Du Tăng Cầu Pháp

Châu Sĩ Hành
Vu Pháp Lan
 
 
 

Du Tăng Cầu Pháp

Dịch giả: Thích Hằng Đạt

***

Chú thích:

I.

1. Trường An là kinh đô của nhà Tiền Hán (202 tT.L-24 s.T.L) và nhà Tùy (589-618). Nhà Tây Tấn, gần thời ngài Pháp Hiển, dời kinh đô về gần hay tại Nam Kinh. Ðương thời Trường An là kinh đô của tam Tần (Tiền Tần, Hậu Tần, Tây Tần).

2. Niên hiệu Hoằng Thủy từ 399 đến 414, là vương quốc mạnh nhất của triều Dao Hưng, Hậu Tần.

3. Pháp danh của các vị tăng.

4. Tạng Luật là một trong ba đại tạng quan trọng của Phật giáo, tức là Kinh, Luật Luận.

5. Lung ở thị trấn Lan Châu, phía tây của thành phố Tây An.

6. Càn Quy là vua thứ hai của Tây Tần thuộc bộ lạc Tiêu Ti, đóng đô gần Lan Châu. Hiện tại là Lan Châu Thị Tứ của tỉnh Cam Túc.

7. Ðức Phật chế giới cho chư tỳ kheo vào mỗi năm phải an cư kiết hạ để trau dồi giới đức cùng việc tu tập.

8. Ngũ Lương trong thời loạn ly Ðông Tấn. Danh hiệu Lương cho đến này nay vẫn còn, tức Lương Châu ở tỉnh Cam Túc. Nam Lương do Thái Sơ Ðiểu Cô lập nên vào năm 397, rồi người em là Lợi Lộc Cô kế vị vào năm 399, và người em kế là Nậu Ðàn kế vị vào năm 402.

9. Trường Dịch ở tỉnh Cam Túc, gần Vạn Lý Trường Thành.

10. Ðàn Việt phát xuất từ chữ Ðàn Na, hay là hạnh Bố Thí trong lục độ. Ðàn Việt là những vị hành hạnh bố thí để vượt qua biển khổ.

11. Giữa những vị du tăng thầy Bảo Vân là vị xuất sắc nhất vì đã phiên dịch rất nhiều kinh điển từ tiếng Phạn sang tiếng Hán khi trở về cố quốc. Hiện giờ hình như chỉ còn một bản dịch của Thầy. Thầy tịch vào năm 449. (Hãy xem bản Nanjio's Catalogue ofTripitaka, col 417.)

12. Ðây là lần an cư kiết hạ thứ nhất của các du tăng vào năm 400, từ khi rời Trường An.

13. Tức là huyện Ðôn Hoàng của tỉnh Cam Túc, và ở tại tây ngạn của sông Hắc Hà.

14. Lý Hạo được vua nước Bắc Lương phong làm thái thú vào năm 400, và làm chức quận công của nước Tây Lương cho đến khi mất vào năm 417.

15. Bãi sa mạc này dài khoảng 2.100 dặm. Theo truyền thuyết có 360 thành ấp bị gió cát sa mạc này chôn vùi trong vòng một ngày.

_____________________________________________________________

II.

1. Nước Thiện Thiện (Lobnor) là một quận nhỏ của nhà Tiền Hán.

2. Ðây là ngài Pháp Hiển muốn nói đến nước Hán (hay nước Tàu). Triều Hán kéo dài gần năm thế kỷ. Song, đôi khi ngài Pháp Hiển cũng dùng danh tự "đất Tần hoặc đất Tấn" để chỉ cho nước Tàu.

3. Danh từ sa môn tức chỉ cho các vị tăng sĩ Phật giáo. Chữ sa môn xuất phát từ chữ Sramana của tiếng Phạn hay Samana của tiếng Pali.

4. Thiên Trúc tức là nước Ấn Ðộ ngày nay.

5. Người Tartar hay người Mông Cổ.

6. Nước Ô Di (Karashhr) hiện nay là huyện Yên Kỳ ở tỉnh Tân Cương, thuộc vùng tự trị của người Hồi.

7. Chỉ cho nước Tàu.

8. Những vị bị bỏ lại tại Ðôn Hoàng.

9. Cao Xương (Turfan hay Tanggut), thuộc vùng đất của Ouighurs.

10. Vu Ðiền (Khotan) là thị trấn quan trọng nằm trên con lộ phía nam ở Tây Vức. Dân chúng đương thời theo Phật giáo đại thừa.

_____________________________________________________________

III.

1. Nghĩa là tăng phòng dành cho chư khách tăng từ bốn phương khác đến.

2. Tăng Già Lam nghĩa là ngôi chùa.

3. Cù Ma Ðế (Gotami) tiếng Tàu dịch là Ngưu Ðiền.

4. Tịnh nhân tức là chư sa môn thanh tịnh.

5. Bảy vật trân báu là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, kim ngân, hỗ phách.

6. Tức ngọn núi Thông Lĩnh.

_____________________________________________________________

IV.

1. Theo quyển Hán Thư thứ 96, tr.78, kinh đô của nước Kế Tân (Kashmir) cách Trường An khoảng 12.200 dặm. Hiện nay, nước Kế Tân là một phần hay toàn phần của Cabulistan.Thủ đô Capul của nước Afghanistan (A Phú Hãn), có thể là vùng Kế Tân.

2. Tử Hợp tức Karghlik.

3. Ư Huy nằm phía tây nam của Kỳ Bàn Trang, và tây nam cửa khẩu của núi Khố Lạp Mã Ðặc.

4. Ðã trải qua hai năm từ khi họ rời Trường An. Vậy thì lần an cư kiết hạ này là vào năm 402.

5. Vị đi trước họ từ nước Vu Ðiền.

_____________________________________________________________

V.

1. Lễ Bàn Giá Vượt Sư tức là pháp hội Vô Giá trong mỗi năm năm do vua A Dục phát khởi. Pháp hội Vô Giá được tổ chức với mục đích ban phát của cải cho người nghèo. Ðây cũng là pháp hội sám hối. Ở Ấn Ðộ, pháp hội Vô Giá thường được nhà vua tổ chức để cúng dường thức ăn cho chư tăng và phân phát đồ đạc cho người nghèo. Trong quyển Lịch Sử Văn Minh Ấn Ðộ, trang 157, ông Nguyễn Hiến Lê viết: "...Huyền Trang, nhà sư đi thỉnh kinh nổi tiếng nhất của Trung Hoa, bảo rằng vua Harsha cứ năm năm lại tổ chức một đại lễ để bố thí. Ông mời đại diện tất cả tôn giáo, gọi tất cả những người nghèo khổ trong nước lại. Ông có thói quen, trong quốc khố còn chứa bao nhiêu tiền thuế dành dụm từ đại lễ lần trước (nghĩa là năm năm trước), lần này đem ra bố thí hết. Huyền Trang ngạc nhiên thấy biết bao nhiêu vàng bạc, tiền và nữ trang, tơ lụa gấm vóc chất đống trong một khoảng rộng, chung quanh có cả trăm cái lều chứa cả ngàn người. Ba ngày đầu cúng bái, tụng kinh; ngày thứ tư bắt đầu bố thí. Theo lời vị cao tăng đó - có vẻ không tưởng tượng nổi - hàng vạn tăng được cấp thức ăn uống, rồi được tặng mỗi người một viên ngọc trai, y phục, hoa, dầu thơm và trăm đồng tiền. Các tu sĩ Bà La Môn cũng được hậu tặng gần như vậy, rồi tới các tư sĩ Jain, rồi tới các giáo phái khác, sau cùng tới lượt các người nghèo không theo một tôn giáo nào, những trẻ mồ côi trong nước. Có khi bố thí tới ba bốn tháng mới hết. Sau cùng chính nhà vua Harsha cởi hết y phục rực rỡ, lột hết vàng bạc châu báu đeo trong mình để phân phát."

2. Hiển nhiên là chư tăng nơi đó có thần thông khống chế thời tiết.

_____________________________________________________________

VI.

1. Nước Ðà Lịch hiện nay là biên giới phía bắc vùng Ðạt Lệ Di của nước Pakistan (Ba Cơ Tư Thảm).

2. Nội viện Ðâu Suất (Tushita) là nơi chư Bồ Tát nhất sanh bổ xứ thành Phật, nghĩa là nơi chư đại Bồ Tát trú ngụ đời cuối cùng trước khi giáng sanh thành Phật. Tuổi thọ ở cõi trời Ðâu Suất là 4.000 năm. Một ngày một đêm ở cõi trời Ðâu Suất bằng bốn trăm năm ở cõi Ta Bà.

3. Bồ Tát Di Lặc sẽ đản sanh xuống cõi Ta Bà trong 5.000 tới, và sẽ thành Phật dưới cội Long Hoa. (Xin xem kinh Di Lặc Thượng Sanh và Hạ Sanh.)

_____________________________________________________________

VII.

1. Sông Tân Ðầu tức là sông Ấn Ðộ (Indus).

2. Chức phẩm quan lại đi theo đoàn quân Hán viễn chinh về miền tây để làm người phiên dịch.

3. Trương Khiên vốn là sứ quân nhà Hán. Theo lệnh vua Võ Hán (t.T.L 140-87) ông đi qua các nước Ô-tôn, Ðại Uyển, Khương Cư, Ðại Hạ (A Phú Hãn) và tuyên dương oai đức của nhà Hán, khiến cho nhiều nước quy phục Hán Triều. Do đó, ông được vua nhà Hán ban hiệu là 'Xuyên Hư Không'.

4. So với Trương Khiên, ông ít được biết đến. Với chức quan sứ giả triều đình, ông đi đến đế quốc La Ma theo lịnh của vua nhà Hán vào năm 88, nhưng chỉ đi tới biển Caspian rồi trở về. Song, nhờ ông mà triều thần đương thời mở rộng kiến thức về sự phát triển của các vương quốc ở phía Tây.

5. Chu Ðể Bình làm vua từ năm 750 đến 719 trước T.L (?)

6. Tam Bảo tức Phật, Pháp, Tăng.

7. Vào năm 61, vua Hán Minh Ðế (58-75) mơ thấy một vị thần tướng hảo uy nghiêm, thân vàng sáng chói, bay đến trước cung điện. Hôm sau, vua bèn hỏi triều thần và được quan Phó Nghị đáp rằng đó là đức Phật ở bên nước Thiên Trúc, một vị đại giác và có thần thông bay khắp nơi. Liền sau đó, vua Hán Minh Ðế bèn gởi đoàn sứ giả sang Thiên Trúc để tìm hiểu về vị thánh này cùng lời dạy của Ngài.

_____________________________________________________________

VIII.

1. Nước Ô Trường hiện nay thuộc địa phận vùng Tư Ngõa Ðặc ở bắc bộ thượng du sông Ấn Ðộ, của Pakistan.

2. Na Kiệt (Nagara) là một vương quốc thời cổ. Vương thành nằm về phía nam con sông Cabul, cách Jellalabad khoảng ba mươi dặm về phía tây.

3. Tức là năm 403.

4. Hiện tại thành Swat của Pakistan.

_____________________________________________________________

IX.

1. Tức thành đạo.

_____________________________________________________________

X.

1. Cách Bạch Sa Ngõa của Pakistan về phía đông bắc 17 dặm.

2. Vua A Dục (Asoka) là cháu nội của vua Chandragupta, vị đã từng lánh nạn trong trại lính của đại đế Alexander the Great. Hai mươi năm sau, Chandragupta đánh đuổi quân Macédoine (Hy Lạp) và tuyên bố Ấn Ðộ độc lập, rồi lên làm vua của nước Ma Kiệt Ðà (Magadha) đông đô tại Pataliputra. Sau khi kế ngôi vị của ông cha, vua Asoka được một vị A La Hán tế độ nhờ địa ngục trần gian của ông, rồi trở thành một vì vua Phật tử thuần thành nổi tiếng qua việc cho xây các cột trụ đá (nhờ những cây cột trụ mà các nhà khảo cổ học mới tìm được các di tích về cuộc đời và sự truyền giáo của đức Phật ở Ấn Ðộ) và 84.000 ngọn tháp xá lợi, gởi những đoàn truyền giáo đi khắp châu Á, và ban hành những đạo luật về tôn giáo phù hợp với tinh thần của Phật pháp.

3. Ðây là mẫu truyện về tiền thân đức Phật trong quyển Jâtaka.

_____________________________________________________________

XI.

1. Tại Lạp Ngõa Di Phẩm Ðệ về tây bắc cổ thành Tích Di Tạp Mạt, Pakistan.

2. Trong truyện Jâtaka, khi Bồ Tát là vị bà la môn ở làng Daliddi, Ngài cắt đầu mình cho người. Nhờ công đức này mà Ngài được vãng sanh lên cung trời Ðâu Suất.

