Cuộc đời và sự nghiệp của
HT. Tuyên Hóa
Dịch giả: Thích Hằng
Đạt
Chương II
Thời kỳ xuất gia học đạo,
độ người
Vào năm Ngài được
mười chín tuổi, mẹ Ngài tạ thế. Lúc đó là hạ tuần tháng ba. Gió xuân
thổi vùn vụt, băng tuyết chảy tan làm đường lộ đầy sình lầy, khiến
người đi bộ phải chịu cực nhọc. Từ nhà đến nghĩa trang hơn mười dặm.
Trước ngày di chuyển quan tài, gia quyến cùng thân hữu rất lo lắng
vì đường lộ sình lầy thì làm sao khiêng áo quan được! Đêm hôm đó,
Ngài âm thầm cầu xin chư Long Thiên rằng hãy cho tuyết rơi hay khiến
nước đông lạnh. Canh năm khuya hôm đó, thời tiết đột nhiên chuyển
biến, lại thêm gió bấc thổi đến, khiến nhiệt độ hạ xuống, rồi tuyết
rơi lả tả. Hôm sau, trên mặt đất, khắp nơi đều trắng xóa. Đường lộ
hôm trước bùn lầy, nhưng hôm sau bị tuyết trắng phủ dầy. Hầu hết mọi
người trong làng đều nghĩ rằng đó là do hiếu hạnh của Ngài nên mới
cảm động trời đất.
Làm lễ an táng hạ
huyệt xong, ai nấy đều trở về nhà, còn Ngài vẫn ở lại bên mộ phần
người mẹ để thủ hiếu. Mồng tám tháng tư năm đó, Ngài đến chùa Tam
Duyên ở làng Nam Bình, thành phố Hợp Nhĩ Tân, lạy hòa thượng Thường
Trí làm thầy, chánh thức xuất gia. Thọ giới Sa Di xong, Ngài trở lại
mộ phần bà mẹ. Một vị cư sĩ dùng rơm tranh, lợp một am thất cho Ngài
ở. Trong thời gian thủ hiếu, Ngài lạy kinh Hoa Nghiêm, lễ Tịnh Sám,
tu thiền tập giáo quán, nghiêm trì giới luật ăn một ngày một buổi.
Ngài tự thuật: Mẹ
tôi bị bịnh nặng, nên thường nằm liệt trên giường. Tôi vừa tiếp tục
dạy học, lại vừa lo săn sóc cho bà. Tôi không biết rõ bịnh tình của
bà, nhưng đã hơn nửa năm, bà không thể đi hay ngồi dậy được. Tôi
giúp mẹ mình đi cầu, tắm rửa, ăn cơm. Thân của bà tiết ra mùi hôi
thúi, nhưng tôi không quản ngại, chỉ hết lòng lo lắng chăm sóc.
Trong nhà, trừ tôi ra, không ai có thể săn sóc bà được. Tôi đi khắp
nơi, tìm nhiều thầy thuốc đến nhà chữa trị, nhưng bịnh tình của bà
vẫn không lành. Đương thời (lúc mười tám tuổi), thỉnh thoảng tôi
nhịn đói cả tuần lễ, nhưng vẫn tiếp tục dạy học. Tôi nhịn ăn vì
thành tâm cầu nguyện cho mẹ mình sớm lành bịnh.
Vào lúc ấy, tại
sông Bạch Vân có một con hồ ly tinh rất linh. Nếu người nào thành
tâm khẩn cầu, nó sẽ cho thuốc trị bịnh. Nhiều người từ trăm ngàn dặm
đến cầu xin hồ tinh cho thuốc. Khi quân Nhật đặt căn cứ tại vùng đó,
hồ tinh vẫn cư ngụ trong căn cứ. Sau này, nó đuổi quân Nhật ra khỏi
vùng. Quân Nhật bí mật làm một nồi dầu và đặt hàng rào dây điện xung
quanh gần trại lính, rồi dùng xe lửa, chở tù binh Tàu đến, bỏ họ vào
nồi dầu. Không biết có bao nhiêu người đã bị chết trong nồi dầu đó.
Lần nọ, hồ tinh
biến thành một ông già tóc bạc phơ, rồi đi thẳng vào doanh trại.
Quân Nhật mang súng ống đuổi theo, nhưng ông lão lại chạy vào và đốt
cháy kho vũ khí. Sau hai lần kho đạn bị nổ, quân Nhật biết rằng
không thể ở đó lâu được, nên phải dời đi nơi khác. Việc này chứng
minh hồ tinh rất linh. Quân Nhật vừa rút khỏi vùng, hồ tinh bắt đầu
bốc thuốc cho những ai cầu cứu chữa bịnh. Người đến xin thuốc, chỉ
việc tới đó đặt một cái chén với miếng vải đỏ bao phủ lên trên. Cầu
xin bất cứ thuốc gì thì thuốc đó sẽ hiện ra trong chén. Nghe vậy,
tôi đến đó, khẩn cầu hồ tinh cho thuốc để cứu người mẹ. Tôi đặt chén
xuống, rồi quỳ xuống chờ đợi cả ba ngày ba đêm mà không có thuốc gì
hiện ra trong chén. Sau này có một lần, khi tôi đã xuất gia, hồ tinh
nhập vào thân của người bà con, cầu mong quy y với tôi. Lúc nói rõ
rằng nó chính là hồ tinh tại sông Bạch Vân, tôi bảo:
- Khi tôi cầu xin
thuốc, ngươi không cho gì cả. Hôm nay, sao dám đến xin quy y với tôi?
