|
HÁM SƠN
ÐẠI SƯ
TỰ TRUYỆN
Tỳ Kheo Thích Hằng Ðạt Việt dịch
~oOo~
Tào Khê
Vào đời Lương, có một vị Phạm Tăng từ Ấn Ðộ sang, pháp hiệu là
tam tạng pháp sư Trí Dược. Vị Phạm Tăng này đã từng nói với dân chúng địa phương
vùng Tào Khê:" Nơi đây phải nên kiến lập một ngôi phạm sát. Trong vòng một trăm
sáu mươi năm, sẽ có nhục thân Bồ Tát đến đây hoằng pháp. Các vị hãy nên hậu đãi
vị đó."
Ngôi chùa được xây sớm nhất vào thời đó là chùa Bảo Lâm. Minh
triều sơ niên, chùa Bảo Lâm được gọi là chùa Nam Hoa.
Tào Khê tuy là Tổ Ðình của Thiền tông, nhưng sau đời tổ Huệ Năng,
Thiền tông phân thành năm phái. Tự viện tại Tào Khê dần dần bị bỏ hoang. Tự viện
tuy lớn, nhưng đa số không có tăng sĩ cư trú, duy chỉ có thầy phương trượng và vị
hương đăng lo việc hương khói. Không lạ gì việc dân chúng đến chiếm cứ phòng ốc
đất đai mà tăng sĩ không ai có thể quản chế. Trước khi Ngài đến, tại Tào Khê,
bên ngoài tuy còn hình dáng chùa chiền, nhưng nội dung bên trong lại biến thái
thậm tệ.
Ðất đai chung quanh chùa được tăng sĩ khai khẩn trồng trọt cày cấy
và họ không trú trong tự viện mà thường sống bên ngoài nông trại như dân thường.
Ðến niên hiệu Hoằng Chánh, dân chúng bị nạn hạn hán thất mùa ở những nơi khác,
tìm đến lập nghiệp tại Tào Khê. Họ bắt đầu làm thuê và sống chung với tăng sĩ.
Tăng sĩ cũng làm ăn như dân dã. Thế nên, dần dà không biết tài sản điền địa ở đó
thuộc về ai, tăng sĩ hay cư dân. Chu vi chùa Nam Hoa từ từ bị dân chúng chiếm lấy
để xây dựng nhà cửa, mở mang chợ búa. Thế nên, Tào Khê không còn là đạo tràng
thanh tịnh của Phật Tổ như xưa.
Ðến đời của ngài Hám Sơn, Tào Khê không còn là linh địa của thiền
tông. Tự viện nơi đó biến thành nhà cửa làng xóm chợ búa của dân thường. Tăng sĩ
thường bị dân chúng khinh khi. Nhìn thấy cảnh trạng đó, Ngài rất đau lòng chua
xót. Lần đầu đến Tàu Khê, Ngài tự nhủ là sẽ quyết tâm trùng tu, khôi phục lại
ngôi Tổ Ðình.
Lần thứ hai đến Tào Khê vào năm năm mươi sáu tuổi, Ngài miêu tả
Tào Khê như sau:" Thấy phía đông chùa có bọn du đãng tụ tập tại sơn môn, mở quán
rượu thịt, thật rất bẩn thỉu. Việc này đã kéo dài hơn một trăm năm. Trong và
ngoài chùa đều dơ bẩn. Ngọn núi xây tháp thờ Tổ Sư bị các băng đãng chiếm làm
nghĩa địa. Ðất của tăng chúng bị phân chia. Các du đãng lập kế thông đồng với
các địa chủ bên ngoài, đánh lừa và dọa nạt, khiến những vị tăng còn lại trong
chùa không dám thưa kiện. Các địa chủ trong vùng dùng thủ đoạn xảo thuật xâm chiếm
tài sản điền địa của tăng sĩ. Họ còn thông đồng với quan lại địa phương để đuổi
các tăng sĩ ra khỏi núi."
