Cuộc đời và sự nghiệp của
HT. Tuyên Hóa
Dịch giả: Thích Hằng
Đạt
Chương V
Phụ lục
Văn thư truy điệu
Liên hội Phật giáo Trung Hoa
Lục Địa
Kính gởi ủy ban đại
lễ truy điệu đại lão hòa thượng Tuyên Hóa thị tịch.
Liên hội chúng tôi
rất lấy làm sửng sốt và đau buồn khi được tin cao tăng Tuyên Hóa
Thượng Nhân đã viên tịch. Thượng nhân Tuyên Hóa, đạo cao đức trọng,
khổ nhọc sáng lập Vạn Phật Thánh Thành, hoằng pháp lợi sanh, cống
hiến cả cuộc đời cho quốc gia và tôn giáo. Công đức này ghi mãi ngàn
thu. Hôm nay, ngày tổ chức đại lễ truy điệu, trà tỳ thượng nhân
Tuyên Hóa, pháp sư Minh Dương, phó chủ tịch liên hội Phật giáo Trung
Quốc, đại diện toàn thể liên hội, chia buồn ai điếu. Chúng tôi
nguyện cầu thượng nhân Tuyên Hóa tạm về cõi Tây Phương Cực Lạc, rồi
mau chóng thừa nguyện trở lại, độ khắp chúng sanh hữu tình.
- Liên Hội Phật Giáo Trung Quốc.
- Ngày 19, tháng bảy, năm 1995.
***
Kính gởi: Chư
Thượng Thiện Nhân tại Vạn Phật Thánh Thành.
Tôi rất kinh hoàng
sửng sốt và đau buồn khi nghe tin thượng nhân Tuyên Hóa vừa thị tịch.
Sự viên tịch của Ngài giống như chiếc thuyền cứu nạn bị đắm chìm
trong biển khổ, như con mắt của trời người bị diệt mất. Không thể
dùng lời diễn đạt nỗi đau buồn này. Hôm nay tôi kính cẩn gởi lời
chia buồn ai điếu. Tôi cũng cầu mong rằng chư Thượng Thiện Nhân kềm
chế nỗi đau buồn này và vì pháp mà trân trọng giữ gìn pháp thể.
- Triệu Phác Sơ (chủ tịch Liên
Hội Phật giáo Trung Quốc).
- 17/ 6/ 95.
***
Điện tín từ giảng
đường Viên Minh, Thượng Hải, Trung Quốc.
Kính gởi: Thầy Hằng
Luật cùng tăng chúng Như Lai Tự, Vạn Phật Thánh Thành.
Tôi rất sửng sốt
khi được tin sư huynh, trưởng lão thượng Độ hạ Luân, Tuyên Hóa vừa
viên tịch vào ba giờ chiều ngày hôm qua. Vừa được tin đau buồn này,
lòng tôi đau đớn muôn phần. Hôm nay, tại giảng đường này, chúng tôi
tổ chức pháp hội niệm Phật trong một ngày. Vào hai giờ chiều, chúng
tôi lễ bái chư Phật. Trên một ngàn người tham dự cuộc lễ này. Cầu
nguyện Pháp Sư hoa khai kiến Phật, cao đăng liên tọa, Phật quốc
trường xuân. Nguyện rằng Ngài sẽ quay thuyền từ, thừa nguyện trở lại,
quảng độ chúng sanh. Nay tôi đặc biệt gởi điếu văn điện tín, chia xẻ
nỗi đau buồn. Lại nữa, tôi cũng viết một câu đối liễn, nhưng vì
không đủ thời gian, nên chỉ gởi bản nháp trước.
Nếu có việc nhầm
lẫn về ngày giờ viên tịch của trưởng lão Tuyên Hóa, xin đánh điện
tín cho chúng tôi hay để kịp thời sửa chữa.
Phương trượng trụ
trì Minh Dương, hướng dẫn bốn chúng đệ tử, đồng cung kính đảnh lễ.
Phó hội trưởng liên
hội Phật giáo Trung Quốc.
Hội trưởng danh dự
liên hội Phật giáo Thượng Hải.
Phương trượng trụ
trì:
- Cổ Tự Long Hoa tại Thượng Hải
- Quảng Tế Tự tại Bắc Kinh
- Thiên Đồng Tự tại Ninh Ba
- Tây Thiền Tự tại Phước Kiến
- Quang Hiếu Tự tại Phước Kiến
- Giảng Đường Viên Minh tại
Thượng Hải.
Vừa nhận được thư
từ Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, viện phiên dịch Kinh Điển, tôi rất
lấy làm đau buồn khi nghe tin thượng nhân Tuyên Hóa đã viên tịch.
Hôm nay tôi kính cẩn cúng dường bài kệ để tỏ lòng đau xót của mình.
- Tuyên dương diệu pháp, hóa độ
quần sanh,
- Nhân thiên nhãn mục, trược thế
huệ đăng
- Từ bàn đảo giá, khổ hải độ
nhân
- Bồ Tát đại nguyện, thế giới
hòa bình
- Phiên dịch kinh điển, quảng
tập quần anh
- Pháp vũ phổ nhuần, Di giáo
trường tồn
- Vạn chúng quy mạng, Vạn Phật
Thánh Thành
- Nguyện thùy cứu độ, tái chuyển
pháp luân.
dịch:
- Tuyên dương pháp mầu, hóa độ
quần sanh
- Mắt của trời người, đèn huệ
cõi trược
- Thuyền từ quay lại, biển khổ
độ người
- Đại nguyện Bồ Tát, thế giới
hòa bình
- Phiên dịch kinh điển, quảng
tập anh tài
- Mưa pháp nhuần khắp, di giáo
trường tồn
- Muôn người quy mạng, Vạn Phật
Thánh Thành,
- Nguyện mong cứu độ, chuyển lại
pháp luân.
Hậu học Diệu Thủ
Thích Xương Thái, mộc thủ kính thư tại chùa Báo Quốc, huyện Lạc Chí,
tỉnh Tây Xuyên, Trung Quốc. Ngày ba mươi tháng bảy, năm 1995.
***
Vị trưởng lão danh
đức hiện thời được nhân dân trên thế giới đồng cung ngưỡng. Tín
chúng đệ tử phát đạo tâm kiên cố, phần lớn nhờ sự ảnh hưởng từ giới
đức cao tột của Ngài. Tuy Ngài đã thượng sanh, nhưng tinh thần, đức
hạnh mô phạm cho đời, mãi mãi chiếu rạng đồng với mặt trời mặt trăng.
Bá Viên kính tác.
***
Kính gởi: Tổng Hội
Phật Giáo Pháp Giới, Viện Phiên Dịch Kinh Điển.
Trong bốn mươi chín
ngày đêm làm lễ truy điệu thượng nhân Tuyên Hóa, tôi rất cảm động
trước tấm lòng hiếu thảo của các đệ tử Ngài. Tôi cũng đã đi thăm
viếng các đạo tràng chi nhánh của Ngài ở Vancouver, Gia Nã Đại.
Những nơi đó, các đệ tử của Ngài đều chuyên tâm tụng Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Lại nữa, mọi nơi tôi đều thấy các đệ tử
giữ giới luật tinh nghiêm.
Thích Văn Kiến, trụ
trì chùa Hồng Phước, Penang, Malaysia.
