơi sang trọng.
Chớ tham hưởng thụ. Thọ khổ thì hết khổ. Hưởng phước thì hết phước.
Chớ nên tham cầu
danh vọng hão huyền. Trong từng hành động cử chỉ, phải luôn luôn
tiến bước đến chân lý. Đó mới là đặc tánh của người Phật tử chân
chánh.
Người Phật tử chúng
ta phải có trạch pháp nhãn. Chớ nên tham mặc cả hay cầu cảm ứng. Chớ
dùng tâm tham lam mà cầu học Phật pháp. Hôm nay nghe người này nói
Hiển-tông hay thì muốn học Hiển giáo. Ngày mai nghe người khác nói
Mật-tông tốt, lại đi đến đó học. Tu học suốt cuộc đời mà không giữ
vững lập trường, chuyên tâm nhất ý, thủ trì chữ Nhất (một), nên cuối
cùng lãng phí cả cuộc đời.
Phải xem sự tu hành
như bổn phận mà không tham cầu. Chẳng bao lâu, công đức tự nhiên
tròn đầy và quả Bồ Đề cũng tự nhiên thành tựu.
Phải dụng công tu
hành tự nhiên. Chớ tham lam và cầu hỏi có được công xảo hay hiệu quả
gì chăng. Chớ khởi tưởng gì cả. Chỉ việc tiến bước dụng công và sửa
đổi tập khí mỗi ngày.
Dẫu tu hành pháp
môn gì: Niệm Phật, trì chú, học giáo lý, trì giới luật, tham Thiền,
v.v..., đều không nên tham cầu mau chứng đắc. Nếu muốn như thế, thì
đó là một dạng của tâm tham. Một khi có tâm tham thì sẽ làm chướng
ngại cho trí huệ linh cảm, tự tánh sáng suốt, vì chúng không có tâm
tham. Có tâm tham cũng giống như bụi dính tấm gương. Người tu hành
nhất định phải hiểu rõ điều này. Chớ tham lam nhiều; chớ tham mặc cả.
Kẻ có tâm tham
không bao giờ được an lạc. Ngược lại sẽ có niềm vui. Do đó, phải
ngừng tâm tham.
Có bao nhiêu người
chỉ vì khởi tâm tham mà thân bại danh liệt ! Có bao nhiêu người vì
tâm tham đó mà khiến cho nước mất nhà tan ! Tâm tham này hại biết
bao người, nên phải cẩn trọng đề phòng.
Tại sao bị cảnh
chuyển ? Chỉ vì có tâm háo kỳ. Tâm háo kỳ là một dạng của tâm tham.
Một khi tâm tham
nổi lên rồi thì tham lam không chán. Dẫu là tiền tài hay vật chất,
lúc đó quý vị luôn cảm thấy không đủ. Càng tham nhiều chừng nào thì
càng cảm thấy không thỏa mãn chừng ấy. Càng chưa thỏa mãn thì lại
càng tham nhiều thêm. Tham lam cho đến già mà vẫn chưa thức tỉnh, để
rồi bị lòng tham đó hại cả cuộc đời. Đến lúc chết, quý vị vẫn cảm
thấy là chưa đạt được điều gì và vẫn còn hối tiếc. Thật đáng thương
thay ! Tông chỉ chính thứ hai ở Vạn Phật Thành là không tham lam
tiền tài, lợi lộc, hoặc danh vọng. Nói chung, không nên tham lam bất
cứ điều gì. Mỗi cá nhân chỉ nên giữ bổn phận hoằng dương Phật pháp,
nối tiếp huệ mạng của chư Phật.
Tôi có tập tánh kỳ
quái. Những gì người khác muốn thì tôi lại không muốn. Những gì
người khác tham cầu, tôi lại không tham cầu. Những gì người khác
thích, tôi lại không thích.
3/
Không Mong Cầu
Nếu không mong cầu,
thì không có tâm niệm tà dâm. Tâm niệm tà dâm nổi lên chỉ vì còn
mong cầu. Con gái tìm bạn trai. Con trai tìm bạn gái. Không những đi
tìm, họ còn truy cầu như thể không có việc gì quan trọng hơn. Nếu
không có tâm mong cầu thì làm sao có tâm tà dâm ? Thanh nam tú nữ có
gì là tốt ? Tất cả chỉ là bọc da hôi chứa thịt thúi. Chúng có đáng
để tham đắm không ? Nếu không mong cầu thì không phạm giới tà dâm.
Dẫu dụng công gì,
chúng ta vẫn chưa cùng đạo tương ưng; tựu chung, chúng ta chưa bước
lên đường lộ được. Tại sao ? Bởi vì chúng ta vẫn còn vọng tâm hư
vọng giả dối. Chúng ta nhắm đến mục đích quá cao xa và thường cầu
danh trục lợi; đó là những vọng tâm.
Ra ngoài tìm cầu
niềm vui từ sáng đến tối. Nếu tầm cầu được thì chỉ là niềm vui tạm
bợ. Nếu không tầm cầu được thì sẽ có bao phiền não. Lòng tham không
chán. Hy vọng đạt được, rồi lại lo lắng sợ mất khi đã đạt được. Đó
là niềm vui giả dối. Niềm vui chân thật không đến từ sự tìm cầu. Đạt
đến nơi không mong cầu thì không còn ưu phiền. Nếu không còn mong
cầu thì chính là niềm vui chân thật và niềm an lạc chân thật của tự
tánh.
Mong cầu gần giống
như tham lam. Tham lam thì trừu tượng và vô hình. Mong cầu có nghĩa
là thật sự ra ngoài phan duyên cầu cạnh bằng cách dùng mưu mô thủ
đoạn. Mong cầu những gì ? Mong cầu tiền tài vật chất. Nói chung,
mong cầu tất cả sự lợi lộc. Ở Vạn Phật Thành, chúng ta hướng vào
trong tâm mà tìm cầu, chứ không hướng ngoại. Chúng ta tìm bên trong
tâm để quét sạch mọi vọng tưởng, tánh hoang, tâm cuồng, đố kỴ,
chướng ngại, tham, sân, si, v.v... Chúng ta không đánh phấn thoa son
bên ngoài mà chỉ trang nghiêm và thanh tịnh hóa bên trong tâm niệm.
Có câu: Người tu hành đạt đến nơi không còn tâm mong cầu thì phẩm
cách tự nhiên cao thượng. Khi không mong cầu bất cứ việc gì từ người
khác, phẩm cách của chúng ta tự nhiên cao quý thanh tịnh, không còn
những vọng niệm cấu bẩn.
4/
Không Ích KỶ
Nếu không ích kỶ
thì không nói láo. Vì sợ mất lợi nên con người thường nói láo. Do
lòng ích kỶ tràn ngập, họ lường gạt và nói láo với hy vọng che dấu
bộ mặt thật.
Trên căn bản, chỉ
có một điều giới: Không ích kỶ. Nếu ai ích kỶ, chính họ đã phạm giới,
bằng ngược lại thì không phạm. Cũng như thế, nếu ai ích kỶ, họ sẽ
phạm luật pháp, và ngược lại thì không phạm.
Tâm chân chánh
chính là tâm không ích kỶ, bằng ngược lại thì là tâm tà vạy.
Tại sao chúng ta
không nhận ra bộ mặt thật xưa nay của mình (bản lai diện mục) ? Bởi
vì chúng ta chưa trừ được ngã tướng và tâm ích kỶ. Nếu không có ngã
tướng và tâm ích kỶ thì chúng ta sẽ nhận diện bộ mặt thật của mình
xưa nay.
Người thế gian luôn
luôn bận rộn, chạy đôn chạy đáo. Động cơ của họ xuất phát từ tâm ích
kỶ. Họ chỉ muốn bảo vệ tánh mạng và tài sản riêng tư. Ngược lại,
Phật pháp là giáo pháp chí công vô tư, với mục đích mang lại sự lợi
ích cho mọi người.
Lúc tu đạo, phải
xoay chuyển trở lại; nghĩa là gì ? Tức là ban cho người điều tốt và
giữ điều xấu cho mình. Chúng ta xả bỏ tiểu ngã để hoàn thành đại ngã.
Kẻ xấu xa là hạng
người gì ? Đó là hạng người ích kỶ, tự lợi, và quên nghĩa khi thấy
lợi lạc.
Tại sao con người
trên thế giới thối đọa đến mức độ này ? Vì ai ai cũng quá ích kỶ.
Đối với những việc mang lại lợi ích cá nhân, họ sẽ tranh làm trước
nhất. Ngược lại, nếu những việc gì không mang lại lợi ích cá nhân,
họ sẽ khoanh tay đứng một bên mà nhìn, hoặc nói những lời chế nhạo
mỉa mai với thái độ đứng nơi an toàn mà nhìn đám lửa cháy rực ngập
trời. Có rất nhiều loại ích kỶ như ích kỶ về địa vị, ích kỶ về danh
dự, ích kỶ về quyền lợi, ích kỶ về tiền bạc. Nói rõ hơn, nếu ai chỉ
lo cho chính mình mà không màng đến người khác, chỉ vì tâm ích kỶ
của họ hiện hành. Có câu: Đại Bồ Tát không lo cho người. Phật Di Đà
chỉ lo cho mình. Đó là cách suy nghĩ của những người Tiểu Thừa. Nhà
Nho cũng có câu: Mỗi người tự quét tuyết trước cửa nhà, chớ màng
băng đóng trên ngói nhà của người khác. Đó là thái độ chẳng màng gì
đến việc của người khác. Sống trên thế gian, con người phải giúp đỡ
lẫn nhau. Đó là lý do tại sao chúng ta phải đề xướng tư tưởng Đại
Thừa và học theo tinh thần Bồ Tát như nghe có chúng sanh khổ nơi nào
thì đến nơi đó để cứu độ họ. Chúng ta chớ nên vui sướng hả hê về
những vận xấu của người khác. Nếu người thế gian không ích kỶ, thì
ai ai cũng sống hòa thuận với nhau như một đại gia đình. Tuy nhiên,
do tâm ích kỶ, chúng ta tạo biết bao vấn đề với nhau. Do đó, không
ích kỶ là tông chỉ chính thứ tư ở Vạn Phật Thành.
5/
Không Tự Lợi
Nếu không tự lợi
thì không phạm giới uống rượu. Tại sao con người thích uống rượu. Vì
họ muốn phá thân và làm rối loạn tâm tánh của mình, tự tạo mê muội
đến độ tưởng mình như ông trời hay tiên thánh đang hưởng thú vui
trên cõi trời. Một khi say sưa, họ tùy tiện chửi mắng người và tăng
trưởng lửa dâm dục. Có vài người uống rượu vì muốn kích thích khí
huyết. Sau khi uống xong, họ quên đi tất cả. Uống rượu say sưa cũng
giống như nghiện thuốc phiện. Tất cả chỉ vì muốn tự lợi nên họ mới
uống rượu.
Tông chỉ này còn
quan trọng hơn tông chỉ thứ tư Không Ích KỶ. Chẳng có ai mà không
muốn tự lợi. Tuy nhiên, con người phải tự kiềm chế việc mong cầu tự
lợi để thế giới được tốt hơn. Không tự lợi nghĩa là quên mình mà làm
việc lợi ích cho người khác. Đó là quên mình vì người. Đó cũng là
tinh thần của chư Bồ Tát. Bồ Tát tự làm lợi cho mình và cũng mang
lại lợi ích cho người; tự độ mình và cũng độ người; tự giác ngộ và
cũng giúp người giác ngộ như mình. Chúng ta không nên tự lợi, mà chỉ
làm lợi ích cho người, cứu độ người, và giúp người giác ngộ.
Khi có khả năng,
chúng ta nên mau chóng làm lợi ích cho người. Có câu: Trao dồi đất
tâm và trưỡng dưỡng đức tánh trong trời đất. Nếu thường làm lợi ích
cho người, thì chẳng bao lâu chính mình sẽ có đức hạnh. Nếu luôn
luôn cầu mong người khác làm lợi cho mình mà tự không làm lợi cho
người, hoặc nếu luôn tìm cách mặc cả và nuôi dưỡng tâm Ỷ lại, thì
chúng ta thật là nhu nhược.
Nếu có khả năng làm
lợi ích cho người và khiến họ vui vẻ, dẫu đi đến đâu, ai ai cũng cảm
mến gương tốt của mình.
Khi học sinh bắt
đầu học cách làm người, chúng ta phải dạy chúng rằng chớ huân tập
tâm ích kỶ và chớ chú trọng về tiền tài. Người xưa học tập chỉ vì
muốn hiểu đạo lý. Người đời nay học tập chỉ vì danh lợi do muốn danh
thơm lợi nhiều. Tại sao ? Vì trường học dạy học sinh theo những
phương pháp sai lầm. Do đó, thế giới ngày một suy đồi.