____________________________________________________________

XII.

1. Tức vùng Bạch Sa Ngõa của nước Pakistan.

2. Xuất thân từ bộ lạc Kushan, có huyết thống với dân tộc Thổ (Turc), ở Trung Á, vào năm 10 ông đem quân xâm chiếm Taboul rồi làm vua cả vùng tây Ấn Ðộ và một phần lớn Trung Á. Sau khi được sự giáo hóa đột ngột của một vị thánh tăng, ông trở thành một Phật tử thuần thành hăng hái như vua Asoka. Chính ông đứng ra triệu tập chư tăng tham gia việc kết tập kinh điển, ghi soạn khoảng 300.000 kinh, luật, luận. Ông là một vì minh quân và vương quốc của ông vào đương thời rất hùng mạnh.

3. Nói cho đủ là Nam Diêm Phù Ðề (Jambudvipa), là một trong bốn châu chung quanh núi Tu Di. Ba châu kia là Ðông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, và Bắc Câu Lưu Châu. Cõi Nam DIêm Phù Ðề thường được chỉ cho Ấn Ðộ.

4. Có lẽ là vua Kiền Ni Ca vào đương thời.

5. Nghĩa là nhà vua tự nghĩ rằng mình chưa đủ phước báo để gìn giữ bình bát của đức Phật.

6. Tức các vị cư sĩ tại gia.

7. Xưa kia, lúc vừa thành đạo thì đức Phật liền được Tứ Thiên Vương dâng y bát cúng dường, nên Ngài nhận cả bốn rồi hóa thành một bình bát mà như có bốn lớp chồng lên nhau.

_____________________________________________________________

XIII.

1. Theo Ðại Ðường Tây Vực ký quyển 2 thì một do tuần được tính là 20 km; theo quốc tục Ấn Ðộ thì có 15 km. Phật giáo tính là 8km; theo phần Giáo Chú trong Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma 3 của Nghĩa Tịnh thì quốc tục Ấn Ðộ tính là 16 km, Phật giáo tính là 6 km.

2. Thành Hải La, hiện tại là Hidda, phía tây của Peshâwur (Trúc Sát Thi La), và cách Jellalabad năm dặm về phía nam.

3. Vị Phật thứ hai mươi bốn trước Phật Thích Ca Mâu Ni.

4. Cây tích trượng đồng màu nâu. Phía trên có dạng hình đầu trâu. Ðược làm gỗ chiên đàn từ Bắc Câu Lưu Châu.

5. Ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của đức Phật.

6. Tức là tất cả chư Phật.

7. Tức là đức Phật Ðộc Giác, do ngộ lý mười hai nhân duyên mà chứng quả, và ra đời khi không có vị Phật nào trụ thế.

_____________________________________________________________

XIV.

1. Thầy Ðạo Chỉnh và Huệ Cảnh.

2. Núi Tiểu Tuyết Sơn nằm vào phía nam ngọn núi Tắc Phất Ðức Khoa (Safeid Koh), trên đường đến thành Lạp Ba Ðức ở cửa khẩu Cổ Lạp.

3. Nước La Di (Kurram) gần rặng núi Tô Lai Mạn, tức là vùng phía đông của nước A Phú Hãn, và nằm trên đường đến sông Ấn Ðộ.

4. Tức là năm 404.

5. Hiện tại là quận Barnu của Pakistan.

_____________________________________________________________

XV.

1. Hiện tại là vùng Nỗ Giá Phổ (Punjâb) của Pakistan.

_____________________________________________________________

XVI.

1. Hiện tại là vùng Mã Hoặc Lý về phía tây nam của Mã Thổ Lạp (Muttra), Ấn Ðộ. Là quê quán của Krishna, người có biểu tượng chim khổng tước.

2. Hiện nay là sông Chu Mộc Nã (Jumna hay Yamunâ)

3. Tức là trung Thiên Trúc.

4. Hoặc Chiên Ðà La (Chandâlas), là những người đồ tể, ác ôn, và thường cầm cờ hiệu ghê gớm để đuổi người khác. Họ thuộc tập cấp thấp nhất trong xã hội Ấn Ðộ. Song, họ vẫn được chấp nhận vào tăng đoàn để làm tăng sĩ.

5. Tập tục khắc ấn những đặc hứa cho tăng lữ vào mảnh đồng thiếc thịnh hành trước và sau thời ngài Pháp Hiển.

6. Theo giới luật (Nam Tông), không vị tăng sĩ nào được dùng thức ăn cứng sau giờ ngọ, và không được uống những chất men say. Song, những vị du tăng có thể dùng những chất như bơ, sữa, dầu mè, mật ngoài giờ quy định.

7. Tức là theo luật nghi của tăng chúng.

8. Tôn giả Xá Lợi Phất (Sâriputtra) là đại đệ tử có trí huệ bậc nhất, và là cánh tay phải của Phật trong việc truyền bá chánh pháp. Tôn giả viên tịch trước khi đức Phật nhập Niết Bàn.

9. Tôn giả Mục Kiền Liên (Maha-maudgalyâyana) là cánh tay trái của Phật trong việc giáo hóa chúng sanh. Tôn giả là đại đệ tử có thần thông bậc nhất. Tôn giả đã từng dùng thần thông xuống địa ngục cứu độ bà mẹ (kinh Vu Lan Bồn). Tôn giả cũng viên tịch trước lúc đức Phật nhập niết bàn.

10. Tôn giả A Nan (Ânanda) là đại đệ tử đa văn bậc nhất. Tôn giả là người em họ của đức Phật. Tôn giả đản sanh vào ngày đức Phật thành đạo, nên Tôn Giả cũng có biệt danh là Khánh Hỷ. Tôn giả là vị thị giả thường đi theo hầu đức Như Lai trên hai mươi năm. Nhờ Tôn Giả cầu thỉnh mà đức Phật cho phép thành lập ni chúng, và cũng nhờ Tôn Giả tụng lại những lời giảng dạy của đức Phật mà hiện nay chúng ta mới có kinh điển để tu hành theo.

11. A Tỳ Ðàm (Abhidharma) tức là tạng Luận.

12. Tức là gia đình của những Phật tử thuần thành.

13. Tôn giả Ðại Ca Diếp (Mahâ-kasyapa) vốn là người dòng bà la môn ở vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha). Tôn giả là đại đệ tử tu hành khổ hạnh bậc nhất và được đức Phật truyền y bát, chính thức làm sơ tổ thiền tông. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, Tôn Giả dẫn năm trăm vị A La Hán vào hang núi để kiết tập kinh điển. Hiện giờ Tôn Giả vẫn còn nhập định trong núi Kê Túc để đợi đến khi Phật Di Lặc ra đời để truyền lại y bát của Phật Thích Ca.

14. Tôn giả La Hầu La (Râhula) là đại đệ tử có mật hạnh bậc nhất. Tôn Giả làm Pháp Tử cho chư Phật trong đời vị lai.

15. Bồ Tát Văn Thù (Manjusri) được tôn xưng là bậc 'Ðại Trí' (Mahâmati), và được sùng tín thờ phụng tại núi Ngũ Ðài (Trung Quốc).

16. Theo các học giả Phật giáo, huyền sử về Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara) cũng như Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là một nghi vấn lớn. Song, trong kinh điển Ðại Thừa thường nhắc đến hai vị Bồ Tát này như kinh Pháp Hoa và Lăng Nghiêm. Ở Trung Quốc, Bồ Tát Quán Thế Âm với ngàn tay ngàn mắt và dung mạo người nữ được tín chúng sùng bái rất phổ cập, nhất là tại núi Phổ Ðà, vốn là đạo tràng của Ngài. Ðối với người Tây Phương hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm cũng tương tợ như đức mẹ Mary của họ.

_____________________________________________________________

XVII.

1. Danh hiệu Tăng Già Thi cũng vẫn còn tại một ngôi làng cách Canouge về hướng tây bắc bốn mươi lăm dặm ở Samkassam.

2. Cung trời Ðao Lợi là nơi đức Phật thuyết kinh Ðịa Tạng cho mẹ Ngài. (dict.?)

3. Tôn giả A Na Luật (Anuruddha) là vị có thiên nhãn bậc nhất. Theo kinh Lăng Nghiêm thì do bị đức Phật quở trách vì ngủ gật trong khi nghe giảng kinh, nên Tôn Giả quyết chí tinh tấn tu hành suốt bảy ngày đêm mà không chợp mắt, khiến phải bị đui mù, nhưng sau này nhờ đức Phật chỉ dạy nên tu chứng quả thánh và đạt được thiên nhãn thông. Ngoài ra, trước khi đức Phật nhập niết bàn, nhờ Tôn Giả nhắc nhở mà tôn giả A Nan mới bạch vấn đức Như Lai bốn câu hỏi quan trọng (kinh Ðại Bát Niết Bàn), liên quan đến sự duy trì và tu hành của tăng lữ.

4. Chuyển Luân Thánh Vương (Chakravartti) cai trị bốn châu thuộc núi Tu Di và làm cho chánh pháp được trường tồn dài lâu ở thế gian. Cõi nước của vua giàu đẹp và nhân dân an lạc. Vua có bốn đức như sống lâu, không bệnh tật, dung mạo oai nghiêm, kho báu dồi dào. Vua có đầy đủ bảy báu như xe báu, voi báu, ngựa báu, minh châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu, binh đội báu.

5. Hoàng tuyền tức là dòng suối dưới mặt đất.

6. Ba vị Phật ra đời vào Hiền Kiếp của thời hiện tại, mà đức Phật Thích Ca là vị thứ tư, còn Phật Di Lặc sẽ là vị thứ năm và cuối cùng nhất trong kiếp này. Ba vị là: Thứ nhất, Câu Lưu Tôn Phật (Krakuchanda) đã ra đời và giáo hóa vô lượng chúng sanh. Tuổi thọ con người khi ấy là bốn mươi ngàn tuổi. Thứ hai, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật đã giáo hóa vô lượng chúng sanh. Ðương thời, con người thọ đến ba mươi ngàn tuổi. Thứ ba, Ca Diếp Phật cũng đã giáo hóa vô số chúng sanh. Thọ mạng con người đến hai mươi ngàn tuổi. Hardy's M.B., tr. 95-96.; và Davids' 'Buddhist Birth Stories', tr.51.

7. 'Hardy, M.B., tr. 194 viết:" Ðể biểu thị cho việc cúng dường ngôi vườn, nhà vua dâng nước và đổ trên lòng bàn tay của đức Như Lai. Từ đó, ngôi vườn ấy trở thành chỗ thường trụ của Ngài."

8. Tức là nơi trà tỳ nhục thân của Ngài. Hầu hết nhục thân của các vị tăng đều được trà tỳ (hỏa thiêu). Hardy's E.M., tr.322-324.

_____________________________________________________________

XVIII.

1. Tức là năm 405.

2. Kế Nhiêu Di hiện nay là thành Tạp Não Quý (Canouge), Ấn Ðộ.

3. Sông Hằng (Gangâ) nghĩa là 'dòng nước phép' và 'từ trên trời mà chảy xuống'.

_____________________________________________________________

XIX.

1. Ðại quốc Sa Chi hay là Sa Kỳ.

2. Chư tăng thường nhai nhành dương chi vào mỗi buổi sáng để xúc miệng.

_____________________________________________________________

XX.

1. Xá Vệ là vương thành của vương quốc Câu Tát La. Tướng Cunningham, nhà khảo cổ học người Anh, chấm nơi đó tại phía nam của Rapti, khoảngnăm mươi tám dặm về hướng bắc của Ayodyâ hay Oude. Nơi đó vẫn còn một thôn ấp lớn, nhưng đã bị hoang tàn, là Sâhet Mâhat.

2. Xưa kia, Ấn Ðộ có hai vương quốc, ở miền nam và miền bắc, đồng danh hiệu này. Ðây là vương quốc nằm ở miền bắc, một phần của Oudh.

3. Ba Tư Nặc (Prasenajit) là vị vua được đức Phật hóa độ trước nhất, và là một đàn việt tín thành nhất.

4. Tỳ kheo ny Ðại Ái Ðạo (Mahâ-prajâpati) vốn là nhũ mẫu của đức Phật và là vị dẫn năm trăm bà dòng Thích Ca đến nhờ tôn giả A Nan cầu thỉnh đức Thế Tôn cho phép hàng nữ chúng được xuất gia. Sau khi được đức Phật chuẩn y, bà chuyên cần trì giữ luật nghi cùng 'Bát Kính Giới' thanh tịnh, rồi đắc quả A La Hán.