***
Tôi rất kinh ngạc
và đau xót khi nghe tin thượng nhân Tuyên Hóa viên tịch. Nhờ sự tu
hành thâm sâu, nay Ngài hưởng được an lạc mãi mãi. Khi còn tại thế,
Ngài cống hiến tâm tư sức lực cho nhân loại. Ngài mở cửa Vạn Phật
Thánh Thành cho dân tị nạn Đông Nam Á cư trú, cứu trợ dân chúng bị
thiên tai hoạn nạn, cùng cấp học bổng cho những học sinh nghèo. Ngài
cũng thiết lập trường tiểu học, trung học, đại học, cùng sáng lập
viện Phiên Dịch Kinh Điển Quốc Tế, để phiên dịch hằng trăm kinh điển
nhà Phật ra Anh ngữ và các ngôn ngữ khác. Nơi đây trở thành trung
tâm phiên dịch kinh điển Phật giáo toàn cầu.
Người người sẽ mãi
mãi nhớ đến những lời giáo huấn đạo đức mô phạm cao tột của Ngài.
Đồng thời thế gian sẽ mãi tôn kính cuộc đời tu hành khổ hạnh của
Ngài.
Tôi tin tưởng rằng
bốn chúng đệ tử tại hai mươi bảy đạo tràng và hàng triệu tín đồ của
bậc thánh nhân này sẽ tiếp thừa sự nghiệp tu hành và hành đạo của
Ngài mà làm lợi ích cho nhân loại.
Tôi thành tâm khẩn
ý chia buồn và cùng đồng với các vị cầu nguyện cho bậc thánh nhân vĩ
đại này.
- Thành khẩn,
- Peter Wilson.
***
Kính gởi: Giáo Sư
John B. Tsu, Chủ tịch hội Chính-Giáo Á-MỸ.
Cảm tạ giáo sư đã
báo cho tôi tin thượng nhân Tuyên Hóa đã viên tịch. Thể theo lời mời
của Ông, tôi rất vinh hạnh được làm thành viên của ủy ban truy điệu.
Tôi cũng rất vui mừng được đề tên mình vào đó.
Tôi được biết là
đại lễ truy điệu sẽ cử hành vào ngày hai mươi sáu tháng bảy tại Vạn
Phật Thánh Thành, nhưng rất là hối tiếc không thể tham dự được đại
lễ này vì còn nhiều trách nhiệm ở Hoa Thịnh Đốn, nên sẽ nhờ ông
Darrell Shull thay mặt tôi tham dự buổi lễ cùng dâng một bài tán
tụng ngắn.
Một lần nữa, cám ơn
sự quan tâm của Ông về việc thông báo tin này. Xin hãy cho tôi hay
Cathy biết rằng chúng tôi có thể giúp đỡ gì cho Ông thêm không.
- Thành khẩn.
- Frank Riggs.
- Ủy viên Nghị Viện.
***
Kính gởi: Thành
viên Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới.
Vợ chồng tôi thành
tâm ai điếu chia buồn về tin quý vị đã mất đi một vị đạo sư ái kính
tột bậc, đại lão hòa thượng, thượng Tuyên hạ Hóa. Tài lãnh đạo sáng
tạo, trí huệ thâm sâu, và sự quan tâm của Ngài về chúng sanh đã ảnh
hưởng đến cộng đồng chúng ta, thật không thể nghĩ bàn.
Chúng tôi tin tưởng
rằng, mục tiêu về cuộc sống của nhiều người và của nhiều cộng đồng
được sáng sủa và tốt đẹp hơn, vì Ngài đã từng sống cạnh chúng ta.
- Tom Lantos
- Ủy viên Nghị Viện.
***
Kính gởi: Bốn chúng
đệ tử của thượng nhân Tuyên Hóa.
Trong buổi họp ngày
hai mươi mốt tháng tám năm 1995, hội đồng Cố Vấn thành phố
Burlingame đồng mặc niệm và đình hoãn buổi họp này để truy niệm cố
hòa thượng thượng Tuyên hạ Hóa, người sáng lập Tổng Hội Phật Giáo
Pháp Giới.
- Thành khẩn,
- Thư ký thành phố,
- Judith A. Malfatti.
***
Cựu tổng thống MỸ George Bush.
Ngày năm tháng bảy,
năm 1995.
Được nghe tin
thượng nhân Tuyên Hóa tạ thế, tôi thành tâm khẩn chí chia buồn ai
điếu đến tất cả quý Phật tử, đệ tử của Ngài.
Tất cả những ai
biết đến hay theo học giáo huấn của Ngài đều đạt được niềm khích lệ
vô biên.
Những thiện nghiệp
và công hạnh giúp người, đã khiến cho Ngài chân thật trở thành Điểm
Sáng cho đời.
Ngài chính là một
vị từ bi chân thật, và sẽ mãi mãi được nhớ đến.
***
Kính gởi: Ông Tsu.
Do sự đề nghị của
ông Mabel Teng, quản viên hội đồng điều hành thành phố Cựu Kim Sơn,
buổi họp thường lệ của hội đồng chúng tôi, vào ngày hai mươi sáu
tháng sáu, 1995, tạm đình chỉ, để biểu thị sự truy niệm thượng nhân
Tuyên Hóa.
Thành viên hội đồng
quản trị thành phố Cựu Kim Sơn, đối với sự mất mát vừa công lẫn tư,
đều ý thức thâm sâu được tâm lượng siêu việt của Ngài, và đồng tỏ
lòng cảm kích ưu ái đến với Ngài.
Tuy biết ngôn từ
không thể chia xẻ hết nỗi niềm đớn đau của quý vị, nhưng thành viên
hội đồng quản trị thành phố Cựu Kim Sơn thành tâm gởi đến niềm phân
ưu ai điếu về sự ra đi của ngài Tuyên Hóa.
- John L. Taylor.
- Thư ký hội đồng quản trị thành
phố Cựu Kim Sơn.
***
Kính gởi giáo sư
Tsu:
Tôi thành tâm khẩn
chí phân ưu cùng Ông về việc thượng nhân Tuyên Hóa vừa tạ thế. Tôi
rất vinh hạnh được làm thành viên của ủy ban đại lễ truy niệm vị
thánh nhân.
Tôi cũng muốn thưa
với Ông rằng do lời đề nghị của tôi, buổi họp thường lệ của hội đồng
quản trị thành phố Cựu Kim Sơn vào ngày hai mươi sáu tháng sáu,
1995, tạm đình chỉ để tưởng niệm, truy điệu thượng nhân Tuyên Hóa.
Kèm theo là thơ
chia buồn phân ưu của hội đồng quản trị thành phố Cựu Kim Sơn.
- Thành khẩn,
- Quản trị viên, Mabel Teng.
***
Kính gởi: Tăng Đoàn
Phật giáo, chùa Vạn Phật Thánh Thành.
Từ các tự viện dưới
sự giáo huấn của tôn giả Ajahn Sumedho: Amaravati, Cittaviveka,
Ratanagiri, Devon vihare, Dhammapala, Santacittarama, Bodhinyanarama,
chúng tôi đồng cung kính vấn an tăng đoàn Phật giáo tại Vạn Phật
Thánh Thành, chùa Kim Sơn, và những đạo tràng chi nhánh. Chúng tôi
mong mỏi được tham gia đại lễ Trà Tỳ, truy niệm tam tạng pháp sư
thượng nhân Tuyên Hóa. Chúng tôi thành kính cúng dường mọi công đức
tu hành để cầu nguyện cho Ngài được cao đăng Phật quốc. Trong tinh
thần tăng lữ, xin thông báo với quý vị về sự tham gia của tăng đoàn
chúng tôi vào dịp đại lễ này.
Nhiều tăng chúng
của chúng tôi rất trân quý những lần thăm viếng gặp gỡ thượng nhân
Tuyên Hóa. Những người khác rất lấy làm hối tiếc là không được dịp
gặp mặt Ngài trực tiếp. Mặc dầu những lời giáo huấn đều được bảo tồn
trong kinh sách, nhưng đạo hạnh và sự hành trì mô phạm của Ngài mãi
mãi không thể phai mờ. Chúng tôi cảm nghĩ rằng tăng đoàn của quý vị
hiện giờ phải tiếp tục sự nghiệp đó của Ngài. Cầu nguyện quý vị phát
tâm kiên cố sáng suốt, dõng mãnh tinh tấn, để đạt đến mục đích đó.