Hồ tinh thưa:
- Khi Ngài quỳ nơi
đó, con không thể cho thuốc được, vì bị ánh sáng vàng chóa mắt.
Vì hồ tinh không
cho gì cả, tôi tự đến tiệm thuốc bắc, hốt vài thang thuốc cho mẹ
mình. Tuy nhiên, bà vẫn không khỏe lại được. Chẳng bao lâu, mẹ tôi
qua đời vào mồng chín tháng ba âm lịch. Ngày bà mẹ qua đời, trong
mình tôi không có một xu. Lúc báo tin cho các người anh hay tin buồn,
chỉ có người anh thứ ba là đến. Tôi hỏi:
- Mình phải mua
loại hòm gì cho mẹ?
Ông ta đáp:
- Nhà mình quá
nghèo túng; mua thức ăn còn không có tiền còn nói gì đến việc mua
hòm?
- Như vậy, chúng ta
phải làm gì?
- Chỉ việc đóng vài
tấm ván lại, rồi chôn bà.
- Không thể được!
Mẹ nuôi nấng biết bao con trai, con gái, nhưng cuối cùng bà chẳng có
một chiếc hòm để chôn. Em sẽ ra đường tìm xem.
Tôi ra thị trấn Lạp
Lâm để mua hòm. Nhờ trước kia đã từng giữ chức quản đốc của hội Đạo
Đức, nên tôi quen biết được vài người trong thị trấn. Tôi đến gặp
ông Điền, người nổi danh về việc mua bán quan tài. Vừa gặp tôi, ông
bảo:
- Anh đến đây để
mua hòm phải không?
Tôi đáp:
- Hiện giờ, không
có tiền, vậy ông có thể bán chịu cho tôi không?
- Được rồi! Khi nào
có tiền, hãy trả cho tôi.
Do đó, việc mua hòm
được giải quyết xong, và tôi sắp đặt chuyển hòm về nhà. Lúc sắp rời
tiệm, ông Điền lại đưa cho tôi ba trăm đồng, bảo:
- Nếu không có tiền
mua hòm, chắc chắn là anh không có gì để trang trải chi phí cho đám
tang. Hãy lấy số tiền này và trả lại cho tôi lúc nào cũng được.
Tôi biết là ông ta
tin tưởng mình, nên nhận lấy số tiền đó. Vào thời đó, ba trăm đồng
là số tiền rất lớn, vì vật giá rất rẻ, và không có nạn lạm phát.
Ngày mười chín
tháng ba, lúc trở về nhà tôi liệm xác bà mẹ vào hòm, sắp xếp người
khiêng áo quan, đặt để thức ăn. Tang lễ được cử hành vào ngày hôm
sau. Tuy nhiên, gió xuân ấm áp đã thổi tan băng giá tuyết đông,
khiến đường xá bùn lầy rất khó đi. Khu đất mai táng lại cách nhà
khoảng hai ba dặm. Tôi rất lo lắng cho những người khiêng hòm, vì họ
phải đi trên con đường bùn lầy và trơn trượt. Tối hôm đó, tôi cầu
nguyện chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thiên: Con không có nhiều thiện
duyên với trời người. Tuy nhiên, cầu xin chư Phật, chư Bồ Tát và chư
Thiên gia hộ cho sáng ngày mai tuyết rơi hoặc đóng băng.
Nếu tuyết rơi xuống
khoảng một tấc, hoặc mặt đất đóng băng giá, thì sẽ giúp người bộ
hành dễ dàng đi đứng. Lạ lùng thay! Trước khi trời hừng sáng, nhiệt
độ hạ thấp, tuyết rơi xuống khoảng một tấc, và băng đóng trên mặt
đất. Tôi biết rằng đây là cảm ứng của chư Phật và chư Bồ Tát.
Rạng ngày hôm sau
có trên hai mươi người đưa quan tài đến nghĩa địa. Mây dầy đặc giúp
người khiêng hòm bớt mệt nhọc. Làm lễ hạ quan tài xong, mây liền tan
hết, ánh mặt trời hiển hiện trên nền trời xanh thẳm, khiến tuyết tan
dần. Khi người người lục đục kéo nhau ra về, tôi ở lại ngồi bên cạnh
phần mộ người mẹ. Khi có người hỏi rằng sao lại ngồi nơi đó, tôi đáp
rằng muốn an ủi linh hồn mẹ tôi, nhưng chưa nói rõ ý muốn ở lại bên
phần mộ mẹ để thủ hiếu. Dầu họ cố khuyên lơn, nhưng tôi vẫn lặng
thinh như điếc. Tôi không cảm thấy đau buồn mà chỉ nhủ thầm: Mẹ ơi!
Tuy đã qua đời, nhưng con vẫn ngồi đây để an ủi mẹ. Lúc đó, tôi được
mười chín tuổi.
Vì nhiều người tò
mò về việc ngồi tại nghĩa địa, nên tôi sẽ kể rõ cho quý vị nghe.
