|
Du Tăng Cầu Pháp
Dịch giả: Thích Hằng
Đạt
***
Mục Lục
Chương I - X:
Chương I. Từ Trường An đến Sa Mạc cát đá
(Sandy desert)
Chương II. Ðến Thiện Thiện và Vu
Ðiền (Khoten)
Chương III. Vu Ðiền, Lễ Diễn
Hành, Ngôi chùa mới của nhà vua
Chương IV. Ði xuyên qua ngọn núi Thông Lãnh (Ts'ung hay Pamir) đến
nước Kiệt Xoa (Tashkurgan)
Chương V. Lễ Bàn Giá Việt Sư hay
đại pháp hội trong năm năm, Xá Lợi của Phật. Ngũ cốc của nước đó
Chương VI. Ðến bắc Thiên Trúc,
vương quốc Ðà Lịch (Darel), tượng Bồ Tát Di Lặc (Maitreya)
Chương VII. Băng qua sông Tân Ðầu
(Indus). Khi đạo Phật vượt sông Tân Ðầu để tiến về phía đông
Chương VIII. Vương quốc Ô Trường (Udyana), chùa chiền, theo di tích
của Phật đà
Chương IX. Vương quốc Túc Ha Ða.
Truyền ký của Phật đà
Chương X. Kiền Ðà Vệ (Gandhara).
Truyền thuyết về Phật đà
***
Ðông Tùy Sa Môn Pháp Hiển Tự Ký Du Tây Thiên Sự.
Chương I. Từ Trường An đến Sa Mạc cát đá (Sandy desert).
[^]
Pháp Hiển xưa ở tại Trường An(1). Buồn thương vì
luật tạng khiếm khuyết, và muốn đạt được sở nguyện, nên vào năm Kỷ
Hợi, niên hiệu Hoằng Thủy(2) cùng Huệ Cảnh, Ðạo Chỉnh, Huệ Ứng, Huệ
Ngôi(3) v.v... đồng khế ước qua Thiên Trúc, tầm cầu Luật Tạng(4).
Ðầu tiên chúng tôi phát khởi tại Trường An, rồi
vượt thung lũng Lung(5), đến nước Càn Quy(6); an cư kiết hạ(7) tại
đó. Kiết hạ xong, chúng tôi tiếp tục đi đến nước Nậu Ðàn(8), băng
qua núi Dương Lâu và tới trấn Trường Dịch(9). Trường Dịch đại loạn,
đạo lộ không thông. Song, vua nước Trường Dịch ân cần lưu giữ chúng
tôi lại và làm đàn việt(10). Nơi đó, chúng tôi vui mừng gặp được các
thầy đồng chí hướng qua Thiên Trúc thỉnh kinh như Trí Nghiêm, Huệ
Giản, Tăng Thiệu, Bảo Vân, Tăng Cảnh(11) v.v... Nhân tiện chúng tôi
đồng an cư kiết hạ(12) tại đó. Kiết hạ xong, lại đi tới Ðôn
Hoàng(13) tức vùng biên cương, đông tây rộng khoảng tám mươi dặm,
nam bắc khoảng bốn mươi dặm. Nghỉ ngơi hơn một tháng xong, tôi (Pháp
Hiển) cùng bốn vị pháp hữu theo đoàn sứ giả đi trước, rồi lại chia
tay với các thầy như Bảo Vân v.v... Thái Thú tại Ðôn Hoàng là Lý
Hạo(14) cung cấp vật liệu cần dùng và thức ăn để vượt sa mạc. Trong
sa mạc(15) có nhiều ác quỷ và gió nóng. Nếu người bộ hành gặp phải
chúng thì sẽ bị chết, không có ai là toàn mạng cả. Trên trời không
chim chóc. Dưới đất không cầm thú. Nhìn xa mỏi mắt, muốn cầu qua
vùng đó, tức không thể biết định đoạt phương hướng nơi đâu, duy chỉ
có xương khô cốt trắng của người chết làm tiêu điểm.