Người thường nghĩ
cách làm lợi ích chúng sanh chính là Bồ Tát. Kẻ thường nghĩ tư lợi
chính là quỶ ma. Bồ Tát chỉ biết có người khác mà không biết đến
mình. QuỶ ma chỉ biết có mình mà không màng đến người khác. Bồ Tát
và quỶ ma đối ngược với nhau.
6/
Không Nói Láo
Nghĩa là không có
chủ tâm lường gạt người khác. Tại sao con người lại nói láo ? Vì họ
sợ mất đi sự lợi lạc cá nhân, nên mới nói láo. Nếu thường dùng chân
tâm để đối đãi với người, chúng ta tự nhiên sẽ giữ được giới không
nói láo.
Một khi không nói
năng thì thôi, chứ đã nói rồi thì phải luôn nói những lời chân thật.
Chớ bao giờ nói những lời lường gạt người khác. Dẫu trong bất cứ
hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải nói những lời chân thật và giữ
miệng tránh nói láo từng giờ từng khắc.
Mọi người phải nên
nói những lời chân thật. Dù bị đánh đập, mắng chửi, cũng cứ nói
những điều chân thật mà không sợ sệt. Xin thưa với quý vị rằng tôi
là người ngay thẳng. Tôi là người lập mạng ngay thẳng trung trực và
không mong cầu những điều xiểm khúc quanh co. Có ai muốn phạt tôi
thì cứ phạt, chẳng sao đâu. Nếu bị hành hạ, tôi vẫn nói những lời
chân thật và cũng không oán trách ai, vì nghĩ điều đó rất đáng để
nói. Trong sự tu hành, tôi không bắt người khác nhất định phải tin
những gì tôi nói ra. Tôi chỉ tận tâm cố gắng nói lời chân thật cho
dù họ có tin tưởng hay không.
Tại sao người tu
hành không tiến bộ trên bước đường tu đạo ? Vì họ nói láo quá nhiều.
Khi nói láo một lời, hàng trăm vọng tưởng nói láo khởi lên.
Nếu nói láo, thì
tụng chú gì hay đọc kinh gì cũng vẫn không linh nghiệm. Nếu muốn
tụng kinh, niệm được cảm ứng hay thành tựu, điều tiên quyết là chớ
nên nói láo. Phải luôn nói lời chân thật ngay thẳng mà không nói láo
hay nói những lời thêu dệt.
Tại sao giới Không
nói láo được đặt trong sáu tông chỉ chính ? Vì để nhấn mạnh thêm.
Nếu phạm một trong năm tông chỉ bên trên, quý vị sẽ nói láo, còn
ngược lại thì không phạm. Do đó, không nói láo là giới điều căn bản
cho người tu học Phật pháp.
Tôi không bao giờ
nói láo dù ở nơi nào. Tôi cố gắng làm người chân thật; nói và làm
những điều chân thật, chứ không dùng thủ đoạn để đối xử với người và
giải quyết sự việc. Nếu muốn nói điều gì, tôi vẫn cứ nói cho dầu ở
đâu mà không sợ người khác phiền lòng. Nếu có việc mà tôi không muốn
nói, thì ở nơi đâu, tuyệt đối tôi sẽ không nói láo hay lường gạt
người khác.
Sáu tông chỉ chính
đó vốn là biệt danh của năm giới. Thật ra, ai ai cũng đã từng nghe
qua và hiểu rõ, nhưng ít ai chịu hành trì thực tiễn. Đó là lý do tại
sao tôi lại nhắc nhở mọi người rằng: Không tranh nghĩa là không giết
hại; không tham nghĩa là không ăn cắp; không tìm cầu nghĩa là không
tà dâm; không ích kỶ nghĩa là không nói láo; không tự lợi nghĩa là
không uống rượu.
11. Ba Đại Tông Chỉ
[^]
Tông chỉ nhất quán
của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới là:
- Dù rét chết, không phan duyên.
- Dù đói chết, không xin xỏ.
- Dù nghèo chết, không cầu cạnh.
- Tùy duyên không đổi, không đổi
tùy duyên.
- Chúng ta phải giữ gìn ba đại
tông chỉ ấy.
- Xả mạng vì Phật sự.
- Tạo mạng vì bổn sự.
- Chánh mạng vì Tăng sự.
- Hiểu sự rõ lý, hiểu lý rõ sự.
- Tấn hành nhất phái tâm truyền
của Tổ Sư.
Bàn về sự tu hành,
tôi cảm thấy rằng người xuất gia không nên: 1/ Đi vòng vòng mà phan
duyên với những người giàu sang quyền quý; 2/ thường thường ra ngoài
hóa duyên xin xỏ; 3/ việc gì cũng cầu cạnh người khác giúp đỡ.
Dù rét chết, không
phan duyên: Câu này miêu tả suốt cuộc đời tu hành của tôi. Khi còn ở
vùng Đông Bắc (Mãn Châu, Trung Quốc), dẫu là mùa đông hay mùa hè,
tôi luôn mặc ba lớp áo; một lớp ở bên trong, cộng với lớp trên là
một tấm y rách nát với nhiều miếng vải vá chồng lên nhau. Lúc đó tôi
có cảm thấy lạnh không ? Dĩ nhiên là có. Tuy nhiên, tại sao tôi lại
cương quyết hành trì như thế ? Vì tôi muốn hành theo phương châm: Dù
rét chết, không phan duyên.
Dù đói chết, không
xin xỏ. Lúc còn tu hành ở động Quán Âm trên núi Phù Dung tại Hồng
Kông, có lần trong suốt hai tuần lễ tôi nhịn đói vì không có thức ăn
gì cả. Lúc đó, tôi ngồi thiền trong động và chuẩn bị nhịn ăn mà chết.
Đương thời, dưới núi có ông cư sĩ Lao Khoan Thánh với biệt danh là
Bổn Địa Pháp Sư (Thầy pháp địa phương). Bồ Tát Vi Đà ba lần báo mộng
cho ông ta: Ở động Quán Âm có một vị pháp sư hiệu là An Từ. Ông nên
đến đó để cúng dường. Do đó, ngày hôm sau, vị cư sĩ này mang hơn ba
mươi cân gạo và bảy mươi đồng để cúng dường tôi. Ba bốn tháng trước
đó, ông bị chó cắn chân. Các thầy thuốc và bác sĩ Đông-y lẫn Tây-y
tuy chữa trị cho ông ta nhưng vết thương đó vẫn chưa lành trong suốt
mấy tháng trường, khiến họ đều bó tay. Bồ Tát Vi Đà thích xen vào
chuyện của người khác, nên báo mộng, bảo ông ta: Hãy đem đồ đến cúng
dường cho vị Pháp Sư ở động Quán Âm thì bịnh chân sẽ được lành. Do
tin tưởng điềm báo mộng đó, nên ông ta đem gạo và tiền đến cúng
dường. Bấy giờ, ở trong động, tôi đang chuẩn bị chết mà chưa từng
nói với người nào: Xin hãy thương hại tôi. Đã qua bao ngày mà tôi
chưa ăn miếng cơm nào. Đó là phương châm: Dù đói chết, không xin xỏ.
Dù nghèo chết,
không cầu cạnh: Lúc đến chùa Nam Hoa ở Quảng Đông để thân cận đại
lão hòa thượng Hư Vân, trong mình tôi không có một đồng xu dính túi;
ngay cả tiền gởi thơ cũng không có. Tuy nhiên, tôi chưa từng cầu
cạnh với người cư sĩ nào cả.
Do đó, ba đại tông
chỉ này của tôi đều có lai lịch, chứ chẳng phải là lời nguyện trống
rỗng. Khi mua nhà thương để làm chùa Vạn Phật Thành, ai ai cũng thấy
đó là nơi quá lớn và sợ rằng tôi sẽ cầu cạnh, nên họ bỏ chạy lánh xa.
Dù thế, tôi không bao giờ than vãn sự khó khăn đó cho bất cứ một ai.
Khi làm việc, tôi không cầu mong được đền bù và tuyệt đối không cầu
mong người khác giúp đỡ, mà chỉ để mũi kim trên đá mài và tự làm
lụng cực nhọc.
Xả mạng vì Phật sự:
Nghĩa là không màng gì đến sanh mạng của mình; không ngừng xả bỏ
thân mạng, mồ hôi, nước mắt để làm việc Phật sự. Là người Phật tử và
đã xuất gia, chúng ta không thể ngồi nhìn Phật giáo suy tàn và chịu
sự khinh khi của người khác. Vì muốn Phật giáo được phát triển mạnh
mẽ, nếu có hy sinh tánh mạng, chúng ta cũng không màng. Chúng ta
dùng Chánh Pháp để cứu độ con người sống trong thế giới áp bức xấu
xa này, cũng như giúp chúng sanh sống trong cảnh hòa bình an lạc.
Tạo mạng vì bổn sự:
Người xưa có câu: Người quân tử học cách tạo mạng. Mạng do Ta tạo
lập; phước do Ta tự tìm cầu. Họa và phước bất định và tự mình chiêu
cảm lấy. Tuy là phàm phu, nhưng chúng ta cũng có thể chuyển mình
thành Thánh nhân.
Chánh mạng vì Tăng
sự: Đây là bàn về việc người xuất gia phải nghiêm thủ giới luật của
Phật chế định. Điển hình, đắp y ca sa là tiêu chuẩn đặc thù của
người xuất gia. Nếu không đắp y ca sa thì không có đức tướng tỳ kheo.
Lại nữa, thọ trai mỗi ngày một buổi chính do đức Phật chế định. Tiết
chế vấn đề ăn uống khiến cho tâm tham dục được giảm bớt. Có bớt tham
dục thì mới dễ dàng tu đạo. Thế nên, chớ ăn những thức ăn có quá
nhiều chất bổ. Đó là quy chế ở Vạn Phật Thành. Tuy chưa được hoàn bị
cho lắm, nhưng hy vọng mọi người sẽ cố gắng hết sức để tự trao dồi
đức hạnh.
Hiểu sự rõ lý, hiểu
lý rõ sự là nguyên tắc hành sự của chúng ta.
Tấn hành nhất mạch
tâm truyền của Tổ Sư: Mọi người đều phải tu hành chân thật và thành
tâm. Chúng ta chớ có nói quá nhiều. Hành vi của chúng ta chớ có vượt
quá lời nói. Nếu có lòng tự tín, thì người khác nhất định sẽ theo
bước của chúng ta. Đó là cách mà chúng ta hoàn thành bổn phận của
người xuất gia. Phật giáo cũng nhờ đó mà được chấn hưng, và đời Mạt
Pháp sẽ tự nhiên được chuyển thành Chánh Pháp.
Ba y, một bình bát,
và tọa cụ không bao giờ rời thân mình. Mỗi ngày dùng một buổi là gia
phong của chúng ta.
Khi tu hành, chúng
ta phải hằng trì tông chỉ của mình mà không bao giờ xao lãng. Lúc tu
học Phật pháp, chúng ta cũng phải giữ vững tông chỉ của mình vì đó
là mục tiêu chính yếu. Một khi đã nhận rõ mục tiêu rồi, chúng ta
phải dũng mãnh tiến bước, chớ bao giờ thối lui. Bàn về vấn đề này,
nhớ lại vào lúc vừa mới xuất gia, tôi suy nghĩ: Người xuất gia thì
nhiều. Vậy tất cả có hiểu Phật pháp chăng ? Mỗi vị có định đặt mục
tiêu của mình chăng ? Khi xem xét vấn đề này, tôi nhận thấy rất
nhiều người xuất gia không có ý muốn tu hành để chấm dứt dòng sanh
tử. Thật vậy, họ không có mục tiêu gì cả, mà chỉ sống qua ngày qua
tháng Ăn và chờ chết. Những người xuất gia như thế không làm được
điều gì lợi ích cho đạo, chỉ khiến Phật giáo mang thêm gánh nặng,
phiền lụy.
Tôi lại nhận thấy
Phật tử người Hoa không nhận thức được căn bản Phật pháp là gì. Đức
Phật giảng kinh thuyết pháp vì muốn người đời sau hiểu rõ giáo pháp
của Ngài. Làm thế nào người Phật tử phát dương Phật giáo ? Suy nghĩ
đến đây, tôi nhận thấy Phật giáo ở Trung Quốc thực sự chưa bao giờ
có nền móng căn bản vững chắc, nên không thể đứng vững khi đối đầu
với những điều thử thách và áp bức. Tại sao Phật giáo chưa có nền
móng căn bản ? Vì chưa nhận thức được nền tảng căn bản của đạo Phật.
