|
HÁM SƠN
ÐẠI SƯ
TỰ TRUYỆN
Tỳ Kheo Thích Hằng Ðạt Việt dịch
~oOo~
Ðược trả tự do
Năm 1606, vào tháng ba Ngài vượt Ðại Nhạn đến Nam Châu, thăm
Ðinh Hữu Võ. Ngài đến yết kiến tướng quốc Trương Hồng Dương. Năm xưa, lúc Ngài
đang bị nạn ở Bắc Kinh, tướng quốc Trương Hồng Dương đang trú tại Á Tương. Vừa
nghe tin Ngài bị nạn cùng biết rõ sự tình, Trương Hồng Dương liền nỗ lực giải
cứu Ngài, nhưng không thành công. Thế nên, Ngài rất cảm kích ân tình của ông ta.
Biết được ông đã từ quan về hưu, nên nay Ngài đến viếng thăm ông tại nhà, cách
Tào Khê không xa mấy. Gặp lại Ngài, ông rất vui mừng và mời Ngài cùng chư đệ tử
đến dùng buổi cơm chay tại lữ quán Vân Lâu trên sông. Ông cũng mời các danh sĩ
trong vùng đến dự buổi cơm chay đó. Trong khi dùng cơm, ông bảo: "Ai ai cũng
biết ngài Hám Sơn là vị đại thiện tri thức, nhưng lại không biết Ngài có công
lao rất to lớn đối với sơn hà xã tắc. (Trương Hồng Dương muốn nhắc về việc Ngài
chuyển đổi pháp hội Vô Giá thành pháp hội cầu Thái Tử cho triều đình.)
Nghe thế, mọi người liền hỏi ông ta sự việc. Ông liền kể hết tự
sự như công lao cầu thái tử của Ngài. Ðương thời chỉ có một mình ông ta là dám
luận nghị việc này. Dân dã nếu ai dám bàn luận việc này thì sẽ bị hoạ nạn, nếu
triều đình biết được. Nhờ vậy, không khí trong buổi cơm chay hoàn toàn thay đổi.
Sau đó, Ngài trở về Tào Khê. Trên đường, Ngài ghé qua Văn Giang,
thăm đại quan họ Châu, rồi ở lại nơi đó vài ngày. Ngài lại đến Chương Cống, thăm
tướng quân Trần Nhị Sư. Nơi đó, Ngài được ông ta giữ lại tại đại bản doanh vài
ngày. Trong tháng đó, Ngài bị bịnh nhưng cũng viết được mười hai bài kệ. Sau đó,
Ngài trở về Tào Khê.
Vào tháng tám, trở về Tào Khê chẳng bao lâu, Ngài nghe tin thái
tử Chu Thường Lạc sanh hạ một hoàng tôn. Thế nên nhà Minh ban lệnh đại xá phạm
nhân. Các phạm nhân già yếu bịnh hoạn được ân xá. Các phạm nhân bị hàm oan, vu
khống có thể cầu biện minh để được phóng thích. Vì thuộc hạng thu hai, Ngài đến
trình tại tại đại bản doanh. Sau khi chấp nhận lời biện minh, họ chuyển Ngài đến
chính quyền địa phương ở Lôi Châu để xét xử. Nơi đó, phán quan ra lịnh phóng
thích Ngài. Từ đó, Ngài không còn bị giám sát bởi quan quân, tức công khai đăng
đàn giảng kinh thuyết pháp.
Tại Tào Khê, Ngài viết rất nhiều thơ, văn, ký thuật. Trong đó có
bài 'Văn viết về thị giả Linh Thông và giới uống rượu.'