Thay mặt tăng đoàn,
- Tôn giả Ajahn Sumedho
- Tỳ kheo Thiradhammo
- Tỳ kheo Viradhammo
- Tỳ kheo Sucitto
- Tỳ kheo Munindo
- Tỳ kheo Thanavaro
- Tỳ kheo Vajiro
- Tỳ kheo Subbato.
***
- Quang Minh Chiếu Khắp
- Làm Chỗ Nương Tựa Cho Thế gian
- (bài phát biểu của Pháp sư Đạt
Ma Nan Đà -Ven. Dr. K. Sri Dhammanada JSM, D.Litt. Malaysia).
Tôi rất đau buồn
khi nghe tin thượng nhân Tuyên Hóa viên tịch vào ngày bảy tháng sáu,
năm 1995. Tôi may mắn biết đến và được Ngài tiếp đãi nồng hậu trong
lần đại lễ khai quang chùa Vạn Phật Thánh Thành vào năm 1979. Sau
lần đó, Ngài qua Mã Lai Á, đến chùa Buddhist Maha Vihara thăm viếng
tôi, để đáp lại thâm tình mà tôi đã viếng thăm Ngài lúc trước. Qua
sự liên hệ mật thiết, lòng tôn kính và ngưỡng mộ của tôi thật vô bờ
bến đối với sự khiêm cung, trí huệ, phụng hiến, tình nồng hậu, đầy
nhiệt huyết của Ngài.
Tôi rất vinh hạnh
biết đến sự cống hiến vĩ đại của Ngài đối với Phật giáo. Mặc dầu
theo chánh phái Phật giáo Đại Thừa, Ngài luôn thể hiện sự mở rộng
tâm lượng và nhận rõ nghĩa lý tinh túy về sự giáo hóa của bậc Giác
Giả, Phật Đà. Dầu không được huấn dục bằng Anh ngữ, nhưng Ngài vẫn
có thể mang giáo lý thậm thâm của Phật đà qua Tây Phương. Vì vậy,
khiến cho cả người đông phương lẫn tây phương đều ngưỡng mộ giới đức
và tinh thần phụng hiến của Ngài mà tham học Phật pháp. Sự ảnh hưởng
lớn lao này đã khiến cho những người đệ tử tăng ni lẫn tại gia đều
theo con đường giới đức và trí huệ mà chính tự Ngài đã dùng nhục
thân huyễn hóa để thực hành trong bảy mươi sáu năm sống trên thế
gian.
Không những cống
hiến vô biên sức lực vì thánh giáo, Ngài còn phát triển sự thực hành
Phật pháp thực tiển. Sự cống hiến lớn lao của Ngài cho Phật giáo là
việc kiến lập Vạn Phật Thánh Thành trang nghiêm vi diệu, nơi sẽ là
biểu tượng cho chánh pháp thậm thâm ở tây phương dài lâu. Nơi đó
không những là chỗ để lễ bái cầu nguyện, ngồi thiền, mà còn là trung
tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật Kinh Điển, và trường Đại Học. Muôn ngàn
loài hữu tình sẽ hưởng lợi ích lâu dài tại trung tâm này.
Theo dấu chân của
các đại sư truyền giáo thuở xưa như Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh, Ngài đi
khắp tây phương lẫn đông phương để truyền bá chánh pháp đến những
nơi xa xôi như Hồng Kông, Tân Gia Ba, Mã Lai Á, Đài Loan. Tại các
nơi đó, Ngài thành lập nhiều trung tâm tu học và truyền pháp. Ở Mã
Lai Á, nhiều thành viên và tín đồ Phật giáo rất tôn kính và muốn
tiến bước theo dấu chân của Ngài.
Sự viên tịch của
Ngài là một mất mát lớn lao cho tất cả chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta
có thể nhớ lại lời dạy của đức Phật: Tất cả chúng sanh không ai
tránh khỏi ba cái khổ, tức là sanh khổ, hoại khổ (già bịnh), và hành
khổ (chết).
Do đó, muốn theo
dấu chân Ngài, chúng ta phải cải hóa tự tân, nỗ lực tinh tấn, siêng
năng tu hành để giải thoát ra khỏi dây triền phược, vòng luân hồi vô
tận ở cõi Ta Bà.
Nguyện Ngài và tất
cả chúng sinh đều thoát khỏi mọi khổ đau, đạt đến Niết Bàn an lạc.
***
-
Một ngôi sao lớn đã rơi
- (bài phát biểu của pháp sư Đạt
Ma Ngoã Lập- Bhante Dharmawara-108 tuổi).
Kính thưa chư sơn
trưởng lão, các pháp sư tôn quý, cùng các cư sĩ:
Một ngôi sao lớn đã
rơi. Vì vậy, hôm nay chúng ta đồng tụ hội lại nơi đây để truy điệu
ân đức mà Ngài đã để lại. Tuy ngôi sao lớn đã rơi, nhưng nhường chỗ
cho những ngôi sao khác. Tôi tin tưởng rằng chúng ta rất mến luyến
và ái kính Ngài vô tận. Nhưng chúng ta phải hiểu rõ rằng ngôi sao
lớn rơi để nhường chỗ cho ngôi sao thứ hai. Tôi tin chắc rằng ngôi
sao thứ hai sẽ không thất bại hoàn thành công tác để bù đắp vào nỗi
mất mát lớn lao trong hiện tại. Tôi cũng tin chắc rằng ngôi sao mới
sẽ mang rất nhiều lợi ích cho chúng ta. Đây là sự hiểu biết của tôi.
Cám ơn quý vị đã
cho tôi cơ hội phát biểu ý kiến.
***
- Truy niệm Trưởng Lão Độ Luân
- (bài phát biểu của Hòa Thượng
Thích Trí Định).
Trưởng lão Độ Luân,
pháp danh An Từ, trong thập niên năm mươi, được đại lão hòa thượng
Hư Vân truyền tâm ấn, ban pháp hiệu là Tuyên Hóa, làm vị tổ thứ chín
dòng Quy Ngưỡng, Thiền Tông.
Trưởng Lão họ Bạch,
sanh tại Mãn Châu, tỉnh Kiết Lâm, huyện Song Thành. Trưởng Lão xuất
gia thuở thiếu niên, cần tu khổ hạnh, chí hiếu phụng dưỡng mẹ già.
Sau khi từ mẫu qua đời, Trưởng Lão cất am thủ hiếu ba năm liền, được
người đời gọi tên là Bạch Hiếu Tử. Vì sanh nhằm thời quốc gia loạn
lạc, nhiều cơn binh biến, mãi cho đến năm 1947, Trưởng Lão mới thọ
giới cụ túc tại núi Phổ Đà sau nhiều năm xuất gia, thân hành vạn dặm,
thọ bao gian nan cực khổ.
Sau này, khi nghe
tiếng một ngôi sao Thái Đẩu của thiền tông, đại lão hòa thượng Hư
Vân, đang khai đường thuyết pháp, chấn hưng mạch phái tại Tào Khê,
Trưởng Lão không quản ngại bao gian khổ, vượt núi băng sông, tìm đến
chùa Nam Hoa, Tào Khê, tỉnh Quảng Đông, năm 1948. Khi đó, chùa Nam
Hoa đang khai mở kỳ truyền giới vào mùa xuân, Trưởng Lão liền ghi
tên thọ giới lại để báo danh bổ giới. Do vậy, chúng ta thấy rằng
Trưởng Lão rất tôn trọng giới luật.