5. Trưởng giả Tu Ðạt (Sudatta), thường được gọi là Cấp Cô Ðộc như trong kinh Phật Thuyết A Di Ðà. Khi ngài Pháp Hiển đến đó thì chỉ còn thấy tường vách và hồ nước của nhà ông thôi.

6. Tỳ kheo Ương Quật Ma (Angulimâya) vốn đã từng giết 999 người để lấy ngón tay trước khi được đức Phật hóa độ.

7. Tịnh xá Kỳ Hoàn (hay Kỳ Viên) do ông Tu Ðạt dùng vàng để mua lại căn vườn của thái tử Kỳ Ðà (Jeta) con của vua Ba Tư Nặc. Ðức Phật đã từng trú nhiều năm và thuyết nhiều bộ kinh tại nơi đây.

8. Ðây là lần đầu tiên mà ngài Pháp Hiển dùng chữ 'Hòa Thượng'. Ở Ấn Ðộ, tiếng địa phương của hai chữ này là 'Vẫn Xã'. Ở Kustana và Kashgar gọi là 'Cốt Xã'. Từ đó, người Tàu gọi là 'Hòa Xà', rồi 'Hòa Thượng'. Ban đầu, người Ấn Ðộ dùng chữ này để chỉ cho những ai dạy được Vedângas, một phần Vedas. Sau này, các nước Phật giáo ở miền Trung Á dùng chữ này để chỉ cho những vị tăng già niên trưởng, khác biệt với các vị Lạt Ma. Xưa kia, ở Trung Quốc, có ba danh từ khác nhau. 'Pháp Sư' chỉ cho những vị thường giảng kinh thuyết pháp. 'Luật Sư' chỉ cho những vị chú trọng về giới luật. 'Thiền Sư' chỉ cho những vị thường tu theo Thiền tông. Lần hồi, danh từ 'Hòa Thượng' được dùng để chỉ cho các vị trụ trì. Ngày nay, danh từ 'Hòa Thượng' được dùng phổ biến, tức chỉ cho mọi tăng sĩ.

9. Bà Tỳ Xá Khứ Mẫu (Vaisakha) vốn là vợ của ông Tu Ðạt

10. Theo sử thì bà Tôn Ðà Lợi (Sundari) bị các ngoại dạo bà la môn giết, rồi họ vu oan cho đức Phật.

11. Ðịa ngục A Tỳ.

12. Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) là anh của tôn giả A Nan. Từ bao đời tiền kiếp cho đến thời nay, ông luôn tìm cách hãm hại đức Phật. Song, dẫu bị đọa xuống địa ngục khi thân còn sống, đức Phật bảo rằng ông ta vốn là thầy của Ngài cùng là vị thiện tri thức, nên huyền ký cho ông ta sẽ thành Phật trong đời vị lai. (kinh Pháp Hoa, phẩm Ðề Bà Ðạt Ða).

13. Thiên tự là nơi bà la môn ngoại đạo thường hành lễ. Từ khi tôn giả Ca Diếp Ma Thắng và Trúc Pháp Lan được triều đình nhà Hán xây cho ngôi chùa 'Bạch Mã Tự', thì chữ 'Tự' được dùng phổ cập cho tất cả ngôi chùa. Song, ngài Pháp Hiển lại dùng chữ 'Tự' cho các đền thờ của chư bà la môn.

14. Theo ngài Pháp Hiển thì có ba giai đoạn của người Phật tử. Thứ nhất, 'Nhập Ðạo' tức là xả tục xuất gia cầu đạo. Thứ hai, 'Ðắc Ðạo' tức là chứng quả A La Hán. Thứ ba, 'Thành Ðạo' tức là thành tựu quả vị Phật.

15. Có thể là trung Ấn Ðộ.

16. Theo cổ giáo thì có ba mươi hai tông. Có thể mỗi tông phân thêm thành ba phái nhỏ.

17. Ðương thời, trên đường tiến quân sang đánh nước Ca Tỳ La Vệ, vua Lưu Ly gặp đức Phật đứng bên vệ đường dưới cây cổ thụ sakoto khô tàn. Ông ta liền hỏi đức Phật rằng tại sao Ngài lại đứng tại nơi không có bóng mát che chở. Ðức Phật đáp rằng thân tộc và quyến thuộc của Ngài là bóng cây che mát cho mình. Cảm động trước lời này, vua Lưu Ly tạm thời rút quân trở về thành Xá Vệ, nhưng sau này lại dẫn binh qua đánh chiếm thành Ca Tỳ La Vệ. Biết đây là định nghiệp, nên cuối cùng đức Phật đành bó tay.

18. Vua Lưu Ly (Virudhha) vốn là con của vua Ba Tư Nặc, vương quốc Câu Tát La. Ông giết sạch dòng họ Thích Ca và tàn phá vương thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) vì nhân duyên oán ân trong đời tiền kiếp. (Xin xem lại câu chuyện về dân làng nọ ăn thịt cá, và đức Thế tôn bị quả báo đau đầu vì đánh côn lên đầu con cá đó, trong quyển truyện Jataka, tức những mẫu truyện về tiền thân của đức Phật.)

19. Nước Xá Di tức là vương quốc Ca Tỳ La Vệ.

_____________________________________________________________

XXI.

1. Thành Ðô Duy được ông Cunningham chấm là làng Tadwa, cách Sâhara-mahat chín dặm về phía tây.

2. Nơi đản sanh của Phật Ca Diếp chung quy thường được nghĩ là xứ Ba La Nại (Benâres). Theo sự tính toán của Rémusat thì từ khi Phật Ca Diếp đản sanh cho đến năm 1832 là 1.992.859 năm!

3. Dường như là mỗi vị Phật đều phải gặp cha mình tại nơi đó.

4. 'Sau khi trà tỳ, toàn thân xá lợi xương cốt của Ngài vẫn còn y nguyên hoàn hảo. Thế nên, tất cả dân chúng trong cõi Diêm Phù Ðề cùng nhau xây ngôi tháp thờ toàn thân xá lợi của Ngài cao một do tuần', Hardy's M.B., tr.97.

5. Theo ông Eitel thì đức Phật này đản sanh tại thành An Hòa, còn theo ông Hardy thì Ngài đản sanh tại Mekhala.

_____________________________________________________________

XXII.

1. Thành Ca Tỳ La Vệ nằm bên bờ sông Rohini, xứ Kohana, cách thành Ba La Nại (Benâres) khoảng 100 dặm về hướng tây bắc.

2. Vua Bạch Tịnh (Suddhodana) thường bị gọi nhầm lẫn là vua Tịnh Phạn.

3. Hoàng hậu Maya là con của vua Anjana, vương quốc Koli.

4. 'Trước khi giáng sanh từ cung trời Ðâu Suất xuống đến cõi Ta Bà để thị hiện thành Phật chứng quả, Bò Tát quan sát xem bốn phương, rồi cuối cùng thấy bà hoàng hậu Ma Da chính là từ mẫu, nên vào giữa đêm, hiện thân voi trắng sáu ngà mà nhập thai.' Hardy's M. B., tr.140-143. (xem thêm trong kinh Bản Hạnh)

5. 'Ngày nọ, khi thái tử Tất Ðạt Ða vừa ra cổng thành phía đông thì thấy một vị Phạm Thiên hiện thân một kẻ bịnh cùi đầy lở loét, thân hình như bọc nước, đôi chân ốm gầy như chày giã gạo. Sau khi được Xa Nặc, người đánh ngựa, cho biết đó là ai thì thái tử bèn xoay trở về cung thành.' Hardy's M.B., tr. 154-155.

6. Tiên A Tư Ðà, tiếng Pali gọi là Kalâ Devala, đã từng làm quan dưới triều cha của vua Bạch Tịnh. Eitel, tr. 15.

7. Trong quyển' Cuộc đời của đức Phật' viết: "Những người Lệ Xá ở thành Tỳ xá ly gởi đến cho thái tử Tất Ðạt Ða một con voi đẹp. Song, vừa đến thành Ca Tỳ La Vệ thì Ðề Bà Ðạt Ða vì tâm ghen ghét nên bèn đấm chết con voi này. Nan Ðà, người em cùng cha khác mẹ của thái tử, đang trên đường đi, thấy xác voi bèn kéo nó sang bên vệ đường. Bồ Tát vừa thấy thế bèn quăng xác voi qua bảy tầng lưới và bảy ao hồ. Xác voi rơi xuống quá mạnh nên làm thành một ao trũng. Ðương thời, Bồ Tát chỉ mới được mười tuổi.

8. Năm mười bảy tuổi thái tử Tất Ðạt Ða thi bắn cung tên và thắng hết mọi cuộc thi.

9. Tôn giả Ưu Ba Ly là vị đại đệ tử nghiêm trì giới luật tinh cẩn nhất. Tôn giả vốn là thợ hớt tóc nhưng cũng được Phật cho phép xuất gia. Sau này, chính Tôn Giả là vị đã tuyên đọc lại tạng luật trong lần kết tập kinh điển đầu tiên do tôn giả Ðại Ca Diếp chủ trì.

10. Theo Mr. Rhys Davids' note, Manual, tr.39, thì một nhánh cây Ni Câu Luật (nyagrodha) được chiết ra từ Buddha Gayâ và đem qua Anurâdhapura ở Tích Lan vào giữa thế kỷ thứ ba trước công nguyên, mà hiện nay vẫn còn sống. Ðây là cây già nhất trong lịch sử thế giới.

11. Tu Ðà Hoàn là sơ quả A La Hán, và được gọi là quả 'Dự Lưu', tức là vừa vào dòng thánh, và sẽ chứng quả A La Hán sau khi sanh lên cõi trời và người trong bảy đời. (Xin xem kinh Bốn Mươi Hai Chương).

Vừa chiếm kinh thành Ca Tỳ La Vệ, vua Lưu Ly ra lịnh bắt năm trăm cung nữ dòng họ Thích Ca để làm cung nữ phục vụ ông ta, nhưng bị họ cự tuyệt. Tức giận, vua Lưu Ly ra lịnh cắt chân tay của họ, rồi liệng thân hình còn lại xuống bờ ao. Ðức Phật nghe tin bèn đến đó, nhờ các đệ tử giúp họ buộc lại những vết thương và thuyết pháp cho họ. Mạng chung, họ vãng sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, rồi bay xuống đảnh lễ đức Phật tại tịnh xá Kỳ hoàn. Ðược nghe Phật giảng dạy, họ liền chứng sơ quả A La Hán. 'Cuộc đời của đức Phật', tr. 121.

_____________________________________________________________

XXIII.

1. Râma ở giữa Kapilavastu và Kusanagara.

2. Trà tỳ kim thân đức Phật xong thì một người bà la môn đứng ra chia xá lợi của Ngài ra làm tám phần để cho tám quốc vương mang về xây tháp phụng thờ. Ông là một trong tám vị vua đó.

3. Ðây là biểu trưng cho 84.000 pháp môn đức Phật đã giảng dạy,

4. Ðại giới tức là giới luật của tỳ kheo.

_____________________________________________________________

XXIV.

1. Tên của con ngụa này là Kanthaka. Tuy được thái tử Tất Ðạt Ða bảo trở về hoàng cung để mình tự đi tầm đạo giải thoát mà Xa Nặc và con ngựa trắng vẫn quyến luyến người chủ không rời. Cuối cùng, con ngựa trắng chết và vãng sanh lên cung trời Ðao Lợi.

2. Thán Tháp là nơi làm lễ trà tỳ kim thân của đức Phật.

3. Tên của vương thành Câu Di Na Ðề (Kusinarâ) xuất xứ từ một loại cỏ Kusa ở nơi đó.

4. Tu Bạt (Subhadra), người dòng bà la môn ở Ba La Nại (Benâres), được 120 tuổi khi đến thỉnh vấn đức Phật, nhưng lại bị tôn giả A Nan ngăn trở vì đức Thế tôn sắp nhập niết bàn. Biết điều này, đức Phật bèn bảo tôn giả A Nan hãy dẫn ông ta đến và thuyết pháp cho. Nghe qua những lời giáo hóa này, ông bèn xin xuất gia, chứng quả A La Hán vừa khi đức Phật nhập niết bàn. (Xin xem kinh Ðại Bát Niết Bàn.)

5. Theo lời di huấn, cách thức trà tỳ kim thân của đức Phật phải hành giống như trà tỳ vua Chuyển Luân Thánh Vương. 'Nơi làm lễ trà tỳ vốn là điện đường Ðăng Quang của các thái tử vương quốc Kusinâra, và được trang hoàng cực kỳ lộng lẫy, và kim thân của đức Phật được đặt trong một áo quan bằng vàng ròng.' Hardy's M.B., tr.347.