Theo truyền thuyết, thị giả Linh Thông vốn là hoàng tử của nước
Ba Tư. Vì nghe oai danh đức độ của Lục Tổ Huệ Năng, vua nước Ba Tư sai ông cùng
với năm vị đại thần qua Tàu cung thỉnh Lục Tổ đến quốc gia họ để truyền pháp. Vì
đường xá xa xôi, Lục Tổ không thể đáp lời thỉnh nguyện đó. Thế nên, do muốn tu
học, hoàng tử không trở về nước mà trú tại vùng phụ cận, rồi phát nguyện quy y
và làm thị giả cho Lục Tổ. Ðối với Phật pháp, thị giả Linh Thông rất chân thành
khẩn thiết tu học, nhưng ngặt một việc là thích uống rượu. Lục Tổ biết việc này,
nhưng không trách cứ ông ta. Sau khi chết, ông được mai táng tại vùng. Biết ông
hoàng tử nước Ba Tư này rất thành tâm kính phục Lục Tổ, có một vị tăng dùng đồng
để đúc hình tượng ông ta và để kế bên nhục thân Lục Tổ. Tượng đồng đó giống hệt
hình tượng của ông lúc còn sống. Bên trên, cũng có cái mũ mà ông thường đội. Bên
dưới có cái bát mà ông thường dùng để uống rượu. Lạ thay, sau khi tạo tượng, qua
ngày thứ hai, rượu ở trong bát của ông ta chợt biến thành nước, và cái mũ lại
lệch qua một bên. Dân chúng trong vùng thấy thế cho là hoàng tử hiển linh biến
dị.
Khi đến Tào Khê, việc thị giả Linh Thông hiển hiện uống rượu rất
bất lợi cho công cuộc chấn hưng giới pháp của Ngài. Thế nên, Ngài viết bài văn
về 'thị giả Linh Thông và giới uống rượu', để răn nhắc những tăng sĩ đam mê rượu
chè. Từ đó, họ chân thành tiếp thọ lời giảng dạy của Ngài về giới luật.
Năm 1607, vào tháng ba Ngài xin trở về quê quán, nhưng quan môn
lại ra lịnh cho quan ở Thiều Châu đưa Ngài trở lại Tào Khê. Thời gian trụ ở núi,
Ngài giảng kinh thuyết pháp cho các đệ tử. Năm đó, Ngài hoàn tất chú giải quyển
Ðạo Ðức Kinh.
Lúc nhỏ, Ngài đã đọc qua quyển Ðạo Ðức Kinh của Lão Tử, nhưng
lời văn lại cổ xưa, ý nghĩa thâm sâu. Tuy nhiên, sau này Ngài đã nghiên cứu kỹ
càng và hiểu rõ ý chỉ. Vì các đệ tử cư sĩ thường thỉnh cầu Ngài chú giải quyển
Ðạo Ðức Kinh này, Ngài cũng nghĩ đến chuyện đó. Ngài bắt đầu chú giải quyển Ðạo
Ðức Kinh vào năm bốn mươi bảy tuổi. Mỗi khi tham tầm nghiên cứu thấu triệt rồi
thì Ngài mới đặt bút viết. Nếu còn một chữ nào khả nghi, Ngài nghiên cứu đến
cùng tận, quyết không bỏ sót. Ngài dụng công chú giải cả mười lăm năm. Ði đâu
cũng mang theo, nên nay mới hoàn tất.
* Lời bàn của Phước Chưng *:
Ngài Hám Sơn kể lại:" Sau khi quyết định viết lời chú giải cho
quyển Ðạo Ðức Kinh, tôi phải bỏ ra mười ba năm mới hoàn tất. Muốn nắm được ý của
quyển sách này thì phải trải qua quá trình kinh nghiệm sống. Những chữ ghi trên
giấy trắng không thể diễn đạt được hết ý nghĩa.
Những khi chú giải kinh điển, tôi đều nhập định chú tâm để xem
xét, nhìn thẳng vào lời kinh, hầu mong hợp với tâm Phật. Nhờ thế, những kiến
giải cá nhân và nghĩa lý chân thật tự nhiên vụt ra lập tức. Khi đó tôi mới viết
xuống giấy. Nếu lạc vào suy nghĩ thì ý nghĩa chân chánh của kinh điển khó mà
hiểu được.
