|
HÁM SƠN
ÐẠI SƯ
TỰ TRUYỆN
Tỳ Kheo Thích Hằng Ðạt Việt dịch
~oOo~
Xuất Gia
Có ai ngờ rằng chú tiểu Sa Di tại chùa Viên Giác ở Hào Châu (nay là huyện Phượng
Dương, tỉnh An Huy), sau này trở thành Hoàng Ðế khai quốc của triều Minh. Chú
tiểu đó là Minh Thái Tổ, Chu Nguyên Chương. Trong lịch sử nước Tàu, có rất nhiều
vị hoàng đế xuất gia đi tu, nhưng chỉ có một chú tiểu Sa Di được làm Hoàng Ðế.
Chu Nguyên Chương hiểu rõ Phật giáo rất quan trọng trong việc định lập trật tự
xã hội. Ðồng thời ông cũng thấy rõ triều Nguyên rất sùng tín Lạt Ma Giáo. Những
Lạt Ma thời đó thường lạm quyền hoành hành, khiến dân chúng ta thán. Ðây là
nguyên nhân mất nước quan trọng của triều Nguyên.
Từ những năm đầu khai quốc,
Chu Nguyên Chương vừa nể sợ vừa lợi dụng Phật giáo. Ông biết rõ rằng đối với sự
duy trì ngôi vua, Phật giáo có tác dụng tối quan trọng. Thế nên, ông rất tán trợ,
bao dung Phật giáo. Lại nữa, vừa khi khai sáng triều Minh, dân chúng luôn ước
vọng hòa bình, an định cuộc sống sau những năm dài chiến tranh. Thời đó, Phật
giáo ảnh hưởng sâu đậm vào cuộc sống hằng ngày của dân chúng, nên được xem là
quốc giáo. Vì vậy, sau ông Chu Nguyên Chương những Hoàng Ðế triều Minh luôn tiếp
tục ủng hộ Phật giáo phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, chỉ có triều Minh Thái Tông
là tin theo đạo giáo mà bài báng Phật giáo. Nói chung, từ Minh Thái Tổ đến Minh
Hiển Tông, chùa viện được xây cất hàng ngàn, chư tăng lui tới kinh đô hàng vạn.
Phật giáo trong đời Minh được phát triển khắp nơi. Sự quan hệ giữa tăng sĩ cùng
hoàng thân quốc thích ngày một thân thiết. Chư
tăng thường được trực tiếp kiến diện Hoàng Ðế cùng các vị cao quan hiển quý. Vì
vậy, chư tăng có khi được vinh hoa cùng bị họa hạn, có lúc được ban đại y đỏ tím,
có lúc bị liên lụy thị phi đến quan trường. Ðến cuối đời Minh, toàn quốc có
khoảng năm trăm ngàn tăng ni. Vì vậy, Toàn Tiêu tuy là huyện thành nhỏ, nhưng
lại có rất nhiều chùa viện lớn nhỏ.
Năm mười hai tuổi, Ngài
đến chùa Báo Ân, là một ngôi chùa lớn và danh tiếng nhất tại Kim Lăng. Hòa
thượng trụ trì là ngài Tây Lâm, uyên thân Phật pháp, đạo cao đức trọng. Thời ấy,
kinh đô tuy đã dời lên Bắc Kinh, nhưng Kim Lăng (Nam Kinh) vẫn là trung ương cơ
cấu trọng yếu. Vì vậy, quyền hành thì đã dời lên Bắc Kinh, nhưng cơ cấu trung
ương tại Kim Lăng vẫn tồn tại. Nhiều quan lại tại Kim Lăng trong những lúc nhàn
rỗi thường qua lại với các vị cao tăng. Hòa thượng Tây Lâm cùng quan lại liên hệ
rất mật thiết. Ðệ tử của hòa thượng Tây Lâm sau này viết lại:" Hòa thượng trụ
trì chùa Báo Ân, Vĩnh Ba, hiệu Tây Lâm tự Nhất Mã.
Ngài thường lui tới bộ Lễ. Lên ngựa,
Ngài tụng kinh 'Kim Cang', 'Pháp Hoa'. Vừa xuống ngựa thì Ngài đã tụng kinh xong."
Năm mười hai tuổi, tuy bảo là xuất gia nhưng thực
chất thì không phải. Nhân vì tuổi Ngài quá nhỏ, mà tiền đồ lại quá xa, nên chưa
được chính thức cạo tóc xuất gia. Lúc gặp Ngài, hòa thượng Tây Lâm rất vui mừng,
xoa đầu bảo cha mẹ Ngài:" Vợ chồng thí chủ thật rất may mắn có được đứa con trai
cốt khí phi phàm. Nếu chỉ do tăng sĩ tầm thường dạy dỗ thì thật đáng tiếc."
Bà Thái Hồng Thị thưa:" Bạch Hòa Thượng ! Cầu mong Ngài thương
tình chiếu cố, dạy dỗ cho nó được thành tài."
Hòa thượng Tây Lâm bảo:" Thí chủ an tâm ! Nếu không hiềm nghi, bần
tăng tuy đạo hạnh thô thiển, nhưng sẽ tận tâm dạy dỗ nó."
Nghe thế, Ngài liền chắp tay xưng:" Bạch Sư Phụ !"
Hòa thượng Tây Lâm rất vui mừng, bảo:" Ðầu tiên, nó sẽ học tập
dưới sự chỉ dạy của bần đạo. Tương lai, nếu có duyên lành, nó sẽ gặp bậc minh
sư, chỉ dạy đàng hoàng. Phật giáo phát triển quảng đại là nương nhờ nơi thằng bé
này đây."
Nghe lời này, cả Thái Ngạn Cao cùng bà Thái Hồng Thị không đành
lòng cho con mình xuất gia, chỉ cho phép ở lại để học Phật pháp.