6. Quốc vương của các vương quốc như Kusanagara, Pâvâ, Vaisâli, v.v... Mỗi quốc vương đều muốn lấy hết xá lợi, nhưng cuối cùng chấp thuận cho bà la môn Drona chia làm tám phần đồng nhau, rồi mỗi người đem về nước một phần xá lợi để phụng thờ.

7. Họ là 'Ðại Lực Sĩ' của vương thành Tỳ Xá Ly (Vaisâli). Vương thành cũng còn hiện hữu nhưng đã hoang tàn, tại Bassahar về phía bắc Patna và cách Hajipur về hướng bắc khoảng hai mươi dặm.

_____________________________________________________________

XXV.

1. Am Bà La (Âmbapâli, Âmrapâli, hay Âmrapâli), 'nữ thần của cây Âmra', nổi tiếng trong sử Phật giáo. Bà vốn là một kỹ nữ. Bà đã từng bị đọa vào nhiều địa ngục, 100.000 lần làm bà lão ăn xin, 10.000 lần làm kỹ nữ, nhưng giữ được thân hình viên mãn thanh tịnh trong thời Phật Ca Diếp. Kế đến, Bà được tái sanh làm thiên nữ, rồi cuối cùng hiện thân xuống cõi Ta Bà tại vương quốc Tỳ Xá La dưới cội cây Âmra. Nơi đó, Bà trở lại con đường cũ, làm kỹ nữ và có con với vua Bình Sa Vương (Bimbisara). Nhờ oai đức của đấng Như Lai, Bà xả tục xuất gia tu đạo chứng quả A La Hán.(Hardy's M.B., tr.456-8)

2. Tiền thân của Phật Thích Ca là một trong 1.000 vị hoàng tử đó.

3. Hiện tại vốn là đời Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa), và bốn vị Phật đã ra đời (Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật). Ðời Hiền Kiếp kéo dài 236 triệu năm nhưng hiện nay đã trải qua 151 triệu năm rồi. (Eitel, p.22)

4. Ma vương (Mara), được gọi là kẻ giặc phá hoại công đức của các bậc tu hành, và là hiện thân của tham lam, si ái, tội lỗi, và chết chóc, tức là kẻ thù của thiện hạnh. Ma Vương trú tại cung trời Paranirmita Vasavartin trên đảnh Kâmadhâtu. Ma Vương thường hiện hình thù quái gở để khủng bố các vị thánh, hoặc sai ma nữ đến quyến rũ các ngài, hay xui khiến những kẻ ác độc như Devadatta hoặc Nirgranthas làm theo ý mình. Ma Vương thường hiện thân với một trăm cánh tay và cỡi voi to. Trong câu truyện này, nếu tôn giả A Nan ba lần cầu thỉnh đức Phật trụ thế thì Ngài sẽ tạm đình chỉ việc nhập Niết Bàn.(Buddhist Sutta, tr.41-45.)

5. Ðây là pháp hội kết tập kinh điển lần thứ hai vào năm 300 trước công nguyên do đệ tử của tôn giả A Nan là Yasada làm chủ tọa. Ðương thời tất cả kinh, luật, luận đều được chư thánh tăng A La Hán kiểm thảo lại kỹ lưỡng, nên cuối cùng chư vị đồng thỏa thuận là phải trách mắng những tỳ kheo phạm mười giới hạnh. Cũng nhắc lại là pháp hội kết tạp kinh điển lần thứ nhất do tôn giả Ðại Ca Diếp chủ trì tại Râjagriha vào ba tháng sau khi đức Phật nhập Niết Bàn.

_____________________________________________________________

XXVI.

1. Vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha), nơi thánh địa, đầy ắp cả các tịnh xá, và đã từng là trung tâm truyền bá Phật pháp. Nơi đó hiện nay có tên là Behâr.

2. Vua A Xà Thế (Ajâtasatru) là con của vua Bình Sa Vương (Bimbisâra), vì nghe lời xúi giục của Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) mà giết cha mình, nhưng sau này được đức Phật hóa độ, rồi trở thành một vị đại hộ pháp.

_____________________________________________________________

XXVII.

1. Ấp Ba Liên Phất hiện nay là Patna. Tiếng Phạn gọi là 'Hoa Thành'.

2. Sau khi lên ngôi, vua A Dục thiên đô từ Râjagriha đến Pâtaliputtra. Mười tám năm sau, vua A Dục đứng ra triệu tập pháp hội kiết tập kinh điển lần thứ ba (theo Nam Tông), khoảng năm 250 trước tây lịch.

3. Núi Giả Ðồ Quật (Gridhra-kuta) gần Râjagriha. Ngọn núi này có rất nhiều hang đá nên được nổi tiếng là nơi tu hành của các vị tu khổ hạnh.

4. Có thể vì tài trí xuất chúng nên vị bà la môn này được gọi là Văn Thù Sư Lợi.

_____________________________________________________________

XXVIII.

1. Ngài Huyền Trang gọi đó là Indra-sila-guhâ hay 'Hang Ðộng của Indra'. Ngọn đồi này nằm gần làng Giryek, bên bờ sông Panchâna, cách Gayâ khoảng ba mươi sáu dặm.

2. Cây sáo của ông ta dài mười hai dặm.

3. Câu chuyện này có trong kinh Sakra-prasna.

4. Tân thành Vương Xá vốn là kinh đô của các quốc vương ma Kiệt Ðà từ Bình Sa Vương đến A Dục, và là trung tâm đầu tiên của Phật giáo. Vương thành này nằm dưới ngọn núi Giả Ðà Quật (Gridhra-kuta). Nơi đây, tôn giả Ðại Ca Diếp chủ tọa pháp hội kết tập kinh điển lần đầu tiên. Ngày nay, những di tích cổ của vương thành này vẫn còn hiện hữu ở làng Rajghir, cách Behâr mười sáu dặm về hướng tây nam. Ðược gọi là Tân Vương Xá (New Râjagriha) vì để phân biệt với Kusâgârapura, là Cựu Vương Thành, cách đó vài dặm.

5. Tỳ kheo Mã Thắng (Asvajit) là một trong năm vị tỳ kheo đầu tiên.

6. Ni Kiền Tử (Nirgrantha) là một trong sáu ngoại đạo.

7. Ông Kỳ Cựu (hay Kỳ Bà Jivaka) vốn là con của bà Am Bà La và vua Bình Sa Vương. Ông suốt đời hành nghề thầy thuốc.

_____________________________________________________________

XXIX.

1. Thiên ma Ba Tuần (Pisuna) cũng là Ma Vương.

2. Tức núi Linh Thứu, hay là 'Ngọn đồi của hang con chim kên'.

3. Ðược ngài Huyền Trang miêu tả là cao một trượng tư và rộng ba mươi bước.

4. Theo quyển 'Cao Tăng Truyện' thì trong đêm đó có hai con hổ đen đến trước hang, le lưỡi và vẫy đuôi. Khi thấy ngài Pháp Hiển thì chúng cúi đầu, cong đuôi, và nằm xuống như thể đảnh lễ Ngài vậy.

_____________________________________________________________

XXX.

1. Ca Lan Ðà (Karanda) là con vật đánh thức vua Bình Sa Vương khi sắp bị rắn cắn, nên được toàn mạng. Theo ông Hardy thì đó là con sóc, còn ông Eitel thí bảo là chim oanh vũ. Vua Bình Sa Vương cúng dường Phật ngôi vườn này để làm tịnh xá cho chư tăng trú ngụ.

2. Vào lúc ấy, có thể nhiều bài kinh hoặc luận đã đưọc sao chép.

3-4. Có lẽ ngài Pháp Hiển lầm lộn vì tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã viên tịch trước khi Phật nhập Niết Bàn.

5. Tôn giả A Nan không thể vào được vì chưa chứng quả A La Hán. Ðêm trước ngày kết tập kinh điển, tôn giả A Nan vừa đặt đàu xuống chiếu thì liền đắc quả A La Hán, nên được tham gia và pháp hội kết tập kinh điển, và sau này được tôn giả Ðại Ca Diếp truyền y bát của đức Phật để làm vị tổ thứ hai của Thiền tông. (Xin xem qua quyển Tổ Thìền Tông do hòa thượng Thanh Từ dịch.)

6. Ðức Phật chế giới cấm tự sát và đàm luận về những sự liên hệ đến việc đó. (E.M., tr.152.)

7. Ba độc là tham sân si.

8. Tu Ðà Hoàn ( Srotâpanna) là sơ quả A La Hán. Kinh Bốn Mươi Hai Chương dạy:" Vị đắc quả Tu Ðà Hoàn, thì còn bảy lần sanh và bảy lần chết. Ái dục đã đoạn như bốn chi (hai tay hai chân) đã bị cắt, không thể dùng được nữa."

9. Quả A Na Hàm (Anâgâmin) tức là tam quả A La Hán. Kinh Bốn Mươi Hai Chương dạy: "Vị chứng quả A Na Hàm, sau khi lâm chung, thần thức sẽ bay lên cõi trời thứ mười chín (hay Ngũ Bất Hoàn Thiên), liền chứng quả A La Hán."

_____________________________________________________________

XXXI.

1. Già Da là một thành ấp của vương quốc Ma Kiệt Ðà, nằm về hướng đông bắc của Gayah. Nơi đây, đức Phật ngồi dưới cội Bồ Ðề trong bốn mươi chín ngày đêm rồi thành đạo chứng quả vị Phật. Ngày nay chư Phật tử khắp nơi trên thế giới thường hành hương đến vùng thánh địa nầy.

2. Cây Bồ Ðề được gọi là Giác Thọ.

3. Tức là cỏ kusa.

4. 'Trong quyển 'The Life of the Buddha' viết: "Ðức Phật đến nơi trụ xứ của rồng mù Văn Lân Mục. Cuốn xung quanh mình đức Phật và dùng đầu cùng xòe hai mang ra, rồng mù Văn Lâu Mục che nắng mưa cho Ngài trong bảy ngày đêm."

_____________________________________________________________

XXXII.

1. 'Diêm La (Yama) vốn là vị tử thần Âryan, trụ ở Nam Diêm Phù Ðề, bên ngoài Chakravâlas (hai vòng núi ở bên trên), trong cung điện đồng sắc. Ông ta có người em gái coi về nữ tội nhân, còn ông thì coi về nam tội nhân. Song, ba lần trong hai mươi bốn giờ ông bị một con quỷ đổ nước đồng sôi vào cổ họng, khiến đau đớn vô ngần. Khi hết nghiệp báo ông sẽ thành Phật hiệu là Phổ Vương.' Eitel, tr.173.

_____________________________________________________________

XXXIII.

1. 'Núi Kê Túc có hình thể giống nhu chân của con gà, cách cội Bồ Ðề bảy dặm về phía đông nam, và là nơi tôn giả Ðại Ca Diếp đang nhập định để chờ Phật Di Lặc ra đời hàu mong truyền lại y bát của Phật Thích Ca.' Eitel, tr.58. Song Hardy (M.B., tr.97) bảo rằng sau khi trà tỳ kim thân đức Phật Ca Diếp, toàn thân xá lợi xương cốt của Ngài vẫn còn nguyên dạng. Chương này bàn về Phật Ca Diếp chứ không phải tôn giả Ðại Ca Diếp, đệ tử của đức Phật Thích Ca.

_____________________________________________________________

XXXIV.

1. Có lẽ thầy Ðạo Chỉnh đã ở lại ấp Ba La Phất vào lúc đoàn du tăng đến đó lần thứ nhất.

2. Vương thành này được bao bọc nhiều con sông.

3.Người em chú bác của đức Phật. Kiều Trần Như và bốn khác đã từng tu khổ hạnh với đức Phật trong sáu năm liền.

4. Câu Ðàm Di (Kausâmbi) hiện nay là Kosam ở Jumna, trên vùng Allahabad. (E.H., tr.55)

5. Cù Sư La Viên (Ghochiravana) là tên của một vị trưởng giả, người đã cúng dường đức Phật ngôi vườn này. Ðức Phật trú nơi đây trong chín năm liền. (Hardy's M.B., tr.356.)

_____________________________________________________________

XXXV.

1. Ðạt Sấn (Dakshina) vào thời cổ được gọi là Deccan.

2. So sánh với chuyện đức Phật đi một bước chân đến 15 do tuần ở Tích Lan trong chương XXXVIII.

_____________________________________________________________

XXXVI.

1. Ðây là bộ Luật mà sau này được ngài Pháp Hiển dịch sang tiếng Tàu.

2. Xa cách nơi chư Phật ra đời.

_____________________________________________________________

XXXVII.