Tôi gặp Trưởng Lão
tại giới đường của chùa Nam Hoa vào năm 1948. Lúc ấy, tôi đang giữ
chức vụ Khai Đường, tức là không những dạy các vị tân giới tử về
những oai nghi đi đứng nằm ngồi, mà còn phải trông coi bao quát hết
mọi công việc lớn nhỏ trong giới đường. Nếu các vị tân giới tử có
vấn đề chi thắc mắc hay khó khăn, họ đều tìm đến tôi, cầu mong dạy
bảo. Đương nhiên, tôi dùng hết mọi khả năng, trí huệ để giải đáp và
giúp đỡ họ. Khi đó, tôi nhận thấy trưởng lão Độ Luân rất khiêm cung,
lễ mạo, oai nghi tề chỉnh, động tịnh nhẹ nhàng, nên biết đây chính
là bậc Long Tượng, Sư Tử của đạo pháp, và tương lai sẽ là vị chấn
chỉnh tông phong, hưng long Phật pháp. Lúc ấy, tôi đã thành lập học
viện giới luật tại chùa Nam Hoa, nhưng vẫn còn thiếu một vị Giám Học.
Vị này, phải là người có học phẩm khiêm ưu, tự biết làm tròn trách
nhiệm. Sau khi kỳ truyền giới viên mãn, tôi liền thỉnh trưởng lão Độ
Luân nhận chức vụ đó. Vừa đàm luận xong, Trưởng Lão nhận lời ngay.
Từ lúc nhận chức vụ Giám Học, Trưởng lão luôn tận trung tận lực hoàn
thành trách nhiệm cho đến khi rời chùa Nam Hoa.
Cuối năm 1949, tôi
đi Hồng Kông. Trong hội nghị liên hợp Phật giáo tại Hồng Kông, tôi
gặp lại trưởng lão Độ Luân. Thật đúng là nếu có duyên thì đi mọi nơi,
đều gặp nhau cả.
Lúc đó, từ Hồng
Kông, do sự hướng dẫn của pháp sư Thành Viên, Trưởng Lão cùng một số
tăng sĩ đến Thái Lan.
Từ Thái Lan trở về
Hồng Kông, định đặt mọi việc xong, Trưởng Lão liền khởi đầu tích cực
bắt tay vào công tác hoằng pháp lợi sanh. Đầu tiên, Trưởng Lão kiến
lập chùa Tây Lạc Viên gần sông Tây Loan, dùng pháp môn niệm Phật để
nhiếp thọ chúng sanh cả ba căn tánh (lợi căn, trung căn, độn căn),
và dẫn dắt những kẻ sơ cơ. Sau đó, tại vùng Bao Mã, Trưởng Lão kiến
lập Giảng Đường Phật Giáo. Từ danh xưng, chúng ta biết rằng Trưởng
Lão dùng nơi đó để hoằng dương kinh điển Đại Thừa, nhiếp thọ, làm
lợi ích cho tất cả người lợi căn thượng trí, cùng tất cả chúng sanh.
Nơi đó, những người xuất gia cũng được lợi ích là có chỗ để nghỉ
ngơi, tu học. Tại Hồng Kông, không những Ngài giảng kinh thuyết pháp,
tiếp độ tăng chúng, mà còn ấn tống kinh điển, khiến pháp bảo được
lưu truyền.
Nhớ lại, lần nọ vì
muốn in kinh Hoa Nghiêm, Trưởng Lão viết thơ, thỉnh tôi trợ hộ việc
ấn tống kinh. Tôi trả lời là chỉ có thể in khoảng sáu mươi bộ thôi.
Bất cứ khi nào rảnh
rỗi, trưởng lão Độ Luân thường nhận lời mời đi Đông Nam Á, hay đến
những thành phố như Sidney, Melbourne ở Châu Úc để tuyên dương pháp
hóa, lợi ích quần sanh.
Năm 1962, trên
đường đến MỸ quốc hoằng pháp, Trưởng Lão ghé lại Hạ Uy Di khoảng hai
tuần. Nơi đó, tôi thành lập một phái đoàn, chuẩn bị đón tiếp Ngài.
Tôi cũng lại thỉnh
Trưởng Lão thuyết pháp cho bốn chúng đệ tử rất nhiều lần vào dịp đó.
Ở Hạ Uy Di hai tuần xong, Trưởng Lão liền đáp máy bay đến Cựu Kim
Sơn, MỸ quốc. Từ đó, khoảng ba mươi năm trường, chúng tôi không được
dịp gặp mặt nhau vì bận rộn làm việc Phật sự, nhưng tôi rất vui mừng
biết được rằng Trưởng Lão rất thành công trong công việc hoằng dương
chánh pháp. Tuy không gặp mặt nhau, nhưng Trưởng Lão thường gọi điện
thoại thỉnh mời tôi đến Vạn Phật Thánh Thành để giảng kinh thuyết
pháp. Vì bận rộn trong việc Phật sự, tôi rất lấy làm hối tiếc là
phải từ chối. Tháng sáu, năm 1993, tôi đi Denver để thăm hội Phật
giáo tại Colorado. Trên đường về Hạ Uy Di, tôi ghé lại vùng Cựu Kim
Sơn, và khởi hành một chuyến đi đặc biệt đến Vạn Phật Thánh Thành để
thăm vị pháp hữu lâu năm chưa từng gặp gỡ. Tuy nhiên, Trưởng Lão
không có ở đó, vì bận việc Phật sự ở chùa Kim Luân, tại Los Angeles.
Tôi không ngờ được như thế, chỉ tự trách mình sao quá hàm hồ, chẳng
báo tin trước. Không còn cách nào khác, tôi phải rời Vạn Phật Thánh
Thành với nỗi niềm thất vọng. Tôi vừa rời Vạn Phật Thánh Thành, các
đệ tử Ngài vội gọi điện thoại cho Trưởng Lão báo tin tôi đã đến. Vừa
biết tin tôi đến vùng Cựu Kim Sơn, Trưởng Lão liền gọi điện thoại
đến tất cả chùa chiền ở vùng Cựu Kim Sơn để tìm kiếm. Kết quả, ngày
thứ ba, Trưởng Lão tìm được tôi, và liền thỉnh mời đến chùa Trường
Đề ở Long Beach. Vì phải lấy chuyến bay về lại Hạ Uy Di vào bảy giờ
tối cùng ngày, nên rất tiếc, tôi phải từ chối. Được Trưởng Lão thỉnh
mời đến viện dịch kinh Quốc Tế, tôi liền nhận lời. Hai giờ chiều
cùng ngày, tôi đến thăm viện Phiên Dịch Kinh Quốc Tế, được thầy Hằng
Thật cùng các vị tăng ni đệ tử Trưởng Lão ra tiếp đón. Họ hướng dẫn
tôi đi thăm viện Phiên Dịch Kinh Quốc Tế cùng hai tòa nhà vừa mới
mua. Các nơi đó đều được trang hoàng, bố thiết rất gọn gàng và đầy
đủ. Đến năm giờ chiều, thăm viếng xong, thầy Hằng Thật dâng tặng lễ
vật và cung thỉnh tôi đến viện Phiên Dịch Kinh Điển giảng Tâm Kinh
vào lần thăm viếng tới.