Ðến Tào Khê, nhìn thấy hiện trạng suy đồi này, Ngài tự nghĩ là một
mình không có cách gì để phục hưng lại Tổ đình thiền tông. Vì thế, Ngài chỉ còn
cách là đi cầu sự giúp đỡ của quan triều. Trong quan phủ có nhiều vị tin tưởng
Phật pháp, nên rất thương hại cho tăng sĩ. Các đại quan như Trần Ðại Liệu, Chu Hải
Môn, Chúc Tinh Tồn, Ðái Diệu đều hy vọng là Ngài sẽ chấn chỉnh lại linh khí Tào
Khê. Quan sử Nam Thiều Chúc Tinh Tồn rất có cảm tình với Tào Khê. Khi Ngài vào
núi chấn chỉnh đạo tràng Tào Khê, ông giúp đỡ nhiệt tình.
Sau khi Ngài giải nạn cho đại tướng quân, thống đốc Ðái Diệu thấy
Ngài là một người rất có tài cán, nên thiết đãi Ngài trọng hậu hầu mong Ngài sẽ
phục vụ và giúp đỡ ông ta giải quyết những vấn đề khó khăn. Do Ngài muốn ẩn cư
tu hành, không thích giao du qua lại mật thiết với quan lại vì sợ sẽ tự chiêu họa,
nên từ chối lời thỉnh mời của Ðái Diệu.
Lần này Ngài đến nhờ sự giúp đỡ, ông ta lập tức hạ lịnh cho quan
huyện địa phương tự thân dẫn quân đến Tào Khê. Trong vòng ba ngày, cư dân du
đãng cưỡng chiếm đất đai điền sản của chùa đều dời đi nơi khác. Từ đó, tăng
chúng trong chùa Nam Hoa tại Tào Khê dọn dẹp sạch sẽ tất cả dơ bẩn tích tụ trong
bao năm.
Sau đó, Ngài liền sửa sang quán rượu thịt lại thành tịnh xá cho
khách lên núi lễ Phật nghỉ ngơi. Nơi phía đông chùa, Ngài lập lữ quán cho quan lại
lên núi nghỉ chân. Từ từ, Ngài trùng hưng chấn chỉnh lại đạo tràng Phật Tổ.
Biết Ngài đã chấn chỉnh xong Tào Khê, thống đốc Ðái Diệu thiết
đãi buổi cơm chay và cùng Ngài đàm luận. Thống đốc bảo: "Tôi đã giúp Ngài dọn dẹp
sạch sẽ rác rưới tại Tào Khê rồi. Trước mắt sanh linh đang bị lầm than. Xin Ngài
hãy từ bi cứu hộ."
Ngài hỏi: "Việc gì thế ?"
Thống đốc nói:" Ðại Sư có biết hoàng thượng phái quan sử đến đây
trông coi việc mò ngọc trai không ?"
Ngài đáp:" Vâng, ai ai cũng biết hoàng thượng phái quan sử đến
đây trông coi việc mò ngọc trai. Không biết đại nhân muốn chỉ giáo điều gì ?"
Thống đốc nói:" Việc thứ nhất là thuyền bè mò ngọc trai có hàng
ngàn chiếc. Song, những người lợi dụng hành nghề mò ngọc trai trên những chiếc
thuyền này vốn là hải tặc; chúng giết người cướp của trên biển cả, gây bao việc
hung ác. Hiện tại, những chiếc thuyền này lợi dụng việc cho phép mò ngọc trai của
triều đình, nên lại hoành hành hơn trước. Ngày không mò ngọc trai, chúng không
trở về nhà mà ở trên biển hoành hành cướp bóc, không coi pháp luật ra gì. Quan
quân cũng không có biện pháp gì để ngăn chận. Ngư phủ trong vùng không dám ra biển
đánh cá.