1. Ðại quốc Chiêm Ba có lẽ hiện nay là Champanagur, cách Baglipoor ba dặm về hướng tây.

2. Ma Lê Ðế vốn là thương cảng trao đổi hàng hóa giữa Tích Lan và Trung Quốc. Ngày nay là Tam-look, cửa khẩu của Hoogly.

3. Singhala là tên của một thương nhân, người sáng lập ra vương quốc này. Tên cha của ông ta là Singha, tức là Sư Tử, nên vương quốc này được gọi là Singhala hay Singha-Kinghdom, nghĩa là vương quốc Sư Tử.

_____________________________________________________________

XXXVIII.

1. Việc đức Phật đến nước Sư Tử có lẽ chỉ là huyền thoại. Hardy có viết là đức Phật qua đến nước này ba lần vào năm thứ nhất, thứ năm, và thứ tám sau khi Ngài chứng quả Phật. (M.B., tr. 207-203.) Hiển nhiên, theo ngài Pháp Hiển thì Phật giáo được thịnh hành khắp vương quốc vào đầu thế kỷ thứ năm.Trong chương cuối của quyển 'Buddhism', ông Davids viết là sau lần kết tập kinh điển tại Patna vua A Dục gởi đoàn truyền giáo sang vương quốc này do vị tăng Mahinda, vốn là con của vua A Dục, cầm đầu. Ðương thời, vua Tissa đang trị vì. (tr.T.L 250-230).

2.'Trên đỉnh núi đó vẫn còn có dấu ấn, trũng xuống. Bề rộng khoảng hai thước rưỡi Anh. Chiều dài khoảng năm thước ba tấc và bốn phần ba Anh. Người Ấn Ðộ Giáo cho đó là dấu chân của Siva. Người Hồi Giáo cho đó là dấu chân của Adam.' (Hardy's M.B., tr. 211-12.)

3. 'Ngày nay cũng còn ngọn tháp Vô Úy Sơn, cao 250 thước Anh và là ngọn tháp cao nhất ở Tích Lan, do Watta Gâmini xây vào năm 90 trước Tây Lịch, khoảng 160 năm sau pháp hội kết tập kinh điển ở Patna, và 330 năm sau khi đức Phật nhập Niết Bàn. Khi đó, ba tạng kinh điển bắt đầu được ghi chép.' (Davids' Buddhism, tr. 234).

4. Có lẽ thương nhân kia là người Tàu.

5. Sau khi đoàn truyền giáo đến Tích Lan, thầy Mahinda, con của vua A Dục, lại yêu cầu em mình là bà tỳ kheo ny Sanghamitta, vị công chúa xuất gia đồng thời với Thầy, qua đến đó để phụ giúp công việc hoằng pháp vì có nhiều bà hoàng muốn xuất gia. Trên đường rời Ấn Ðộ, tỳ kheo ny Sanghamitta thỉnh một nhánh cây Bồ Ðề tại Buddha Gayâ để mang sang Tích Lan trồng, mà vẫn còn sống cho đến ngày nay. Trong lần sang Tích Lan, ngài Pháp Hiển không nhắc gì đến đoàn truyền giáo của vua A Dục, thầy Mahida, và ny cô Sanghamitta gì cả.

6. Thương nhân Tát Bạc (Sabean) có lẽ là người Ả Rập (Arabs), tổ tiên của người Moormen, những thương nhân ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng thương mãi của Tích Lan trong hiện tại.

7. 'Thuận Ðại Noa là tiền thân của đức Phật trước khi vãng sanh lên cung trời Ðâu Suất để sau này xuống nhập vào thai của hoàng hậu Ma Da rồi tu hành thành Phật Thích Ca. Trong truyện Vessanatara Jataka, Bồ Tát đã viên mãn hạnh xả thân bố thí, nên bảo:

- Trái đất này thật vô tình lạnh nhạt với đau khổ hay an vui. Song, hạnh xả thân bố thí của ta lại khiến nó phải rung động bảy lần.

Nói xong, Bồ Tát thị tịch rồi vãng sanh lên cung trời Ðâu Suất.' (Buddhist Stories, tr. 158.)

8. Ðàm Biến (Sâma) xuất hiện trong truyện Sâma Jâtaka.

9. Theo Hardy thì Bồ Tát đã từng hóa thân làm voi sáu lần, làm nai mười lần, và làm ngựa bốn lần.

10. Ðây là ngọn núi thánh của Mihintale, cách cây Bồ Ðề về phía đông khoảng tám dặm.

11. Chi Ðề (Chaitya) là danh xưng cho tất cả nơi như chùa chiền tháp miếu và đồ vật như xá lợi tượng Phật v.v... Nghĩa của Chi Ðề là nơi thờ phụng và cúng dường.

13. 'Ðạt Ma Cù Ðế là một vị tăng tu khổ hạnh nổi tiếng và là tổ sư của một tông phái rất thịnh hành ở Tích Lan vào năm 400." (Eitel, tr. 31.)

_____________________________________________________________

XXXIX.

1. Chắc rằng đó là vua Mahâ-nâna (410-432). Trong thời vị vua trước, Upatissa (368-410), lần đầu tiên ba tạng Kinh, Luật, Luận được phiên dịch sang tiếng Singhalese. Trong triều đại của vua Mâha-nâna, ngài Buddhaghosha viết những bộ luận nổi tiếng.

2. Ngài Pháp Hiển đã từng chiêm ngưỡng qua bình bát của Phật tại Purushpura, mà Eitel bảo rằng đó là cổ thành của Gandhâra (Kiền Ðà Vệ)

3. Tây Nguyệt Vệ (Western Tukhâra) có lẽ là Tukhâra của chương XII, mà một ông vua muốn mang bình bát của Phật đi nơi khác từ Purushapura.

4. Khuất Tỳ (Kharachar) nằm về phía bắc của hồ Boseng. (E.H., tr. 56.)

5. Ðỉnh núi Át Na (Anna hay Vina) là những dãy núi bao xung quanh núi Tu Di, và là nơi trú ngụ của chư thiên hộ trì bình bát của Phật.

_____________________________________________________________

XL.

1. Kinh Trường A Hàm, Tạp A Hàm là những bộ kinh của Phật giáo Nam Tông.

2. Có lẽ họ là những thợ săn. Vì thấy ngài Pháp Hiển là tăng sĩ nên họ tự xưng là Phật tử. Song, sao người Phật tử lại đi săn bắn? Vì đã lỡ nói láo nên họ phải nói thêm nữa là đi hái trái lê để cúng Phật.

3. Không biết người viết lại cuộc hành trình của ngài Pháp Hiển tên là gì. Quyển sách này được gọi là 'Pháp Hiển Truyện', hay 'Phật Quốc Ký'.

_____________________________________________________________

D. Trí Nghiêm, sang Tây Vực cầu pháp.

Trí Nghiêm vốn là người Lương Châu. Lương Châu là cửa ngõ giao lưu giữa nền văn hóa Trung Thổ và Thiên Trúc, Tây Vực, Trung Á. Do đó, Phật giáo được du nhập vào nơi ấy rất sớm. Các dịch gia như ngài Cưu Ma La Thập và Ðàm Vô Sấm đã từng trú nơi đó.

Thuở nhỏ Trí Nghiêm đã được thấm nhuần sự giáo hóa của Phật pháp. Năm hai mươi tuổi xuất gia, tinh cần tu tập thiền định, lại lập chí nguyện tầm cầu kinh điển. Do đó, Trí Nghiêm đăng lộ trình, sang Tây Vực cầu pháp. Ðến nước Kế Tân, gặp được thiền sư Phật Ðại Tiên mà thọ thiền pháp. Kế đến, Trí Nghiêm gặp được ngài Phật Ðà Bạt Ðà La, rồi cầu thỉnh sang Trung Thổ truyền pháp. Trí Nghiêm cùng với ngài Phật Ðà Bạt Ðà La đến Trường An, cư trú tại Trường An Ðại Tự. Vì bị giáo đoàn của ngài Cưu Ma La Thập đuổi xua, nên ngài Phật Ðà Bạt Ðà La phải rời Trường An mà đến Lô Sơn. Trí Nghiêm cũng vì đó mà qua trú tại một tịnh xá ở Sơn Ðông để tu tập thiền quán, cùng tụng kinh.

Năm 417, công phá Trường An xong, Lưu Tống Võ Ðế trở lại Kiến Khang mà đi ngang qua vùng Sơn Ðông. Bấy giờ Thủy Hưng Vương, Vương Khôi theo Tống Võ Ðế du ngoạn sơn thủy, chợt đến tịnh xá của Trí Nghiêm. Ông ta thấy trong chùa có ba vị tăng đang ngồi tham thiền trên giường thiền an nhiên tịch tĩnh. Vương Khôi đến gần mà ba vị tăng cũng không hay biết. Qua ba giờ sau, ba vị tăng mới mở mắt mà chẳng nói năng lời nào. Có một người trong vùng bảo Vương Khôi:

- Ba vị cao tăng này, đã bao năm dài xả tục, không rời khỏi rừng núi mà tu hành. Thật là những vị pháp sư đạo hạnh thanh cao.

Vương Khôi bèn đem lời này bẩm tấu cho Tống Võ Ðế nghe. Tống Võ Ðế bèn thỉnh cầu họ xuống núi để về kinh đô, nhưng bị họ từ chối. Sau ba lần được khẩn thỉnh, hai vị tăng kia thúc Trí Nghiêm xuống núi. Vì sùng tín Phật pháp thâm sâu, nên Vuơng Khôi bèn thỉnh Trí Nghiêm sang trú tại chùa Thủy Hưng. Lại nữa, tại nơi vắng lặng, Vương Khôi cho xây một tịnh xá, tên là Chỉ Viên. Trí Nghiêm bèn đến đó mà tịnh trụ tu hành thiền. Trí Nghiêm không thọ sự cúng dường mà thường cầm bình bát đi khất thực. Nhờ tu tập thiền định, nên Trí Nghiêm có năng lực thần dị, khống chế đươc yêu ma quỷ quái cùng trị bịnh cho dân chúng, nên được người người trong vùng tôn sùng. Mỗi khi được dường vật chi, Trí Nghiêm đều đem bố thí lại cho người khác. Trí Nghiêm tự tinh trì giới luật cẩn mật.

Trước khi xuất gia, Trí Nghiêm đã từng thọ năm giới, nhưng không giữ được trọn vẹn. Sau khi xuất gia thọ giới cụ túc, sợ giới hạnh không đủ, nên Trí Nghiêm thật hành thiền quán lâu dài, nhưng vẫn không mãn ý nguyện. Sau này Trí Nghiêm quyết tâm vượt biển đến Thiên Trúc. Nơi đó, gặp được một vị A La Hán, Trí Nghiêm bèn hỏi rằng mình có đủ giới hạnh không. Vị A La Hán kia không dám trả lời, mà nhập định, thăng lên cung trời Ðâu Suất để thỉnh vấn Bồ Tát Di Lặc phán đoán. Bồ Tát Di Lặc tán thán Trí Nghiêm tinh trì giới đức. Nghe vị A La Hán thuật lại lời này, Trí Nghiêm vui mừng vô hạn. Chẳg bao lâu Trí Nghiêm trở về đất Tàu, rồi vì già bịnh mà thị tịch, thọ bảy mươi tám tuổi. Chúng tăng y cứ theo lễ nghi của Thiên Trúc mà an táng một vị cao tăng. Mới đầu, tuy biết Trí Nghiêm khổ hạnh cần tu, nhưng chúng tăng không biết Thầy đã đắc đạo hay chưa, nên định xây phần mộ tại vùng đất thường an táng các phàm tăng. Song, tuy có nhiều người đồng khiêng linh cữu, nhưng di thể của Trí Nghiêm nặng vô cùng, nên không thể nâng lên nổi. Do đó, chúng tăng bèn cho đặt linh cữu tại vùng thường an táng các vị cao tăng đắc đạo. Lúc ấy, chỉ có bốn người mà khiêng được linh cữu. Di Thể của Trí Nghiêm chợt nhẹ nhàng như bong bóng. Việc này hiển thị công đức tu hành và nghiêm trì giới luật cẩn mật của Trí Nghiêm.

Theo ngài Phật Ðà Bạt Ðà La từ nước Kế Tân trở về bổn quốc, tuy đem theo rất nhiều kinh điển, nhưng Trí Nghiêm chưa phiên dịch bộ kinh nào. Ðến lúc trú tại chùa Chỉ Viên tại Kiến Khang vào năm 427, Trí Nghiêm mới cùng với Bảo Vân phiên dịch kinh: Phổ DIệu (6 quyển), Tứ Ðại Thiên Vương (1 quyển), Quảng Bác Nghiêm Tịnh (4 quyển), Pháp Hoa Tam Muội, Vô Tận Ý Bồ Tát.