Chương II.
Ðến Thiện Thiện và Vu Ðiền (Khoten).
[^]
Ði khoảng mười bảy ngày, tính
khoảng một ngàn năm trăm dặm, chúng tôi đến nước Thiện Thiện(1).
Vùng đất đó gập ghềnh cheo leo, đất đai khô cằn. Người thế tục mặc
đồ thô sơ như đất Hán(2), chỉ khác ở chỗ là có người mặc nỉ và áo
quần bằng lông. Quốc vương nước này tín phụng Phật pháp. Trong nước
có hơn bốn ngàn tăng sĩ. Tất cả tăng sĩ đều tu theo phái nguyên thủy.
Tại quốc gia này và các quốc gia khác, dân chúng cùng chư sa môn(3)
tận tụy tu hành theo Phật pháp ở Thiên Trúc(4), chỉ có khác nơi tinh
tường hay thô tế. Từ đây đi về hướng tây, chúng tôi đều nhận thấy
rằng các quốc gia nói tiếng Hồ(5) ngữ tiếng không đồng. Tuy nhiên,
tất cả người xuất gia đều học theo sách vở và ngôn ngữ của Thiên
Trúc. Nghỉ ngơi ở đó khoảng một tháng, rồi tiếp tục đi về hướng tây
bắc. Trải qua mười lăm ngày, đến nước Ô Di(6). Tăng sĩ trong nước đó
cũng có hơn bốn ngàn vị. Tất cả đều tu theo phái tiểu thừa, phép tắc
rất chỉnh tề. Thế nên, sa môn nước Tần(7) khi đến đó, chưa có thể
chuẩn bị được tinh thần để theo những điều lệ của tăng chúng ở nơi
ấy. Chúng tôi được sự hộ pháp của hành đường Phù Công Tôn, nên trú ở
đó hơn hai tháng. Nơi đó, chúng tôi gặp lại các thầy Bảo Vân(8) v.v...
Người nước Ô Di không biết tu lễ nghĩa, nên tiếp đãi khách rất tệ
bạc. Vì vậy, thầy Trí Nghiêm, Huệ Giản, Huệ Khôi, đồng trở lại Cao
Xương(9), vì muốn xin thêm tư lương để đi trên đường. Nhóm của chúng
tôi nhờ Phù Công Tôn cung cấp lương thực, nên lại tiếp tục đi về
hướng tây nam. Trên đường không có cư dân. Những nỗi khó khăn gian
nan đi bộ hành, trên nhân gian chắc không ai so sánh được. Ði khoảng
một tháng năm ngày, chúng tôi đến nước Vu Ðiền(10).
Chương III.
Vu Ðiền, Lễ Diễn Hành, Ngôi chùa mới của nhà vua.
[^]
Nước Vu Ðiền giàu sang phong phú; nhân dân tuy
đông đúc nhưng sống đời an lạc ấm no. Dân chúng đều tín phụng Phật
pháp, dùng pháp lạc (của âm nhạc) làm nguồn vui. Chúng tăng số đến
hàng vạn, đa số đều tu theo pháp đại thừa, và đồng có nhà ăn (chúng
thực). Nhà cửa dân chúng nước đó cách xa nhau như tinh sao. Trước
mỗi cổng nhà đều có tháp nhỏ. Tháp nhỏ nhất cao khoảng hai mươi
thước. Trong các tự viện, họ xây tứ phương tăng phòng (1), để cung
cấp cho khách tăng trú ở, cùng cúng dường bất cứ vật dụng gì chư
tăng cần thiết.
Quốc chủ an bài cho chúng tôi ở tại một ngôi Tăng
Già Lam(2), được gọi là Cù Ma Ðế(3), tức là chùa của phái đại thừa.