Năm sáu mươi ba tuổi, Ngài bắt đầu trùng tu chánh điện chùa Nam
Hoa. Tháng hai, quan Phùng Nguyên Thành, nhậm chức tại vùng Nhạn Tây, vốn người
Giang Tây, đến thăm Ngài và ngủ qua đêm tại núi. Tối đến, ông mơ thấy đại sĩ
Quán Âm hiện thân cảm ứng. Sáng hôm sau, khi lên chánh điện lễ Phật, thấy ba
thánh tượng bị hư bể mục nát, ông liền hỏi Ngài: "Thưa Ðại Sư ! Hai cây cột trụ
trong ngôi chánh điện của đạo tràng hùng vĩ này đang bị hư nát nghiêng ngữa, và
ba tôn thánh tượng (tượng Phật A Di Ðà, Bồ Tát Quán Âm, Bồ Tát Ðại Thế Chí) cũng
bị hư hoại. Tại sao Ngài chưa sửa chữa lại ?"
Ngài đáp: "Tuy có tâm muốn sửa chữa, nhưng ngặt vì rất tốn kém,
mà bần tăng chỉ có hai bàn tay trắng, thì làm sao có tiền tài để làm ?"
Ông liền hỏi cần phải có bao nhiêu tiền để làm. Ngài nói rõ số
tiền cần thiết. Nghe xong, ông ta bảo: "Không gì khó cả. Con sẽ cố gắng thâu
góp."
Ðương thời, hải tặc ở vùng biển tỉnh Quảng Ðông nhiễu loạn dân
chúng rất nhiều. Dân chúng các nơi lại liên tục khởi nghĩa. Thế nên việc chi phí
cho quan quân rất tốn kém. Phùng Nguyên Thành không biết ông thống đốc họ Ðái có
muốn giúp Ngài để sửa sang lại chùa chiền trong lúc này không. Song, ông vẫn
phân trần tình trạng bi đát của chùa Nam Hoa cho ông thống đốc họ Ðái nghe. Nghe
qua những lời này, ông thống đốc họ Ðái bảo: "Quý hóa thay ! Thấy trẻ con bị té
xuống giếng, mình phải trèo xuống mà cứu, huống hồ chi thánh tích của chư Phật
chư Bồ Tát nay đang bị suy đồi hiểm ngặt. Tại sao chúng ta ngồi yên mà nhìn ?"
Khi quan thống đốc họ Ðái hỏi về số tiền sửa chũa, quan Phùng
Nguyên Thành liền thuật lại lời của Ngài. Nghe xong, quan thống đốc bảo: "Có thể
số tiền này vẫn chưa đủ."
Quan thống đốc họ Ðái liền ra lịnh cho quan vùng Nam Thiều gởi
người đến xem xét tính toán tiền sửa chữa. Ðược ông ta mời, Ngài đến kiến nghị
bàn luận. Biết ông ta có ý lấy tiền từ trong công khố ra để cúng dường sửa chữa
chùa chiền, Ngài bảo: "Nếu dùng của công mà xây dựng chùa thì thật bất tiện. Chỉ
có sự phát tâm cúng dường xây chùa của dân chúng mới thật là y theo pháp."
Ông hỏi: "Vậy phải làm thế nào ?"
Ngài đề nghị là thống đốc nên lập ra một ủy ban cổ động dân
chúng mua công phiếu cúng dường tiền sửa chữa chùa. Việc này nên giao cho quan
vùng phía tây tỉnh Quảng Ðông lo liệu in mười hai quyển công phiếu. Mỗi bộ trong
dinh phủ có một quyển công phiếu, được khuyến khích tùy ý cúng dường. Tất cả
tiền cúng dường được thâu nhận bằng cách này và được gởi thẳng về dinh thống
đốc, mà không gởi đến tăng chúng. (Qua kinh nghiệm gặp hoạn nạn do việc khuyến
khích thái hậu dành dụm tiền của trong triều nội để trùng hưng chùa Từ Ân và lập
chùa Hải Ấn, Ngài mới đưa ra cách này để tránh việc liên hệ rắc rối với triều
đình.)