Ðược đồ đệ này, hòa thượng Tây Lâm rất vui mừng đắc ý, nên lập tức
đưa Ngài đến gặp lão bằng hữu, pháp sư Vô Cực. Khi ấy, pháp sư Vô Cực đang giảng
kinh tại điện Tam Tạng. Nơi đó, hòa thượng Tây Lâm lại có một vị bằng hữu, ông
Triệu Ðại Châu (danh Trinh Các, sau này làm quan đến chức Lễ Bộ Tri Lang, Anh Võ
Ðại Học Sĩ). Pháp sư Vô Cực cùng ông Triệu Ðại Châu khi thấy Ngài, rất vui mừng,
bảo hòa thượng Tây Lâm:" Này Sư Huynh ! Ngài tìm ra đâu được một thằng bé khôi
ngô vậy ?"
Hòa thượng Tây Lâm hỏi lại:" Thằng nhỏ này, tương lai có thể là
bậc xuất chúng không ?"
Triệu Ðại Châu đáp:" Ðừng nói chi là xuất chúng, tương lai nó
quyết sẽ thành một nhân vật vĩ đại."
Tuy vậy, ông vẫn còn hoài nghi là không biết Ngài có muốn làm
tăng sĩ chăng, nên hỏi:" Ngươi thích làm quan hay làm Phật ?"
Không đợi Ngài trả lời, ông nói tiếp:" Làm quan to thì tận hưởng
vinh hoa phú quý, còn làm Phật thì khổ cực muôn vàn. Ta thấy ngươi hãy nên học để
thi cử ra làm quan to."
Nào ngờ, thằng bé mười hai tuổi lại đáp:" Tôi chỉ muốn làm Phật
thôi."
Nghe thế, pháp sư Vô Cực và Triệu Ðại Châu đều kinh hoàng. Triệu
Ðại Châu nói với hòa thượng Tây Lâm:" Tiền đồ của thằng bé này thật không thể hạn
lượng. Ngài nên tận lực dạy dỗ nó. Bằng không, thật rất uổng phí !"
Pháp sư Vô Cực lại tiếp tục giảng kinh. Ngài tham dự, chuyên tâm
chú ý lắng nghe giảng giải. Sau buổi giảng kinh, Triệu Ðại Châu hỏi Ngài:" Ngươi
có hiểu gì về lời giảng giải của pháp sư Vô Cực không ?"
Câu hỏi này rất khó đối đáp, vì nếu Ngài trả lời là hiểu rõ thì
không phải là lời chân thật, còn nếu trả lời là không hiểu thì tự bảo rằng trí
huệ thấp kém, sẽ khiến cho hòa thượng Tây Lâm mất mặt. Vì vậy Ngài đáp:" Tuy tôi
không hiểu hết những đạo lý thâm sâu, nhưng tôi cảm giác tâm mình khế hợp với lời
giảng của pháp sư Vô Cực."
Triệu Ðại Châu hỏi tiếp:" Như thế nghĩa là gì ?"
Ngài đáp:" Tuy tôi muốn nói, nhưng không thể diễn đạt được."
Câu trả lời của Ngài thật rất chân thật.
Lúc ấy, hòa thượng Tây Lâm, được bảy mươi lăm tuổi. Tuy mắt vẫn
còn sáng, tai vẫn còn thinh, nhưng khi tụng kinh, niệm Phật, giảng giải, khí lực
không bằng người trẻ tuổi. Do đó, hòa thượng Tây Lâm không thường dạy dỗ Ngài trực
tiếp, mà giao trách nhiệm đó cho các sư huynh. Tuy vậy, hòa thượng cũng thường
thường gián tiếp nhắc nhở Ngài đi đúng trên con đường chánh pháp. Việc học hành
của Ngài ngày một tiến bộ. Ngài rất thông minh sáng suốt, vừa học xong liền hiểu
rõ ngay. Hòa thượng Tây Lâm thấy thế, khuyên bảo Ngài nên học nho giáo trước khi
nghiên cứu kinh điển Phật giáo, để có đủ kiến thức về pháp thế gian.
Hai năm sau, hòa thượng Tây Lâm bảo đệ tử lớn là Tuấn Công, dạy
Ngài học kinh Pháp Hoa. Trong vòng ba tháng, Ngài học thuộc lòng bộ kinh này.
Hòa thượng Tây Lâm bảo đại chúng:" Thằng bé này thiên tánh rất thông minh lanh lợi.
Tương lai nếu được gặp minh sư chỉ giáo, sẽ trở thành bậc long tượng đại khí."
Thật ra, đạo hạnh học vấn của hòa thượng Tây Lâm dư sức để dạy dỗ
đứa bé mười bốn tuổi, nhưng lại khiêm tốn bảo rằng không đủ sức để dạy dỗ chu
toàn. Chứng minh hòa thượng Tây Lâm rất khiêm nhường, thương mến và trọng nể
Ngài. Tuy là bậc cao tăng, hòa thượng Tây Lâm không chấp nê hình thức, chỉ lo lắng
cho tiền đồ tương lai của Ngài. Bằng chứng cụ thể, năm Ngài được mười bảy tuổi
hòa thượng Tây Lâm mời các ông đồ về chùa dạy kèm Ngài những môn học thuộc Nho
Giáo như 'Ðại Học', 'Trung Dung', Luận Ngữ', 'Mạnh tử', 'Ngũ Kinh', cho đến văn
chương, thi cú, điển nhạc của các danh nhân xưa nay.
Trí huệ của Ngài thật sáng suốt lanh lợi hơn người. Ngài học
hành thu thập lẹ làng, xuất khẩu thành chương, viết lách thành thơ, văn chương rất
gọn gàng uyển chuyển. Qua bài 'Giang Thượng Thiên', danh tiếng của Ngài nổi bậc.
Người đương thời trong thành Kim Lăng, xem Ngài là bậc tài hoa trẻ tuổi bậc nhất.