Nền tảng đó là gì ? Chính là giáo dục. Nền giáo dục phải bắt đầu từ
bậc nhi đồng. Phải vun trồng và tưới nước tri kiến, trí huệ, và tư
tưởng của Phật pháp cho chúng. Nếu được như thế, việc tối thiểu là
đứa bé sẽ được nuôi nấng và dạy dỗ để trở thành một người chân thiện
mỸ và công dân tốt cho thế giới. Khi tư tưởng có nền tảng căn bản và
hành vi có mục tiêu rõ ràng, thì chúng mới khả dĩ hỗ trợ Phật giáo
được phát dương rộng rãi. Bằng cách đó, giáo nghĩa căn bản của đạo
Phật sẽ không bao giờ bị phai mờ.
Con người có khả
năng hoằng dương đạo pháp, chứ đạo pháp không thể hoằng dương con
người. Làm thế nào chúng ta có khả năng hoằng dương đạo pháp ? Chỉ
khi nào có mục tiêu và tông chỉ, thì chúng ta mới y theo đó mà hành.
Đối với nền Phật giáo Trung Quốc không cội gốc, một nền Phật giáo
không có gốc rễ lẫn thân cây, mà chỉ có cành lá. Phật giáo Trung
Quốc bao gồm những nghi lễ Thủy Lục Không, Phóng Diệm Khẩu, cầu siêu
độ vong linh. Đó là hình trạng bề ngoài của nền Phật giáo Trung Quốc.
Không ai chịu nghĩ rằng cứ theo đà đó thì sẽ tạo một giai cấp du dân
vô nghề nghiệp, chỉ trở thành người Phật tử xuất gia để đi ăn xin.
Thật đáng chán thay ! Những gì họ biết chỉ là việc làm lễ cầu siêu
độ vong linh để kiếm tiền. Làm những lễ nghi đó, nếu là vị tăng có
đức hạnh, quý vị không cần phải tụng kinh niệm chú, mà chỉ việc nói:
Hãy vãng sanh đi, thì vong linh sẽ được vãng sanh sang cõi Tây
Phương Cực Lạc. Tuy nhiên, nếu không có đức độ và nếu không cẩn
trọng trong mọi hành vi, thì quý vị có năng lực gì để cứu độ người
khác ? Thật ra, quý vị chỉ mang nợ tín chủ thêm thôi. Xa hơn nữa, ở
Trung Quốc quy chế của người xuất gia do Phật định đặt không còn
được tuân theo.
Điển hình, trong
mọi ngày, chư tăng người Hoa không ai đắp y ca sa. Tại sao họ lại
không đắp y ? Nếu quý vị hỏi han, họ sẽ không biết rõ tại sao lại
chẳng đắp y. Thật ra, theo giới tướng, Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni phải
luôn luôn đắp y ca sa và mỗi ngày thọ trai một buổi. Tuy nhiên, họ
đã quên bửng những điều này. Vì quên đến độ chạy xa một trăm tám
mươi ngàn dặm, nên họ không biết gì về ý nghĩa chân chánh của việc
đắp y ca sa và mỗi ngày chỉ dùng một buổi ngọ. Rất ít Phật tử người
Hoa nào hiểu rõ điều này. Có thể có một hoặc hai người xuất gia vẫn
còn đắp y ca sa và dùng ngọ. Một lần nữa, tôi tin rằng có thể không
có một ai như thế trong số hàng trăm ngàn người xuất gia. Quý vị có
thể bảo rằng những người giữ được như thế thật hiếm hoi giống như
lông phượng hay sừng lân. Nếu hỏi về đức tướng tỳ kheo như thế nào,
hầu hết những người xuất gia đều không biết gì cả. Ngày nay, ở Trung
Quốc và những nước theo Phật giáo Đại Thừa, người xuất gia đều không
đắp y ca sa. Họ cảm thấy điều này rất tự nhiên mà đâu biết rằng nếu
không đắp y ca sa thì không còn đức tướng tỳ kheo.
Họ nói: Vâng ! Phật
giáo Đại Thừa là đạo của Bồ Tát. Bồ Tát không đắp y ca sa vẫn là Bồ
Tát. Tuy nhiên, Bồ Tát vẫn phải đắp y ca sa vì cần trang nghiêm đức
tướng. Hãy xem đức tướng của Bồ Tát Quán Âm, Phổ Hiền, Văn Thù, Địa
Tạng. Các ngài đều đắp những phẩm vật để trang nghiêm đức tướng. Tuy
là những tướng hư giả, nhưng đó là pháp biểu trưng trang nghiêm các
cõi Phật ! Mọi người tu đạo và người xuất gia phải tuân thủ theo quy
chế giới luật. Chớ nên dại dột phá gio71i hay có những hành vi điên
đảo. Quý vị bảo: Nhưng Hoà Thượng Chí Công thật sự rất điên khùng !
Ngài Chí Công giả dạng như thế vì muốn khiến người khác bố thí thức
ăn cho những kẻ khùng điên. Nghĩa là Ngài muốn dạy người cư sĩ chớ
nên khinh khi chửi mắng những người mất trí. Giữa những kẻ mất trí,
có vài vị dùng phương tiện để thị hiện; các ngài đến giáo hóa chúng
sanh bằng cách che dấu hành trạng chân thật.
Tại sao chư tăng
Bắc Tông không đắp y ca sa ? Khi Phật giáo Đại Thừa truyền sang
những vùng phía bắc, vì không chịu nổi thời tiết quá lạnh rét ở
những nơi đó nếu chỉ đắp y ca sa, nên họ phải mặc thêm đồ ấm bên
trong thân. Những đồ ấm đó có thể giúp thân tránh bị lạnh rét. Tuy
nhiên, khi được đắp lên những đồ ấm đó, y ca sa dễ dàng bị tuột rớt.
Khi đạo Phật vừa được truyền sang Trung Quốc, có lẽ những vị tỳ kheo
vào những thời đó không được lanh lợi cho lắm. Do vụng về, có lẽ họ
đôi lúc họ cũng đánh mất y ca sa. Một khi bị mất y và vì không có
tiền để may cái mới, nên họ phải đi xin xỏ khiến cho cư sĩ sợ sệt mà
lánh xa. Về sau, người xuất gia hợp với nhau, bảo: Cứ giữ theo cách
này thì không thể được. Y ca sa của chúng ta thường tuột rớt, còn
may thêm một chiếc y mới thật rất khó khăn. Đa phần người Tàu sống
rất cần kiệm. May lại y ca sa mới thật rất đắt. Nếu đánh mất y ca sa
thì là một vấn đề nan giải. Khi đó, trong cuộc họp có một vị Tổ Sư
không được thông minh cho lắm đưa ra ý kiến: Tôi có cách giải quyết
vấn đề ! Chúng ta có thể may lên y ca sa một cái móc và một chiếc
vòng rồi móc chúng lại với nhau để y không còn bị rơi. Đó là cách
phát minh y ca sa kiểu Tàu. Kể từ đó, người xuất gia cứ may y ca sa
theo cách ấy. Y ca sa xưa kia vốn không có cái móc và chiếc vòng, mà
chỉ do người Tàu chế đặt ra. Quý vị có thể nhìn thấy chư tăng Ấn Độ
đắp y ca sa mà không có cái móc và chiếc vòng; họ chỉ đắp y theo
truyền thống Nam Tông. Từ việc này, chúng ta biết rằng khi đạo Phật
được truyền sang một vùng đất mới, có nhiều sự thay đổi do phong tục
tập quán của dân chúng địa phương,
Tuy nhiên, ở Trung
Quốc, sau khi đã sửa đổi, người xuất gia lại thối bước, rồi ngưng
luôn việc đắp y ca sa. Lý do là vì hầu hết chư tăng người Tàu phải
tự túc trồng trọt sinh sống. Khi làm việc, thật rất bất tiện nếu vẫn
đắp y. Vì vậy, họ giải y ra và chỉ mặc đồ thường phục. Họ để y ca sa
sang một bên. Tuy nhiên, thời gian sau, dẫu không làm việc họ cũng
chẳng đắp y ca sa. Có vài vị vẫn còn giữ truyền thống và đắp y khi
vào chánh điện hay dùng ngọ. Song, theo truyền thống hiện tại, không
ai còn đắp y ca sa vào lúc dùng ngọ hay lên chánh điện. Thật vậy,
người xuất gia ở Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam và ở mọi
nơi thuộc Phật giáo Bắc Tông đều chỉ mặc chiếc áo tràng và cho đó là
y phục của người xuất gia. Đây là điều sai lầm lớn lao ! Nếu người
xuất gia không đắp y ca sa thì cũng giống như đã hoàn tục, vì không
khác gì người thế tục. Mặc áo tràng không đủ chứng minh rằng mình là
người xuất gia. Dẫu có đắp y suốt ngày, cũng vẫn phạm giới và luôn
luôn không tự chân thật, thì còn nói gì đến việc không đắp y !
Do đó, thật sự
không còn Phật giáo ở Trung Quốc và bất cứ nơi nào mà đạo Phật được
truyền từ Trung Quốc sang; nền Phật giáo ở những nơi ấy đa phần đã
đánh mất gương mặt thậtcủa đạo Phật. Khi xem xét vấn đề này, tôi
muốn sửa đổi phong tục này ở Trung Quốc. Song, tôi nhận biết mình
chỉ là người tầm thường với lời nói vô giá trị. Tôi không có địa vị
gì cả và chẳng ai thèm nghe tôi. Dẫu có hét khan cổ họng, không một
ai tin tôi. Do đó, tôi phát nguyện rằng sẽ canh tân, chỉnh đốn và
giúp Phật giáo được chấn hưng lại ở Tây Phương hầu mong mọi người sẽ
nhận chân được đạo Phật là gì.
Vì thế, vừa đến MỸ,
tôi đơn thân độc mã đề xướng việc đắp y ca sa và mỗi ngày chỉ dùng
một buổi ngọ. Vì người MỸ thường thích hưởng thụ và phương tiện hóa,
nên họ không ưa gì khi bị bảo phải đắp y ca sa. Tuy nhiên, vì ở xứ
MỸ ít người xuất gia đắp y, nên tôi có thể đề xướng việc đắp y. Tôi
cũng khởi xướng việc mỗi ngày chỉ dùng một buổi ngọ, vì ngay lúc còn
cư sĩ chưa xuất gia, tôi chỉ dùng một buổi ngọ. Đã bao năm trường kể
từ lúc xuất gia cho đến nay, tôi luôn luôn ăn một ngày một buổi. Vì
không có đức độ và công phu tu hành chân thực, điều có thể làm được
là tôi chỉ dạy những đệ tử xuất gia bắt chước theo giới tướng bên
ngoài của mình. Do đó, những ai xuất gia theo tôi, dù nam hay nữ đều
phải giữ giới chỉ dùng ngọ. Tôi chỉ chấp nhận họ khi nào hành được
như thế. Đó là điều kiện sắt đá cho những ai muốn theo tôi xuất gia,
mà không thể thay đổi. Dù bất cứ lúc nào, hay hoàn cảnh có bức bách
đến mức độ nào, không thể thay đổi được giới điều này. Lý do là vì
tôi đã từng khởi xướng phương thức đắp y ca sa và mỗi ngày chỉ dùng
ngọ qua bao thập niên kể từ khi vừa tới MỸ và cho đến hiện tại. Trải
qua bao thập niên và khi người xuất gia quen dần với phương thức đó,
tôi tin tưởng rằng họ sẽ thật sự chấp nhận từ trong tâm khảm. Mọi
người sẽ hiểu rõ cách thức mà tôi truyền dạy.
Mọi người đều biết
thanh quy mỗi ngày dùng một buổi ngọ ở Vạn Phật Thành. Khi đi, đứng,
nằm, ngồi, người xuất gia ở Vạn Phật Thành đều đắp y ca sa. Tất cả
đều có đủ ba y ca sa, một bình bát, và một tấm tọa cụ như đã được
ghi rõ trong giới luật. Trong giới luật có nói rõ rằng ai đắp y ca
sa sẽ được mười công đức. Nếu không thích có công đức đó, quý vị chớ
nên đánh mất hình tướng của người xuất gia. Quý vị có thể nói: Tôi
không có tâm tham và không cần công đức đó. Có thể không muốn công
đức, nhưng quý vị cũng cần có phước đức. Phước đức do tích tụ từ từ
mà có. Bất cứ lúc nào và ở nơi đâu, quý vị phải luôn luôn vun bồi
phước đức và trí huệ. Nếu không tu phước và huệ thì quý vị không
xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của tín thí.
Hiện tại, con người
vô tình để cho thói xấu biến thành tập tục: Người xuất gia không đắp
y mới được xem là chân chánh, còn người đắp y thì bị xem như giả dối.
Những ai đắp y lại bị mắng chửi là làm điều quái gỡ. Chính tự đức
Phật giữ ba y ca sa, một bình bát, một tấm tọa cụ. Ngài luôn luôn
đắp y ca sa. Song, khi đạo Phật được truyền sang Trung Quốc, tất cả
chư tăng ở đó đều ngưng việc đắp y. Kể từ đó, người trong đạo Phật
lại bảo rằng những ai đắp y ca sa là sai trái.