Vì cách này rất dễ dàng thực hiện, nên thống đốc họ Ðái đồng ý.
Trong vòng một tháng, khoảng một ngàn đồng vàng được thâu góp. Cá nhân Ngài đi
miền tây để mua gỗ. Vì sợ Ngài tuổi già sức yếu, không đủ sức lực để lo việc mua
gỗ, thống đốc họ Ðái nhờ Ngài đến Ðoan Châu sửa chữa Ðài Bảo Nguyệt, (phía bắc
vùng Cao Yếu, do quan Phùng Nguyên Thành bỏ tiền ra xây cất. Trong chánh điện có
tượng Bồ Tát Quán Thế Âm mặc y trắng), hầu mong lưu giữ Ngài lại trong tỉnh phủ.
Việc mua gỗ do một quan địa phương trông lo. Mùa đông, Ðài Bảo Nguyệt được sửa
chữa hoàn thành. Do đó, Ngài vận chuyển gỗ mộc về Tào Khê. Ngài có viết bài ký
truyện về việc này.
Năm sáu mươi bốn tuổi, Ngài mang gỗ từ Ðoan Châu trở về Tào Khê
bằng thuyền vì đương thời chưa có công lộ thuận tiện cho việc vận chuyển vật
liệu. Vì gió bão nên Ngài phải ngừng tại ải Linh Dương. Sẵn dịp, Ngài du hành
đến Ðoan Khê. Nơi đó, Ngài viết bài kệ "Mộng Du Ðoan Khê" (tức bài kệ du hành
đến Ðoan Khê trong mộng). Khi đưa gỗ về đến Mông Giang, Ngài trở về chùa tìm
người phụ giúp việc khuân vác. Việc vận chuyển gỗ cây về Tào Khê thật rất khổ
nhọc. Song, lúc Ngài dự định bắt đầu sửa chữa đại điện thì có việc không may xảy
ra.
Số là đương thời dân chúng theo quân khởi nghĩa ngày một đông
đảo. Quân khởi nghĩa đang đánh chiếm Khâm Châu. Vốn là thống đốc tỉnh Quảng
Ðông, ông Ðái Diệu phải tìm cách để bảo vệ Khâm Châu. Vì thọ ơn của ông ta trong
việc khôi phục lại đạo tràng Tào Khê, mộ tiền để xây chùa chiền, Ngài phải đành
xuống núi để trợ giúp ông ta bằng cách khuyên nhủ quân khởi nghĩa hãy rút quân
khỏi Khâm Châu. Nghĩa binh thấy việc tấn công thành Khâm Châu thật khó khăn. Họ
lại nghe những lời khuyên giải của Ngài, nên quyết định rút quân. Tuy nghĩa quân
rút lui, nhưng triều đình lại bắt tội thống đốc họ Ðái bằng cách bãi chức ông
ta. Mùa đông năm 1608, thống đốc Ðái Diệu bị bãi chức chính thức. Ngài không còn
được sự ủng hộ của vị đại hộ pháp nữa. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc
khôi phục Tào Khê của Ngài. Xưa kia, nhờ có sự trợ giúp của thống đốc họ Ðái mà
Ngài dễ dàng chỉnh lý chùa chiền và tăng chúng tại Tào Khê, cùng lấy lại điền
sản của tăng chúng bị cư dân tiếm chiếm. Thống đốc họ Ðái bị bãi chức chẳng bao
lâu, một số tăng sĩ bắt đầu chống đối Ngài ra mặt. Ngày nọ, Ngài nhờ một ông
tăng đem vật liệu ra để chuẩn bị khai công sửa chữa chánh điện. Như đổ thêm dầu
vào lửa, ông tăng kia vốn bất mãn Ngài đã lâu, nay nhân dịp này mà nộ khí chửi
mắng Ngài. Trong chùa cũng có một số tăng chúng phụ họa theo mà nhục mạ Ngài.