Thời bấy giờ, học Ðạo giáo như một phong trào vì sụ ảnh hưởng mạnh mẽ của vua
Gia Thanh, vị vua rất cuồng tín Ðạo giáo. Ngài có ghi lại là vào khoảng năm
1563, một vị quan văn đến chùa thuyết giảng và tự nói là theo Ðạo giáo. Học sinh
trong chùa lúc đó được huấn luyện như lễ sinh, thường tham dự những lễ lộc của Ðạo
giáo. Học sinh được lên lớp chỉ nhờ làm lễ Ðạo giáo. Trong sự học Nho giáo, thơ
văn cổ xưa, Ngài luôn vượt xa các bạn đồng học. Tuy nhiên, Ngài rất khinh thường
Ðạo giáo. Chùa Báo Ân không những huấn luyện các Sa Di mà còn dạy dỗ các học
sinh của Ðạo giáo và Nho giáo, những người có ý muốn lên kinh đô thi làm quan
sau này. Dạy Ðạo giáo trong chùa Phật giáo phản ảnh sự tương dung giữa hai tôn
giáo và cũng có thể là kết quả của sắc lệnh nhà vua, muốn mang Phật giáo và Ðạo
giáo hợp nhất tại một tùng lâm. Cho dầu muốn thọ giới để trở thành tăng sĩ, hay
thành đạo sĩ, hoặc làm quan, thí sinh phải thi và được khảo hạch theo tiêu chuẩn
của triều đình. Ngoài ra, vào thời ấy nếu ai muốn làm tăng sĩ hay đạo sĩ, có thể
mua giới điệp với một số tiền. Do đó, nhiều nhóm học sinh đạo giáo và tăng sinh
Phật giáo được dạy dỗ chung tại một nơi, là điều tự nhiên.
Chùa Báo Ân là một trong những trung tâm giáo dục
quan trọng tại vùng Nam Kinh. Thật tế, vị thầy trụ trì chùa Báo Ân, hòa thượng
Tây Lâm, nhậm chức Giác Nghị tại triều đình. Vã lại, chùa được coi là tài sản của
triều đình vì được kiến thiết bằng ngân quỹ từ quốc khố. Ðể tránh sự khinh rẻ,
hòa thượng Tây Lâm khuyến khích các đệ tử học Nho giáo, Ðạo giáo và các cổ văn
khác. Dưới đây là bài tham luận của ông Trầm Ðức Phù (1578-1642) về đạo Phật tại
Nam kinh trong thời vua Vạn Lịch:
"Chư Tăng tại hai kinh đô (Bắc Kinh và Nam Kinh), được giám sát
bởi bộ Lễ của triều đình. Bất cứ khi nào có trống chức trụ trì thì bộ Lại ra những
bài thi khảo hạch chư tăng ở trong chùa. Vị tăng nào đạt tiêu chuẩn cao nhất sẽ
làm phương trượng trụ trì. Lúc trước, tôi có đến thăm ba ngôi chùa lớn tại Nam
Kinh, và nhận thấy những vị trụ trì rất lịch sự hào hoa. Ba ngôi chùa Linh Cốc,
Thiên Giới, và Báo Ân là những ngôi chùa lớn nhất trong vùng, vì có khoảng hàng
ngàn tăng sinh... Vị trụ trì chùa Linh Cốc tuổi khoảng hai mươi. Hình dáng rất
tuấn tú và khôn khéo. Bài khảo hạch mà thầy trụ trì đưa cho tôi xem, thật không
khác bài của các học giả Nho giáo, được viết theo vần tám câu. Trong đó cũng có
những câu thơ vịnh sắc sảo. Chủ đề được rút ra từ kinh Kim Cang, Thủ Lăng Nghiêm,
và các kinh điển khác. Những ai trúng tuyển được gọi là Giáo Thọ Sư và gọi đồng
bạn những tăng sinh cùng dự buổi khảo hạch là Ðồng Học. Những việc này thật rất
buồn cười."
Bàn về sức khỏe, thân thể Ngài yếu kém bệnh hoạn do ảnh hưởng của
bệnh trạng thuở ấu niên cùng cuộc sống khắc khổ ở chùa viện và dụng công học
hành thái quá. Vì vậy, Ngài không thích học Nho Giáo cho lắm, nhưng tư tưởng học
Phật pháp ngày càng mạnh mẽ, thậm chí lại muốn 'tẩy trừ những tập khí' làm thơ
văn. Lý tưởng xuất gia tu tập của Ngài thường được bạn bè kiểm nghiệm. Nhân vì hầu
hết bè bạn đồng học liên tục đỗ đạt khoa cử, ra làm quan lại. Họ thường khuyến
khích Ngài tiến bước trên con đường quan lộ lợi danh. Họ bảo:" Huynh là bậc tài
hoa xuất sắc nhất trong nhóm của chúng ta. Nếu tham gia thi cử, chắc chắn sẽ đỗ
đạt trạng nguyên thủ khoa. Tài trí của huynh, nếu không đem ra giúp quốc gia dân
tộc, thật rất đáng tiếc."
Ðương thời, Ngài vẫn còn là một thanh niên bồng bột. Nghe chúng
bạn đồng học khuyên lơn ra thi cử làm trạng nguyên, không thể bảo rằng Ngài
không động tâm vì danh lợi, nên thường lưỡng lự phân vân trong việc chọn lựa tiền
đồ tương lai, phải hướng về Phật pháp hay thế pháp. Tuy vậy, Ngài vẫn biết rõ đường
quan lộ đầy nguy hiểm gian truân. May mắn thay, ngay khi đó Ngài gặp được một vị
thiện tri thức dẫn dắt thâm nhập vào đường đạo, tức thiền sư Vân Cốc
(1500-1575). Thiền sư Vân Cốc vốn là pháp hữu của hòa thượng Tây Lâm. Hai vị thường
giao thiệp qua lại với nhau rất thân thiết. Hòa thượng Tây Lâm rất kính trọng học
thức uyên bác cùng đạo hạnh tu hành của thiền sư Vân Cốc. Những khi hai vị đàm
luận về thiền đạo, viết lách, giảng giải, Ngài thường đứng hầu bên cạnh, nên
thâu thập rất nhiều kiến thức. Thiền sư Vân Cốc cũng biết đến thiên tư thông
minh sáng suốt của Ngài, nên rất mực thương yêu. Việc bạn đồng học khuyến khích
Ngài ra thi cử tiến thân làm quan, khiến cho thiền sư Vân Cốc lo lắng không ít.