Có một câu chuyện
về những học sinh vừa từ Trung Quốc sang Đài Loan. Vì chạy trốn lánh
nạn, nên không có học sinh nào, chỉ trừ một hai học sinh, nhớ mang
bằng cấp chứng chỉ theo. Khi làm đơn xin nhập học vào các trường đại
học ở Đài Loan, chúng hoảng hốt khi bị hỏi về bằng cấp chứng chỉ.
Kết cuộc, chúng đi tìm kiếm giấy chứng chỉ mẫu ở khắp nơi. Khi tìm
ra, chúng y theo đó mà làm giấy chứng chỉ giả rồi nộp cho bộ Giáo
Dục. Do đó, chúng được phép thi cử và ghi danh vào đại học. Tuy
nhiên, khi có học sinh khác nộp giấy chứng chỉ thật vào bộ Giáo Dục,
thì những người làm việc lại cho là giấy chứng chỉ giả. Họ bảo: Giấy
chứng chỉ của mọi người đều được cất giữ cẩn thận sạch sẽ. Tại sao
giấy chứng chỉ của trò lại cũ rít, nhầu nát ? Chắc chắn trò đã làm
giả rồi cố ý làm cho tờ giấy đó được xem như cũ kỸ nát nhầu để người
khác không thể nói gì được. Do đó, họ từ chối nhận giấy chứng chỉ đó.
Tất cả quý vị xin hãy suy nghĩ: Cái giả được xem là thật, còn điều
thật lại bị xem là giả.
Nếu người xuất gia
không đắp y ca sa thì cũng giống như họ hoàn tục. Vì nền Phật giáo ở
Trung Quốc đã trở nên suy đồi, tôi ra nước ngoài để đề xướng rằng
người xuất gia phải đắp y ca sa và mỗi ngày chỉ dùng một buổi ngọ y
theo lời dạy của đức Phật. Ở Vạn Phật Thành, chúng ta tôn thủ những
quy chế đó. Nếu quý vị nhận thức được gia phong của Vạn Phật Thành,
thì thà chết chứ không thay đổi. Quý vị nên suy nghĩ: Có phải muốn
tôi không đắp y ca sa chăng ? Thà bảo tôi chết, còn hơn là bảo tôi
không đắp y ca sa. Thà bảo tôi chết, còn hơn là bảo tôi không giữ
giới dùng ngọ mỗi ngày một buổi. Với sự quyết định và tín tâm kiên
cố như thế, quý vị mới là thành viên chân chánh của chùa Vạn Phật
Thành. Một khi đã nhận rõ mục tiêu, thà chết chứ không thay đổi ý
chí. Dẫu có bước vào thiền đường mà không đắp y ca sa và vừa ngồi
xuống liền được khai ngộ, tôi cũng không dám làm như thế.
Đối với việc đắp y
ca sa, chư tăng ở Trung Hoa lục địa, chẳng những vào lúc đả thiền
thất mà ngay cả vào mọi thời mọi lúc, họ cũng đều không làm. Không
có đạo tràng nào mà có người xuất gia đắp y ca sa. Họ đã quen dần
với tập khí đó rồi. Người xuất gia mà không đắp y thì mất đi đức
tướng tỳ kheo. Áo tràng và y hậu mà họ đang mặc hoàn toàn là y áo
thời nhà Đường, và cũng không phải là phần chính của đạo Phật. Làm
sao để chứng minh điều này ! Hãy nhìn xem chư tăng Nam Tông, ngay
hiện tại vẫn thường đắp y trong mọi thời. Tại sao họ không đắp y ca
sa ở Trung Quốc ? Điều này thật dễ hiểu. Bởi vì người Tàu rất cần
mẫn làm nhiều công việc nặng nhọc. Khi ra ngoài làm việc, nếu đắp ca
sa thì rất bất tiện. Do đó, khi đi ra ngoài đồng làm việc, họ cởi bỏ
y ca sa ra và chỉ mặc đồ bên trong để làm việc. Vì y ca sa lượm
thượm, vướng mắc và bất tiện cho sự làm việc, nên họ ngưng đắp y ca
sa. Trải qua năm tháng, sự việc trở thành thói quen. Họ bắt đầu nghĩ
rằng y bên trong được đắp khi ngủ nghỉ là y phục của người xuất gia.
Thật ra, họ chỉ giữ y phục vào đời Đường. Y phục của người thế gian
đã thay đổi nhiều lần, nhưng người xuất gia vẫn còn giữ cách xưa vì
không thay đổi y phục của đời Đường. Họ đi đến việc xem áo tràng và
y hậu như y phục đặc biệt dành cho người xuất gia, nhưng đó là điều
hoàn toàn sai lầm. Nếu không đắp y, thì quý vị chẳng là gì ngoài
việc làm cư sĩ trọc, mà không xứng đáng làm người xuất gia. Tại sao
vậy ? Vì quá tùy tiện. Ngay trong mọi cử chỉ hành động đều không
biết mình là người xuất gia.
Trong thiền thất,
dĩ nhiên họ không đắp y. Trong giới bổn có dạy: Y bất ly thể (y ca
sa không thể rời thân được). Đi bất cứ nơi đâu, phải mang theo ba y,
một bình bát, và tọa cụ, bằng ngược lại thì phạm giới. Song, nếu hỏi
người xuất gia thời nay, có ai dám nói rằng y ca sa của họ không bao
giờ rời thân ? Tuy nhiên, đó chỉ là giới tướng bên ngoài. Không phải
đắp y mới thành người xuất gia. Nếu đắp y mà không giữ giới thì vẫn
bị xem như là người tại gia; nghĩa là làm tỳ kheo mà phạm giới, còn
tệ hại hơn người tại gia. Ngay cả vào lúc đắp y lại thường khởi
những tâm niệm tham dục tà vọng, còn nói chi đến việc không đắp y.
Nếu không đắp y ca sa theo lời Phật dạy, tôi tin tưởng rằng không có
ai trong số quý vị thật là Bồ Tát, Thanh Văn, hay Duyên Giác.
Lại nữa, bàn về vấn
đề mỗi ngày dùng một buổi. Tại sao tôi lại dùng ngọ thôi ? Từ khi
còn nhỏ, tôi đã có tâm niệm: Tôi muốn chịu khổ thay thế cho tất cả
chúng sanh và đem tất cả công đức lành mà mình có được để ban bố cho
họ. Tôi muốn tất cả thống khổ của mọi người được giao cho mình. Khi
người Nhật xâm chiếm nước Tàu, họ bắt người Tàu đi làm việc khổ sai
trong những trại lao động; ở những nơi đó, các người lao công bị
hành hạ, không có cơm để ăn hay y phục để mặc; khi bị chết vì lạnh
và đói, thân xác họ bị bỏ cho chó ăn. Nhìn thấy người Tàu bị những
điều thống khổ đó, tôi nhận ra rằng trên thế gian có rất nhiều người
không có ăn. Thế nên, tôi bắt đầu ăn mỗi ngày một buổi. Khi dùng ba
buổi trong một ngày, tôi có thể dùng năm chén cơm trong một buổi.
Sau này, khi bắt đầu mỗi ngày chỉ dùng một buổi, tôi chỉ dùng có ba
chén cơm; thế thì tôi dành được mười hai chén cơm cho những ai không
có cơm ăn. Ở vùng Mãn Châu lạnh lẽo như thế mà tôi sẳn sàng đắp ba
lớp y mặc cho trời mưa giá lạnh trong mùa đông. Nhờ cách đó, tôi
dành dụm được tơ vải cho những người không có y phục để mặc. Vì thời
tiết ở bắc Cali không quá lạnh lẽo, tôi chưa đặt để quy chế gì về y
phục. Đối với việc ăn uống, nam hay nữ nào đã là đệ tử xuất gia của
tôi, tất cả đều chỉ dùng ngọ để giúp tôi dành dụm thức ăn cho những
người đói kém.
Tại Trung Quốc,
không có chỗ nào mà chư tăng chỉ dùng ngọ trong một ngày. Khi đả
Thiền Thất, có thể được gọi rằng là đả Thiền Ăn. Trong một ngày, có
đến bốn lần ăn và ba lần dùng trà, cộng thêm bánh bao vào ban đêm.
Nếu bảo rằng vẫn tu hành tinh tấn theo kiểu đó, tôi thật không thể
nào tin tưởng được. Tôi thấy rằng mỗi ngày dùng một buổi ngọ cũng
quá phiền phức rồi. Vậy mà quý vị ăn uống bốn lần, cộng thêm bánh
bao vào buổi tối nữa. Chư tăng tu theo truyền thống Phật giáo Trung
Quốc, họ gọi buổi ăn tối là Dùng Thuốc. Điều này được gọi là Bịt tai
để trộm chuông. Đó là việc tự lừa dối chính mình và lường gạt người
khác. Họ muốn ăn tối nên gọi buổi ăn tối là Dùng Thuốc. Đó là đạo
Phật ở Trung Quốc: Đạo Phật mà lường gạt người. Tôi không có cách
nào để sửa đổi tập quán xấu xa đó. Ở xứ MỸ, tôi đã định lập gia
phong nơi hải ngoại hoàn toàn khác với đạo Phật ở châu Á. Tại xứ MỸ,
con người hưởng thụ quá mức. Vì cuộc sống quá sung túc, nên người
xuất gia có làm bánh bao để dùng và dù thức ăn có ngon đến đâu, vẫn
không sánh bằng thức ăn của người tại gia, vì họ có thể thưởng thức
những món sơn hào hải vị. Do đó, tôi đề xướng hạnh mỗi ngày chỉ dùng
một buổi để đối trị cách hưởng thụ đó, bởi vì người MỸ thường thích
sống xa hoa.
Tôi đến xứ MỸ không
phải để thuyết pháp cho người Tàu mà chỉ vì muốn giáo hóa người MỸ;
đối tượng chính của tôi là quần chúng người MỸ chứ không phải là
người Tàu; việc giáo hóa cho người Tàu chỉ là điều phụ trợ thôi. Tôi
đơn thân độc mã đến xứ MỸ từ miền Á Châu xa xôi nghìn dặm. Đến ngay
nơi trung tâm của vùng đất mà những tôn giáo khác đang có ảnh hưởng
lớn đối với quần chúng địa phương, tôi đề xướng hạnh mỗi ngày dùng
một buổi để đối trị cách sống xa hoa của họ. Nếu mỗi ngày chỉ dùng
một buổi ngọ được thì quý vị mới có thể xuất gia, bằng ngược lại thì
không đủ tiêu chuẩn làm người xuất gia.
Bàn thêm về việc
đắp y ca sa, ở Trung Quốc, tôi không thể nói rằng những người xuất
gia đã thực sự xuất gia chân chánh hay không ? Bất cứ ai cũng có thể
cạo tóc, đốt vài nén hương lên đầu, rồi tự gọi mình là người xuất
gia. Họ không có một điểm đặc thù nào về giới tướng. Đó là lý do tại
sao tôi lập thanh quy: Mọi người xuất gia ở Vạn Phật Thành phải đắp
y ca sa. Nói chung, đến xứ MỸ, để dẫn đường tiên phong cho đạo Phật,
tôi đề xướng hạnh đắp y ca sa và mỗi ngày dùng một buổi.
12. Pháp Môn Tu Đạo
[^]
- Thiền - Thể
tánh chân chánh của chư Phật
- Đại địa xuân hồi bách vật sanh
- Phấn toái hư không tự tại ông
- Tùng thử bất lạc nhân ngã
tướng
- Pháp giới tuy đại tận bao dung
Tạm dịch:
- Xuân về cõi đất trăm vật sanh
- Đập nát hư không ông tự tại
- Từ đây nào còn lạc tướng nhân
ngã
- Pháp giới tuy rộng vẫn bao
dung.
Bài kệ này thuyết
về việc đả Thiền Thất của chúng ta như xuân về cõi đất. Trăm vật
sanh nghĩa là quý vị có cơ hội khai ngộ. Nếu ánh sáng tự tánh hiển
lộ thì cũng giống như trăm loài vật sanh sản trong mùa xuân. Đập nát
hư không: Hư không vốn vô hình tướng, không có gì cả. Ông tự tại:
Lúc ấy quý vị chân thật được tự tại. Từ đó, nào còn lạc vào tướng
nhân ngã, nghĩa là không còn có mình, người; nhân vốn không; pháp
vốn không; nhân tướng cũng không; pháp tướng cũng không; nhân ngã
đều không. Pháp giới tuy rộnglớn bao la, nhưng đều nằm trong chúng
ta và bao dung hết. Quý vị xem coi việc này có lớn lắm không ? Đó
mới thật là hành trạng của đại trượng phu.
Hư không đả phá
minh tâm địa (phá vỡ hư không sáng đất tâm).