Ðối với việc này, Ngài không màng chấp trước vì đã từng bị dân chúng vây đánh
chửi mắng nhiều lần. Song, đối với việc sửa chữa chùa chiền, tâm Ngài rất đau
đớn vì trong phút chốc công trình dự án trùng hưng Tổ đình lại biến thành tro
bụi. Ngài tự nhủ:" Vì mình làm trái ngược với lời dạy của đức Phật, tức do quá
chú trọng vào hình tướng nên mới thọ nạn trong kiếp này."
Những tăng sĩ bại hoại này cũng khuyến khích những người khuân
vác làm loạn.
Khi họ bắt đầu làm loạn, Ngài lên chánh điện, một mình đốt
hương, tụng kinh Kim Cang Bát Nhã. Lúc xưa, thường đọc tụng văn kinh, nhưng Ngài
chưa hiểu rõ nghĩa. Nay tụng đọc lại, tự nhiên giải ngộ, nên Ngài chú giải quyển
"Kim Cang Quyết Nghi".
Tên tuổi của Ngài tại Tào Khê tuy lớn, nhưng không có gốc rễ.
Thống đốc họ Ðái vừa bị bãi chức, một số tăng sĩ bất mãn lâu nay, liên hợp với
nhau để chống đối Ngài. Nơi dinh phủ họ tố cáo Ngài tham ô tiền của thường trụ
tự viện khoảng tám ngàn đồng vàng. Trong dinh phủ, Ngài không còn được ai trợ
giúp, nên phải tự ra đối chất. Ðối với tội trạng nào, Ngài cũng nhẫn thọ. Song,
về việc tham ô tiền của chùa chiền, Ngài phải biện bạch vì rất hệ trọng đến
thanh danh tăng sĩ. Do đó, Ngài trình cho phán quan tất cả sổ sách chi tiêu rõ
ràng.
Vì đợi quyết định của phán quan và vì an toàn cá nhân, Ngài phải
ở trên thuyền bên sông Phù Dong hai năm. Lần nọ. quan Hạng Sở Ðông, đang trấn
tại ải Hiệp Quang, gởi thơ mời Ngài đến doanh trại. Ngài chèo chiếc thuyền hư
giữa sóng gió, nhưng cuối cùng vẫn đến được nơi đó. Lúc đến doanh trại, Ngài bị
bịnh nặng gần chết. Nhờ quan Hạng Sở Ðông mời y sĩ đến chữa trị nên Ngài đỡ phần
nào. Khi trở về quận nhà, Ngài lại bị bịnh liệt giường gần cả năm trời.
Năm 1610, vào tháng bảy phán quan đến quận và chất vấn Ngài. Sau
đó, ông ta bắt đầu xét xử vấn đề. Cuối cùng phán quan tuyên bố Ngài phạm tội.
May mắn thay, quan Vương An Bộ vốn là bạn xưa của Ngài, cũng tham dự việc xử án.
Xem qua án lệnh, Vương An Bộ viết: "Ðại sư Hám Sơn có công lớn trong việc trùng
tu lại chùa Nam Hoa, tổ đình của Lục Tổ tại Tào Khê. Ðại Sư vì thường trụ mà lo
xây cất, khiến cho những tăng sĩ gian xảo được lợi. Nay Ðại Sư bị kết án là phạm
tội, vậy Ngài có được đối xử bình đẳng không ?"
Vì thế, đích thân Vương An Bộ ra lệnh cho quan phủ phải điều tra
sự vụ rõ ràng. Ông phái quan họ Trần đến Tào Khê tra vấn những tăng sĩ trong
chùa. Kết quả, quan họ Trần nhận thấy lời tố cáo của các tăng sĩ bại hoại hoàn
toàn không đúng với sự thật. Vì vậy, quan phủ địa phương tin tưởng Ngài vô tội,
nên thỉnh Ngài trở về Tào Khê.