Tuy vậy, thiền sư Vân Cốc rất tin tưởng vào huệ nhãn của mình, lại cũng rất tin
tưởng nơi huệ căn thâm sâu, hiểu rõ lý đạo thế gian xuất thế gian, không mù mờ đắm
chấp vào danh lợi hư huyễn thế gian của Ngài. Thiền sư Vân Cốc đưa cho Ngài xem
các bộ truyện của lịch đại tổ sư, và nhắc nhở rằng nên tự nghiên cứu thiền cơ,
ngộ rõ tâm địa để đến nơi diệu xứ. Nhờ lắng nghe lời chỉ dạy ân cần của bậc tiền
bối, lần nọ khi đọc qua quyển truyện cao tăng 'Trung Phong Quảng Lục', do thiền
sư Trung Phong Minh Bổn (1263-1323) ở đời Minh viết, Ngài liền thâm nhập yếu chỉ
thiền cơ. Từ đó, Ngài quyết tâm xả bỏ mọi tri kiến thế gian, xuất gia tu học,
thâm nhập Phật pháp.
Năm mười chín tuổi, Ngài thỉnh cầu hòa thượng Tây Lâm cho phép
xuống tóc, chính thức xuất gia. Quyết định này vạch rõ hai con đường: Thứ nhất
là Ngài bỏ tất cả sở học thế gian, nhất tâm dụng công tu đạo. Thứ hai là Ngài
chuyển từ nghiên cứu kinh điển qua việc tu học thiền quán, vì đây mới là nền tảng,
cốt tủy của đạo Phật.
Xuất gia xong, Ngài đốt hết tất cả thơ văn thi kệ, dẹp bỏ sở học
Nho Giáo, bắt đầu chuyên tâm nhất ý tu hành. Tuy thế, vì Phật pháp thâm sâu,
Ngài chưa có thể lãnh hội yếu chỉ tu đạo mau chóng. Ngài cũng không dám dụng tâm
bồng bột để nhập đạo, vì tự biết rằng kiến thức Phật pháp của mình rất cạn cợt,
căn tánh vẫn còn thô thiển. Ngài nhận biết pháp môn niệm Phật giúp tự tâm thanh
tịnh an lạc và làm nền tảng căn bản chứng đắc sau này. Vì vậy, trong ngày đêm
Ngài cố gắng chuyên tâm nhất ý niệm Phật không ngừng nghỉ. Trong thời gian đầu,
dầu chưa có thể dứt đoạn vọng tưởng đuổi chạy theo ngoại cảnh, nhưng Ngài không
nản chí. Dần dần, bốn chữ 'A Di Ðà Phật' hiện rõ trong tâm, giúp Ngài tẩy trừ tất
cả tạp niệm. Ðêm nọ, mệt nhọc vì cả ngày niệm Phật không ngừng nghỉ, Ngài ngồi
thiêm thiếp trên tấm bồ đoàn, rồi nhập mộng lúc nào vẫn không biết. Trong mộng,
đột nhiên Ngài thấy một luồng ánh sáng tỏa khắp, từ phương tây chiếu thẳng vào tịnh
thất. Ngước lên, thấy Phật A Di Ðà hiện thân tướng hảo quang minh trang nghiêm
đang đứng trong hư không, Ngài vội quỳ xuống đảnh lễ với tâm thành kính lưu luyến.
Tuy trong mộng nhưng tâm Ngài vẫn sáng suốt. Biết đây là duyên may hiếm có, nên
Ngài liền khởi tâm cầu mong được thấy Bồ Tát Quán Âm cùng Ðại Thế Chí. Tâm vừa
khởi, Bồ Tát Quán Âm và Ðại Thế Chí liền hiện nửa phần thân trên, đứng bên tay
trái và tay phải của Phật A Di Ðà. Tỉnh dậy, hình tượng Tây Phương Tam Thánh biến
mất, khiến Ngài nuối tiếc không ít. Hướng nhìn về phía tây, Ngài vẫn còn thấy nền
trời màu vàng đỏ, khiến thân tâm lắng đọng thanh tịnh. Ngài tự biết là mình may
mắn nhất trong thiên hạ, được thấy Tây Phương Tam Thánh. Từ đó, Ngài nhận biết rằng
nhờ ngày đêm chuyên tâm niệm Phật nên tiếng niệm Phật luôn hiện trong đầu, khiến
có duyên lành mơ thấy chư Phật chư Bồ Tát hiện thân cảm ứng. Nói chung nếu phát
tâm kiên trì niệm Phật nhất tâm bất loạn, thì sẽ thấy rõ chư Phật chư Bồ Tát
cùng cảnh giới cõi Tây Phương Cực Lạc. Nhờ thấy điềm lành, Ngài tự tin nhất định
sẽ thành tựu trên bước đường tu hành. Qua kinh nghiệm này, trong suốt cuộc đời
tu hành, Ngài tu trì pháp môn niệm Phật song song với việc tu hành thiền quán.