Ba ngàn tăng chúng được báo hiệu giờ cơm bằng cách đánh kiền. Lúc
vào nhà ăn, oai nghi chư tăng tề chỉnh, theo thứ tự mà ngồi, mỗi mỗi
đều tịch nhiên nhẹ nhàng, không có tiếng kêu của bình bát. Khi những
vị tịnh nhân(4) đó muốn có thêm thức ăn, các ngài không kêu la mà
chỉ ra hiệu bằng ngón tay.
Huệ Cảnh, Ðạo Chỉnh, Huệ Viễn đi đến nước Kiệt Xoa
(Tashkurgan) trước. Nhóm của chúng tôi vì muốn quán sát hành tướng
của các vị tăng trong chùa, nên ở lại ba tháng. Trong nước đó có bốn
ngôi tăng già lam đồ sộ mà không tính những ngôi chùa nhỏ. Từ mồng
một tháng tư, họ bắt đầu quét dọn đường xá thành quách, trang nghiêm
cảng mạch. Trên cổng thành họ giăng một cái lều lớn, rồi trang hoàng
lộng lẫy chung quanh. Vua cùng phu nhân thế nữ đều trú trong đó.
Tăng chúng chùa Cù Ma Ðế (tu theo phái đại thừa)
đều được vua kính trọng, dẫn đầu đoàn bộ hành rước lễ thánh tượng.
Cách thành khoảng ba bốn dặm, họ làm hình xe bốn bánh, cao hơn ba
trượng, dạng trạng như điện đường di động, trên có bảy báo(5) trang
nghiêm tương giao với tràng phan bảo cái treo chung quanh. Chính
giữa là tượng Phật và hai bên là Bồ Tát, cùng với tượng của chư
thiên ở đằng sau. Tất cả hình tượng đều làm bằng vàng bạc và được
điêu khắc rất đẹp đẽ, cùng được treo trên không trung. Khi xe cách
thành khoảng trăm bước, nhà vua liền lấy mão xuống, thay đổi long
bào mới, rồi đi chân không, cầm hương hoa, cùng đoàn quân hộ tống
hai bên, xuất thành cung nghinh tượng Phật. Ðến nơi, nhà vua đầu mặt
đảnh lễ dưới chân xe, rồi rải hoa dâng hương. Khi tượng Phật vào
thành, trên lầu các cửa thành, phu nhân cùng thể nữ rải hoa xuống
khắp đầy mặt đất. Cúng dường trang nghiêm đầy đủ như thế. Xe diễn
hành tượng Phật của mỗi chùa đều khác nhau. Từ mồng một đến ngày
mười bốn tháng tư, mỗi ngày đều có xe hành tượng của mỗi ngôi chùa
Tăng Già Lam. Lễ diễn hành thánh tượng kết thúc, vua cùng phu nhân
đều trở về hoàng cung.
Cách thành khoảng bảy tám dặm về phía tây có một
ngôi Tăng Già Lam, tên là chùa Vương Tân, được xây trong tám mươi
năm, trải qua ba đời vua mới thành. Chùa cao khoảng hai mươi lăm
trượng. Nghệ thuật điêu khắc đẹp đẽ lộng lẫy tuyệt vời. Vàng bạc
được phết trên đó. Các loại châu báu đều hợp thành. Ðằng sau tháp
của chùa có xây ngôi chánh điện, rất trang nghiêm đẹp đẽ vi diệu.
Cột, trụ, cửa, khung sổ đều được sơn phết bằng vàng lá. Ngoài ra,
tăng phòng cũng được trang sức rất nghiêm lệ, không thể diễn tả bằng
lời được. Bất cứ những vật trân bảo quý báu nhất của sáu quốc vương
vùng đông lãnh(6), đa số họ đều cúng dường hết mà chỉ giữ lại rất ít
để dùng riêng.
Chương IV.
Ði xuyên qua ngọn núi Thông Lãnh (Ts'ung hay Pamir) đến nước Kiệt
Xoa (Tashkurgan).