Câu Ai là người
đang niệm Phật là bảo kiếm Kim Cang và cũng chính là câu Tảo Chửu (chổi
quét) của ngài Châu Lợi Bàn Già. Có người hỏi: Tại sao lại gọi là
bảo kiếm Kim Cang hay cây chổi quét ? Nếu là bảo kiếm Kim Cang thì
không phải là cây chổi quét. Ngược lại, nếu là cây chổi quét thì
không phải là bảo kiếm Kim Cang. Tùy thuộc vào đầu nào mà quý vị xử
dụng. Một đầu là bảo kiếm Kim Cang, còn một đầu thì là cây chổi để
quét. Một đầu là cây kiếm bảo vương Kim Cang được dùng để chặt đứt
tình ái, vô minh phiền não. Một đầu khác là cây chổi để quét; mỗi
lần niệm câu Ai là người đang niệm Phật ?, cũng giống như mỗi lần
dùng chổi quét đất được sạch sẽ đôi chút. Dùng chữ Ai để quét những
lòng tư dục. Bảo kiếm vương Kim Cang chặt tư dục và cây chổi cũng
quét tư dục; đó là tâm niệm tham dục, tình ái, và những vấn đề liên
hệ. Dùng bảo kiếm vương Kim Cang để chặt đứt hết những vấn đề rắc
rối đó. Vừa khi tham quán chữ Ai, Thiên ma ngoại đạo không thể hại
gì được, vì không có chỗ hở nào cho chúng xâm nhập vào. Do quý vị
cầm gươm trí huệ hàng phục mười đại ma quân cùng tất cả ma quân trên
thế gian. Không ma quân nào có thể đương đầu với chữ Ai của quý vị.
Nếu quên đi chữ Ai thì có lỗ hổng cho ma quân xâm nhập vào; nghĩa là
quý vị bỏ bảo kiếm vương Kim Cang xuống và để cho vô minh khởi lên.
Khi tham khán câu
Ai là người đang niệm Phật, sự việc có vẻ mơ hồ. Tham quán tới lui,
nhưng không thể tìm ra chữ Ai, nên mới khởi nghi tình. Lúc nghi tình
phát khởi, nghi nhiều thì ngộ nhiều; nghi ít thì ngộ ít; không nghi
thì không ngộ; thường nghi thì thường ngộ; nghi ngắn thì ngộ ngắn.
Tại sao gọi là nghi tình ? Vì không thể tìm được chữ Ai. Chữ Ai là
gì ? Nắm giữ chữ Ai hằng giờ cho đến khi hơi thở dừng, mạch máu
ngưng, tâm niệm trụ, và đạt đến cảnh giới đại định thâm sâu. Dẫu đi,
đứng, nằm, ngồi, quý vị vẫn thường trú trong đại định đó. Không nhập
vào và không xuất ra khỏi đại định đó, nên gọi là đại định thâm sâu.
Lúc bấy giờ, trên không còn trời, dưới không còn đất, chính giữa
không còn người, xa không còn vật; tất cả đều vắng lặng; ngay cả hư
không đều tan biến. Một khi hư không tan biến rồi thì còn cảnh giới
gì ? Quý vị hãy xem xét và suy nghĩ coi ! Quý vị có còn vọng tưởng
hay tạp niệm chăng ? Khi hư không đã tan mất, vọng tưởng, tạp niệm,
tư dục trú ở đâu ? Lúc ấy thật dễ dàng khai ngộ, dễ dàng xoay về cội
gốc, dễ dàng minh tâm kiến tánh. Khi đó, sự việc gì cũng không làm
chướng ngại khó khăn cho quý vị. Một khi đã thấy tánh thì mãi mãi
không còn ưu sầu.
Bổn lai diện mục hà
xứ mịch (tìm bộ mặt thật xưa nay ở noi nào ?)
Từ đời nhà Thanh
đến hiện tại, đa số đều tham quán câu Ai là người đang niệm Phật ?
Tham quán chữ Ai là quan trọng nhất. Ai ? Vẫn còn chưa biết thì vẫn
là chữ Ai. Nếu biết rõ thì là khai ngộ. Phải tìm ra Ai là người đang
niệm Phật. Nếu bảo: Tôi là người niệm Phật. Quý vị à ? Nếu là người
niệm Phật thì khi chết đi và được hỏa táng xong, quý vị sẽ đi về đâu
? Nếu quý vị là người đang niệm Phật thì phải không chết. Song, quý
vị sẽ chết, bị hỏa thiêu, và không còn nữa.
Trong pháp môn tham
thiền có nhiều câu thoại đầu. Có người tham quán câu: Trước khi cha
mẹ sanh ra, gương mặt của tôi vốn ra sao ? Có người tham quán chữ Vô.
Vô, nghĩa là không có gì cả và mọi việc đều trống không. Hoặc giả
tham quán câu Muôn vật có hiện hữu chăng ? Họ tham quán chữ Vô (không)
và Hữu (có). Có người tham quán Làm sao sự việc đều là không ? Muôn
vật trên thế gian đều chịu cảnh thành, trụ, hoại, không. Thế thì còn
vật gì thoát ngoài định luật thành, trụ, hoại, không ? Đó là cách
tham quán của họ.
Có người tham quán
câu: Con chó có Phật tánh chăng ? Dẫu con chó có Phật tánh hay không,
điều này cũng có thể làm một câu thoại đầu. Người khác tham quán câu:
Que cứt khô. Vừa nghe qua, quý vị có thể cười, nhưng khi tham quán
thì mới có mùi vị ! Vì không ướt nên không hôi; do đó quý vị không
cần phải cười. Tựu chung, có rất nhiều loại thoại đầu. Nếu cảm thấy
câu thoại đầu nào thích hợp thì quý vị có thể dùng.
Hành, trụ, tọa, ngọa
tế toản nghiên (đi, đứng, nằm, ngồi tinh tường tham quán)
Trong lúc đả Thiền
Thất, điều quan trọng là phải chuyên nhất, nghĩa là thân, tâm, và ý
thức phải chuyên nhất. Nơi đây, thân của quý vị phải đi vào lúc đi,
ngồi vào lúc ngồi, nằm xuống vào lúc nằm xuống. Lúc đi, ngồi, nằm
phải y theo quy củ. Không để tâm khởi vọng tưởng thì tâm, niệm, và ý
mới chuyên nhất. Ý không khởi tâm tham, sân, si thì mới nhất tâm
tham quán Ai là người đang niệm Phật ?
Tham quán như dùng
mũi khoan để khoan lỗ. Khoan cho đến độ khoan thủng qua gỗ. Một khi
đã khoan xong, có thể thấy sang lỗ bên kia; khai ngộ cũng như thế.
Trước khi khai thông, chúng ta chỉ việc khoan lỗ hằng ngày. Cũng vậy,
trước khi khai ngộ, chúng ta tham quán câu Ai là người đang niệm
Phật.
Hiện tại, chúng ta
đang dụng công phu để được khai ngộ. Trong lúc dụng công, chớ bảo:
Không thể khoan thủng lỗ hổng ! Nếu nghĩ như thế thì không thể nào
còn muốn khoan nữa. Nếu không khoan thì không có lỗ khoan nào cả.
Phải khoan lỗ vào hôm nay, ngày mai, ngày mốt; khoan hoài khoan mãi
cho đến khi thông, tức là khai ngộ. Nghĩa là những gì chưa biết rõ
trước kia, nay lại biết rõ. Những gì chưa hiểu rõ, sẽ hiểu rõ.
Công phu đó như thế
nào ? Như mèo rình chuột. Mèo rình chuột ngoài hang. Nếu chuột vừa
ra thì mèo dùng móng vuốt mà bắt. Tham quán câu Ai là người đang
niệm Phật cũng giống như mèo rình chuột. Vọng tưởng là chuột và câu
Ai là người đang niệm Phật là mèo. Mèo chờ chuột để bắt; đó là tỶ dụ.
Tham quán cũng
giống như rồng bảo vệ hạt châu. Rồng luôn luôn bảo vệ và không bao
giờ xa rời hạt châu của nó.
Lại nữa, tham quán
như gà ấp trứng. Gà mái luôn luôn lo lắng cho gà con, nên suy nghĩ:
Chẳng bao lâu nữa gà con của tôi sẽ ra vỏ trứng. Gà mái cứ tiếp tục
ấp trứng: Lẹ lên ! Lẹ lên ! Gà con hãy mau ra khỏi vỏ ! Mỗi ngày, gà
mẹ ấp trứng và nghĩ về gà con cho đến khi chúng ra khỏi vỏ. Có câu:
Loài sanh từ trứng do tưởng mà ra.
Khi nghĩ mãi đến
hồi chín muồi, trứng sẽ nở ra gà con; lúc đó gà mẹ thành công. Chúng
ta tham Thiền cũng giống như gà mẹ ấp trứng. Đang ấp trứng, thân gà
mẹ rất nóng nên mệt nhừ. Tuy nhiên, gà mẹ không thể nào rời khỏi ổ
mà phải ấp cho đến khi trứng nở.
Tham phá thoại đầu
lộ đoan nghê (Khi tham quán thông suốt thoại đầu thì đầu mối hiển lộ).
Tham Thiền cũng như
thế. Chúng ta phải thường chú tâm mà không khởi bất cứ vọng tưởng
nào cả.
Nhất niệm bất sanh
toàn thể hiện, lục căn hốt động bỉ vân giá.
Dịch: Một niệm nếu
không sanh thì toàn thể tánh liền hiển hiện. Sáu căn vừa động liền
bị mây che.
Lúc một niệm chưa
sanh khởi thì toàn thể đại dụng liền hiện tiền, nghĩa là trí huệ sẳn
có sẽ hiện trước mặt. Sáu căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vừa
chợt động thì cũng như trời xanh đột nhiên bị mây che. Lúc một niệm
chưa sanh thì trong chẳng có thân tâm; ngoài không thế giới. Tọa
thiền đến lúc hơi thở dừng, nhưng không phải là chết. Khi hơi thở
dừng thì không còn một vọng niệm. Song, nếu đột nhiên suy nghĩ: Ồ !
Hơi thở của tôi đã dừng, không còn nữa, thì hơi thở sẽ trở lại. Lúc
vô tâm thì hơi thở dừng; vừa lúc có tâm thì hơi thở trở lại. Thật ra,
hơi thở không hoàn toàn ngưng, vì nếu như thế thì không còn sống trở
lại. Do vì, hơi thở bên trong bắt đầu hoạt động nên không cần phải
dựa vào hơi thở bên ngoài. Đó gọi là chuyển bánh xe pháp lớn; nghĩa
là chuyển bánh xe pháp vô hình và hát bài ca không âm thanh. Tuy
nhiên, chớ đắm chấp vào cảnh giới đó.
Người tu hành có
lúc chợt tinh tấn và chợt thối thất. Có thể tinh tấn trong vài ngày
rồi lại cảm thấy không được lợi lạc gì nên thối thất. Sau khi giãi
đãi làm biếng một thời gian, lại tinh tấn tiếp tục. Do đó, lúc tu
đạo, chúng ta phải theo trung đạo, không nên quá mau lẹ hay quá chậm
chạp.
Đi quá nhanh thì sẽ
xẩy chân; đi quá chậm thì sẽ lọt lại sau.
Chớ quá gấp gáp hay
quá chậm chạp. Không đi quá khẩn trương nghĩa là không quá gấp gáp;
không quá chậm chạp nghĩa là không làm biếng. Phải dụng công đến độ
tự tại khi đi, đứng, nằm, ngồi. Tự tại nghĩa là công phu thăng tiến.
Lúc đó mới thật là Tham Thiền và dù muốn dừng vẫn không được.
Lúc đi, đứng, nằm,
ngồi vẫn không rời chữ Ai. Song, dẫu được như thế, nhưng vẫn chưa
nhận ra chữ Ai. Phải làm quen với chữ Ai mà không để đánh mất. Ở mọi
nơi mọi lúc đều dụng công tham thiền thành phiến. Lúc đó, dẫu ăn cơm
mỗi ngày, nhưng cũng như chưa từng dùng một hạt cơm. Chẳng phải là
không dùng cơm, mà là quý vị không đắm chấp vào việc ăn cơm. Tuy
dùng cơm nhưng giống như không có gì xảy ra. Đắp y nhưng cũng không
chấp vào.
Dẫu đắp y nhưng
cũng như không đắp một cọng chỉ nào. Nghĩa là dẫu đi, đứng, nằm,
ngồi đều quên hết. Quên về việc ăn mặc rồi thì còn nói chi đến những
việc khác ! Những việc đó có nhằm gì đâu !
Đả phá hắc đổng
hiện bổn nguyên (đập thùng dầu hắc để hiện cội nguồn).
Đập vở thùng dầu
hắc chính là khai ngộ. Tuy rằng tâm niệm tham quán chữ Ai là vọng
tưởng, nhưng chúng ta dùng một vọng tưởng để trừ tất cả vọng tưởng.