Mùa đông năm đó (1564), khi nghe pháp sư Vô Cực giảng 'Hoa
Nghiêm Huyền Ðàm' (do quốc sư Thanh Lương, tổ sư đời thứ tư của tông Hoa Nghiêm
chú giải), Ngài thu thập hiểu rõ rất nhiều. Lúc pháp sư Vô Cực giảng đến thập
huyền môn, hải ấn tam muội, Ngài chợt liễu ngộ pháp giới viên dung vô ngại. Vì
ngưỡng mộ đức hạnh tu hành của quốc sư Thanh Lương, vị Bồ Tát suốt đời giảng
kinh Hoa Nghiêm, nên Ngài tự đặt tên mình là Trừng Ấn. Vì ngài Thanh Lương thường
giảng kinh Hoa Nghiêm tại núi Ngũ Ðài, nên người sau thường gọi núi đó là Thanh
Lương. Nơi đó, mùa đông, tuyết đóng băng dày đặc. Mùa hè, tuyết vẫn còn rơi lớt
phớt. Khí hậu ít khi ấm áp. Ngài rất mong muốn tương lai sẽ có dịp tham tầm đến
vùng lạnh lẽo đó để tu hành. Pháp sư Vô Cực nghe Ngài lấy hiệu là Trừng Ấn, liền
hỏi:" Con đã quyết chí đi vào cửa Phật. Thật rất vui mừng. Từ đây về sau phải
nên tự hành trì cho giỏi."
Theo Phước Chưng, đệ tử thị giả của Ngài, thì Ngài được cho pháp
hiệu là Ðức Thanh ngay sau khi xuất gia. 'Ðức Thanh' nghĩa là dùng 'Thanh' để tạo
đức. Chữ Thanh đây là nói về cảnh giới Thanh Lương ở núi Ngũ Ðài, hay pháp giới
lưu ly thanh tịnh.
Cuối năm, đến đêm giao thừa Ngài chính thức xuất gia được một
năm. Tiếng pháo nổ giòn giã dưới chân núi, báo hiệu năm mới lại đến. Bình thường,
chùa viện rất thanh tịnh trầm lặng. Nhưng vào đêm đó, sau khi cúng lễ giao thừa
xong, chư thiện nam tín nữ nhộn nhịp kéo nhau lên núi lễ Phật, hái lộc đầu năm.
Chánh điện ngập tràn khói hương, hoa quả. Ngài cùng các huynh đệ bận bịu lo việc
sắp đặt, đón tiếp tín chúng trong vùng đến chùa lễ Phật. Ðột nhiên, một chú tiểu
vội chạy đến gọi Ngài:" Sư Phụ muốn gặp sư huynh gấp !"
Nghe thế, tâm Ngài cảm giác bất an như có điềm gì không may sẽ xảy
đến, nên vội chạy đến phòng phương trượng. Ðến nơi, Ngài thấy hòa thượng Tây Lâm
an tường nằm trên giường thiền, chung quanh có đầy đủ các huynh đệ. Thấy Ngài vừa
đến, hòa thượng Tây Lâm liền bảo:" Hôm nay, Ta gọi các con đến đây, vậy có biết
vì việc gì không ?"
Ngài cùng các huynh đệ nhìn nhau, lắc đầu. Một thầy thưa:" Bạch
Sư Phụ ! Có phải chúng con đã phạm lỗi gì chăng ?"
Hòa thượng Tây Lâm lắc đầu đáp:" Chẳng phải thế ! Các con có biết
năm nay Ta đã được bao nhiêu tuổi không ?"
Khi ấy, ai ai cũng im lặng, không biết ý của thầy mình muốn gì,
nên không dám mở miệng. Phòng phương trượng im lặng phăng phắt. Ngước nhìn tất cả
đệ tử xong, hòa thượng Tây Lâm bảo:" Năm nay Ta đã được tám mươi ba tuổi. Chắc
chẳng bao lâu sẽ về cõi Tây Phương gặp Phật A Di Ðà."
Một vị tăng trẻ liền khóc lóc, thưa:" Sư phụ uyên thâm Phật pháp,
thân thể vẫn còn mạnh khỏe, sao lại bảo sắp viên tịch ?"
Một thầy khác nói thêm:" Tối nay là đêm giao thừa. Có phải Sư Phụ
không vui chăng ?"
Hòa thượng Tây Lâm khoác tay bảo:" Uổng cho các con làm người xuất
gia, vẫn chưa hiểu rõ lý có sanh tức có tử. Ta sống tám mươi ba năm, thế độ hơn
tám mươi người, đến nay thì ngừng. Trong số các con, không ai có thể kế thừa y
bát của ta cả."
Ngưng giây lát, hòa thượng Tây Lâm vẫy tay gọi Ngài đến gần, xoa
lưng bảo:" Thằng bé này là niềm hy vọng kế thừa sự nghiệp của ta. Hiện tại, Ta
không thể chờ đợi nhìn xem nó thành tựu đạo nghiệp được."
Ngài liền thưa:" Sư Phụ chớ vội đi quá sớm. Sư Phụ không muốn
nhìn xem con xiển dương Phật pháp sao ?"
Hòa thượng Tây Lâm đáp:" Thằng ngu ! Sư Phụ chỉ dẫn con vào cửa
đạo thôi. Từ đây về sau, con phải tự quyết tâm tu hành."
Nói xong, hòa thượng Tây Lâm xoay đầu lại bảo đại chúng:" Thằng
bé này tuy còn nhỏ, nhưng huệ căn thâm sâu, ý chí tu hành kiên cố, có tri kiến
như các bậc lão thành. Sau khi Ta mất, mọi việc lớn nhỏ trong chùa đều phải để
cho nó tự quyết định. Chớ khinh thường tuổi nhỏ mà không nghe lời của nó."
Các huynh đệ đều gật đầu vâng lời, rồi từ từ bước ra khỏi phòng
phương trượng, duy chỉ còn Ngài ở lại hầu thầy mình cho đến sáng hôm sau. Tuy
năm mới đến, nhưng thời thời khắc khắc Ngài luôn lo lắng ưu sầu về sức khỏe của
thầy mình. Hòa thượng Tây Lâm nhận thấy tâm tánh của Ngài rất bình thản, an lạc
hơn những sư huynh đệ khác. Phần nhiều, những người trẻ tuổi thường sợ hãi ư sầu
khi đối diện với sanh tử. Ðối với hòa thượng Tây Lâm, trong tám mươi ba tuổi đời,
những khổ vui gian nan an lạc đều xem như mây khói trôi qua trước mắt, vì đã liễu
ngộ lý sanh tử. Mồng bảy tháng giêng, từ trên giường thiền hòa thượng Tây Lâm chợt
ngồi dậy, đến các phòng ốc tìm chư đệ tử để cáo biệt. Các đệ tử, thấy hòa thượng
Tây Lâm đến đều kinh ngạc, thưa:" Sư Phụ hãy bảo trọng sức khỏe, xin chớ quá lao
nhọc lo lắng vì chúng con."