[^]
Lễ hành thánh tượng vào tháng tư
kết thúc, thầy Tăng Thiều một mình theo Hồ đạo nhân hướng Kế Tân(1).
Chúng tôi đi khoảng hai mươi lăm ngày thì đến nước Tử Hợp(2). Quốc
vương tu học Phật pháp rất là tinh tấn. Trong nước có hơn một ngàn
tăng sĩ, đa số là hành theo pháp đại thừa. Ở nơi đây qua mười lăm
ngày, chúng tôi lại đi về hướng nam trong bốn ngày, vào núi Thông
Lĩnh, đến nước Ư Huy(3) an cư kiết hạ(4). Kiết hạ xong, đi theo
đường núi cả hai mươi ngày thì đến nước Kiệt Xoa. Nơi ấy, chúng tôi
gặp lại các thầy Huệ Cảnh(5) v.v...
Chương V.
Lễ Bàn Giá Việt Sư hay đại pháp hội trong năm năm, Xá Lợi của Phật.
Ngũ cốc của nước đó.
[^]
Ngẫu nhiên, khi đến đó, chúng tôi gặp lúc quốc
vương đang tổ chức lễ Bàn Giá Vượt Sư(1); tiếng Tàu gọi là đại pháp
hội trong năm năm. Lúc đó, quốc vương cung thỉnh tứ phương Sa Môn
đồng đến. Chư Sa Môn tụ hội xong, nơi chỗ ngồi của các ngài đều được
trang hoàng nghiêm sức; phía trên có treo tràng phan bảo cái; họ
dùng vàng bạc để làm liên hoa, rồi đặt đằng sau những chỗ ngồi của
chư tăng; phô bày những tọa cụ thanh tịnh. Lúc chư tăng đều ngồi
xuống xong, vua cùng đại thần liền y theo pháp mà cúng dường. Ðại
pháp hội được tổ vào tháng giêng, tháng hai, hoặc tháng ba; đa phần
là trong mùa xuân.
Quốc vương tổ chức pháp hội xong, ông lại khuyến
tấn chư quần thần thiết trai cúng dường từ một ngày cho đến bảy ngày.
Cúng dường xong, vua lại lấy xe ngựa, yên, cuơng, rồi bảo vị đại
quan tôn quý nhất trong nước đỡ ông lên yên ngựa ngồi. Kế đến, nhà
vua lại lấy lụa trắng mịn màng nhất cùng bao loại trân bảo và những
vật mà chư tăng cần dùng, rồi đồng với quần thần phát nguyện bố thí
cúng dường chư tăng. Cúng dường xong, vua quan quần thần chuộc lại
những gì họ muốn từ tăng chúng.
Núi non nơi đó rất lạnh lẽo; đông hạ tuyết đóng
quanh năm; không sản xuất ngũ cốc, duy chỉ có lúa mì chín. Ðương
thời, chư tăng vừa định lãnh thọ phần lúa mì trong năm thì trời chợt
rơi sương tuyết. Vì vậy nhà vua thỉnh chư tăng hãy khiến cho lúa mì
chín rồi mới lãnh phần lương thực(2).
Trong nước này có ống nhổ của Phật được làm bằng
đá, màu sắc tựa như bình bát của Phật. Trong nước lại có một cái
răng của Phật. Người trong nước đó, xây tháp thờ răng Phật. Bên cạnh
ngôi tháp có một ngôi chùa chứa hơn một ngàn tăng sĩ. Chư tăng đều
tu theo pháp tiểu thừa. Từ núi đó đi về hướng đông, người thế tục ăn
mặc đồ thô sơ như người Tần, nhưng có việc khác là họ thường mặc đồ
may bằng vải lụa mỏng hay lông cừu. Luật lệ sa môn nơi đó rất nghiêm
túc, không thể viết hết được. Nước này nằm trong dãy núi Thông Lĩnh.