Ngày đầu ngồi nơi đó, thử thách lớn đến. Ban ngày không có việc gì
xảy ra, nhưng ban đêm có một đàn chó săn đến. Những con chó này đã
được quân Nhật huấn luyện. Chúng rất hung tợn và thường ăn thịt
người. Những người giàu sang thường nuôi chúng để giữ nhà. Họ thường
thả lỏng chúng vào ban đêm. Chúng thường tụ tập với nhau để săn mồi,
tiến lui như quân binh của một tiểu đội du kích. Thấy tôi ngồi bên
phần mộ, chúng dự đoán là sẽ có buổi tiệc ngon. Vài chục con hung
hãn, đi xung quanh tôi khoảng năm mươi bước, rồi từ từ tiến gần đến.
Trước hết là con đầu đàn, rồi kế tiếp là cả bầy. Dầu chống lại một
con cũng không dễ dàng, còn nói chi đến việc chống cự cả bầy. Tôi
nghĩ thầm là mình chỉ có hai cách: Đầu hàng hay chống cự. Tuy nhiên,
không có vũ khí như súng, lựu đạn, dao găm, tre gậy, thì làm sao
chống cự? Thôi thì chỉ việc ngồi đây thủ hiếu, chẳng màng chú ý đến
chúng, dẫu bị cắn xé đến chết, cũng chẳng nề hà. Trong hoàn cảnh đó,
tôi phải chịu chết, chứ biết làm gì nữa, nên nhắm mắt chờ đợi.
Bầy chó tiến đến,
cách tôi khoảng ba mươi bước. Thấy tôi không động đậy, chúng bò sát
từ từ dưới đất, sủa và gầm gừ, cho đến khi chỉ cách tôi khoảng mười
thước. Khi ấy, không biết vì sao, tự nhiên chúng bắt đầu kêu oăng
oẳng và cắn lẫn nhau, giống như bị ai đánh đập, rồi cả bầy xoay đầu
bỏ chạy. Đó là ngày đầu tiên, tôi vượt qua thử thách, không bị chó
sói ăn thịt. Lúc làm những việc thiện, nghiệp chướng sẽ thử mình.
Nếu muốn thành Phật, sẽ bị ma quỶ thử thách. Vì tôi hành hạnh thủ
hiếu tại phần mộ mẹ hiền, nên những chủ nợ đến tìm kiếm. Có lẽ bầy
chó sói là kẻ thù của tôi trong đời quá khứ. Ngày nay, chúng đến đây
để tấn công khi tôi không có gì để chống cự. Tôi không chống lại
cũng không đầu hàng, nhưng cuối cùng chúng lại bỏ đi. Thật ra, chẳng
phải do tôi khiến chúng bỏ chạy, mà tự chúng cắn xé lẫn nhau rồi bỏ
đi.
Bầy chó sói vừa đi
thì bầy muỗi đến. Vào tháng ba, miền đông bắc chẳng hề có muỗi.
Song, một bầy muỗi mòng bay đến vào tối hôm thứ hai. Bay vù vù, bầy
muỗi mòng này to lớn và rất khát máu. Tôi thầm nghĩ: Bây giờ chỉ là
tháng ba, thời tiết vẫn còn lạnh lẽo, vậy thì bầy muỗi này từ đâu
bay đến? Thêm một thử thách nữa. Hôm qua là chó sói. Hôm nay là muỗi
mòng.
Tôi có thể đập
chúng, nhưng nếu giết chúng thì làm sao nhìn mặt mẹ mình? Tôi tự bảo:
Quý vị cứ tự nhiên uống máu của tôi.
Tôi cởi áo phần
thân trên ra. Chúng bay và đậu trên thân tôi, nhưng lại bỏ đi nơi
khác mà chẳng hề hút máu. Từ đó, không còn muỗi mòng nào bay đến nữa.
Trong vùng đất hoang vu, có rất nhiều muỗi mòng, nhưng tôi chưa hề
bị chúng cắn. Tuy nhiên, có rất nhiều người đến thăm tôi, thường bị
muỗi cắn, nên họ nói đùa là được bác sĩ chích ngừa. Đó là việc tôi
vượt qua thử thách vào ngày thứ hai.
Chắc quý vị nghĩ
rằng đây là những câu chuyện bông đùa. Tuy nhiên, tôi xin nói là
chẳng có chút gì vui cả. Nếu tôi không cởi áo ra, để chúng hút máu
cho thỏa thích, thì chắc gì được yên thân. Lúc đó tôi nói thầm: Quý
vị cứ việc hút khô máu. Tôi sẵn sàng chết nơi đây, mà không thù oán
gì cả, vì muốn kết duyên lành với quý vị. Khi tôi thành Phật, quý vị
sẽ là những người mà tôi cứu độ trước nhất.
Vì vậy, khi bay
trên người tôi, chúng cũng muốn làm bạn, mà không nỡ lòng hút máu.
Do đó, sau khi xuất gia, tôi tự gọi mình là tỳ kheo muỗi mòng. Tôi
thường dùng tên này vì danh Độ Luân hay Tuyên Hóa, khiến người khác
nghe đến liền cảm thấy nhức đầu chóng mặt. Đó là lý do mà tôi có tên
tục là muỗi mòng.