Những tăng sĩ bại hoại cuối cùng phải khai rõ tội trạng. Nhờ
điều tra sự kiện từng chi tiết, quan phủ biết được là những tăng sĩ bại hoại chỉ
đặt điều vu khống, vô căn cứ. Họ vu khống cho Ngài là lạm dụng, lấy hơn tám ngàn
đồng tiền vàng. Tuy nhiên, khi đặt Thanh Quy thọ nhận tiền cúng dường, Ngài đã
lập sổ sách chi phiếu rõ ràng. Tiền bạc được nhận đều ghi trong chi phiếu và sổ
sách đàng hoàng. Tất cả tiền thâu nhận hay chi phí, đều được thư ký và tăng giám
viện của chùa đảm trách. Cuối cùng, quan phủ biết rõ là Ngài chưa bao giờ chạm
đến tiền chùa. Vì vậy, kẻ trong cùng người ngoài chùa đều thấy rõ là Ngài vô
tội. Sự việc minh bạch rõ ràng. Quan phủ tức giận, định trừng phạt những tăng sĩ
vu khống đặt chuyện. Ngài cố gắng hết sức để bào chữa cho họ khỏi bị tội vạ.
Quan phủ thỉnh ở lại chùa ba lần, nhưng Ngài đều từ chối vì quá mệt nhọc trong
hai năm tới lui phán viện. Cuối cùng, Ngài giao chùa lại cho đệ tử là Hoài Ngu
quản lý, rồi đi đến Ngũ Dương, trú tại am Trường Xuân. Trừ thời gian qua đảo Hải
Nam, trong mười năm trường tại Tào Khê, Ngài dồn hết mọi sức lực để chấn chỉnh
trùng tu đạo tràng của Lục Tổ.
(Tại sao có chuyện lạ kỳ như vầy ? Ngài không nói rõ chi tiết,
nhưng chỉ nhắc đến việc một vài "tăng sĩ bại hoại" khơi dậy những chuyện rắc
rối. Sự việc chỉ xảy ra sau khi thống đốc Ðái Diệu, hộ pháp trung thành của
Ngài, bị cách chức. Như lời của Phước Chưng, việc thiết lập văn phòng tài chánh
tại dinh thống đốc để thâu nhận tiền cúng dường xây dựng chùa, khiến cho các
tăng sĩ đó mất đi dịp lấy tiền riêng như theo thông lệ. Vì không thể lấy tiền
hay thức ăn theo lệ thường, họ tố cáo Ngài tham nhũng tiền bạc xây chùa, hầu
mong quan quân đuổi Ngài đi nơi khác để giữ mối lợi lộc.)
Năm 1611, vào tháng ba Ngài đến núi Ðỉnh Hồ ở Ðoan Châu để dưỡng
bịnh. Sau khi được ân xá, Ngài vẫn còn bị triều đình kiểm soát. Ngài đợi triều
đình chánh thức tuyên bố ân xá. Vì không nhận được tin tức gì về bộ hình sự, nên
án của Ngài vẫn còn bị treo. Sau cuộc thẩm sát, cuối cùng Ngài được chánh thức
tha bổng. Thế là Ngài được tự do đi lại không những miền nam mà ngay cả miền bắc
nữa.
Do các đệ tử Nho giáo thỉnh cầu, Ngài lược giảng Ðại Học Yếu
Chỉ. (Quyển Ðại Học là một trong bốn quyển thuộc bộ Tứ Thư).
Năm sáu mươi bảy tuổi, tại am Trường Xuân, Ngài giảng Luận Ðại
Thừa Khởi Tín, Bát Duy Thức Quy Cũ, Bách Pháp Trực Giải, Pháp Hoa Kích Tiết Văn
Nghĩa cho các đệ tử. Vì Ngài tổng hợp các kinh lại để giảng giải, nên các đệ tử
khó hiểu ý chỉ. Do đó, Ngài viết chú giải từng phẩm rõ ràng trong từng bộ kinh.
|