Việc thứ hai là nhiều quặng mõ bị đào xới. Các thợ đào mõ rất
hung hăn. Những ngôi mộ bị đào xới và nhà cửa dân chúng bị phá vỡ. Mọi nơi, dân
chúng đều là nạn nhân của những sự phá hoại này. Họ không thể sống an lành được.
Vậy phải làm thế nào ?"
Ngài đáp: "Những việc này không phải giải quyết dễ dàng."
Duyên lành may mắn, quan họ Lê trông coi việc mò ngọc trai và
đào mỏ lại là Phật tử có tín tâm. Nghe tin Ngài đang trùng hưng pháp đuờng tại
Tào Khê, ông ta đến đó lễ bái nhục thân Lục Tổ và lưu lại chùa vài ngày để nghe
giảng kinh thuyết pháp. Nhân dịp này, Ngài khuyến khích ông ta cúng dường tiền để
trùng hưng lại Tổ Ðường. Quan họ Lê đáp ứng rất nhiệt tình. Ngài cùng ông ta đàm
luận cả vài ngày. Hôm nọ, biết thời cơ đã chín mùi, Ngài bảo:" Bần tăng có việc
rất khó giải quyết, không biết đại nhân có thể giúp được không ?"
Ông đáp:" Xin Ðại Sư cứ nói."
Ngài bảo:" Bần tăng nghe nói những chiếc thuyền mò ngọc trai khi
hết hạn lại không chịu trở về bến mà ở tại biển hoành hành cướp bóc. Ðối với việc
này, đại nhân có biết đến chăng ?"
Ông hỏi:" Ðại sư ở tại chùa thì làm sao biết đến những việc này
?"
Ngài đáp:" Hiện tại bá tánh đang khổ sở vì bọn hải tặc hoành
hành. Dân chúng ta thán oán hận đằng đằng. Chư Phật từ bi, làm sao không biết đến
?"
Ông nói:" Việc mò ngọc trai là ý chỉ của hoàng thượng. Nếu như
dân chúng có oán trách, tại hạ cũng không cách gì để giải quyết."
Ngài nói:" Bần tăng có lời đề nghị là xin đại nhân hãy ra lịnh
cho những chiếc thuyền mò ngọc trai phải trở về bến sau khi đã mãn hạn. Ngược lại,
nếu ở trên biển quá thời hạn thì phải bị triều đình trừng phạt. Việc này đâu có
trái ngược với thánh chỉ của hoàng thượng !"
Ông trầm ngâm một chút rồi nói:" Ðại sư còn việc gì nữa, xin hãy
nói ra !"
Ngài bảo:" Việc đào mỏ lại thường nhiễu nhương dân chúng thái
quá. Xin đại nhân hãy ra lịnh ngưng đào xới hầm mỏ tại nhà cửa và phần mộ của
dân chúng và trả lại đất đai cho họ. Công đức này sánh bằng bố thí ngàn muôn lượng
vàng, tu tạo hàng trăm chùa viện."
Nghe lời phân trần của Ngài, quan sử họ Lê hạ lịnh giám sát và
gia hạn thời gian cho các chiếc thuyền mò ngọc trai và ngưng việc đào xói nhà cửa
dân chúng. Sau việc này, thống đốc Ðái Diệu rất cảm kích công ơn của Ngài, nên
qua lại rất thân mật. Ông trở thành một vị đại hộ pháp, luôn trợ giúp Ngài trong
công việc khai núi kiến tự, đào suối sửa đường, tuyển tăng thọ giới, khai đường
thu đệ tử tại Tào Khê. Trong vòng một năm, Ngài an tâm ở lại Tào Khê, phục hưng
thanh thế đạo tràng thiền tông.