Trong mọi thời mọi lúc phải tham quán thoại đầu, chứ không nên thở
ra thì tham quán còn thở vào thì không. Đếm theo hơi thở cũng không
được vì tạo thành hai việc như lấy đầu đặt lên đầu. Cách thức tham
quán thoại đầu chân chánh là phương pháp nhập môn. Do đó, chư Tổ sư
luôn luôn tham quán khi hơi thở ra vào; niệm niệm tham quán không
dừng.
Những ai thật sự
biết dụng công sẽ không ngừng tham quán chữ Ai. Cứ liên tục khởi
nghi tình về chữ Ai cho đến khi tâm, ý, thức đều tan mất; tâm cũng
không; ý cũng không; thân cũng không; thức cũng không. Khởi vọng
tưởng là do thức thứ sáu sanh khởi; nó bảo quý vị khởi vọng tưởng,
bảo quý vị biết đau, bảo quý vị không nhẫn đau nổi. Tất cả đều do nó
tác quái. Nếu dẹp trừ tâm, ý, thức bằng cách tham quán cho đến khi
không còn bị chúng chuyển, thì quý vị mới thật sự là người biết dụng
công. Một khi được như thế, không những công phu ngày một tương ưng
và nhất niệm cũng được tương ưng, mà cũng có khả năng khai mở trí
huệ, nghĩa là khai ngộ. Thế nên người xưa có câu:
- Nhược nhân tĩnh tọa nhất tu du,
- Thắng tạo hằng sa thất bảo
tháp.
Dịch:
- Nếu ai ngồi tĩnh tọa trong
giây lát,
- Thù thắng hơn xây hằng sa bảo
tháp.
Ngồi thiền tĩnh tọa
trong một giây phút thì công đức thù thắng hơn xây hằng hà sa số bảo
tháp. Ngoài ra, chỉ ngồi trong giây lát đó mà có thể diệt trừ nghiệp
xấu trong vô lượng kiếp sanh tử.
Những ai biết dụng
công đều luôn luôn sống trong thiền định, bằng ngược lại thì thường
sống trong vọng tưởng hư dối. Thiền định thì sanh xuất trí huệ, còn
vọng tưởng thì sanh xuất ngu si. Làm thế nào để đạt thiền định ?
Phải xả bỏ vọng tâm mà quay về chân tâm. Tuy nhiên, chúng ta thường
chạy theo vọng duyên, chứ không thích trở về với thiền định. Đó là
lý do tại sao chúng ta thường khởi vọng tưởng, nên không thể quay về
với chân tâm. Kết quả, chân tâm biến thành vọng tâm. Nếu thời thời
khắc khắc thường hồi quang phản chiếu, không khởi nhiều vọng tưởng,
và biết dụng công nơi tự tánh, thì sẽ trở về được với chân tâm. Lúc
đả Thiền Thất cũng là lúc chúng ta xả bỏ vọng tâm để trở về với chân
tâm và xả mê để trở về giác. Đó là lý do tại sao chúng ta xả bỏ hết
tất cả để đến nơi đây chạy hương, tọa hương. Đi, đứng, nằm, ngồi
cũng không nên xa rời Cái này, bằng không thì tạo điều sai lầm. Cái
này chính là một câu thoại đầu.
Như thị như thị quán
tự tại (như thế, là như thế; tự tại mà tham quán).
Tôi sẽ giải thích
cho quý vị hiểu rõ về cách chạy hương để không chạy quá nhanh. Chạy
chậm hay đi từ từ cũng không phải là chạy hương. Phải làm sao ? Phải
y theo quy củ, nhưng giữ tâm tự tại. Lúc đi, vẫn phải tham quán Ai
là người đang niệm Phật. Trước hết chúng ta đi khoảng từ mười lăm
đến hai mươi phút, rồi chạy hương. Chỉ chạy hương một vòng, hai vòng,
hoặc nhiều lắm là ba vòng trong thiền đường, rồi đánh mõ ra hiệu
dừng lại. Không nên chạy hương quá lâu, bằng ngược lại mọi người sẽ
mệt mỏi và đứt hơi khiến không thể dụng công được. Chỉ chạy một vòng,
hai vòng, tối đa là ba vòng; chạy cho đến khi cảm thấy thân thể của
mọi người vừa bắt đầu ấm trở lại thì ngay lúc ấy đánh mõ để ngừng
chạy, rồi bắt đầu ngồi thiền. Một khi khí huyết lưu chuyển lại khắp
thân thể thì phải bắt đầu tọa thiền.
Vào lúc ngồi thiền,
phải cứng rắn như bảo kiếm Kim Cang để có sức lực mạnh mẽ mà không
ai sánh bằng. Có ngồi thiền lâu thì mới nhập thiền định. Phải ngồi
như thế nào ? Vào lúc ngồi, tâm phải bình và khí phải tĩnh. Ngồi
thẳng như chuông; mắt quán mũi; mũi quán miệng; miệng quán tâm;
trong mọi lúc đều phải như thế. Chớ nên ngả phía trước, dựa phía sau,
nghiêng bên phải hay trái. Cách hay nhất là ngồi xếp bằng như tư thế
hoa sen hay Kim Cang, vì cách đó dễ giúp cho việc nhập định. Có
người nói: Đã ngồi xếp bằng được, nhưng chưa bao giờ nhập thiền định.
Lý do là vì quý vị vẫn luôn khởi vọng tưởng và không biết dụng công
chân chánh. Ngồi xếp bằng là cách ngồi hay nhất, rồi kế đến là ngồi
bán già (đặt chân trái lên chân phải). Nếu không thể ngồi được như
thế thì cứ ngồi theo bất cứ cách gì mà quý vị thích. Khi ngồi thiền,
phải như như bất động, liễu liễu thường minh (sáng suốt thường biết).
Phải cong đầu lưỡi lên để chạm với nứu hàm răng trên để hai mạch
Nhâm và Đốc nối nhau. Lúc đó, khí huyết trong người sẽ chảy đều và
quý vị sẽ cảm thấy an lạc tự tại. Nếu có nước bọt, có thể nuốt, vì
nó giống như nước cam lồ trưởng dưỡng mầm Bồ Đề.
Ngồi trong một thời
gian, quý vị sẽ bắt đầu cảm thấy ấm; khởi đầu từ bụng và lan khắp
thân, rồi trở về bụng. Cảm giác ấm áp xoay vần như thế được gọi là
giai đoạn nhiệt nóng. Thời gian sau, quý vị sẽ cảm nghiệm sự thay
đổi thêm về công xưởng hóa học của thân thể, tức là đạt đến giai
đoạn đảnh vị. Quý vị sẽ cảm nghiệm lúc có lúc không vài cảm giác
trên đỉnh đầu, vì không thể rờ mó nắm bắt được mà chỉ là cảm giác,
nhưng dường như là một cảnh giới không thể nghĩ bàn. Kế tiếp giai
đoạn đảnh vị thì là giai đoạn nhẫn. Trong giai đoạn đó, tuy khó chịu
về cảm giác ngày càng nặng trên đỉnh đầu, giống như có một mũi khoan
đang khoan xuống xương sọ, nhưng quý vị lại chịu đựng nổi; đến khi
được thông suốt thì gọi là Thế Đệ Nhất. Lúc đó, quý vị là đại trượng
phu trên thế gian.
Thiện tai, thiện
tai, ngộ thùy nhân (lành thay, lành thay, ngộ về chữ Ai)
Có bốn cảnh giới
thiền định: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Trước khi đạt
đến cảnh giới Sơ Thiền, đầu tiên sẽ trải qua cảnh giới khinh an, tức
là thân thể cảm thấy rất an lạc tự tại, được gọi là Pháp HỶ. Đạt đến
cảnh giới đó, có thể không ăn mà vẫn chẳng cảm thấy đói, không ngủ
mà vẫn chẳng cảm thấy mệt, không mặc đồ mà vẫn chẳng cảm thấy lạnh.
Đó là cảm giác khinh an nhẹ nhàng thư thái vào lúc vừa tu thiền. Dù
đi, đứng, nằm, ngồi đều cảm thấy như không còn chính mình vì không
biết bản ngã đã biến đâu mất.
Sau cảnh giới khinh
an thì nhập vào thiền định của Sơ Thiền. Lúc ấy, không còn cảm giác
về mình và mạch máu dường như ngừng đập. Quý vị sẽ cảm thấy như thân
tâm bao trùm khắp pháp giới; một hoặc hai giờ ngồi thiền trôi qua
cũng giống như chỉ trong giây phút. Tuy nhiên, chớ tự cho mình là
đặt biệt vì chỉ nếm chút ít thiền định ở giai đoạn sơ khởi. Sau khi
mạch máu dừng đập thì hơi thở cũng ngưng. Lúc hơi thở bên ngoài
ngưng thở qua lỗ mũi thì hơi thở thật bên trong bắt đầu hoạt động;
lúc đó không còn lệ thuộc vào hơi thở bên ngoài nữa. Khi tiếp tục
dụng công thì tâm niệm sẽ dừng. Khi không còn một niệm khởi lên và
tất cả vọng tưởng đều lặng mất thì hoà nhập vào bản thể tự tánh; đó
là Nhị Thiền. Tuy cho rằng ở Tam Thiền tâm niệm đều trụ vắng lặng,
nhưng thật ra vẫn còn một niệm vô minh thô.
Đến Tứ Thiền thì
tâm niệm thật sự bị đoạn dứt; tức là xả hết mọi tâm niệm. Tham Thiền
đến cảnh giới đó chính là cảnh giới Tứ Thiền hữu lậu và vẫn chưa
chấm dứt sanh tử hay chứng thánh quả. Để đạt đến sơ quả A La Hán,
phải đoạn trừ 81 phẩm kiến hoặc. Sao gọi là kiến hoặc ? Kiến hoặc
nghĩa là khởi tâm tham lam ái luyến đắm chấp vào cảnh giới bên ngoài.
Do thấy mà chấp trước nên bị mê hoặc. Sơ quả A La Hán được gọi là
nhập lưu, nghĩa là nhập vào dòng pháp tánh của thánh nhơn và đi
ngược dòng sáu trần của phàm phu. Bậc thánh nhơn chứng sơ quả A La
Hán không nhập vào sắc tướng, âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc,
pháp trần. Sáu cảnh trần này không thể làm dao động hay mê hoặc vị
này. Đó là sơ quả A La Hán. Hiện tại, chúng ta vẫn chưa đạt đến cảnh
giới Sơ Thiền; chưa có ai làm mạch máu ngưng đập được.
Nếu chưa đạt được
những cảnh giới đó, phải tinh tấn dụng công trong từng giây phút, vì
điều quan trọng là không nên lãng phí thời giờ. Cách hay nhất là
ngồi xếp bằng hoặc ngồi bán già. Nếu cả hai cách đều quá khó thì có
thể ngồi một cách tự nhiên. Vấn đề tu hành là tại tâm chứ không phải
tại chân. Nếu xả bỏ hết các vọng tưởng thì ngồi cách nào cũng tu
được. Nếu tâm tràn đầy vọng tưởng thì không thể tu hành thành tựu
dẫu có ngồi cách nào đi nữa. Tu hành bao gồm việc tu tâm dưỡng tánh.
Tu tâm có nghĩa là phải thường xuyên quán sát xem coi vọng tưởng nào
nhiều nhất. Có phải nhiều nhất là vọng tưởng tham dục, sân hận, ngu
si chăng ? Phải xoay về ánh sáng tự tâm mà quán chiếu; phải tự thanh
tịnh hóa vọng tưởng thì công phu mới có phần tương ưng. Dù ngồi theo
tư thế nào cũng phải dẹp trừ mọi vọng tưởng; hết vọng tưởng thì trí
huệ mới hiển hiện, bằng ngược lại thì không có trí huệ. Do đó, tu
hành là dụng công nơi đất tâm. Vì thế sự tu hành được gọi là pháp
môn tâm địa. Nếu tâm thường được thanh tịnh thì luôn luôn trụ nơi
Linh Sơn. Hành trì niệm Phật, tụng chú, trì giới, giảng kinh, ngồi
thiền, tất cả đều vì việc chế ngự tâm vào một nơi để dẹp trừ vọng
tưởng và giữ lại chân tâm. Trong từng phút giây phải tìm lại chính
mình để nhận ra gương mặt thật xưa nay của chính mình.
Đó là phương pháp
dụng công sơ khởi.
Tánh giác linh minh
nguyên phi vật (tánh giác nhiệm mầu sáng suốt vốn không phải là vật).