Nếu có ai nghĩ rằng
tôi chỉ kể chuyện suông thôi, thì cứ cho là như vậy đi. Tôi kể cho
quý vị nghe thêm một thử thách trong đêm thứ ba. Chúng là kiến, có
cả hàng ngàn con. Lúc ngồi nơi đó, chúng bò lên thân và cắn cùng
thân mình. Tôi biết rằng chúng muốn đuổi mình đi hoặc thử lòng thành
của mình. Lần nữa, tôi không kháng cự gì cả, chỉ tự nghĩ: Quý vị
muốn đuổi tôi đi nơi khác, nhưng tôi không hề muốn đuổi quý vị; muốn
bò lên đầu, mặt mũi, lỗ tai, miệng, v.v..., chỗ nào cũng được, xin
hãy tự tiện.
Sau khoảng nửa
tiếng, chúng bò đi hết. Lạ lùng thay! Từ đó, không còn một chú kiến
nào đến quấy rầy tôi nữa. Bầy kiến chắc nghĩ rằng không thể xâm
chiếm đất được, nên phải bỏ đi nơi khác.
Từ ba sự kiện này,
tôi nhận thấy rằng nếu chúng ta không kháng cự lại kẻ thù, tức xem
họ như thân thuộc, thì từ từ họ sẽ xem mình là bạn. Do đó, tôi tự
đặt tên mình là chú kiến nhỏ nhoi. Hôm nay, biết chú muỗi mòng và
chú kiến nhỏ nhoi đang thuyết pháp giảng kinh, nên rất ít người đến
nghe, vì họ sợ muỗi mòng, kiến, trùng cắn chích. Những ai dám đến
đây tức là sẵn sàng làm bạn với muỗi cùng kiến. Tôi không muốn nói
nhiều vì e rằng quý vị sẽ thêm sợ hãi.
Ngày thứ tư, chó
sói, muỗi mòng, kiến đều bỏ đi, nhưng lại đến phiên chuột, với thân
mình to lớn như mèo. Tôi không biết có phải chúng là những con chuột
cống ở Đài Loan, thường trốn trên mái nhà hay không? Ban đầu, tôi
tưởng là mèo, nhưng nhìn kỸ thì thấy chúng là một đàn chuột trắng và
xám với những cặp mắt ti hí và tinh ranh như trộm cướp, thường chui
dưới những cánh đồng, nhiều vô số kể. Chúng bắt đầu giở trò, bò và
nhảy lên cùng thân mình, đầu cổ tôi. Tuy nhiên, khi chúng nhảy lên
đầu, tôi lấy tay trùm lại, nên bị chúng cắn tay, khiến chảy máu dầm
dề. Khi ấy, tôi nghĩ thầm: Được rồi! Tôi không kháng cự nữa đâu. Hãy
tiếp tục cắn đi.
Tôi để chúng tự do
leo lên đầu cổ mình mẩy. Khoảng hai mươi phút sau, cả bầy chuột đều
bỏ chạy. Đây là chuột thử thách vào ngày thứ tư.
Ngày thứ năm, tôi
bị một đàn rắn rít độc hại lớn nhỏ, dài ngắn vây quanh. Thường ngày,
rất ít thấy rắn trong vùng đó, nhưng hôm ấy, chúng lại kéo đến làm
thịt tôi. Lần nữa, tôi nghĩ: Quý vị cứ việc cắn đi; nếu phải chết,
thì có sao đâu.
Tuy nhiên, không có
con nào cắn tôi. Ngày thứ sáu, một bầy bò cạp đột nhiên xuất hiện.
Chúng dài cả ba bốn tấc. Tôi đã từng thấy qua những con bò cạp lớn
tại chùa Từ Hưng trên núi Đại Tự và chùa Tây Lạc Viên tại Hương Cảng,
nhưng chưa bao giờ thấy những con bò cạp lớn như thế. Cỏ dại lao xao
khi chúng bò đến từ khắp nơi. Tôi tự bảo: Quái lạ thật! Mình bị chó
sói, muỗi mòng, kiến, chuột, rắn rít tấn công. Bây giờ lại đến phiên
bò cạp. Dầu con gì đến, mình sẽ để chúng cắn.
Vì không có tâm sợ
hãi hay thù hằn, chúng tự giải tán và biến mất. Ngày thứ bảy lại
khác hơn sáu ngày trước. Mùi hương lạ, khác hẳn với hương thơm thế
tục, bay đầy khắp hư không. Sau bảy ngày, mọi việc đều tĩnh lặng.
Lúc ngồi bên cạnh
phần mộ người mẹ, vì không có ai mang thức ăn, nên tôi chịu nhịn đói.
Tuy nhiên, sau ngày thứ bảy, cha tôi mang thực phẩm đến. Khi đó, cha
tôi tuổi khoảng bảy mươi. Ông vừa khóc vừa khuyên tôi hãy trở về nhà.
Dầu nhịn ăn trong bảy ngày, tôi vẫn không cảm thấy đói. Vì người cha
mang thức ăn đến, nên tôi phải cố gượng ăn. Sau đó, tôi thưa với cha
mình rằng xin đừng mang thêm thức ăn gì nữa, rồi nhấn mạnh rằng sẽ
không nhận thức ăn hay vật gì của thân nhân đem đến.