E. Bảo Vân.

Theo gót chân của ngài Pháp Hiển và Trí Nghiêm, Bảo Vân sang Thiên Trúc cầu pháp.

Xuất sanh tại Hà Bắc vào năm 376, và trưởng thành tại Lương Châu, Bảo Vân đi tu từ thuở niên thiếu, chuyên cần tận tụy hành trì Phật pháp, chẳng chạy theo phong tục tập quán của thế tục.

Năm mười tám tuổi (388), đến Lô Sơn, tham gia vào công tác xây Bác Nhã Ðài. Ðương thời, Bảo Vân mang một tảng đá lớn, đập vào tảng đá khác, khiến một hòn đá vụt bay ra, văng trúng vào đầu của một con nghé, nên con ghé đó liền chết ngay lập tức. Do đó, Bảo Vân hối hận vô ngần.

Năm 397, lúc ngài Pháp Hiển từ Trường An xuất phát, thì năm vị Bảo Vân, Trí Nghiêm, Huệ Giản, Tăng Thiệu, Tăng Cảnh đang lưu trú tại Trương Dịch cũng đồng chí hướng sang Thiên Trúc cầu pháp. Sau này, Bảo Vân đi qua những bãi sa mạc, vượt ngọn Tuyết Lãnh, rồi trải qua bao gian nan khổ cực, mà đến được Thiên Trúc, chu du các quốc vương lân cận, để lễ bái Phật tích, Phật tượng và bình bát của Phật. Lúc Bảo Vân đang trú tại nước Phất Lầu Sa (Peshawar) thì Huệ Ðạt cùng Tăng Cảnh đã trở về bổn quốc. Ðến Thiên Trúc, Bảo Vân tận tâm học tiếng Phạn, nên thông đạt các ngôn ngữ ở Thiên Trúc. Vì thỉnh được một số kinh điển bằng tiếng Phạn, Bảo Vân quyết định trở về bổn quốc. Từ Thiên Trúc, sang Tây Vực, rồi trở về Trường An, Bảo Vân gặp được ngài Phật Ðà Bạt Ðà la bèn đi theo mà tu hành thiền pháp cùng đọc tụng kinh điển. Bị giáo đoàn của ngài Cưu Ma La Thập bài xích, nên ngài Phật Ðà Bạt Ðà La phải qua Lô Sơn. Bảo Vân cùng Trí Nghiêm cũng đi theo đến Lô Sơn. Lúc ngài Phật Ðà Bạt Ðà La đến trú tại chùa Ðạo Tràng ở Kiến Khang, Bảo Vân cũng đi theo và khởi công phiên dịch kinh điển.

Bảo Vân vốn thích những cảnh yên tịnh an nhàn u tịch. Lần nọ, đi ngang qua Sơn Tự ở núi Lục Hòa, Bảo Vân dịch được quyển 'Phật Sở Hạnh Tán'. Trên núi có rất nhiều bọn côn đồ du đãng tụ hội, thường làm những việc ti tiện bất lương. Nhờ sự giáo hóa của Bảo Vân, chúng đều bỏ tà quy chánh.Trong mười gia đình trên núi, có tám gia đình luôn qua lại cúng dường Bảo Vân.

Trước lúc lâm chung, Huệ Quán có để lại di chúc là cầu thỉnh Bảo Vân trở về chùa Ðạo Tràng để lo việc Phật sự. Bất đắc dĩ, Bảo Vân phải trở lại chùa Ðạo Tràng ở Kiến Khang. Hơn một năm sau, Bảo Vân bèn trở lại núi Lục Hòa. Năm 449, Bảo Vân thị tịch, thọ bảy mươi bốn tuổi.

Khả năng phiên dịch kinh điển của Bảo Vân có thể sánh ngang hàng với Trúc Phật Niệm. Quyển 'Cao Tăng Truyện' viết:" Vùng Giang Tả, phiên dịch kinh điển tiếng Phạn, không ai vượt nổi Bảo Vân."

Do đó, thấy rõ Bảo Vân vốn là một nhà dịch giả cự phách. Bảo Vân dịch được kinh Phật Sở Hạnh Tán, kinh Tân Vô Lượng Thọ, Kinh Phật Bổn Hạnh.

G. Trí Mãnh, tham bái Phật tích.

Khoảng năm năm sau khi ngài Pháp Hiển từ Trường An khởi hành sang Thiên Trúc cầu pháp, Trí Mãnh cũng theo gót chân mà khởi đăng trình vào năm 404 từ Trường An. Ðầu tiên, ngài Pháp Hiển có bốn pháp lữ đồng hành, còn Trí Mãnh lại có mười lăm pháp lữ đồng hành. Ngài Pháp Hiển đi du hành cầu pháp mười lăm năm. Trong nhóm mười sáu người, chỉ có Trí Mãnh và Ðàm Soạn là trở về Lương Châu sau hai mươi hai năm du hành.

Trí Mãnh vốn là người huyện Tân Phong, quận Kinh Triệu, ở Ung Châu, xuất gia từ thuở nhỏ, chí chuyên tâm tu hành. Mỗi lần nghe đạo nhân ngoại quốc kể về các thánh tích của Phật Thích Ca tại Thiên Trúc, cùng kinh điển đại thừa tại Tây Vực, Trí Mãnh đều nôn nóng sang những nơi đó.

Năm 404, cùng với mười lăm vị pháp lữ, Trí Mãnh xuất phát từ Trường An, hướng về phía Thiên Trúc. Lúc đó, ngài Cưu Ma La Thập đã vào Trường An được ba năm, và danh tiếng đã vang lừng khắp nơi. Ðấy là thời điểm mà sự nghiệp phiên dịch kinh điển của ngài Cưu Ma La Thập được tổ chức đại quy mô, do vua Dao Hưng bảo trợ với hơn ba ngàn tăng chúng hỗ trợ. Song, ngài Cưu Ma La Thập xuất thân từ nước Quy Từ. Vì muốn hiểu rõ hiện tình Phật giáo ở Thiên Trúc vào thời đó, và lễ bái các thánh tích của đức Thế Tôn, nên Trí Mãnh mới quyết tâm sang Thiên Trúc.

Trí Mãnh không theo tuyến đường mà ngài Pháp Hiển đã đi. Xuất phát từ Lương Châu, ra khỏi Dương Quan, vượt qua các bãi sa mạc. Trạng huống của đường lộ vào đương thời, được miêu tả như sau: "Ðất không có nước hay cây cỏ, đường đi tuyệt dấu chân người, mùa đông lạnh rét, mùa hè nóng oi ả, xuơng của người chết, làm dấu trên đường đi, lạc đà chở lương thực, lộ trình thật gian nan."

Từ đường lộ ở Thiện Thiện, Trí Mãnh đi thẳng đến núi Thủ Thiên, phía nam nước Quy Từ, rồi trở lại phía tây nam vượt bãi sa mạc. Vượt đường lộ phía nam của nước Vu Ðiền ở Tây Vực. Ðây là con đường mà năm năm trước ngài Pháp Hiển đã vượt qua, và cũng là con lộ chủ yếu của xứ Tây Vực vào đầu thế kỷ thứ năm. Tu nước Vu Ðiền, Trí Mãnh đi thẳng đến nước Kiệt Xoa (Tashkurgan), và tới nơi tảng đá thờ ống nhổ của Phật, rồi lại tham bái bình bát của Phật. Trí Mãnh thành tâm dâng hương khấn nguyện:

- Chí hướng của con nếu cảm ứng được bình bát, thì xin nguyện bình bát hãy có lúc nặng có lúc nhẹ.

Nói xong, Trí Mãnh bèn bưng bình bát lên, nhưng cảm giác thật là nặng nề. Song, lúc sắp bỏ xuống thì Trí Mãnh cảm giác bình bát thật nhẹ nhàng. Ðây chính là bình bát mà ngài Cưu Ma La Thập cũng đã từng thử nghiệm qua.

Ðến nước Kiệt Xoa chẳng bao lâu, Trí Mãnh bèn vượt qua ngọn núi Thông Lĩnh. Trong đoàn mười sáu người, đã có chín người bỏ ý định sang Thiên Trúc, mà xoay trở về bổn quốc vì khiếp sợ trước hình thế cao chót vót của ngọn núi Thông Lĩnh. Bảy người còn lại tiếp tục đến được nước Ba Lộ. Trên đường đi ngang qua nước Ba Lộ, Trúc Ðạo Sung thị tịch. Lúc định làm lễ trà tỳ, thì đột nhiên họ không thấy thi thể của Trúc Ðạo sung. Trí Mãnh rơi lệ xót xa, rồi lại cố gắng cùng đồng bạn tiếp tục vượt núi Tuyết Sơn. Núi cao sừng sửng, trên không thấy trời, dưới không thấy đất, gió hàn lạnh rét. Họ phải lần theo những sườn núi mà đi. Vào đời Hán, sứ giả Trương Khiên (140 tr.TL-87 tr.TL) và Cam Anh (89-105) chưa từng vượt qua vùng núi cao chót vót này. Chẳng bao lâu, Trí Mãnh vượt qua sông Tân Ðầu (Indus), rồi phải leo qua những núi non hiểm trở, cùng đi ngang qua những vùng danh lam chướng khí, rồi đến nước Kế Tân. Trong nước đó tại A Nậu Bạt Trì (Anavatapta), tức mạch nguồn của dòng sông Tân Ðầu, có năm trăm vị A la Hán thường qua lại. Chư đại đức A La Hán thường thuyết pháp bằng tiếng Phạn. Nhờ lưu trú lại nước Kế Tân lâu ngày, nên Trí Mãnh từ từ hiểu rõ những lời dạy của các vị A La Hán. Từ nước Kế Tân, Trí Mãnh đi thẳng đến nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), được thấy tóc, răng, đảnh nhục kế của Phật. Trí Mãnh lại qua trung Thiên Trúc, lễ bái các thánh tích, cùng triều bái rừng Sa La Song Thọ, (nơi Phật nhập niết bàn), cội Bồ Ðề, v.v... Trí Mãnh lại đến Hoa Thị Thành, tức cố đô của vua A Dục. Nơi đó, có đại trí bà la môn La Duyệt Gia, toàn gia tộc đều hoằng dương Phật pháp. Tại đó lại có tháp Phật bằng bạc, cao ba mươi thước. Ngài Pháp Hiển đã từng thỉnh được sáu quyển kinh Niết Bàn tại nơi này. Gia tộc La Duyệt thấy Trí Mãnh đến bèn hỏi:

- Ðất Tàu có người học Phật giáo đại thừa chăng?

Trí Mãnh đáp:

- Tất cả đều theo học đại thừa giáo.

- Thật là điều bất khả tư nghì. Sao lại không có Bồ Tát sang bên đó giáo hóa!

Tại nhà gia tộc La Duyệt, Trí Mãnh thỉnh được một bản kinh Niết Bàn và Ma Ha Tăng Kỳ Luật bằng tiếng Phạn, rồi thệ nguyện rằng sẽ lưu hành kinh luật khắp miền Trung Thổ.

Chẳng bao lâu, vào năm 424, từ Thiên Trúc xuất phát, Trí Mãnh cùng Ðàm Soạn trở về Lương Châu. Bốn vị pháp lữ lần lượt thị tịch trên đường đi.

Mục đích của ngài Pháp Hiển sang Thiên Trúc là muốn tìm cầu kinh luật cho tăng đoàn ở đất Tàu. Mục đích của Trí Mãnh sang Thiên Trúc là đi lễ bái các thánh tích của Phật Thích Ca. Do đó, sau khi mãn nguyện đi khắp bắc Thiên Trúc và trung Thiên Trúc, Trí Mãnh trở về cố quốc, xuyên qua tuyến đường của Tây Vực.

Năm 421, ngài Ðàm Vô Sấm đã dịch kinh Niết Bàn tại Lương Châu, nhưng vẫn còn thiếu phần cuối. Thế nên, ngài Ðàm Vô Sấm định trở qua Tây Vực để thỉnh phần cuối của kinh Niết Bàn, nhưng lại bị Mông Tốn sát hại. Sau này, nghe Trí Mãnh mang toàn bộ kinh Niết Bàn về đến Cao Xương (Turfan), Mông Tốn bèn phái sứ giả sang đó rước về Lương Châu. Nơi đó, Trí Mãnh dịch được hai mươi quyển kinh Niết Bàn, cùng một bộ Ma Ha Tăng Kỳ Luật.