Hòa thượng Tây Lâm chỉ mỉm cười, không đối đáp chi, rồi trở về
phòng phương trượng. Trụ trì chùa Báo Ân đã hơn ba mươi năm, hòa thượng Tây Lâm
biết rõ các ngôi điện đường, tôn tượng Phật và Bồ Tát, bức tranh đối liễn, cây
mai cây tùng, bồn hoa vườn tược. Hòa thượng Tây Lâm thong thả bách bộ, ngắm xem
từng vật rõ ràng. Ngày kế, hòa thượng Tây Lâm gọi từng người đệ tử vào phòng
phương trượng, phó chúc hậu sự. Ba ngày sau, hòa thượng Tây Lâm bị bịnh nặng.
Ngài nấu thuốc, tự tay đem đến giường thiền dâng cho thầy mình. Thấy Ngài đem
thuốc đến, hòa thượng Tây Lâm lắc đầu bảo:" Ðại hạn của Ta sắp đến, dùng thuốc
có lợi ích gì ? Chớ làm phiền đại chúng. Hãy nhờ họ lên chánh điện tụng kinh."
Nói xong, hòa thượng Tây Lâm liền nhắm mắt, tiếp tục cầm xâu chuỗi
niệm Phật, không đoái hoài đến ai. Thấy thế, tâm Ngài rất bi thương, nhưng không
dám làm trái lời dạy cuối cùng của thầy mình, nên gọi các huynh đệ, đến phòng
phương trượng đồng thanh niệm Phật. Ðến ngày thứ năm, vì không dùng thuốc thang,
bịnh trạng của hòa thượng Tây Lâm càng thêm trầm trọng, sức khỏe yếu nhược,
không thể ngồi dậy được, nhưng tay vẫn lần tràng chuỗi liên tục, miệng vẫn mấp
mái niệm:"...Tất cả pháp hữu vi, đều như mộng ảo, như sương như sấm chớp, phải
quán sát như thế. Phật thuyết kinh này xong, trưởng lão Tu Bồ Ðề, cùng các tỳ
kheo, tỳ kheo ny, ưu bà tắc ưu bà di, tất cả thế gian, trời người A Tu La, đều
vui mừng hớn hở, tin thọ phụng hành..."
Âm thanh tụng niệm của hòa thượng Tây Lâm càng lúc càng nhỏ và yếu
ớt, cho đến lúc không còn nghe tiếng, nhưng tay vẫn còn lần tràng chuỗi.
Sau khi hòa thượng Tây Lâm viên tịch, Ngài đóng cửa phòng cả ba
tháng, không tiếp xúc với các huynh đệ, không đoái hoài đến chức vụ, chỉ nhất
tâm nhất chí tu hành thiền định. Ðại chúng biết Ngài rất thương mến hòa thượng
Tây Lâm, nên không dám làm phiền lụy.
Tháng mười, thiền sư Vân Cốc thỉnh năm mươi sáu vị cao tăng danh
tiếng trong toàn quốc đến chùa Thiên Quốc, khai mở thiền thất. Tuy Ngài mới hai
mươi tuổi, nhưng cũng được mời đến tham dự thiền thất cùng các vị cao tăng. Lúc
thiền sư Vân Cốc đề bạt tên Ngài, vị tân trụ trì chùa Báo Ân cũng đồng ý cho
phép tham gia. Ðược cơ hội gặp các vị cao tăng danh sư, Ngài rất vui mừng. Vừa
vào thiền thất, vì quá cao hứng và quá trẻ tuổi, Ngài chẳng đủ định lực nên chưa
an được tâm. Do đó, Ngài cầm hương, đi đến phòng thiền sư Vân Cốc, cung thỉnh được
chỉ dạy. Thiền sư Vân Cốc bảo Ngài hãy nên tham khán công án "Ai đang niệm Phật".
Ba tháng liền, tâm Ngài không khởi một niệm, như sống trong mộng không thấy đại
chúng xung quanh, lại cũng không biết đến thời khóa công việc hằng ngày. Ðại
chúng ai ai cũng tán thán ý chí tu hành của Ngài. Trong những ngày đầu, vì dụng
tâm quá mạnh, nên lưng bị đau nhức, có thể vì không quen ngồi xếp bằng trong thời
gian dài. Một mụn nhọt nổi lên sau lưng. Ngài đắp y ca sa, thiết tha cầu khẩn Bồ
Tát Vi Ðà: "Bịnh này chắc chắn là do oan nghiệp đời trước. Tôi nguyện sẽ tụng
kinh Hoa Nghiêm mười lần. Xin gia hộ cho tôi được khỏe mạnh trong ba tháng thiền
thất này, rồi sau đó sẽ tụng kinh đền bù."
Ðêm ấy, vì quá mệt nhọc Ngài nằm lăn trên giường thiền mà ngủ,
không biết giờ thiền định đã chấm dứt tự bao giờ. Thức dậy, trời đã sáng, Ngài
quên đi mụt nhọt sau lưng. Khi thiền sư Vân Cốc hỏi han bịnh tình, Ngài xem lại
thì mụt nhọt sau lưng đã tan mất, sức khỏe được bình phục. Ðại chúng rất lấy làm
lạ. Thế nên, Ngài tham gia thiền thất hoàn toàn trong ba tháng liền. Thiền thất
ảnh hưởng tâm linh Ngài rõ rệt. Sau khi ra khỏi thiền thất, Ngài cũng vẫn cảm
giác như còn đang tọa thiền. Ði trên đường phố nhộn nhịp, nhưng Ngài cảm giác
như chẳng thấy ai cả. Khi ấy, ai nấy cũng lấy làm lạ.