Vào ngày hai mươi
tháng tám cùng năm (1993), khoảng hai giờ chiều, trưởng lão Độ Luân
đột nhiên xuất hiện tại chùa Hư Vân. Tôi rất ngạc nhiên khi gặp
Trưởng Lão. Tôi hỏi Trưởng Lão đã đến tự bao giờ, và sao không báo
tin trước để tôi ra tiếp đón tại phi trường. Trưởng Lão trả lời là
vừa đến vào ngày hôm qua, và vì không phải là người ngoài nên không
cần báo tin trước khi đến. Vì đã lâu mà không gặp nhau, nên dĩ nhiên
là có rất nhiều chuyện để đàm luận. Tuy nhiên, trong lúc nói chuyện,
Trưởng Lão luôn thỉnh mời tôi đến Vạn Phật Thánh Thành giảng kinh.
Trưởng Lão nói: Để biểu thị sự thành tâm khẩn ý, lần này tôi tự thân
đến cung thỉnh Pháp Sư qua Vạn Phật Thánh Thành giảng kinh.
Tôi trả lời là tất
cả mọi việc đều tùy theo nhân duyên. Nếu nhân duyên chín mùi, nhất
định tôi sẽ đi đến Vạn Phật Thánh Thành. Chúng tôi đàm luận cả một
biểu chiều trước khi chia tay. Tôi có ngờ đâu lần gặp mặt đó cũng là
lần cuối cùng.
Gần đây, tôi được
tin pháp thể Trưởng Lão bất an, đang điều dưỡng tại Long Beach. Tôi
nghĩ rằng Trưởng lão luôn vì pháp vì người, nên tự nhiên sẽ bình
phục mau chóng. Ngày mười sáu tháng sáu, năm 1995, tôi đâu ngờ rằng
nhận được hung tin từ Vạn Phật Thánh Thành là trưởng lão Độ Luân đã
viên tịch vào ngày bảy tháng sáu năm 1995. Tin này như sét đánh. Ai
nghe đến cũng đều kinh hãi giật mình, không lời gì để nói. Trưởng
giả Độ Luân viên tịch là tổn thất lớn cho đạo Phật cũng là mất mát
lớn lao cho tất cả chúng sanh. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau ai
điếu, truy niệm, cầu trưởng lão Độ Luân thừa nguyện trở lại, nhiêu
ích hữu tình.
***
-
Cung Thỉnh Thượng Nhân Tuyên Hóa, Thừa Nguyện Trở
Lại
- (bài viết của học giả Phật tử,
giáo sư C. T. Shen).
Truyền thống Phật
giáo Trung Quốc do pháp sư người Tàu truyền sang nước MỸ, chỉ chính
thức là sau thập niên sáu mươi. Sau hơn ba mươi năm hoằng dương
chánh pháp, con số người Phật tử ở MỸ và Gia Nã Đại ngày một tăng
thêm, và con số chùa chiền của các hội Phật giáo được người Tàu
thiết lập khoảng trên một trăm tám mươi ngôi trong năm 1995. Tuy
nhiên, hầu hết những chùa chiền và các hội đoàn Phật giáo đều nhắm
vào đối tượng chính là người Tàu, chứ không thể thu hút và ảnh hưởng
được người MỸ. Thượng nhân Tuyên Hóa là một trong những vị thành
công vượt ngoài vòng hạn cuộc đó vì đã truyền Phật pháp cho người MỸ.
Rất nhiều đệ tử xuất gia của Ngài là người MỸ, thế mà họ đều có thể
chịu đựng cực khổ gian lao, nhất tâm tu đạo; đây là khó có thể được.
Tôi biết thượng
nhân Tuyên Hóa hơn ba mươi năm. Ngài đã từng nhận lời thỉnh mời của
tôi hướng dẫn các vị đệ tử người MỸ, đến tịnh xá Bồ Đề hai lần để
chủ trì hội nghị Thảo luận về việc phiên dịch kinh điển từ tiếng Tàu
sang tiếng Anh.
Trong những lần đó,
Ngài bảo cho chúng tôi biết về nguyện vọng thành lập một trường đại
học Phật Giáo, mặc dầu khi ấy Ngài vẫn đang trú ngụ tại một ngôi
chùa nghèo nàn, được sửa chữa từ một công xưởng cũ, tại vùng Cụu Kim
Sơn. Ngài cũng nhấn mạnh là đối tượng hoằng pháp ở MỸ, chủ yếu chính
là người MỸ. Ngài quyết định đào tạo và bồi dưỡng tăng tài tại nơi
đây. Việc này khiến thâm tâm tôi cảm phục bội phần. Cho đến hôm nay,
lòng tôi không bao giờ quên được sự cực khổ gian nan của Ngài trong
bao thập niên hoằng dương chánh pháp, tiếp tục huệ mạng Phật pháp,
mà người phàm phu không thể làm nỗi.
Theo sự hiểu biết
của tôi, Ngài sanh vào một gia đình nông dân tại Mãn Châu, Trung
Quốc. Thiên tánh Ngài thông minh và rất hiếu thảo đối với cha mẹ.
Ngay từ khi còn nhỏ, người người đều gọi Ngài là Hiếu tử, tức người
con chí hiếu. Khi mười chín tuổi, mẹ Ngài qua đời. Cảm thấy đời
người là vô thường, Ngài liền xuống tóc xuất gia. Ngài dạy và gây
ảnh hưởng đến rất nhiều người trong làng, khiến đạt được bao sự cảm
ứng. Khi chiến tranh Trung-Nhật tại vùng Mãn Châu kết thúc vào năm
1945, Ngài tham phương hành cước đến rất nhiều tự viện, lễ bái núi
Phổ Đà, rồi sau đó, xuôi vào Nam, đến Quảng Đông, thân cận đại lão
hòa thượng Hư Vân, là bậc đại đức của thiền tông đương thời. Vừa gặp,
đại lão hòa thượng Hư Vân biết thượng nhân Tuyên Hóa chính là bậc
pháp khí, nên giao chức vụ chủ nhiệm giáo vụ tại học viện giới luật,
chùa Nam Hoa. Đại lão hòa thượng Hư Vân cũng truyền tâm ấn cho
thượng nhân Tuyên Hóa. Từ đó, Ngài chính thức làm vị tổ thứ chín
dòng Quy Ngưỡng, thiền tông. Xuất gia vào lúc thiếu thời, Ngài được
ban pháp hiệu là Độ Luân. Sau này, Ngài được đại lão hòa thượng Hư
Vân ban thêm pháp hiệu nữa là Tuyên Hóa.
Mùa thu năm 1949,
Ngài sang Hồng Kông hoằng pháp, giáo hóa chúng sanh. Hơn mười năm,
Ngài ở đó và cũng thường sang hoằng pháp tại các vùng Đông Nam Á
cùng châu Úc. Năm 1962, đáp máy bay qua MỸ, Ngài sáng lập chùa Kim
Sơn tại vùng Cựu Kim Sơn. Vì pháp duyên thù thắng, rất nhiều thanh
niên người MỸ đến quy y và xuất gia với Ngài, khơi động phong trào
tu học Phật pháp trong tầng lớp trẻ. Sau đó, Ngài sáng lập hội Phật
giáo Trung MỸ, viện Phiên Dịch Kinh Điển Quốc Tế, cùng kiến lập
nhiều đạo tràng, tự viện ở tại nước MỸ. Năm 1976, Ngài thành lập
chùa Vạn Phật Thánh Thành với hơn bốn trăm mẫu đất, tại thị trấn
Ukiah, California. Trường đại học Phật Giáo Pháp Giới được chính
quyền tiểu bang cấp giấy phép hoạt động. Báo Kim Cang Bồ Đề Hải được
in hàng tháng để truyền bá chánh pháp. Rất nhiều kinh điển Phật giáo
bằng tiếng Anh cũng được xuất bản. Một cách tích cực, những lời đại
nguyện của Ngài bắt đầu được người người công nhận.