Bao việc xảy đến
khi tôi ngồi bên phần mộ, nhưng chưa bao giờ gặp ma quỶ. Những khi
đói bụng, tôi ăn cỏ dại và lá hoang. Ngày nọ, ăn nhằm một loại nấm
mà khiến cho tôi muốn cười suốt ngày. Từ đó, tôi biết được nấm có
chất hoá học, khích thích cười đùa. Thời gian sống bên ngôi mộ người
mẹ là một trong những lúc cực khổ nhất của cuộc đời. Dùng lá tranh,
tôi xây am nhỏ thành hình chữ A, nhưng nó không thể chống đỡ gió mưa
sương tuyết. Những khi ngoài trời tuyết rơi thì trong am cũng trắng
bạch. Lúc mưa to gió lớn thì am thất cũng ướt nhèm.
Vừa bắt đầu học
Phật pháp, tôi tụng kinh Địa Tạng và Pháp Hoa. Mùa đông năm mười tám
tuổi, lần đầu tiên tôi được đọc ba quyển kinh Địa Tạng. Tôi nhớ lại
là được xem kinh Địa Tạng tại chùa của hòa thượng Diệu Liên. Hòa
thượng tự tay viết và in ấn quyển kinh này. Hòa thượng Diệu Liên vốn
là tiến sĩ của viện Hàn Lâm và đã từng làm quan trong triều Mãn
Thanh tại Hàng Châu. Lúc được bổ nhiệm làm quan tại Hàng Châu, Ngài
đến đó sớm hơn vài ngày, mà chưa nhận chức chính thức. Vì không có
việc gì làm, Ngài mặc áo quần thường dân, đến đền miếu, dự xem buổi
lên đồng cốt; đây là pháp nửa thật nửa giả của bàng môn tả đạo mà
không phải là pháp của Đạo giáo hay Phật giáo. Vừa bước vào cửa miếu,
dẫu người xung quanh không ai nhận ra lai lịch, nhưng con đồng lại
gọi đúng tên tục của Ngài, Trương Hàn Thừa, và bảo rằng phải lắng
nghe theo mạng lịnh:
- Đời trước ông là
người con chí hiếu, nên đời nay được làm quan. Vì vậy, phải làm vị
quan thanh liêm, chứ đừng hành động như bọn quan lại tham ô. Hãy vận
dụng hết tài năng mà hành sự.
Nghe như thế, Ngài
toát mồ hôi, nghĩ ngợi: Thật quái lạ! Đồng cốt lại biết quá khứ của
mình!
Ngài đã từng là
người nghiện hút thuốc phiện, nhưng bấy giờ không còn muốn hút nữa.
Nghỉ ngơi vài ngày xong, Ngài đem thuốc phiện và những ống thuốc ra
đến Tây Hồ. Người khác nhìn thấy, tuởng rằng Ngài sẽ đến đó mà hút
thuốc phiện. Khi bơi thuyền ra giữa Tây Hồ, Ngài liệng hết chúng
xuống nước. Vừa ngưng hút thuốc phiện, Ngài tu học Phật pháp, rồi
lại xuất gia. Ngài có căn bản học vấn vững chắc về Khổng giáo, và
thư bút rất tuyệt vời. Sau này, Ngài cho tôi quyển kinh Địa Tạng do
chính tay mình viết. Từ đó, tôi bắt đầu tụng đọc kinh này vào những
buổi trưa, và thường đốt một nén hương cháy khoảng hai giờ, mà người
miền bắc gọi là cây hương tinh tấn. Sau này, vì tôi quỳ trên gạch đá
chứ không có gối lót, nên đầu gối bị lở loét chảy máu, nhưng tự bảo:
Mi cứ việc lở loét. Ta chẳng nề hà.
Lần đầu tụng kinh
Địa Tạng, thân tâm tôi cảm giác rất thanh tịnh và an lạc, không thể
diễn bày. Hôm nay, ngồi trên chiếc ghế trường kỶ đã được bao bọc kỸ
càng, mà quý vị lại muốn lót thêm một lớp nệm nữa. Lúc quỳ, quý vị
phải có gối để lót đầu gối, vì không thể nhẫn thọ cực khổ nhỏ nhoi.
Tôi ngu xuẩn hơn quý vị vì quỳ mà không chịu lót đầu gối, khiến nó
phải bị lỡ loét.
Tôi nhớ lại lúc xưa,
thường tụng kinh Pháp Hoa đến độ mắt bị chảy máu. Tại sao? Càng tụng
chừng nào, tôi càng thích chừng đó mà quên đi việc ăn uống ngủ nghỉ
trong mấy ngày liền, khiến đôi mắt rướm máu. Đến khi máu chảy xuống
quyển kinh thì tôi mới biết, nên buộc lòng phải nghỉ ngơi. Quý vị có
thể bảo:
- Hòa Thượng! Ngài
thật ngu si!
Vâng! Nếu tôi thông
minh như quý vị thì đôi mắt không đến nỗi phải bị chảy máu. Có lẽ
quý vị sẽ cười thầm: Vâng rất đúng!
Tuy thông minh
nhưng quý vị (thính giả trong pháp đường) vẫn là đệ tử, theo tôi học
Phật pháp. Đối với tôi, việc tụng kinh đến độ mắt chảy máu là việc
thường xảy ra.
Bàn về quá khứ, quý
vị chớ nghĩ rằng tôi luôn làm tăng sĩ. Tuy không nhớ hết những việc
lên voi xuống ngựa, nhưng tôi tự biết mình đã từng làm vua, quan,
dân dã, rất đỗi phiền hà. Việc gì cũng đều phiền hà. Học sinh, công
nhân, thương gia, quan quân, tăng sĩ, mỗi người có việc phiền hà
riêng. Tuy nhiên, nếu biết mình đang làm việc gì và chuyển được cảnh
thì phiền hà không còn. Hãy cố gắng tinh tấn tiến bước.