Trên dãy núi đó, cỏ cây hoa quả đều khác với cỏ cây hoa quả ở nước
Tàu, trừ trúc tre, quả an thạch lưu, cam giá (cây mía).
Chương VI.
Ðến bắc Thiên Trúc, vương quốc Ðà Lịch (Darel), tượng Bồ Tát Di Lặc
(Maitreya).
[^]
Từ núi đó chúng tôi đi về phía tây, hướng đến bắc
Thiên Trúc. Ði khoảng một tháng thì vượt qua dãy Thông Lĩnh. Trên
dãy núi Thông Lĩnh, mùa đông hay mùa hè đều có băng tuyết. Nơi đó,
lại có rồng độc. Nếu không để ý thì sẽ khiến cho rồng độc thổi gió
độc, làm mưa tuyết, cát bay, đá rơi. Nếu gặp nạn này thì không thể
toàn mạng. Người vùng đó gọi dãy núi này là Tuyết Sơn. Vượt qua đảnh
núi này thì chúng tôi đến bắc Thiên Trúc. Trước khi vào bắc Thiên
Trúc, có một vương quốc nhỏ, gọi là Ðà Lịch(1). Trong nước cũng có
chúng tăng, đều tu theo phái tiểu thừa.
Xưa kia, nước này có một vị A La Hán, dùng định
lực thần túc, đem một ông thợ điêu khắc lên cung trời Ðâu Suất(2),
quán xem sắc trạng diện mạo thân tướng của Bồ Tát Di Lặc(3), rồi trở
về khắc gỗ tạo tượng. Trước sau ông thợ điêu khắc lên đó ba lần, rồi
cuối cùng khắc thành tượng, cao tám mươi thước, bàn tọa rộng tám
thước. Những ngày trai lạt, thánh tượng thường phóng ánh hào quang.
Chư quốc vương lân cận đều tranh nhau mà cúng dường cho đến hiện tại.
Chương VII.
Băng qua sông Tân Ðầu (Indus). Khi đạo Phật vượt sông Tân Ðầu để
tiến về phía đông.
[^]
Từ chân núi chúng đi về hướng tây nam khoảng mười
lăm ngày. Ðường lộ nơi đó rất gồ ghề, vách núi hiểm trở. Dãy núi đó
có một tảng đá thạch bích rộng khoảng mười ngàn thước vuông. Ðến đó
thì chúng tôi bị hoa mắt; muốn tiến bước nhưng không biết đi ngõ nào.
Bên dưới có con sông, được gọi là Tân Ðầu(1). Người xưa đã từng đục
đá ven núi để mở đường đi và làm khoảng bảy trăm thềm cấp. Bên dưới
có cây cầu dây để vượt sông. Lòng sông rộng khoảng tám mươi bộ. Nơi
đây đã được ghi trong sách Cửu Dịch(2) của Trương Khiên(3) và Cam
Anh(4), nhưng họ chưa từng tới đó.
Chúng tăng trong đoàn hỏi tôi (Pháp Hiển) rằng có
biết Phật pháp được truyền về miền đông vào lúc nào không. Tôi đáp
rằng người ở xứ đó đều nói là theo tục truyền thì sau khi xây tượng
Di Lặc, sa môn từ Thiên Trúc thường mang kinh luật vượt qua con sông
này. Tượng Di Lặc này đã được đúc khắc sau Phật Thích Ca nhập Niết
Bàn khoảng ba trăm năm, tức vào thời vua Chu Ðể Bình(5). Theo huyền
sử này, đại giáo tuyên lưu ở đông độ, bắt đầu vào thời xây tượng Di
Lặc này. Không phải đại sĩ Di Lặc tiếp tục chuyển bánh xe pháp của
Phật Thích Ca, xiển dương ngôi Tam Bảo(6), khiến cho người vùng biên
địa biết đến chánh pháp thì là ai? Chúng ta biết rằng việc vận khai
chánh pháp không phải là việc của người thường; giấc mộng thấy Phật
của vua Hán Minh Ðế(7) vốn là nguyên nhân chính cho sự truyền bá
Phật pháp.