Tôi được gặp Ngài
lần cuối cùng tại vùng Cựu Kim Sơn, khi Ngài đang thị hiện đau bịnh.
Ngài nhấn mạnh rằng vẫn còn rất nhiều chương trình mà chưa có đủ
thời gian để thực hiện trong đời này. Không nghĩ ngợi, tôi liền đáp:
Xin Ngài hãy thừa nguyện mà trở lại.
***
-
Ngài cùng tôi nở một nụ cười cảm thông.
-
Tưởng Nhớ Thượng Nhân Tuyên Hóa.
(Bài viết của ông
Vương Kim Bình, phó viện trưởng viện Lập Pháp, Trung Hoa Dân Quốc,
Đài Loan).
Tôi sửng sốt khi
nghe tin thượng nhân Tuyên Hóa an tường thị tịch tại Los Angeles vào
ngày bảy tháng sáu năm 1995. Tất cả bốn chúng đệ tử tại Vạn Phật
Thánh Thành và những ai đã từng gặp, nghe hay biết đến, đều đau buồn
và cầu nguyện Ngài đạt đến bờ giác.
Thượng nhân Tuyên
Hóa là vị tổ thứ chín dòng Quy Ngưỡng, Thiền tông. Ngõ hầu giữ mạch
pháp và thiền giáo tránh bị mai một, Ngài rời Trung Hoa Đại Lục, qua
Hồng Kông, rồi đến miền đất xa xôi, MỸ quốc, để sáng lập Vạn Phật
Thánh Thành, cùng những đạo tràng chi nhánh, quanh khắp vùng Bắc MỸ.
Là một người Hoa đầu tiên truyền bá Phật pháp tại tây phương, công
nghiệp của Ngài được sánh bằng tổ Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ từ Ấn Độ sang
Trung Quốc, chấn chỉnh tông phong, lưu truyền Phật pháp khắp nơi,
làm lợi ích cho thế đạo, nhân tâm.
Môn phong Quy Sơn,
khổ hạnh tiềm tu. Ngài tiếp thừa truyền thống, mỗi ngày thọ trai một
lần, với thức ăn vô vị, cứ như thế, qua bao thập niên cũng như một
ngày. Nhờ chuyên tâm thành ý, tu tập trí huệ, thực tiển học theo
tinh thần của bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, vị đã thành tựu trí huệ
trong tiền kiếp, nên Ngài thực là bậc Đại Trí. Đồng thời, vì phát
đại nguyện hoằng pháp lợi sanh, thật hành theo tinh thần của bồ tát
Phổ Hiền, vị đã đầy đủ chủng đức, hạnh nguyện quảng đại, nên Ngài
thật là một vị Đại Hạnh. Nhờ Đại Trí và Đại Hạnh mà Ngài thành tựu
rốt ráo bố thí ba la mật, trì giới ba la mật, tinh tấn ba la mật,
nhẫn nhục ba la mật, thiền định ba la mật. Ngài dùng trí huệ ba la
mật để chủ động năm ba la mật trên, rồi lại dùng chúng để trang
nghiêm trí huệ. Đời nay, tự Ngài giác ngộ và giác ngộ cho người,
cùng giải trừ khổ nạn, độ khắp chúng sanh.
Tôi luôn tưởng nhớ
đến Ngài, người có đủ muôn đức, vị đạo sư của đời. Tuy Ngài đột
nhiên chuyển ngược thuyền từ, thân sắc đã nhập niết bàn, nhưng tinh
thần mãi mãi trụ tại thế gian. Chúng ta, những kẻ hậu học, phải tiếp
nhận truyền thừa công nghiệp của Ngài, và phát triển khắp nơi. Kệ
nói: Bánh xe pháp thường chuyển. Đấng Như Lai không cùng tận.
Ngài có từ phương
đông đến, hay từ tây phương mà đi không? Ngài nối nghiệp Thiền tông,
khiến mãi mãi lưu truyền muôn kiếp.
***
-
Mất đi một anh tài
- (bài viết của
HT. Thích Vĩnh Tinh)
Tôi gặp Ngài Tuyên
Hóa vào năm 1948, tại chùa Nam Hoa, Thiều Quan, Quảng Đông. Nhiều
người đến đó để tị nạn chiến tranh. Nơi đó, tôi cùng sống chung với
Ngài hơn một tháng. Khi đó, Ngài trú tại lầu chứa tạng kinh. Đại lão
hòa thượng Hư Vân rất trọng vọng Ngài.
Tôi cùng Ngài xuất
sanh đồng quê quán. Lúc ở vùng Mãn Châu, tôi chỉ nghe danh Ngài,
nhưng chưa từng gặp mặt. Cuối cùng, khi gặp được Ngài, tôi cảm thấy
thật quá trể. Đương thời, vì chạy nạn chiến tranh, tâm tình của
người người đều bất an, chỉ ở tạm trú nơi này chốn nọ trong một thời
gian ngắn. Sau này, đến Hồng Kông, Ngài cùng tôi thường gặp mặt nhau.
Tôi biết Ngài là một vị dụng công tu hành rất tinh tấn, không sợ khổ
nhọc. Sự hành trì của Ngài rất chân thật, không biểu diễn bên ngoài.
Vì vậy, tôi rất kính trọng Ngài.
Lúc đến nước MỸ,
Ngài thu nhận rất nhiều đệ tử người tây phương. Một trong những điểm
đặc biệt của Ngài là có thể đàm luận với người tây phương dầu không
biết gì về tiếng Anh. Ngài có trí nhớ phi thường, chỉ đọc qua một
lần là nhớ ngay. Ngài đã trải qua bao năm hoằng pháp, thu nhận đệ tử
đông đảo, khiến người người kính phục. Vì có chí nguyện tu hành,
những lúc chưa có đạo tràng tu tập, Ngài vẫn tự kiên trì tu hành khổ
nhọc, không bao giờ giải đãi. Vô luận có một người hay nhiều người,
Ngài vẫn tự y chiếu tu hành. Khi giảng kinh, dầu chỉ có một người,
Ngài vẫn giảng giải như có nhiều người. Do lòng kiên trì, chịu khổ
cực của Ngài, nên người người rất kính phục. Dẫu đến hoằng pháp nơi
nào trên thế giới, Ngài luôn được tín chúng hoan nghênh chào đón,
thọ giới quy y. Đó là nhờ sự tu hành chân thật của Ngài.
Tôi nghe rằng có
rất nhiều xá lợi sau khi hỏa táng thân Ngài. Điều này chứng minh
công phu tu hành thành tựu của Ngài. Nhờ lực huân tập, tu trì giới
định huệ thành tựu nên mới có nhiều xá lợi như thế. Tại MỸ, Ngài
dùng hết sức lực để hoằng bá Phật pháp, làm lợi ích cho chúng sanh,
phiên dịch và ấn hành rất nhiều kinh điển từ tiếng Tàu sang tiếng
Anh. Việc này không phải dễ làm.
Vừa nghe tin Ngài
viên tịch, chúng tôi cảm giác như Phật giáo mất đi một viên tướng
lãnh, một trưởng lão đạo cao đức trọng, nên rất thương tiếc, đau
buồn. Trong đời mạt pháp, chư vị pháp sư đạo cao đức trọng lần lượt
viên tịch mà không có ai tiếp nối, thật là một mối lo ngại lớn lao.