Ngược dòng thì gặp
đạo
Nhẫn nhượng thì
dụng đạo.
Vô luận việc gì,
nếu không biết xả chấp nê đều trở thành phiền não. Xả bỏ được nghĩa
là mọi việc đều tốt đẹp, chẳng có gì là phiền muộn. Nếu hành được
như thế, sẽ thấy lẽ vi huyền trong tự tâm.
Trong thời gian thủ
hiếu bên cạnh phần mộ người mẹ, tôi xuống tóc xuất gia. Trước đó,
tôi đã quy y với đại sư Thường Nhân. Tuy thất học, nhưng đại sư
Thường Nhân có tài thuyết pháp hùng biện. Ngài là vị trụ trì chùa
Tam Duyên, và cũng từng thủ hiếu bên cạnh mộ cha mẹ trong sáu năm.
Hai năm đầu, Ngài không dùng thức ăn nấu chín và cùng không giao tế
với ai. Ngôi chùa Tam Duyên, nơi tôi xuất gia, có khoảng năm mươi tỳ
kheo, nhưng đôi khi chỉ còn vài người. Lúc tôi đến chùa, đại sư
Thường Nhân vừa ra ngoài hóa duyên, nên không có ai nhận ra tôi. Tôi
thưa:
- Hôm nay, con đến
đây cầu xin xuất gia, để nương theo ngài Trụ Trì tu học.
Nghe như thế, họ
đều chấp thuận. Xuất gia xong, tôi hành bao khổ hạnh, khác biệt với
sự tu tập của quý vị trong hiện thời, tức thường đánh máy, tụng kinh,
v.v... Trong ngôi chùa lớn ở vùng thôn quê có rất nhiều việc để làm.
Công việc đầu tiên của tôi là quét dọn hầm cầu. Mỗi ngày, phải đi đổ
phân vì không muốn có mùi hôi hám xông lên trong chùa. Họ giao nhiệm
vụ này cho tôi vì biết rằng tôi chưa cắt đứt chấp trước về mùi vị.
Mỗi ngày tôi vui vẻ làm việc, chẳng hề quản ngại. Tôi cũng làm rất
nhiều công việc lặt vặt trong chùa như quét dọn, nấu cơm, rửa chén.
Lúc tuyết rơi, tôi thức dậy khoảng hai giờ sáng, trong lúc mọi người
đang say giấc nồng, để quét dọn đường đi cho đại chúng lên chánh
điện tụng kinh vào lúc bốn giờ sáng. Tôi làm công việc này trong một
thời gian dài mà không ai biết đến.
Lúc nhỏ, tôi rất
thích tranh cãi rầy rà với những người khác. Xuất gia xong, tôi
thường bị người khác chửi mắng, đánh đập và chèn ép. Mọi người đều
khinh bỉ và cho rằng tôi là kẻ vô loại. Có vài thầy ở trong chùa
thường lợi dụng, chửi mắng và đánh đập tôi.
Vào buổi đầu tu học
Phật pháp, Ngài thường thích tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Do lòng đại từ đại bi cao cả, Bồ Tát Địa Tạng luôn lân mẫn đến chúng
sanh mà họ nào hay biết. Vì vậy, Ngài phát tâm quỳ trước chánh điện,
tụng kinh Địa Tạng suốt hai giờ liền vào mỗi ngày. Nền đất trên
chánh điện được trét bằng xi măng thô. Quần của Ngài chỉ có một lớp
vải mỏng, thì đầu gối tránh sao không khỏi bị rách sướt! Tuy nhiên,
Ngài vẫn không cảm giác đau đớn, vì càng tụng lại càng thích. Ngày
qua tháng lại, Ngài vẫn luôn thành tâm tụng kinh trước chánh điện.
Có lần, một cư sĩ nọ đến chùa, mang đồ cúng dường, và thấy Ngài quỳ
tụng kinh như thế, nên rất tán thán. Sau khi cư sĩ ra về, thầy trụ
trì mắng Ngài:
- Thầy làm bộ làm
dạng, cố ý cho cư sĩ thấy, để tỏ ra mình là người tu hành lâu năm.
Thật là giả dối.
Ngài không nói một
lời nào, tự biết rõ tâm mình chỉ muốn tụng kinh. Song, từ đó nhiều
việc ồn ào vô lý xảy ra. Trước khi tụng kinh, những người khác đến
chửi mắng:
- Ô! Thứ đồ làm bộ
tu hành.
Ngài vừa tụng kinh
xong thì họ mỉa mai:
- Xem kìa, ổng giả
bộ tụng kinh xong rồi.
Bị bao lời gièm pha,
nhưng Ngài vẫn ẩn nhẫn, chẳng hề hé môi. Qua một trăm ngày tụng kinh,
ma chướng lại đến. Ngày nọ, vừa tụng kinh xong, vị sư huynh không
nói một lời, đến trước mặt, tát vào mặt Ngài. Tuy bị đánh, nhưng
Ngài nhẫn nhục lặng thinh. Vị sư huynh quát mắng:
- Thầy là ai mà sao
quá biếng nhác! Mọi người làm việc, còn Thầy thì giả bộ tụng kinh,
biểu diễn cho kẻ khác xem! Trong chùa không có chỗ cho Thầy tu hành
sao? Có công đức bao nhiêu mà ở đây tu hành?