Chương
VIII. Vương quốc Ô Trường (Udyana), chùa chiền, theo di tích của
Phật đà.
[^]
Vượt qua sông này thì đến nước Ô Trường. Nước Ô
Trường chính là phần đất của bắc Thiên Trúc. Dân chúng dùng ngôn ngữ
của trung Thiên Trúc. Trung Thiên Trúc cũng được gọi là Trung Quốc.
Y phục ăn mặc của dân chúng nước đó đều giống như Trung Quốc. Phật
pháp nơi đó rất hưng thạnh. Nơi chư tăng trú ở được gọi là Tăng Già
Lam (Sangharama). Nơi đó có khoảng năm trăm ngôi tăng già lam. Chư
tăng đều tu theo phái tiểu thừa. Nếu có khách tăng đến, họ được cúng
dường trong ba ngày. Cúng dường xong, họ khuyên chư khách tăng là
phải tự tìm chỗ an cư.
Theo truyền thuyết, thuở xưa Phật có một lần đến
bắc Thiên Trúc, tức là nước này vậy. Dấu chân Phật cũng còn in nơi
đó; dài hay ngắn tùy theo tâm niệm của tín chúng, cho đến hôm nay
vẫn còn như thế. Nơi đó vẫn còn tảng đá mà Phật đã từng giặt y ca sa,
và chỗ mà Ngài đã từng hóa độ rồng độc. Tảng đá cao một trượng bốn
thước, rộng hai trượng, một bên là bằng phẳng.
Ba thầy Huệ Cảnh, Huệ Viễn, Ðạo Chỉnh đến nước Na
Kiệt(2) trước, nơi có bóng của Phật. Nhóm chúng tôi trú lại nước đó
để an cư kiết hạ(3). Kiết hạ xong, chúng tôi đến nước Túc Ha Ða(4).
Chương IX.
Vương quốc Túc Ha Ða. Truyền ký của Phật đà.
[^]
Trong nước này Phật pháp cũng rất
hưng thạnh. Nơi đây vốn là chỗ mà thuở xưa vua Thiên Ðế Thích (Sakra,
Ruler of Devas) đã từng thử Bồ Tát. Ông hóa thân làm quạ đuổi bắt
chim bồ câu, khiến Bồ Tát phải cắt thịt cho quạ ăn. Ðạt được trí huệ
viên mãn(1) xong, Phật cùng chư đệ tử du hành đến nơi đó. Phật bảo
họ rằng đây là nơi mà Ngài đã từng cắt thịt cho quạ ăn để cứu chim
bồ câu. Dân chúng biết việc này bèn xây tháp và trang sức, phết bằng
vàng bạc để thờ phụng ngay tại chỗ đó.
Chương X.
Kiền Ðà Vệ (Gandhara). Truyền thuyết về Phật đà.
[^]
Từ nơi đó đi về hướng đông khoảng
năm ngày thì đến nước Kiền Ðà Vệ(1). Ðây là vương quốc do con của
vua A Dục(2), hiệu Pháp-ích (Dharma-vivardhana), trị vì thuở xưa.
Khi còn hành hạnh Bồ Tát, Phật đã từng bố thí mắt của mình nơi
đó(3). Tại chỗ ấy, dân chúng cũng xây tháp lớn, được trang sức bằng
vàng bạc. Người nước đó đa phần tu học theo phái tiểu thừa.
Vượt sông Hằng đi về hướng nam ba do tuần, tôi đến
một thôn làng, gọi là A Lê. Nơi này, Phật đã từng thuyết pháp, đi
kinh hành, tọa thiền. Mọi nơi chốn đều lập tháp thờ.
|