Trong khi tham
Thiền chớ mong muốn thấy cảnh giới này nọ; không mong muốn bất cứ gì
hết; ngay cả hư không cũng chẳng màng. Dù hư không có trống rỗng,
nhưng vẫn không cảm giác hoan hỶ hay sợ sệt. Nếu cảm nghiệm sợ hãi
thì sẽ gặp ma. Nếu cảm nghiệm hoan hỶ thì ma hoan hỶ sẽ đến. Hãy xem
qua 50 ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm; chúng có thể hiển hiện vào lúc
ngồi thiền. Nếu nhận rõ thì sẽ không bị chúng chuyển. Thế nên có câu:
Ma đến chém ma; Phật đến chém Phật. Dẫu Phật hay ma có đến cũng
không nên đắm chấp vào. Chớ chấp trước vào bất cứ cảnh giới gì. Chớ
suy nghĩ: Ồ ! Một vị Phật đang đến ! và sanh tâm vui mừng tột bậc;
đó là cảnh giới tà. Có cảm giác sợ hãi cũng không đúng; có cảm giác
thích thú hay không thích thú cũng không đúng. Do đó, phải ngồi
thiền tịch tĩnh, an nhiên bất động, mà không khởi tâm phân vân,
không chạy đuổi theo cảnh giới. Cảnh giới có hiển hiện thì cứ hiện
mà không đắm chấp để bị chúng chuyển. Nếu cảnh giới không hiển hiện
thì cũng không nên tìm cầu. Từ đời vô thủy đến nay, trong ruộng tâm
thức thứ tám, cảnh giới nào cũng có. Một khi tâm được vắng lặng thì
chúng sẽ xuất hiện. Nếu cứ mãi khuấy nước đục thì nó chẳng bao giờ
được lắng trong. Cũng vậy, nếu ngồi an nhiên bất động thì tâm niệm
tự nhiên sẽ được thanh tịnh tịch tĩnh.
Tâm thanh thủy hiện
nguyệt, ý định thiên vô vân (tâm thanh tịnh như mặt trăng hiện trong
nước; ý niệm định lại như bầu trời không còn mây).
Tâm được thanh tịnh
cũng giống như ánh trăng soi đáy nước. Thế nên, chớ màng cảnh giới
có thật hay có giả. Tinh tấn dụng công mới là chân thật. Tuy nhiên,
chớ hành giống như những người chẳng biết cảnh giới gì đang xảy ra
mà bảo: A ! Cảnh giới này không tốt. Bạn đã bị ma nhập rồi ! Thật ra,
vì tinh tấn dụng công nên mới thấy những cảnh giới đó. Nếu không
tinh tấn tu hành thì không có cảnh giới gì hiển hiện. Thế nên, chớ
sợ hãi. Sự hiểu biết chân thật là không chấp trước vào bất cứ điều
gì cả.
Trí quang biến
chiếu bổn lai chân (ánh sáng trí huệ chiếu rõ chân tánh xưa nay).
Hiện tại, chúng ta
muốn phát triển trí huệ; để làm được việc đó, trước hết chúng ta
phải chịu thọ khổ như dùng lửa trui rèn. Giả như quý vị là một đống
vàng thì phải dùng lửa trui để xem coi quý vị có phải là vàng thật
hay không. Nếu là vàng giả thì sẽ bị thiêu đốt. Nếu là vàng thật thì
không sợ lửa hồng. Nếu có mười lạng vàng thì vẫn là mười lạng dẫu có
nấu đến đâu. Nếu có mười lạng vàng giả thì khi nấu xong, có thể chỉ
còn lại một lạng. Hiện tại, chúng ta được tôi luyện để trở thành
thân kim cang bất hoại. Một khi đã luyện xong thì không còn sợ bom
nguyên tử, bom khinh khí, hay bất cứ vũ khí nguyên tử nào. Tại sao
chúng ta có cảm giác sợ sệt ? Vì chúng ta có thể bị hủy diệt. Tuyệt
đối không vật gì có thể hủy hoại thân kim cang bất hoại của quý vị
được. Tuy nhiên, trước hết phải chịu đựng vài sự cực khổ. Có người
nói: Thật đau khổ quá mức. Tôi không thể chịu nổi ! Ai cảm nhận đau
khổ ? Quý vị nói: Tôi cảm thọ sự đau khổ. Thế thì quý vị là ai ? Quý
vị đáp: Tôi chỉ là thân thể này. Nếu thân thể là quý vị thì sau khi
chết sẽ như thế nào ? Lúc đó thân thể ra sao ? Nếu lúc đó có ai đánh
đập hay chửi mắng xác thân của quý vị thì xác thân đó sẽ nhẫn chịu
được. Nó sẽ nhẫn chịu tất cả sự khổ đau mà không khó gì. Quý vị nói:
Lý do là vì tôi đã chết, nên không còn vấn đề gì cả. Vâng ! Tại sao
không giả chết ngay trong hiện tại ?
Nhược yếu nhân bất
tử, tu tạo hoạt tử nhân (nếu ai muốn tránh chết, phải sống như người
đã chết).
Nếu muốn sống thì
trước hết phải cố thử chết. Có phải Tự tử chăng ? Không phải. Chỉ
sống như người đã chết. Nếu nhìn mọi việc với cách nhìn của người đã
chết thì sẽ không còn tranh đua, tham lam, sân hận, ngu si.
Tất cảc chư Phật,
chư Bồ Tát, và lịch đại Tổ-sư xuyên qua dòng thời gian đã từng thành
tựu nhờ phương pháp này. Các ngài xuất sanh từ pháp môn này. Hiện
tại, chúng ta chớ sợ khổ cực mà phải tinh tiến tu hành, nhận chân
được việc tu trì, xả bỏ muôn vọng tưởng. Chớ làm biếng giãi đãi. Vẫn
còn chút khí lực nào thì vẫn chạy hương và tọa hương. Chúng ta mượn
cái giả để tu tập chân tâm. Càng khó khăn chừng nào phải càng quyết
tâm vượt qua chừng đó. Mọi người thích làm việc dễ dàng. Chúng ta
phải làm những gì mà người khác không thích; phải nhẫn những gì họ
không dám nhẫn. Chỉ có sự tinh tiến dũng mãnh đó mới thành tựu trí
huệ chân thật. Đấy là ý nghĩa của việc rèn luyện thân kim cang bất
hoại trong lò lửa hồng. Sau khi tôi luyện xong, thân mạng sẽ trở nên
mạnh mẽ và trí huệ sẽ phát sanh.
Nơi thiền đường,
phải tự rèn luyện thân lẫn tâm. Thân tránh việc giết hại, ăn cắp, tà
dâm; tâm tránh khởi tham, sân, si. Bằng cách đó chúng ta tinh tấn
hành trì giới định huệ để diệt trừ tham sân si. Không thể nào tạo
nghiệp ngay trong thiền đường. Dù có thể có những vọng tưởng ngây
dại, nhưng không thể làm theo chúng. Nhờ tránh nghiệp giết hại, ăn
cắp, tà dâm, thân nghiệp được thanh tịnh hóa về những tập khí xấu.
Một khi gìn giữ thân nghiệp và tâm được thanh tịnh cùng chuyên nhất,
chúng ta phá vỡ màn vô minh và khôi phục lại trí huệ sẳn có. Tuy
nhiên, vẫn còn đắm chấp vào thân tâm thì khó lòng xoay về cội nguồn
và xả tà ngụy để quay về nẻo chánh. Chúng ta chưa có thể xả bỏ thân
thể, bản ngã, và ngã sở. Chỉ người có thiện căn mới xả bỏ hết mọi
chấp trước về bản ngã và pháp trần. Nếu nhìn thấy thân vốn không (thật
có) thì phá được sự chấp ngã. Nếu đạt thiền định thì pháp chấp cũng
không còn. Không chấp vào ngã và pháp thì sẽ vượt ngoài thế sự,
thoát khỏi sự chướng ngại của tình chấp, và không bị vật chất dục
lạc làm ô nhiễm. Không còn chấp trước tức là giải thoát. Tuy nhiên,
khó có thể hành được điều này. Nếu thật sự không còn chấp vào mình
và người thì Pháp thân sẽ biến khắp pháp giới. Điều đáng thương hại
là không một ai trong số chúng ta có thể làm được điều này ! Có ai
biết được rằng sẽ còn bao nhiêu đại kiếp nữa chúng ta mới đạt đến
cảnh giới này ?
Lúc tu hành, chúng
ta phải bố thí thân thể cho thiền đường. Phải trì giới bằng cách
tránh làm điều xấu và luôn hành việc lành. Phải kiên nhẫn chịu đau
khổ. Không thể đánh mất một tâm niệm tu hành nào cả. Khi thời điểm
đến, trí huệ tự nhiên sẽ hiện tiền và ánh sáng trí huệ Bát Nhã chiếu
soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Song, phải cần trải qua thời
gian tôi luyện. Do đó có câu: Không thọ lạnh rét mùa đông thì hoa
mai làm sao tỏa hương thơm ?
Muốn làm thành tựu
việc gì cũng cần phải có thời gian. Vừa gặp thử thách khó khăn mà
thối chuyển thì không thể nào đạt thành tựu gì được.
Thật tướng Bát Nhã
tại kỳ trung (nhận thấy tướng Bát Nhã ngay trong đó).
Pháp môn tham thiền
là Vô vi mà vô bất vi; nghĩa là vào lúc ngồi thiền, không làm gì
nhiều cả. Tuy nhiên, nếu có một người tham Thiền thì một người hỗ
trợ cho chánh khí của Pháp giới. Nếu mọi người đều tham thiền thì
trên thế gian không còn chiến tranh.
Hỏi: Có cần phải
ngồi để tham thiền không ?
Đáp: Vâng ! Ngồi
thiền lâu mới nhập vào thiền định; nghĩa là tham thiền đi cùng với
việc ngồi thiền. Ngồi thiền được lâu thì sẽ cảm nghiệm những cảnh
giới không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên, bên cạnh việc ngồi thiền, thiền
sinh chân chánh cũng phải hành thiền vào lúc đi, đứng, nằm. Trong
bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, không có giây phút nào mà không
tham thiền. Thiền sinh không màng thế sự mà thường chiếu cố vào câu
thoại đầu của mình Ai là người đang niệm Phật đến độ không còn thời
gian để ăn uống ngủ nghỉ. Dẫu đi, đứng, nằm, ngồi đều phải tiếp tục
tham quán thoại đầu cho tới khi đạt đến sơn cùng thủy tận (tận cùng
non nước), tức là tham quán đến cực điểm.
Tham thiền cần phải
chuyên nhất. Khi sự chuyên nhất đạt đến cực điểm thì sẽ có khả năng
đương đầu với sự việc. Có câu: Khi đạt đến nơi cực điểm thì sẽ
chuyển đổi. Dẫu là việc gì, khi đạt đến cực điểm đều có thể đương
đầu với chúng. Hiện tại, vào lúc ngồi thiền, chớ than khóc khi chân
vừa đau. Lúc đau nhức đến cực điểm, nó sẽ ngừng và quý vị sẽ cảm
nghiệm cảnh giới vi diệu không thể nghĩ bàn. Không có cách nào để
diển tả cảnh giới đó được mà chỉ chính quý vị tự cảm nghiệm lấy. Một
khi bị đau nhức đến độ cùng cực thì sẽ không còn đau nhức vì đã vượt
qua cửa ải đau nhức. Tuy nhiên, vượt qua cửa ải đó xong cũng chưa đủ.
Thời gian sau sẽ có thêm cửa ải này, rồi đến cửa ải khác. Có thể sau
một giờ mới vượt qua cửa ải thứ nhất. Song, khi ngồi thêm một tiếng
rưỡi nữa thì đau nhức trở lại. Tại sao vậy ? Vì khí huyết chảy đến
độ muốn vượt khỏi thêm một cửa ải nữa. Do đó, quý vị phải nhẫn chịu
sự đau thêm cho đến khi không còn đau nhức. Một khi đau nhức tan mất,
quý vị sẽ cảm thấy rất an lạc, tự tại không thể diễn bày. Lúc ấy,
quý vị sẽ cảm thấy trời đất đều thái hòa.
Phải vượt qua những
cửa ải đó để gặt sự lợi lạc. Nếu la khóc giống như trẻ con khi vừa
bị đau thì không bao giờ có khả năng vượt qua những cửa ải đó. Phải
kiên nhẫn chịu đựng những gì không thể nhẫn nổi ! Hãy cắn răng chịu
đựng ! Tuy nhiên, phải cương quyết ! Chớ sợ đau nhức hay khó khăn !
Với ba lực vô úy đó, quý vị sẽ có khả năng vượt qua các cửa ải.
Tại sao ngồi trong
thiền đường chúng ta lại không có đủ định lực để nhẫn chịu chút ít
đau, nhức, hay khó khăn ? Tại sao lại cảm thấy không thể nhẫn nổi
đến độ phải rên la ? Vì chúng ta không có chút định lực và chưa vượt
khỏi những cửa ải đau, nhức, khó khăn đó. Hiện tại, nếu vượt qua
chúng được thì chúng ta sẽ đạt được sự an lạc tự tại. Nếu chịu đựng
đau nhức cùng cực đến độ quên cả mình thì sao còn sự đau nhức nào ?