Từ đó, Ngài ngưng
tụng kinh Địa Tạng. Tu đạo không phải dễ, luôn gặp ma chướng. Người
dụng công tu hành có chút điểm thành tựu thì ma đến khảo nghiệm định
lực của mình. Gặp nghịch cảnh, Ngài chưa từng thối tâm, tinh tấn tu
trì trước sau như một.
Ngài tự thuật: Lúc
sống bên cạnh phần mộ của người mẹ, tôi dành mọi thời gian vào việc
lễ bái, tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, nên tâm tư rất an lạc. Lúc
nhỏ, khi đọc qua truyện Tam Quốc Chí, đến đoạn Quan Công bị giết hại,
tôi khóc cả ba ngày, vì thương cho người trung nghĩa bị kẻ gian hãm
hại. Tuy nhiên, khi bà mẹ qua đời, tôi không rơi lệ chi hết, vì nghĩ
rằng buồn quá không còn gì để khóc. Lúc đó, tôi cũng vừa xuất gia,
với mục đích là cắt đứt dòng sanh tử luân hồi. Thuở nhỏ, tôi có biệt
hiệu là Khất Sĩ. Giờ đây, tôi mới thật sự là người khất sĩ, và là
tăng sĩ. Mãi đến khi tôi thủ hiếu bên cạnh phần mộ bà mẹ, cha tôi
mới biết quyết định xuất gia của tôi. Cha tôi suốt ngày chỉ lo uống
rượu. Ông thường tới thị trấn, cách nhà khoảng hai dặm để mua vài
đấu rượu. Ông có thể uống một lần khoảng bốn đấu rượu. Uống rượu no
rồi, ông thường đi ngủ. Sau khi tôi rời miền đông bắc, cha tôi bị
bịnh trong ba ngày liền trước lúc lâm chung. Ông nhịn ăn và ngồi
thẳng mà qua đời. Hiện tại, tôi mời và giúp đỡ người anh thứ ba qua
MỸ, vì ông ta lo lắng cho cha tôi lúc trước. Mọi việc làm tôi đều
được thúc đẩy bởi lòng hiếu thảo. Người khác bàn về việc thực hành
hạnh hiếu thảo chỉ trong vài năm, nhưng riêng tôi thì lại không có
giới hạn thời gian. Tưởng nhớ đến cha mẹ, tôi không dám làm những
việc xấu, vì sợ sẽ trở thành đứa con bất hiếu. Nếu hỏi rằng tôi thực
hành hạnh hiếu thảo đã bao năm thì xin đáp là hiện nay tôi vẫn đang
thực hành. Được người khác khen ngợi là rất hiếu thảo, nhưng tôi cảm
thấy hạnh thủ hiếu của mình chưa được vẹn toàn. Do đó, tôi muốn đối
xử tất cả người già như cha mẹ của mình, vì quán thấy tất cả người
nam là cha, và tất cả người nữ là mẹ của mình trong đời quá khứ, và
là chư Phật trong đời tương lai. Tướng Nhạc Võ Mục, trước mọi buổi
ăn, ông ta đều thành tâm tưởng niệm hai vị vua đời Tống rồi sau đó
mới dùng. Tôi rất ngưỡng mộ những vị như thế, vì họ là các bậc siêu
phàm. Cá nhân tôi không thể xứng đáng làm thầy của trời người.
Lúc thủ hiếu tại am
tranh, có vài lần dân làng thường tưởng am tranh của tôi bị cháy.
Tuy nhiên, lúc họ chạy đến thì không thấy có lửa gì hết. Đêm nọ, khi
tôi đang ngồi thiền, nhập vào không định, quên hẳn nhân ngã, thì đất
đai rung chuyển, khiến tôi chợt cảm thấy thân bị động. Tôi nghĩ thầm:
QuỶ ma nào lung lay thân mình đây? Định lực của nó thật dữ tợn.
Hôm sau, có người
đến báo cho tôi biết là trong vùng vừa xảy ra trận động đất. Khi đó,
một giếng nước kế bên am tranh của tôi bỗng nhiên phun ra lửa, chứ
chẳng phun ra nước. Trên thế gian này có nhiều chuyện lạ lùng thật.
Tôi tin tưởng rằng
bên dưới giếng nước có một khoáng chất hóa học, sulfur, hỗ trợ cho
núi lửa. Do đó, giếng nước mới vụt ra lửa.
Chiều hôm nọ, tôi
thấy đức Lục Tổ đến. Ngài khoảng độ năm sáu mươi tuổi, và mặc y ca
sa màu xám. Ngài giải thích cho tôi nghe về lý lẽ tu hành, và thọ ký
rằng trong tương lai tôi sẽ đến nước MỸ. Ngài cũng cho biết rõ rằng
tôi sẽ gặp những hạng người nào. Dạy bảo xong, Ngài liền biến mất.
Việc này thật lạ lùng, vì tôi trông thấy Ngài rõ ràng trong ban ngày.
Quân Nhật xâm chiếm
vùng đông bắc khi tôi đang thủ hiếu. Có người kể cho tôi nghe rằng
quân Nhật bắt rất nhiều người Tàu và nhốt trong những trại lao công.