Những thế hệ sau không thể sánh bằng chư vị tiền bối, nhất là về
phương diện tu trì. Vì vậy chúng tôi rất lo lắng về việc chư đại đức
viên tịch mà không có ai kế thừa. Đây là vấn đề ưu tư của Phật giáo
hiện đại. Chúng tôi hy vọng chư vị cư sĩ, hãy phát tâm xuất gia, hộ
trì Phật pháp. Người xuất gia như chúng tôi đây, vốn là những người
nội hộ, chuyên trì Phật pháp. Nếu không có tăng bảo, Phật pháp sẽ bị
tiêu diệt. Vì vậy, việc xuất gia rất quan trọng. Sau khi xuất gia,
chẳng phải ra khỏi nhà là đủ, mà phải học tập Phật pháp, rồi chân
thật dụng tu hành. Chỉ hiểu được chút ít về Phật pháp, rồi lại ba
hoa môi mép, mà không chịu hành trì thì không thể được. Vì thế, hạnh
giải phải tương ưng, thì mới mong tu hành thành tựu. Nếu chỉ nghiêng
về một mặt, hoặc hạnh hoặc giải, thì không đạt đến đâu. Việc khiến
chúng tôi kính phục trưởng lão Tuyên Hóa nhất là hạnh giải của Ngài
đều tương ưng. Vì vậy, hôm nay Ngài mới thọ sự tôn kính của mọi
người.
***
-
Những điều Ngài đã giáo huấn tôi
- (cố vấn Tổng Thống Đài Loan,
ông Lâm Dương Cảng).
Hôm nay, nhân đại
lễ truy điệu cố đại lão hòa thượng Tuyên Hóa, mọi người đến đây để
tưởng nhớ một bậc Đại Sư hiện đời. Tôi nghĩ rằng những điều quan
trọng nhất mà chúng ta nên tưởng nhớ là sự cống hiến vĩ đại của Ngài
cho đạo Phật, nhân loại, xã hội, và sự phát triển của nền văn hóa
đạo đức, khiến những kẻ hậu lai phải học tập và hành theo những lời
Ngài chỉ dạy.
Thiết nghĩ, không
cần bàn thêm về cuộc đời của Ngài, vì quý vị chắc biết rõ nhiều hơn
tôi.
Thuở xưa, Phật giáo
từ Ấn Độ truyền sang phương đông nhờ công đức của tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Hiện tại, do sự cống hiến vĩ đại của Ngài, Phật giáo được truyền
sang Tây Phương.
Thật vậy, vừa được
ngài Hư Vân trao truyền mạch pháp và chính thức trở thành vị tổ thứ
chín của dòng Quy Ngưỡng thuộc Thiền tông, Ngài sang Hồng Kông kiến
lập chùa chiền, hoằng dương Phật pháp. Hơn mười năm sau, Ngài đơn
thân độc mã, rời Hồng Kông, đến thành phố Cựu Kim Sơn, để tuyên
dương chánh pháp, thọ nhận đệ tử xuất gia người MỸ. Ngài cũng thường
hướng dẫn những phái đoàn, đến nhiều đại học và quốc gia trên thế
giới để hoằng pháp.
Vào tháng bảy năm
1992, sau khi qua MỸ khảo sát chế độ, luật lệ pháp chế, tôi được
vinh hạnh tiếp kiến Ngài lần đầu. Mồng bốn tháng bảy, năm 1992, tôi
đến thăm viếng chùa Vạn Phật Thành tại Ukiah. Nơi đó, có người cho
tôi biết là chùa bị thiếu nước trong những ngày đầu mới thành lập.
Song, nhờ sự chỉ dẫn và oai đức của Ngài, mạch nước được khai.
Kế đến, tôi được
hướng dẫn tham quan cảnh chùa và dùng cơm trai nơi đó. Chiều hôm ấy,
tôi trở lại thành phố Cựu Kim Sơn, rồi đến viện Phiên Dịch Kinh Quốc
Tế để diện kiến Ngài. Câu đầu tiên tôi thưa với Ngài:
Đối với Phật pháp,
con chưa từng nghiên cúu học hỏi chút nào. Kính thỉnh Ngài từ bi
khai thị, chỉ dạy.
Ngài bảo:
Mặc dầu gặp nhau
nơi đây lần đầu, nhưng tôi đã nghe qua rằng Ông vốn là đệ tử chân
thành của Khổng Tử...Thật ra, tư tưởng của Phật giáo cùng Đạo giáo
đều giống nhau.
Kế tiếp, Ngài dạy
tôi phải chân tâm thành ý mà làm việc, và phải hiểu rõ đạo lý tu
thân tề gia trị quốc. Bàn về hệ thống trợ cấp xã hội của nước MỸ,
Ngài không bằng lòng, nên thường bảo rằng hệ thống trợ cấp an sinh
xã hội này đã khiến cho người MỸ trở nên lười biếng tệ hại; hệ thống
này cũng làm băng hoại quan niệm gia đình thân thuộc. Ngài cũng bảo
tôi rằng chánh phủ Trung Hoa Lục Địa hiện đang đi sai đường; hướng
đi của họ sẽ không thể thực hiện được.
Khi Ngài sang Đài
Loan hoằng pháp vào tháng giêng năm 1993, tôi được diện kiến lần thứ
hai. Theo lịch trình, tôi cùng hai vị cố vấn Tổng Thống, Hoàng Tôn
Thu và Lương Túc Nhung, sẽ dùng cơm trưa với Ngài. Song, Ngài bảo
tôi rằng hãy đến sớm hơn bốn mươi phút hoặc một tiếng. Y theo lời
dạy, tôi đến nhà hàng Hoa Mậu để gặp Ngài. Hôm đó, Ngài chỉ dạy tôi
rất nhiều điều như:
Thứ nhất, người
người đều có dục vọng mong cầu lợi ích. Làm chánh trị phải nên thật
tế. Phải nên chú ý làm cho mỗi người dân đều được thỏa mãn, thể theo
sự công bằng hợp lý.
Thứ hai, nếu muốn
có chức vị thì phải giúp người khác có chức vị. Nếu muốn liễu đạt
thì phải giúp người liễu đạt. Chân tâm trực ý là nền tảng của sự
đoàn kết. Chớ tranh giành, cầu danh đoạt lợi.
Thứ ba, các viên
chức chánh phủ cùng tổng thống phải thương mến dân chúng như con cái
của mình.
Ngoài ra, Ngài nhận
thấy chính quyền Đài Loan cũng giống như chính phủ Lâm An thời Nam
Tống, chỉ hưởng thái bình đôi chút mà không biết phấn đấu, cố gắng
thêm.
Ngài lại bảo:
Này ông Lâm viện
trưởng (vì lúc đó, tôi chưa từ chức viện trưởng ty Pháp Viện), hãy
nên vì đồng bào cùng quốc gia mà nỗ lực làm việc.
Đó là những lời
khích lệ của Ngài mà tôi đã ghi vào quyển nhật ký.
Tôi có hai quyển
khai thị của Ngài tại nhà. Lời dạy của Ngài cho người đời nay thật
rất ý nghĩa. Ví như câu: Chớ đối diện với Bồ Tát Quán Thế Âm mà
không nhận diện ra Ngài. Bồ Tát Quán Thế Âm thật sự trú trong tâm
của mọi người.
Ngài cũng dạy:
- Nếu hành theo
hạnh Phật thì mình là Phật. Nếu hành theo hạnh Bồ Tát thì mình là Bồ
Tát. Nếu làm theo quỶ ma thì mình là quỶ ma. Muốn làm Phật hay làm
quỶ ma, đều do mình cả.
Tôi thiết tưởng,
mọi người hãy suy nghĩ thâm sâu về những lời này.
Bên cạnh việc phiên
dịch kinh điển, hoằng dương Phật pháp vài nơi trên thế giới, việc
làm đáng quý nhất của Ngài, với tầm nhìn xa xôi, là thành lập chùa
Vạn Phật Thành, làm trung tâm nghiên cứu các tôn giáo quốc tế, để đề
xướng sự đoàn kết liên tôn, nhằm hỗ tương dung thông hợp tác, cùng
đồng tìm cầu chân lý, nỗ lực vì nền hòa bình của thế giới. Tinh thần
khoang dung độ lượng của Ngài vượt xa những vị lãnh đạo tôn giáo
bình thường.