Làm bất cứ việc gì, phải làm đến độ cùng cực. Lúc đến sự thanh tịnh
cùng cực thì ánh sáng sẽ chiếu suốt. Khi định lực và tâm thanh tịnh
đạt đến cực điểm, hào quang trí huệ tự nhiên sẽ hiển hiện và sẽ khai
ngộ. Ngày ngày đều mong muốn được khai ngộ, nhưng mong muốn loại
khai ngộ nào nếu không thể chịu đựng chút ít đau nhức ? Sao chẳng
cảm thấy tự xấu hổ ?
Có người than vãn:
Trong thiền đường có quá nhiều tiếng động như người này thì ho,
người kia thì ngáy ngủ, người nọ thì cựa quậy khiến chiếc ghế ngồi
thiền kêu răng rắc. Không thể nhẫn chịu được tiếng động ! Điều này
có thể xảy ở mọi nơi. Có thể tránh tiếng động này, nhưng tiếng động
khác lại đến. Nếu biết cách dụng công, thì khi có động hay tĩnh, quý
vị sẽ không bị chúng chuyển, nghĩa là không chú ý về chúng. Hoặc đôi
mắt có thể chạy theo cảnh động và tĩnh, nói: Người đó thật làm phiền,
khiến tôi không thể nhập định. Dù người khác không tạo ra tiếng động,
quý vị vẫn không thể nhập định được. Nếu nhập định được thì sẽ không
chú tâm vào sự động hay tĩnh của người khác. Do đó, vào lúc ngồi
thiền, chớ mong muốn phải hoàn toàn im lặng. Có thể tiếng động càng
lớn thì sự khai ngộ càng mau. Không cáu gắt vì tiếng động. Ngược lại,
nếu quá im lặng, không nên tìm cầu tiếng động; chúng chỉ là những
cảnh giới thử thách.
Nếu biết dụng công
thì ngay trong phố xá đô thị cũng có thể tu hành được. Ngược lại, sẽ
không thể nào tu hành dù có lẫn trốn vào hư không. Không có chỗ nào
là nơi tu hành hoàn hảo nhất. Phải khắc phục hoàn cảnh. Gặp bất cứ
hoàn cảnh nào, chớ nói: Than ôi ! Hoàn cảnh này sao bi đát quá ! Dời
đi nơi khác, hoàn cảnh có thể còn tệ hơn. Cứ mãi dời chỗ này sang
chỗ khác cho đến khi trong vũ trụ không còn nơi nào thích hợp cả.
Nếu khắc phục được hoàn cảnh thì mọi nơi đều giống nhau. Chư Phật
không chọn lựa nơi các ngài thành đạo, vì bất cứ chỗ nào cũng có thể
chứng đắc quả vị Phật.
Phải học cách nhẫn
nhục. Nếu giữ được tư thế bất động ngay cả lúc rất khó chịu, quý vị
sẽ có chút định lực, rồi sẽ phát sanh chút trí huệ. Có phải quý vị
bảo rằng muốn trì giới chăng ? Ngồi tham thiền chính là đang trì
giới, tức là trì giới nhẫn chịu đau nhức ! Lúc ngồi thiền tham quán
câu Ai là người đang niệm Phật mà không ngừng trong giây phút nào,
thì thử hỏi quý vị sẽ phạm giới gì ? Quý vị có tạo nhiều nghiệp xấu
chăng ? Đang khi ngồi thiền có phạm tội giết hại chăng ? Quý vị có
những tâm niệm như: Hắn thật đáng ghét. Tôi sẽ giết hắn chăng ?
Không. Quý vị có nghĩ về việc ăn cắp chăng ? Không. Tránh nghiệp
giết hại và ăn cắp chính là đang trì giới. Nhờ tham thiền quý vị tự
nhiên giữ giới mà không cố gắng, rồi dựa vào đó mà phát khởi thiền
định.
Nếu không tham
thiền, tất cả vọng tưởng khởi lên trong tâm sẽ dẫn dắt quý vị đi tạo
nghiệp giết hại, ăn cắp, tà dâm, nói láo, hay uống rượu. Một tâm
niệm sai lầm có thể dẫn đến biết bao nghiệp xấu. Ngược lại, nếu ngồi
thiền thì những vấn đề đó đều tan biến trong khi tự nhiên giữ giới
mà không cố gắng. Nếu có thể chịu đựng sự đau nhức, thì sự giữ giới
tự nhiên đó sẽ phát sanh thiền định, rồi từ đó phát sanh trí huệ.
Lúc ấy, quý vị tinh tấn tu giới định huệ để diệt trừ tham sân si.
Với ý chí tu hành, quý vị tẩy trừ tham lam và không còn nóng giận
khi bị người khác đánh đập. Khi ngồi thiền quán, vô minh sẽ biến mất
và tâm cuồng tánh loạn sẽ tiêu tan. Xin hỏi chứ có phải đó là những
điều lợi lạc vô cùng chăng ? Đó là lý do tại sao bảo rằng tham thiền
là pháp môn bao trùm hết tất cả pháp môn. Khi tham thiền đúng đắn,
càng hành nhiều chừng nào thì càng mau khai ngộ hay minh mẫn chừng
ấy. Phải tránh loại thiền chết vì cách đó khiến chúng ta bị ngu si
thêm, không thể phân biệt nam bắc hay ngày đêm, thể như uống thuốc
mê.
Bổn địa phong quang
nguyên như thử (cội nguồn xưa nay của chúng ta vốn là gì ?).
Mọi hơi thở, cử chỉ,
lời nói, hành vi, suy nghĩ, phản ứng đều ảnh hưởng đến thời gian và
không gian trong vũ trụ. Cũng vậy, khí lành, khí xấu, khí thanh tịnh,
khí ô nhiễm trong vũ trụ đều ảnh hưởng đến chúng ta. Nếu thật sự
muốn xoay về bổn gốc thanh tịnh và thấy rõ mặt mũi xưa nay của mình,
thì phải xả bỏ tất cả sự chấp trước về thân tâm cũng như nhìn xuyên
suốt tất cả sự vật. Chúng ta phải chịu đựng sự tôi luyện trong lò
lửa hồng trước khi phần thanh tịnh được tách khỏi phần ô nhiễm. Trí
huệ sẽ hiển hiện một khi tư tưởng và hơi thở đã được thanh tịnh hóa.
Vẫn còn phần ô trọc thì phần thanh tịnh chưa được đầy đủ, nghĩa là
sự ngu si của chúng ta vẫn còn đầy dẫy. Thế nên, đi và ngồi trong
thiền đường cũng giống như lắng đọng bùn xuống đáy nước, để nước tâm
được thanh tịnh trong sạch. Kế đến, nếu chúng ta lọc cặn cấu nơi đáy
nước thì pháp thân thanh tịnh sẽ hiển hiện. Lọc cặn cấu bùn nhơ
nghĩa là thấy tâm rõ tánh (minh tâm kiến tánh), xoay về cội nguồn,
bước lên đường trở về nhà để tìm xem nguyên quán của mình như thế
nào.
Trong việc tu hành,
phải thanh tịnh hóa trong và ngoài. Thanh tịnh hóa bên trong nghĩa
là không khởi những vọng tưởng điên rồ. Thanh tịnh hóa bên ngoài
nghĩa là không tạo tác những hành vi lầm lẫn. Bên trong thì phải vun
bồi đất tâm và dưỡng Phật tánh như chư thánh hiền. Bên ngoài thì
phải hành động như vì vua bằng cách tránh làm việc xấu, thường làm
việc lành, và mang lại lợi ích cho tất cả chúng sanh. Bên ngoài tạo
công để thành tựu quả lành bên trong; nghĩa là ngoài lập công, còn
trong thì tạo đức. Lập công có nghĩa là làm lợi ích cho tất cả chúng
sanh. Khi giúp người khác, chớ nên khởi niệm chấp trước là mình đang
làm lợi ích cho họ; phải xem như không có gì xảy ra. Vừa có sự chấp
trước thì liền chấp tướng. Lập công tạo đức làm lợi ích cho chúng
sanh là bổn phận mà chúng ta phải làm. Chớ giữ ý niệm mình đang làm
lợi ích cho họ để khi làm xong, không chấp gì cả. Ngoài thì làm lợi
cho người, còn trong thì làm lợi cho mình chính là ngồi tham thiền.
Ngồi thiền được phút giây nào thì có sự lợi ích của phút giây đó.
Những gì là lợi ích ? Khi ngồi thiền đến độ hoàn toàn tịch tĩnh, ánh
sáng thanh tịnh cùng cực chiếu suốt và quý vị sẽ cảm thấy dường như
trong không còn thân tâm, cũng như ngoài thì không còn thế giới. Khi
không ngồi thiền mà vẫn nhập vào cảnh giới này, thì được gọi là động
tĩnh nhất như (trong động hay trong tĩnh lặng, tâm niệm đều như nhau).
Nói cách khác, khi ngồi tĩnh tọa hay di động đều không khởi cứ vọng
niệm nào. Động là tĩnh và tĩnh là động, tức là không còn có hai.
Khi công phu được
như thế, quý vị sẽ thường nhập trong thiền định. Thế nên có câu:
Thời thời thường trong định. Chẳng có lúc nào mà không định.
Nhất cử nhất động
đều trong định; mọi ngôn từ, hành vi, đi, đứng, nằm, ngồi đều được
hành trong định.
Mắt xem thấy sắc
nhưng trong tâm lại trống không. Tai nghe âm thanh nhưng nào biết
đến.
Để đạt đến cảnh
giới thiền định này cần phải ngồi tham thiền. Trải qua thời gian dài
dụng công thì sẽ đạt đến đó.
Nếu thật sự dụng
công hay đến độ tương ưng với đạo thì không còn biết đói khát, lạnh
nóng, tức là chẳng màng việc gì. Nếu đạt đến cảnh giới đó, quý vị sẽ
biết rõ tất cả mọi việc. Làm việc gì, nếu làm hoàn toàn đến độ cùng
cực thì sẽ có sự thay đổi. Cũng vậy, khi đạt đến điểm cùng cực của
sự tĩnh lặng thì dao động hiển hiện. Ngược lại, khi dao động đến cực
điểm thì tĩnh lặng hiển lộ. Điển hình, ban ngày là động và ban đêm
là tĩnh. Trời tối sẫm mãi rồi cũng phải hừng sáng. Ngày sáng mãi rồi
cũng hoàng hôn. Do đó, một ngày một đêm chính là một động một tĩnh.
Nếu biết cách dụng công thì tu hành cho đến độ cái động không làm
chướng ngại cái tĩnh và cái tĩnh không làm chướng ngại cái động;
trong động có tĩnh và trong tĩnh có động. Lúc đó, sẽ nhận thấy trong
chân không có diệu hữu và trong diệu hữu có chân không.
Chúng ta phải quyết
chí tham thiền cho đến khi nhận rõ mình là ai. Do mê lầm, chúng ta
đến cõi này. Cuộc đời vô ý nghĩa nếu vẫn tiếp tục chết trong mê mờ.
Chúng ta nhất định phải biết tại sao sanh ra ở cõi này và chết rồi
sẽ đi về đâu. Chúng ta có thể chết một cách tự do tự tại chăng ? Mục
đích tu hành của chúng ta là phải đạt được sự tự tại trong sanh tử
vì đó mới là sự tự do chân thật, tức là khả năng đến đi bất cứ nơi
nào mà mình thích chứ không có phiền muộn lo âu. Nếu muốn đến cõi
Tây Phương Cực Lạc, chúng ta chỉ việc ngồi xếp bằng trong tư thế hoa
sen, giã từ mọi người rồi đi vãng sanh. Đó mới gọi là sự giải thoát
sanh tử chân thật.
Có câu: Để thoát
chết, phải dụng công rốt ráo.
Để thoát dòng sanh
tử, phải tu hành mà không sợ chết. Không nên sợ đau nhức, khổ sở,
nhọc nhằn, khó khăn, hay bất cứ điều gì.
Thiền là thể chính
yếu của chư Phật. Chư Phật trong mười phương xuất sanh từ thiền định.
Nếu thiếu công phu tu thiền định, quý vị không thể nào khai ngộ hay
chứng đắc quả vị Phật. Chúng ta không thuộc vào bất cứ tông phái nào
như Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Vân Môn. Chúng ta bao
trùm toàn thể. Ví dụ, nếu cái bàn này biểu trưng cho sự hiện hành (tác
dụng) của toàn thể thì chúng ta cũng giống như cái bàn tròn chứ
không phải là một góc cạnh nào đó. Đó là lý do tại sao chúng ta phải
làm hết sức tự nhiên mà không khoe khoang.
|