Người Giang Nam vốn quên đạo thiền, nhưng nay thiền sư Vân Cốc lập
lại thiền cơ. Lần này, cùng các vị cao tăng vân tập tham thiền, không những Ngài
tiến bộ về mặt thiền học, mà danh tiếng cũng được vang xa. Toàn quốc đều biết đến,
tại Kim Lăng có một cao tăng trẻ tuổi. Bàn về mụt nhọt sau lưng, đây chính là
nghiệp chướng thử thách người tu hành. Nhờ lòng kiên quyết và thần lực của bồ
tát Vi Ðà gia hộ, bịnh trạng từ từ giảm bớt. Ðệ tử của Ngài là Phước Chưng, viết
bài kệ như sau:
"Cầu Vi Ðà gia hộ
Nhất tâm khiến linh cảm
Ba tháng thiền như mộng
Chẳng biết việc hằng ngày
Rời thiền đường vào phố
Vẫn như đang ngồi thiền
Chẳng hề thấy một ai
Thật dụng công như thế
Vi Ðà chẳng khinh lường."
Thời ấy, chư tăng trong chùa ăn mặc trang sức quần áo lòe lẹt
giống như người thế tục. Cá nhân, Ngài mặc tăng y bình thường mộc mạc, khiến
người thấy lấy làm kỳ lạ.
Năm kế, đời Gia Thanh thứ bốn mươi lăm (1566), tai họa xảy đến
chùa Báo Ân khiến Ngài phải đình chỉ việc tu hành thường ngày. Sau kỳ thiền
thất, vào ngày hai mươi sáu tháng hai, trong một trận mưa to, chùa Báo Ân bị sét
đánh, hơn một trăm bốn mươi phòng ốc điện đường bị đốt cháy, chỉ có ngôi tháp
chín tầng được che bởi ngói đá láng trơn và thiền đường là không bị hư hoại.
Chùa Báo Ân vốn được xem là công sản của triều đình, nên bất cứ việc gì xảy ra
trong chùa, quan quân vẫn có thể bắt tội. Vì vậy, dẫu là bị thiên tai, nhưng
quan phủ chẳng thể không nghi ngờ có người muốn đốt cháy, nên ra lịnh bắt giam
mười tám vị tăng có trách nhiệm. Tăng chúng trong chùa sợ vạ lây, nên bỏ trốn đi
rất nhiều. Vị tăng chấp sự không cách nào giữ họ lại được. Trong ba tháng liền,
mỗi ngày Ngài phải đi hơn hai mươi dặm đem thức ăn đến nhà tù để nuôi sư huynh
đệ bị lâm nạn tù đày. Ngài cũng tìm muôn cách để giải cứu họ ra khỏi ngục tù. Do
danh tiếng của Ngài ngày một vang xa, quan phủ rất nể nang. Quan phủ biết rõ
chùa cháy là vì sét đánh, nên sau ba tháng, ông thả mười tám vị tăng đó ra. Chùa
bị hư hoại, Ngài khởi ý định vân du đó đây. Làm tăng sĩ hành cước, vân du thiên
hạ là chí nguyện từ thuở thiếu thời của Ngài. Hiện tại, chỉ vì chưa gặp tăng sĩ
đồng đạo, có cùng ý chí du hành, nên Ngài tạm thời đình hoãn ý nguyện. Khi ấy,
Ngài gặp hai vị tăng, rất quan hệ mật thiết với cuộc đời hành đạo sau này, tức
Tuyết Lãng và Diệu Phong.
Ngài quen biết thầy Tuyết Lãng lúc mười
hai tuổi. Thầy Tuyết Lãng lớn hơn Ngài một tuổi, tục danh là Hồng Ân, cũng là
nhân vật có huệ căn thâm sâu. Lúc mười ba tuổi, thầy Tuyết Lãng theo cha đến
chùa Báo Ân, nghe pháp sư Vô Cực giảng kinh Pháp Hoa vài mươi ngày, liền không
muốn trở về nhà, rồi tự cạo đầu xin làm chú tiểu ở chùa. Ðương thời Ngài và thầy
Tuyết Lãng là bạn hữu thân thiết, chí đồng đạo hợp. Lúc đó, hai ngài thường nghe
thiền sư Vô Cực giảng kinh Pháp Hoa. Ngài bảo:" Bậc cổ đức có bảo rằng tự tánh
tâm thông. Nếu chỉ lo xem văn tự, thì như mở cửa liền rơi chốt."
Năm hai mươi tuổi, Ngài qua chùa Thiên Giới của thiền sư Vân Cốc
tham dự thiền thất. Khi đó, thầy Tuyết Lãng cũng tập tham thiền ở tại chùa.
Ðối với tâm địa, Ngài biết rằng tất cả đều tại tâm. Hiện tại,
chùa Báo Ân đã bị cháy sạch, cả hai ngài khóc suốt ba ngày ba đêm, cùng đồng thệ
nguyện phục hưng lại đạo tràng. Ngài bảo:" Ðại sự nhân duyên, nếu không phải là
người có phước đức trí huệ vẹn toàn, thì không thể phục hưng lại đạo tràng này
nổi. Chúng ta hãy xả mạng tu hành thì mới mong thực hiện được chí nguyện này."
Chẳng bao lâu, vị tân trụ trì qua đời, không còn ai cai quản
chùa chiền. Trước kia, hòa thượng Tây Lâm không để lại tiền bạc chi hết. Ngay cả
chi phí tang lễ hòa thượng cũng phải vay mượn. Vì trách nhiệm, Ngài phải dàn
xếp, trả nợ nần. Tất cả tăng chúng còn lưu lại trong chùa đều chịu nhận lãnh
những phần nợ đồng nhau. Nhờ đó, chùa được tồn tại. Sau này, vân du hành cước
đến kinh đô Bắc kinh, tuy trải qua biết bao gian nan khổ cực, nhưng hoài bão
phục hưng lại chùa Báo Ân trước sau như một. Thầy Tuyết Lãng cũng kiên quyết như
Ngài, nên sau ba năm đi hành khất, trở về xây lại được chùa Báo Ân mới. Ðại
trượng phu, một khi đã nói lời gì, thì tứ mã nan truy. Hai ngài lại là người
xuất gia, thì có nói lời chi, nhất định sẽ hành.