Hôm nay, dự lễ truy
điệu cố hòa thượng Tuyên Hóa, tâm tôi tràn trề niềm hối hận, vì
tháng sáu năm rồi Ngài có nhắn lời rằng hy vọng tôi sẽ đến MỸ thăm
viếng Ngài vào tháng mười. Vì quá bận rộn và tưởng rằng Ngài sẽ sống
mãi đến một trăm tuổi, nên tôi không đi. Do đó, tôi mất đi một cơ
hội được Ngài trực tiếp chỉ dạy.
***
-
Ngài là vị mà tôi tôn kính nhất
- (bài viết của ông Hoàng Tôn
Thu, hội trưởng hội liên hiệp tôn giáo và là cố vấn phủ tổng
thống Đài Loan).
Tất cả chúng ta đều
bi thương mến tiếc khi nghe tin Ngài Tuyên Hóa đã viên tịch. Sự viên
tịch của Ngài, là một tổn thất lớn lao cho Phật giáo và nhân loại.
Suốt đời tu hành
khổ hạnh, Ngài hy sinh cho công cuộc hoằng dương đạo pháp, giảng
giải kinh điển Đại thừa. Ngài hướng dẫn công việc phiên dịch kinh
điển Đại thừa như kinh Pháp hoa, kinh A DI Đà, kinh Địa Tạng, v.v...
từ tiếng Hán ra tiếng Anh, Tây Ban Nha, v.v... Nhờ thế, đạo Phật
được truyền bá khắp nơi trên thế giới. Sự cống hiến của Ngài cho đạo
Phật và sự ảnh hưởng đến nhân loại thật lớn lao.
Hôm nay, tôi muốn
nhấn mạnh vài điểm mà tôi rất đặc biệt kính trọng Ngài.
Thứ nhất, đồng thời
với công cuộc hoằng dương Phật pháp, Ngài cũng xiển dương nền văn
hóa Tàu, cùng luân lý đạo đức. Ngài dung thông Phật giáo và Nho giáo
thành một thể, để tương giao hỗ trợ, và xiển dương khắp nơi hầu cứu
độ nhân loại. Ngài tôn trọng nền văn hóa Tàu, khiến tôi khính phục
vô vàn.
Thứ hai, Ngài là vị
hết lòng ái quốc. Đến nước MỸ từ năm 1962, hoằng pháp nơi đây hơn ba
mươi năm, Ngài vẫn giữ mình là người Tàu, không bỏ quốc tịch Tàu để
vào quốc tịch MỸ, dầu có bị nhiều trở ngại. Vì vậy, tôi nhận thấy,
Ngài không những là một vị cao tăng tu hành khổ hạnh mà là một người
dân ái quốc.
Thứ ba, không những
tự đề xuớng mà Ngài còn thực hành sáu đại tông chỉ như không tranh,
không, tham, không cầu, không, ích kỶ, không tự lợi, không nói láo.
Những tông chỉ này hợp với tám đức của truyền thống văn hóa Tàu như
trung, hiếu, nhân, ái, tín, nghĩa, hòa, bình.
Nhìn lại xã hội
hiện tại, người người đều thích thụ hưởng giàu sang sung sướng,
nhưng tâm linh lại rất nghèo nàn. Hầu hết ai ai cũng ích kỶ, tranh
giành danh lợi, quyền thế. Xã hội bị ô nhiễm vì lợi lạc, tiền tài
vật chất. Tôi tin tưởng rằng nếu muốn khiến xã hội trong sạch và
trung thực, thì chúng ta phải thực hành sáu đại tông chỉ cùng tám
đức.
Dầu đã viên tịch,
nhưng Ngài đã để lại cho chúng ta rất nhiều bài pháp thoại cùng bao
điều giáo huấn. Xin mọi người hãy tôn thủ y theo và phát dương rộng
rãi, để xã hội được lành mạnh và mọi người sẽ sống đời an vui hạnh
phúc ấm no.
***
-
Phát dương tinh thần của Ngài
- (ông Lương Túc Nhung, cố vấn
phủ tổng thống Đài Loan).
Ngài và tôi đồng
sinh tại Mãn Châu. Ngài ra đời tại tỉnh Kiết Lâm, huyện Song Thành,
thuộc vùng bình nguyên Tùng Liêu. Ngài xuất gia lúc thiếu thời và là
một vị tăng tu hành khổ hạnh. Sau khi tu học Phật pháp các nơi tại
nước Tàu, Ngài sang Hồng Kông, đến Nam Dương, rồi qua MỸ. Ngài đem
tư tưởng Phật giáo truyền sang xã hội tây phương, một xã hội đã thấm
nhuần tư tưởng triết lý thần học của đạo Thiên Chúa và Cơ Đốc. Sự
nghiệp này thật là vĩ đại, mà giờ đây đã ra hoa trổ quả.
Tôi đã từng đến
thăm Ngài hai lần, tại chùa Vạn Phật thành và thành phố Cựu Kim Sơn.
Năm 1992, sau khi từ chức viện trưởng viện lập pháp, tôi đến nước MỸ,
diễn giảng tại hội MỸ Đông Hoa Nhân Học. Kế đến, tôi đến thăm viếng
chùa Vạn Phật Thành, cùng Ngài đàm luận rất lâu. Ngài mời tôi làm
viện trưởng đại học Phật giáo Pháp Giới. Như quý vị đã biết, bên
cạnh việc hoằng dương Phật pháp, Ngài cũng thành lập viện Phiên Dịch
Kinh Quốc Tế tại Burlingame để phiên dịch kinh điển Phật giáo từ
tiếng Tàu sang tiếng Anh. Ngoài ra, Ngài cũng sáng lập trường đại
học Pháp Giới, một đại học tổng hợp, với hai phân khoa. Ngài hy vọng
rằng nhờ trường đại học này mà tự thân có thể hoằng dương Phật pháp,
và khiến đạo Phật phát triển trong ngành học thuật.
Song, tôi đáp lời
rằng vì không có mối quan hệ thâm sâu với nước MỸ (tôi đã từng du
học tại Nhật Bản), nhất là bị trở ngại về ngôn ngữ, nên chức vị này
không thể thích hợp cho tôi. Cuối cùng Ngài bảo:
Được rồi! Tôi vốn
là chủ tịch của trường đại học Pháp Giới. Nay xin giao lại cho Ông,
để Ông có thể giúp tôi phát triển trường đại học này.
Khi đó tôi chấp
nhận, nhưng sau này trở về Đài Loan, lại rất hối tiếc vì không đích
thân trợ giúp Ngài trong công việc kiến lập trường đại học này. Vì
vậy, tôi cảm thấy mình đã làm Ngài thất vọng.
Hôm nay, tuy Ngài
đã viên tịch, nhưng những đệ tử xuất gia và tại gia trong mọi tầng
lớp, vẫn tiếp tục kế thừa, phát huy mạnh mẽ tinh thần của Ngài.
Tôi hy vọng rằng
ngoài việc hoằng dương Phật pháp, trường đại học Pháp Giới sẽ có thể
được kiến lập trong một giai đoạn thích hợp, và gia tăng việc huấn
luyện trong hai phương diện: Nghiên cứu về nền học thuật và áp dụng
thực tiển. Công việc này rất quan trọng. Hôm nay làm lễ truy niệm,
tôi tin tưởng rằng tinh thần của Ngài mãi mãi lưu lại trong nhân thế
và thâm tâm chúng ta.
|