Tại Tào Khê, Ngài khai khẩn đất hoang, sửa đổi phong thủy của đường
lộ, (theo ý Ngài thì sự suy đồi của thiền tông tại Tào Khê một phần do sự mất đi
hình thể chính của núi. Vì thế, Ngài sửa chữa lại đường lộ để bảo tồn linh khí của
núi, tức hình thể Long Tượng), tuyển trạch tăng sĩ, lập đàn truyền giới, mở trường
nghĩa học (trường học miễn phí), nuôi dưỡng Sa Di, thiết lập thanh quy, kiểm tra
thuế má đất đai cho mướn, lấy lại tài sản cho tăng chúng, thâu hồi đất đai bị
chiếm mất. Tất cả công việc được hoàn tất trong vòng một năm.
Năm 1602, sắp xếp công việc trùng hưng chùa chiền xong xuôi, bước
kế là Ngài tuyển chọn đệ tử. Có chùa tức phải có tăng. Thế nên Ngài tuyển chọn
tăng chúng trên hai mươi tuổi và dưới bốn mươi tuổi. Ngài cũng quy định tăng
chúng mỗi ngày bốn thời công phu tụng kinh niệm Phật bái sám. Song, có một số
tăng sĩ tuy cắt tóc vào chùa, nhưng trong tâm lại không muốn tu hành, nên không
biết ý nghĩa xuất gia là gì, chỉ thích làm nghề cày cấy. Hầu mong giúp họ hiểu
rõ Phật pháp, Ngài cố ra công sức dạy dỗ, nhưng thật rất khó. Ngài lại mời các
nhà nho như Lương Tứ Tương, Long Chương v.v... đến dạy tứ thư, đạo lý làm người
cho các chú tiểu, từ tám tuổi đến hai mươi tuổi. Sau ba năm học tập, những chú
tiểu này chính thức xuất gia, trở thành đệ tử của chùa Nam Hoa.
Năm 1603, vào tháng mười một vì sự liên hệ với Ngài và vụ án Yêu
Thư tại Bắc Kinh, thiền sư Ðạt Quán bị bắt bỏ tù. Khi xưa, biết không thể trốn
thoát hình phạt, Ngài yên tâm chờ đợi lịnh xử án. Nhờ hoàng đế khoan hồng, nên
Ngài thoát chết và được giải vào vào nam.
* Lời bàn của Phước Chưng *:
Năm đó, thiền sư Ðạt Quán ngồi thiền nhập định mà qua đời trong
ngục tù. Trong quyển tự thuật ngài Hám Sơn không nhắc đến sự kiện này. Song, vài
năm sau lúc tham dự buổi lễ trà tỳ nhục thân thiền sư Ðạt Quán, Ngài có viết rất
nhiều bài kệ tán thán vị pháp hữu của mình và được khắc ghi trên mộ bia.)
Năm 1604, vào tháng giêng, vì việc của thiền sư Ðạt Quán, triều
đình ban lịnh cho cho quan địa phương đưa Ngài về viện thẩm phán. Ngài theo lịnh
triều đình, rời Tào Khê để trở về Lôi Châu. Ngài nhớ lời của thiền sư Ðạt Quán:
"Kinh Lăng Nghiêm thuyết về nhân quả trong bảy loài, nhưng chưa có sách vở thế
gian nào giải thích hết."
Khi đó, Ngài đáp: "Truyện Xuân Thu bàn về nhân quả rõ ràng."
Sau này Ngài viết quyển "Xuân Thu Tả Thị Tâm Pháp."
(Trong quyển sách này, Ngài nhắc nhở gián tiếp nhà vua đương thời
về việc ảnh hưởng tai hại lòng tin ngu muội vào các cung tần mỹ nữ của các triều
vua trước. Những cung tần mỹ nữ này là một trong những nguyên nhân chính làm sụp
đổ triều đình.)