Từ Luơng Châu, Trí Mãnh sang đất Thục vào năm 437. Mồng bảy tháng bảy năm 439 tại chùa Ðịnh Lâm ở núi Chung Sơn, Trí Mãnh soạn viết quyển truyện ký về Thiên Trúc tức quyển 'Du Hành Ngoại Quốc Truyện'. Năm 453, Trí Mãnh thị tịch.

H. Pháp Dũng vượt ngọn Thông Lĩnh.

Pháp Dũng tục danh Quý, là người nước Hoàng Long ở U Châu, xuất sanh tại Bắc Yên, xuất gia từ thuở nhỏ, chuyên cần nghiêm trì giới luật cùng đọc tụng kinh điển. Nghe ngài Pháp Hiển, Bảo Vân, Trí Mãnh,v.v... đã từng qua Thiên Trúc, nên Pháp Dũng cũng thệ nguyện xả thân sang Thiên Trúc cầu pháp. Năm 420, Pháp Dũng cùng với hai mươi lăm pháp lữ như Tăng Mãnh, Ðàm Lãng, v.v... xuất phát từ U Châu, đi về hướng nam, qua quận Hà Nam, đén quận Hải Tây, theo sông Trường Giang, đến Thành Ðô ở Tứ Xuyên, tới Cam Túc, sang Yên Tuyền, tới Thiên Sơn ở nam lộ, qua Cao Xương, đến nước Quy Từ, tới nước Sa Lặc, vượt ngọn Thông Lĩnh, leo núi Tuyết Sơn. Trải qua bao hiểm nguy gian khổ, vượt qua núi Tuyết Sơn xong, trong số hai mươi sáu người, chỉ còn lại mười hai người tiếp tục cuộc hành trình. Chẳng bao lâu, Pháp Dũng đến nước Kế Tân, rồi trú ở đó hơn một năm để học tiếng Phạn. Nơi đó, Pháp Dũng thỉnh được quyển kinh 'Quán Thế Âm Thọ Ký' bằng tiếng Phạn, cùng lễ bái bình bát của Phật. Tiếp tục đi về hướng tây, Pháp Dũng vượt qua sông Tân Ðầu Na Ðề (Sindha-nadi), rồi vào biên cảnh nước Ðại Nhục Chi, lễ bái đảnh nhục kế cùng Phật đảnh cốt. Từ từ, Pháp Mãnh đến chùa Thạch Lưu, phía nam núi Ðàn Ðặc (Dandakaparvata). Trong chùa có hơn ba trăm vị tăng, đều học theo giáo pháp ba thừa. Tại đó, Pháp Mãnh phát tâm thọ giới cụ túc. Lúc đang hành lễ truyền giới, sa môn người Thiên Trúc là Phật Ðà Ða La (Buddhatara) bảo chúng tăng:

- Pháp Mãnh đã chứng thánh quả.

Song, Pháp Mãnh vẫn thỉnh cầu chư tăng truyền giới cụ túc. Thọ giới xong, Pháp Mãnh trú tại chùa Thạch Lưu để an cư kiết hạ trong ba tháng. Từ đó, Pháp Mãnh sang trung Thiên Trúc. Trên đường, dùng thạch mật mà làm thức ăn. Trong mười ba người đồng hành, có tám người đã chết trên dọc đường. Tiếp tục đi, cuối cùng chỉ còn năm người. Mỗi lần gặp những tai nạn nguy hiểm, Pháp Mãnh đều thành tâm tụng kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Ký. Lúc qua nước Xá Vệ (Sravasti), trên đường gặp một đàn voi rừng, Pháp Mãnh khẩn thành niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát mà được thoát nạn. Từ trung Thiên Trúc, Pháp Mãnh đi về nam Thiên Trúc, rồi theo thuyền trở về Quảng Châu, rồi từ đó, không ai biết Pháp Mãnh thị tịch tại nơi đâu.

Pháp Mãnh có dịch quyển kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Ký, cùng soạn viết năm quyển 'Ngoại quốc truyện'.

I. An Dương Hầu.

Mông Tốn (vua nước Bắc Lương) có một người em, tên là An Dương Hầu. Ông ta tụng đọc rất nhiều kinh điển, và thường giữ năm giới cẩn mật. Vì có chí cầu pháp, nên Ông sang nước Vu Ðiền, đến chùa Cù Ma Ðế Ðại Tự, theo học với sa môn Phật Ðà Tư Na (Buddhasena) người Thiên Trúc. Sau này, Ông đến nước Cao Xương, thỉnh được kinh Quán Thế Âm và Quán Di Lặc, rồi phiên dịch hai quyển kinh này. Sau này, Ông trở về Lương Châu. Năm 439, lúc Bắc Ngụy công phá Lương Châu, Ông lánh nạn sang miền Giang Nam, và không giao tiếp với ai, chỉ thường đi tham quan các cảnh chùa chiền tự tháp. Thể theo lời cầu thỉnh của sư cô Huệ Tuấn ở chùa Trúc Viên, Ông dịch kinh Thiền Yếu Bí Mật Trị Bệnh, vào năm 455. Vì thông thạo tiếng Phạn và tiếng Tàu, nên Ông dịch rất nhiều kinh như: Phật Thuyết Bát Trai Giới, Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Ðâu Suất Thiên, Phật Thuyết Tịnh Phạn Vương Bát Niết Bàn, Phật Thuyết Mạt La Vương, Phật Thuyết Chiên Ðà Việt Quốc Vương, Phật Thuyết Ma Ðạt Quốc Vương, Phật Thuyết Phật Ðại Tăng Ðại Kinh, Phật Thuyết Da Kỳ, Phật Thuyết Ngũ Vô Phản Phục, Phật Thuyết Tấn Học, Ðệ Tử Tử Phục Sanh, Phật Thuyết Ca Diếp Cấm Giới, Phật Thuyết Ngũ Khủng Bố Thế, Thiền Yếu Bí Mật Trị Bịnh.

K. Khương Pháp Lãng.

Thầy vốn là người ở Trung Sơn, xuất gia từ thuở nhỏ, giới tiết tinh nghiêm. Lần nọ, xem kinh, thấy cảnh rừng Ta La Song Thọ và vườn Lộc Uyển, Thầy than:

- Ta sanh ra không gặp được thánh nhân, sao lại chẳng sang chiêm bái thánh tích?

Do đó, Thầy thệ nguyện sang Thiên Trúc để chiêm bái các thánh tích. Kế đến, Thầy đồng hành với bốn pháp lữ, xuất phát từ Trường Dịch, đi về phía tây, tới các bãi sa mạc. Ði cả ba ngày mà trên đường lộ, họ chẳng thấy một dấu chân người. Giữa đường, họ thấy một ngôi chùa, xây cất bên dưới một ốc đảo, xung quanh chẳng có cỏ cây. Trong chùa có hai gian phòng. Gian phòng thứ nhất có một thầy đang tụng kinh. Gian phòng thứ hai có một vị tăng đang bị bịnh, thân hình hôi thúi, lở loét. Thấy vậy Thầy tự nhủ thầm:

- Xuất gia đồng đạo, thân nhau vì pháp. Thà không thấy, mà đã thấy rồi sao nhẫn tâm không giúp đỡ!

Suy nghĩ như thế, nên Thầy tự ở lại chăm sóc, tắm rửa, thay quần áo nấu cơm nước, lo lắng tươm tất cho vị tăng bị bịnh trong sáu ngày. Qua ngày thứ bảy thì trong phòng chợt có mùi hương lạ tỏa khắp. Thầy mới biết đó là thần tăng hóa thân bị bịnh lở loét để thử tâm từ bi nhẫn nại của mình. Vị thần tăng đó bảo:

- Vị tăng đang tụng kinh bên phòng kia chính là thầy bổn sư của ta. Ngài đã chứng quả vị vô học (tức quả vị A La Hán). Thầy nên sang bên đó mà thỉnh vấn hỏi đạo.

Nghe lời này, Thầy bèn đi sang bên đó để cầu thỉnh đạo. Vị tăng thường tụng kinh kia bảo:

- Người có tâm chân thành thì dễ dàng nhập vào đạo, mà không cần phải đi sang tạn các nước khác để cầu đạo.

Vì công nghiệp chưa thành và chưa toại ý nguyện, nên Thầy quyết chí tiếp tục lên đường sang Thiên Trúc cầu pháp. Bốn người pháp lữ đồng hành thối tâm, không dám đi xa, mà chỉ lưu lại nơi đó để chuyên tu tịnh nghiệp.

Sau bao năm lặn lội qua Thiên Trúc cầu thỉnh kinh điển, Thầy trở về lại Trung Sơn, giáo hóa hằng trăm môn đồ. Không ai biết Thầy thị tịch vào lúc nào.

L. Tăng Duệ.

Tăng Duệ người Trường Lạc ở Ngụy Quận, xuất gia từ thuở nhỏ. Năm mười tám tuổi làm đệ tử của pháp sư Tăng Hiền.Năm hai mươi hai tuổi bác thông kinh luận. Lúc Tăng Lãng giảng kinh Phóng Quang, Tăng Duệ thường đề cử những câu hỏi để chất vấn và phê bình. Do lý do này mà Tăng Lãng và Tăng Hiền kết tình pháp hữu. Tăng Lãng bảo Tăng Hiền:

- Tăng Duệ, đồ đệ của sư huynh, thật là thông minh!

Năm hai mươi bốn tuổi, xuất ngoại du phương cầu đạo. Khi đến vùng biên giới Tây Thục thì bị người bắt, và cưỡng ép đi chăn dê. Thương nhân thấy dáng dấp, nghi là sa môn, nên hỏi vấn ý nghĩa kinh điển. Từ Tây Thục, Tăng Duệ đến Vân Nam, qua Giao Chỉ (Việt Nam), rồi tiếp xúc với thương nhân mà theo họ đến nam Thiên Trúc. Nhờ vậy mà khả năng tri thức về tiếng Phạn rất kiệt xuất. Ðến năm hai mươi bảy tuổi thì kết thúc cuộc sống du phương.

Năm hai mươi tám tuổi, Tăng Duệ đã từng đến dưới tòa của Ðạo An tại Trường An, và giúp Ðạo An nhuận bút bản dịch kinh Tứ A Hàm. Năm ba mươi ba tuổi, lúc nhà Tiền Tần bị diệt vong, cùng với sự nhập tịch của Ðạo An, Tăng Duệ lánh nạn vào núi Lô Sơn, học phương pháp niệm Phật dưới tòa của Huệ Viễn.

Vào Lô Sơn chẳng bao lâu, nghe ngài Cưu Ma La Thập đã đến Trường An, nên Tăng Duệ tức tốc tìm đến cầu đạo. Tại Trường An, do Tăng Duệ cầu thỉnh, ngài Cưu Ma La Thập dịch quyển 'Thiền Pháp Yếu'. Nhân cách Tăng Duệ cao tột, và kiến thức thâm sâu, khiến vua Dao Hưng cùng Dao Sùng phải tôn kính. Dao Sùng khen Tăng Duệ là bậc tùng bá của Nghiệp Vệ (vùng đất Ngụy Huyện, nơi Tăng Duệ xuất thân), còn vua Dao Hưng tôn xưng Tăng Duệ là vị thủ lãnh, và là ngọn cờ tiêu biểu của bốn bể. Lúc ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch kinh Pháp Hoa, Tăng Duệ nhuận sắc, trau chuốt lời văn hoa mỹ.

Sau khi phiên dịch xong quyển 'Thành Thật Luận, ngài Cưu Ma La Thập bảo Tăng Duệ:

- Luận này có bảy chỗ để bẻ gãy lời văn Tỳ Ðàm, mà chỉ tại nơi văn luận phân biệt không rõ ràng. Nếu không cần hỏi Ta, mà có khả năng phân biện bảy chỗ đó, thì mới gọi là anh tài!

Tăng Duệ không chút nghi ngờ, đề xuất ra bảy chỗ đó rất dễ dàng, khiến ngài Cưu Ma La Thập khen ngợi:

- Ta chuyên dịch kinh điển, được ngươi lãnh hội hiểu rõ. Thật không hối hận!

Tăng Duệ viết rất nhiều kinh tự của các bộ kinh luận do ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch, như: Tiểu Phẩm Kinh Tự (thứ tư), Pháp Hoa Kinh Hậu Tự (thứ chín), Tư-ích Kinh Tự (thứ mười một), Tỳ Ma La Cật Ðề Kinh Nghĩa Sơ Tự (thứ mười bốn), Tự tại Vương Kinh Hậu Tự (thứ mười lăm), Quan Trung Xuất Thiền Kinh Tự (thứ mười ba).