Năm đó, Ngài cũng gặp được một pháp lữ,
tức thầy Diệu Phong. Thầy Diệu Phong, người Bạc Châu, danh Phước Ðăng. Năm đó
thầy Diệu Phong đi tham phương từ miền bắc xuống vùng Nam Hải. Miền nam khí hậu
ấm áp mưa nhiều. Lúc đến Kim Lăng, vì chưa quen thủy thổ nên thầy Diệu Phong
sanh bịnh, mụn nhọt nổi rất nhiều trên thân. Thầy Diệu Phong là người thích làm
lụng, chẳng muốn ngồi không hưởng thụ. Vì thế, tại chùa Thiên Giới tuy thân thể
bịnh hoạn, ngày ngày thầy Diệu Phong kiên trì làm công quả, quét dọn phòng ốc
cầu tiêu. Lúc đó, Ngài cũng đang trú tại chùa Thiên Giới. Ngày nọ, Ngài chợt
phát hiện cầu tiêu được chùi rửa rất sạch sẽ. Ðiều này khiến Ngài cảm thấy lạ
lùng vì mấy năm trú tạm tại chùa Thiên Giới, ít khi thấy có người phát tâm chùi
rửa cầu tiêu sạch sẽ. Ngài suy nghĩ:" Vị quét dọn cầu tiêu sạch sẽ này, chắn
chắn phải là người khác thường. Mình nên lưu tâm để ý."
Ngày hôm sau, trong lúc tăng chúng đang ngủ, Ngài thức dậy thật
sớm. Nhìn chung quanh, Ngài thấy chỗ nào cũng được quét dọn sạch sẽ. Trong vài
ngày, Ngài cũng chưa phát hiện được ai là người thường quét dọn phòng ốc cầu
tiêu. Do tánh hiếu kỳ, Ngài tự nhủ:" Người kia càng thần bí chừng nào, mình càng
muốn biết chừng đó."
Vào giữa khuya hôm đó, Ngài thức dậy đi xuống cầu tiêu, chỉ thấy
nước vẫn còn đọng chung quanh, mà người thần bí kia đã biến đâu mất. Sáng hôm
sau, Ngài hỏi thầy tri sự về việc đó. Thầy tri sự đáp:" Công việc quét dọn này
do một vị tăng từ xa đến làm. Thân thể của thầy đó không được khỏe, nên ban ngày
ít khi ra ngoài, chỉ ở trong phòng dưỡng bịnh."
Ngài lập tức đi tìm và gặp được vị tăng kia. Ðây là lần đầu cả
hai ngài gặp mặt nhau. Khi thấy Ngài, thầy Diệu Phong bảo:" Bịnh tuy khổ, nhưng
không bằng bị đói khát. Bao ngày qua, tôi ăn không đủ no."
Nguyên nhân vì người miền bắc ăn rất nhiều so với người miền
nam. Thế nên mỗi buổi cơm, thầy Diệu Phong ăn không thể no được. Ngài mỉm cười,
vào nhà bếp lấy bánh trái cho thầy Diệu Phong dùng. Tình đồng đạo từ đây bộc
phát. Sau khi lành bịnh, Ngài hy vọng thầy Diệu Phong sẽ cùng đi vân du thiên
hạ. Biết được ý này, thầy Diệu Phong rất vui mừng hoan hỷ, bảo:" Trên đường đi
viễn du, huynh sẽ giúp sư đệ mang đồ đạc. Lúc nghỉ ngơi, huynh sẽ phụ nấu cơm
nước."
Tuy nhiên, hiện tại thầy Diệu Phong muốn qua Việt Nam để tham
phương học đạo, nên tạm thời chưa có thể cùng Ngài đi vân du. Sợ nói thật thì
mất lòng, sứt mẻ tình đồng đạo, nên thầy Diệu Phong lẳng lặng rời khỏi chùa
Thiên Giới. Ngài biết việc này, nên không trách cứ việc thầy Diệu Phong ra đi mà
không báo trước. Sáu năm sau, hai ngài gặp lại nhau tại Bắc Kinh, bắt đầu cùng
nhau đi vân du khắp nơi trong nước.
Bốn năm trước khi thực hiện ý định du hành trong
thiên hạ, Ngài trú tại chùa Thiên Giới, làm rất nhiều việc Phật sự. Vì để tu sửa
lại chùa Báo Ân, Ngài thỉnh pháp sư Vân Cốc, vị đức cao vọng trọng, nhậm chức
trụ trì. Trong vòng ba năm, Ngài lo lắng trang trải nợ nần cả ngàn đồng vàng cho
chùa Báo Ân. Ngài cũng sáng lập trường trung học miễn phí, chủ yếu dạy dỗ huấn
luyện các thiếu niên và sa di trẻ. Tổng cộng có trên một trăm năm mươi sa di và
năm mươi thiếu niên. Với sự ràng buộc này, Ngài phải xem lại những văn chương sử
học của thế pháp. Năm kế, trường trung học miễn phí được dời về chùa Cao Tọa
(phía nam thành phố Nam Kinh). Từ năm 1569 đến năm 1570, vì tài chánh khó khăn,
trường lại được dời về chùa Kim Sơn, cách thành phố Nam Kinh khoảng bốn mươi dặm
về phía đông.
Năm hai mươi sáu tuổi, niên hiệu Long Khánh thứ
năm (1571), vì chí nguyện phục hồi chùa Báo Ân và tu tâm dưỡng đạo, Ngài rời Kim
Lăng, bắt đầu cuộc hành trình du phương.
|