Năm 1605, vào tháng ba Ngài vượt biển đến đảo Hải Nam, nơi vùng
đất tận cùng về phía nam của Minh triều. Từ xưa đến nay, đảo Hải Nam vốn là nơi
lưu trú của những quan lại, tướng sĩ, học giả, đạo sĩ, tăng sĩ bất đồng chánh kiến
với triều đình. Xưa kia, Tô Ðông Pha vì bất đồng ý kiến với các đại thần trong
triều nên bị bãi chức và đày ra đảo Hải Nam lúc sáu mươi tuổi. Tuy cách xa cả
năm trăm năm, nhưng tâm tình và hoàn cảnh của Ngài thật giống với Tô Ðông Pha.
Song, so với Tô Ðông Pha, Ngài có phần phước nhiều hơn vì không bị triều đình bức
bách quá đáng.
Ngài đến thăm am
Quánh Lang của Tô Ðông Pha và suối Bạch Long. Ngài tìm kiếm di tích của thiền sư
Giác Phạm nhưng không được. Ngài trú tại tháp viện Minh Xương và viết lời tựa
cho quyển "Xuân Thu Tả Thị Tâm Pháp". Ngài đến núi Danh Sơn, viết quyển "Quỳnh Hải
Tham Kỳ Ký", tức quyển sách tham tầm đảo Hải Nam, và quyển "Kim Túc Tuyền Ký", tức
quyển ký sự dòng suối gạo vàng. Tại Quỳnh Châu, vào một đêm nọ Ngài ra Quận
Thành ngắm cảnh trăng khuya, nhưng đột nhiên cảm thấy có điều chi lạ lùng. Ngài
phát hiện núi non suối ngàn lặng lẽ mà trong thành dường như không có bóng người,
duy chỉ có phía tây của Quận Thành là còn chút sinh khí. Do đó, Ngài bảo các đệ
tử: "Quỳnh Thành trong tương lai sẽ có thiên tai hoạn nạn.
Phải mau lễ sám cầu an."
Dân chúng trong vùng cho đó là lời huyễn hoặc nên không màng
đến. Sau khi vượt biển Hải Nam trở vào đất liền khoảng nửa tháng thì một trận
động đất lớn xảy ra tại Quỳnh Châu. Tất cả nhà cửa phòng ốc phía đông Quận Thành
cùng cách tường và cổng thành đều bị hủy hoại. Tháp Minh Xương bị đổ sụp. Căn
nhà Ngài ở khi trước, cũng bị đổ nát tan tành.
Trước đó, khi sắp trở vào đất liền tuy được các quan dân sĩ phu
trong vùng cố lưu giữ, nhưng Ngài không dám ở lại. Nếu không đi, thì chắc thân
Ngài đã thành tro bụi rồi. Sau trận động đất, lòng tin tưởng của họ đối với Ngài
thực rất sâu đậm. Khi lênh đênh trên vịnh Hải Nam để vào đất liền, Ngài có dịp
ngắm cảnh Quỳnh Hải. Ðảo Hải Nam là một trong những hòn đảo lớn nhất của nước
Tàu.
Tháng tư, thống đốc họ Ðái ra lịnh cho Ngài trở về Ngũ Dương.
Tháng bảy, Ngài trở lại Tào Khê, tiếp tục công trình trùng tu
chùa. Khi Ngài rời Tào Khê, những phòng ốc cũ đã được phá hủy và đang được xây
dựng lại. Lúc trở về, công trình trùng tu chùa chiền đã xong khoảng bảy mươi
phần trăm. Tiền công và vật liệu tốn khoảng vài ngàn đồng vàng. Số tiền này đều
do Ngài đi hóa duyên mà được. Song cũng chưa đủ, nên Ngài khuyến khích hai vị
quan nội sử cúng dường. Số tiền cúng dường được trả tiền nợ và cũng dùng để sửa
chữa am Trường Xuân ở Ngũ Dương, làm nơi thu nhận tiền cúng dường xây dựng chùa
Nam Hoa ở Tào Khê.
Tháng mười, hai thị giả Quảng-ích và Quảng Nhiếp xuất gia.
|