Sau khi ngài Cưu Ma La Thập nhập tịch, Tăng Duệ từ từ hướng về pháp môn cầu vãng sanh qua cõi tây phương. Ðến cuối đời Hậu Tần, do thế đạo loạn ly, Tăng Duệ sang Giang Nam lánh nạn, lại theo học dưới tòa của Huệ Viễn tại Lô Sơn. Năm 416, Huệ Viễn nhập tịch, Tăng Duệ không nhắm mục tiêu trú lại Lô Sơn, mà lại qua kinh đô Kiến Nghiệp ở Giang Nam, trụ trì chùa Ðiểu Y. Vào năm 420, lúc gần bảy mươi tuổi, Tăng Duệ thường giảng kinh thuyết pháp. Vua Nghị Khang ở Bành Thành ba lần khẩn thỉnh, Tăng Duệ mới nhận làm đồ đệ. Ðáp lời cầu thỉnh của Tạ Linh Vận, Tăng Duệ viết quyển 'Thập Tứ Âm Huấn' để minh hiển sự đồng dị giữa tiếng Phạn và tiếng Tàu. Lúc ấy, Tăng Duệ cũng trước tác quyển 'Dụ Nghi'.

Từ khi qua Lô Sơn, Tăng Duệ đã từng ước vọng vãng sanh qua cõi Tây Phương. Khi tự biết tánh mạng sắp tận, bèn vân tập đồ chúng, bảo:

- Bình sanh Ta thường thệ nguyện vãng sanh Tây Phương. Tự nghĩ ba nghiệp thân khẩu ý, chẳng bao giờ trái ngược với giới luật, nên nhất định sẽ được vãng sanh, chẳng có chút nghi ngờ. Nguyện đức đại từ (Phật A Di Ðà), rũ lòng thương xót, khiến muôn kiếp vì pháp, mà vãng sanh qua cõi Tây Phương!

Nói xong, bèn vào tăng phòng, đi tắm gội, rồi dâng hương lễ bái, chắp tay hướng về tây phương mà thị tịch. Ngày đó, trong tăng phòng của Tăng Duệ, có mây hương năm màu đột nhiên bay lên. Bấy giờ là năm 433; hưởng thọ tám mươi lăm tuổi.

Tư tưởng của Tăng Duệ được biểu hiện rõ ràng nhất qua quyển 'Dụ Nghi'. Lúc làm môn hạ của ngài Cưu Ma La Thập tại Trường An, Tăng Duệ đã từng học tập nghĩa lý tinh túy của kinh Bát Nhã và Pháp Hoa. Ở tại Giang Nam, gặp quyển kinh Ðại Bát Nê Hoàn do ngài Pháp Hiển từ Tây Vực mang về, Tăng Duệ bèn nghiên cứu, so sánh sự quan hệ của ba bộ kinh Bát Nhã, Pháp Hoa và Nê Hoàn, rồi viết thành bộ luận 'Dụ Nghi' để đối đáp với những nghi vấn của các nhân sĩ. Ngoài ra, Trúc Pháp Ðộ do tín phụng giáo nghĩa tiểu thừa, nên thường bài bác những kinh điển đại thừa do ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch. Huệ Ðạo và Ðàm Lạc chất vấn và phỉ báng kinh điển đại thừa như kinh Ðại Phẩm Bát Nhã, kinh Pháp Hoa, v.v..., nên tại Trường An, phạm vô số tội, khiến bị đại chúng chỉ trích. Do phỉ báng kinh Niết Bàn tại Trường An và Bành Thành, nên lưỡi của Tăng Uyên bị cháy tiêu, mà nhận ra đó là quả báo của sự phỉ báng kinh điển. Tăng Uyên vốn theo Tăng Sùng học Thành Thật Luận và Tỳ Ðàm, mà trở thành học giả của luận Thành Thật.

Thấy những sự bài báng kinh điển đại thừa, Tăng Duệ đau xót vô ngần. Hầu mong phò chánh dẹp tà, nên Tăng Duệ mới viết ra quyển luận 'Dụ Nghi' để xiển minh nghĩa lý của kinh Bát Nhã, Pháp Hoa và Nê Hoàn (tức Niết Bàn), mà đặc biệt chú trọng nhắm về kinh Nê Hoàn.

Vào thời ngài Cưu Ma La Thập, kinh Nê Hoàn chưa được phiên dịch, mà chỉ có kinh Pháp Thân, thuyết rõ bao loại pháp thân của chư Phật. Ngài Cưu Ma La Thập bảo rằng chúng sanh nghe Phật thuyết là có chân ngã, và tất cả đều có Phật tánh, thì là đã đầy đủ lắm rồi!

Kinh Pháp Hoa chủ trương là thấy Phật tri kiến thì đều thành Phật, mà chưa chưa hiển thị lý tất cả chúng sanh sẽ thành Phật.

Kinh Ðại Bát Nê Hoàn do ngài Pháp Hiển mang từ Thiên Trúc về đến Dương Ðô, rồi vân tập hơn một trăm chư sa môn đại đức nghĩa học mà phiên dịch. Kinh Nê Hoàn mang giáo nghĩa mới đến cho Phật giáo Trung Quốc: Phật tánh của tất cả chúng sanh đều tồn tại, hay tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ðiều này, kinh Pháp Hoa chưa từng thuyết rõ ràng. Tăng Duệ chủ trương pháp thân trong kinh Pháp Thân tương đương với Phật tánh của kinh Nê Hoàn, mà viết ra quyển 'Dụ Nghi'. Ðối với sự phán xét trạch quyết về giáo tướng, bộ luận này có địa vị quan trọng trong sử Phật giáo Trung Quốc.

M. Ðạo Thái.

Ðạo Thái vốn là sa môn người Tây Lương. Lúc trẻ đã từng vượt ngọn thông Lĩnh, đi chu du khắp các nước, và thỉnh được bộ Tỳ Bà Sa, có một trăm ngàn câu kệ, rồi quày trở về Cô Tạng. Khi sa môn Phù Ðà Bạt Ma đến Lương Châu vào năm 437, Ðạo Thái bèn cung thỉnh vị tăng đó phiên dịch quyển luận này. Quyển Tỳ Bà Sa được du nhập vào đất Tàu, thật do công của Ðạo Thái.

N. Ðàm Học và Oai Ðức.

Hai thầy vốn là người Hà Tây, sang Thiên Trúc cầu thỉnh kinh điển vào cuối đời Ðông Tấn. Lúc đến nước Vu Ðiền, hai thầy chợt gặp đại hội Bàn Giá Vượt Xa (tức Ðại pháp hội Vô Giá trong năm năm-Pancha-parisad) mà các vị du tăng thường nhắc đến (xin xem ở phần trên, truyện du hành của ngài Pháp Hiển). Sau này, hai thầy trở lại Cao Xương, sao chép kinh Hiền Ngu, rồi cùng nhau phiên dịch.

O. Ðạo Phổ.

Thầy vốn là người nước Cao Xương. Thầy thường đi chu du khắp các nước ở Tây Vức và Thiên Trúc, cúng dường chiêm bái đảnh lễ Phật Ảnh Quật (hang có bóng hình của đức Phật), bình bát của Phật, bốn đại tháp thờ xá lợi Phật, cây Bồ Ðề, cùng tất cả thánh tích khác. Thầy giởi về tiếng Phạn và thông thạo ngôn ngữ của các nước tại Tây Vức. Năm 433, ngài Ðàm Vô Sấm vừa bị Mông Tốn giết hại (xin xem truyện Thần Tăng Thiên Trúc). Thầy mang kinh điển về đến Kiến Nghiệp. Tại chùa Ðạo Tràng, Huệ Quán vì muốn tầm cầu phần sau của kinh Niết Bàn, nên dâng sớ xin vua Tống Văn Ðế cấp lương thực cho thầy Ðạo Phổ sang Tây Vực cầu kinh điển. Ðược nhà vua chấp thuận, Ðạo Phổ dẫn đoàn sứ giả hơn mười người lên đường sang Thiên Trúc bằng đường biển. Thuyền vừa đến Trường Quận ở Thanh Châu thì bị sóng đánh tan vỡ. Ðạo Phổ cũng bị thương nơi bàn chân, rồi từ từ cảm bịnh mà thị tịch. Thật là một vị hy sinh thân mạng của mình cho đạo pháp. Trước khi nhập tịch, Ðạo Phổ nói:

- Ðất Tống thật chưa có duyên với phần sau của kinh Niết Bàn.

P. Huệ Lãm.

Thầy Huệ Lãm, tên tục là Thành, người Tửu Tuyền, chu du sang Tây Vực, đảnh lễ bình bát của Phật. Tại nước Kế Tân, Thầy gặp sa môn Ðạt Ma truyền trao cho giới pháp và thiền pháp bí yếu. Sa môn Ðạt Ma cũng sang truyền giới pháp cho chư tăng ở nước Vu Ðiền. Sau này, thầy Huệ Lãm trở về cố quốc, và thị tịch vào đời Tống Ðại Minh (457-465).

Q. Mười vị thầy của Bắc Tề (549-577) như Bảo Xiêm, Tăng Oai, Pháp Bảo, Trí Chiêu, Tăng Luật, v.v...

Họ tương kết đồng hành sang Tây Vực tìm cầu kinh điển. Trong bảy năm, họ thỉnh được 260 quyển kinh. Khi về đến nước Ðột Quyết thì nhà Tề đã bị diệt vong. Lúc ấy, gặp được sa môn bắc Thiên Trúc là Xà Na Quật Ða, họ bèn cầu thỉnh giảng kinh cùng phiên dịch danh đề của các bộ kinh. Sau này, họ đem kinh về Kinh Ấp. Nhà vua ra sắc lịnh cho các vị tăng khác phiên dịch.

R. Nghĩa Tịnh.

Tên tự của Thầy là Văn Minh, họ Trương, người Phạm Dương. Lúc còn nhỏ đã từ biệt song thân mà xuất gia. Thầy đi khắp nơi để tầm sư học đạo. Do đó, Thầy thông suốt các sách luận thế tục và nội điển. Năm mười lăm tuổi, vì ngưỡng mộ cao phong của ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, nên ước muốn sang Tây Vực cầu pháp.

Niên hiệu Hàm Hanh thứ hai (671), lúc ba mươi bảy tuổi, Thầy đến Phiên Ngu, cùng đồng kết giao với hơn mười pháp lữ để đi cầu pháp. Song, vừa lúc lên thuyền thì tất cả pháp lữ đều thối tâm. Vì vậy, đơn độc một mình Thầy sang Tây Vực cầu pháp. Thầy đi chiêm ngưỡng lễ bái hết các thánh tích, qua hơn ba mươi nước. Mười năm trú tại tu viện Na Lan Ðà, Thầy nghiên cứu tu học luật tạng, y dược, và tiếng Phạn. Thầy gom góp thỉnh được khoảng bốn trăm bộ kinh và mang trở về cố quốc. Mang kinh điển đến nước Bà Lỗ Sư (Srivijaya), Thầy trú lại đó trong bốn năm để phiên dịch. Năm 689, ra thương cảng để định gởi thơ, tình cờ Thầy lên thuyền trở về bổn quốc ngoài ý muốn. Tất cả kinh điển và những bản phiên dịch đều để lại nước Bà Lỗ Sư (Srivijaya). Vì vậy, vừa về cố quốc, Thầy liền trở lại nơi đó trong cùng năm, và ở nước đó thêm năm năm. Vào mùa hè, niên hiệu Chứng Thánh nguyên niên (695), Thầy mang bốn trăm bộ kinh luật luận cùng năm trăm ngàn câu kệ bằng tiếng Phạn, một bức tranh chân dung tượng Phật tại Kim Cang Tòa, và ba trăm (?) hột xá lợi, trở về kinh đô. Thiên Hậu đích thân ra cửa thành phía đông mà ngưỡng thỉnh. Chư tăng trong các chùa chiền tại kinh thành đều sắp theo đội ngũ mà mang tràng phan bảo cái, cùng trống nhạc mà cung nghinh. Thiên Hậu ban sắc cho Thầy trú tại chùa Phật Thọ Ký.

Ðầu tiên, Thầy cùng với tam tạng pháp sư Thật Xoa Nan Ðề (người nước Vu Ðiền) phiên dịch kinh Hoa Nghiêm. Sau này, tại chùa Phước Tiên ở Trường An, chùa Tây Minh ở Ủng Kinh, v.v... Thầy tự phiên dịch kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương, Năng Ðoạn Kim Cang Bát Nhã, Di Lặc Thành Phật, Nhất Tự Chú Vương, Trang Nghiêm Vương Ðà La Ni, Trường Trảo Phạm Chí, Căn Bổn Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da, Ni Ðà Da Mục Ðắc Ca, một trăm luật Yết Ma Nhiếp, các luận về Lục Môn Giáo Thọ, cá