Tù nhân không có đủ thức ăn để dùng, quần áo để mặc. Vì vậy, họ chết
đói và chết rét rất nhiều. Thật là cay đắng. Nghe thấy hoàn cảnh khổ
đau của họ, tôi phát nguyện ăn mỗi ngày một buổi. Tôi muốn để dành
buổi cơm sáng và tối cho những ai không có thức ăn. Có người cho
rằng thái độ này rất ngu xuẩn. Vâng, quý vị có thể bảo làm việc này
rất ngu ngốc vì người đói không nhận được phần ăn của tôi để dành,
một cách trực tiếp. Tuy nhiên, quý vị phải biết việc đó dựa trên
định luật bảo toàn năng lượng. Thức ăn tôi không dùng sẽ còn ở trên
thế gian. Vì vậy, tôi phát nguyện ăn mỗi ngày một buổi. Kinh Bốn
Mươi Hai Chương thuyết: Chư tỳ kheo thọ trai mỗi ngày một buổi vào
giờ ngọ, ngủ qua đêm dưới gốc cây; cẩn trọng, chớ làm việc thế sự.
Tôi cũng phát
nguyện rằng không mặc vải ấm. Mùa đông tại vùng Mãn Châu, nhiệt độ
đôi khi dưới 0(C độ khoảng -33(C hoặc -34(C, khiến nhiều người bị
chết rét. Tuy nhiên, ngay cả nhiệt độ thấp như thế, tôi chỉ mặc ba
lớp áo. Dầu cho mùa hè hay mùa đông, tôi đều mặc như thế. Do lời
nguyện này, tôi có thể để dành và hồi hướng phần vải dư cho những
người cần dùng. Họ có nhận được sự lợi ích này không? Một lần nữa,
dựa trên định luật bảo toàn năng lượng, chắc chắn sẽ có người dùng
số vải này. Tôi không cảm thấy lạnh lắm trong thời tiết băng giá.
Sau này, không cần mang giày vớ, tôi có thể đi chân không trên đất
đóng băng mà chân không bị cóng. Từ việc này, khiến tôi nhớ lại một
câu chuyện vui. Đương thời, tôi có một người bạn, khoảng mười tám
tuổi, tánh tình lanh lợi. Thấy tôi đi trên băng tuyết mà không mang
giày vớ, anh ta cũng muốn bắt chước. Chưa đi được một trăm thước thì
chân của anh ta đã bị lạnh cóng và sưng vù. Không thể chịu đựng nổi,
anh ta mau kíp chạy vào chùa. Sáu tháng sau, anh ta mới đi đứng lại
bình thường. Lúc đó, tôi được hai mươi tuổi, tức lớn hơn anh ta hai
tuổi. Tuy nhiên, tôi có thể chịu lạnh được, còn anh ta thì không thể
chịu nổi. Làm thế nào tôi chịu đựng được? Việc này liên hệ với lời
phát nguyện không mặc vải ấm, nên tôi không cảm thấy lạnh lắm.
Ngoài ra, tuy không
ăn nhiều, nhưng tôi vẫn không cảm thấy đói. Trước kia, vào mỗi buổi
ăn, tôi thường dùng khoảng năm chén cơm, tức mười lăm chén mỗi ngày.
Tuy nhiên, vừa phát nguyện ăn mỗi ngày một buổi, tôi chỉ dùng ba
chén cơm là nhiều. Nếu là chén lớn thì tôi dùng hai chén, còn chén
nhỏ thì dùng ba chén. Không phải tôi muốn kiêng cử ăn uống, mà là
cảm thấy chột dạ khi ăn quá nhiều. Dầu ăn ít, tôi vẫn không thấy đói.
Từ đây, tôi nhận rõ lực tác dụng mạnh mẽ của lời phát nguyện, vì
chúng giúp cho mình hành những việc khó hành.
Hầu hết đệ tử của
tôi, xuất gia lẫn tại gia, đều ăn mỗi ngày một buổi. Họ muốn học và
hành theo phương pháp tu hành ngu ngốc của tôi. Có thể cho rằng họ
không biết tu hành. Tuy nhiên, nhìn về khía cạnh khác thì họ tính
toán rất kỸ. Những thức ăn không dùng đến, họ dành để cứu người. Đây
là cách thức gieo duyên ăn uống với người khác. Vì vậy, tôi tin
tưởng rằng mãi mãi họ sẽ không đói khát. Vì sợ đói khát nên phải để
dành thức ăn lại cho mai sau. Người xưa bảo:
- Giảm y phục, tăng phước báo
- Giảm ăn uống, tăng tuổi thọ.
Vì nghĩ rằng mình
sẽ không thể sống lâu nên tôi giảm phần ăn của mình hầu mong tăng
tuổi thọ. Thật ra, việc này không đúng cho lắm. Tôi chỉ nói đùa với
quý vị thôi.
Chúng ta phải hành
theo lời dạy của đức Phật. Phật bảo: Chư tỳ kheo chỉ được ăn mỗi
ngày một buổi, và ngủ dưới một gốc cây vào mỗi đêm.
Các thầy tỳ kheo
không được ngủ dưới một gốc cây trong ba đêm liền, bằng không sẽ có
người tìm đến, dâng đồ cúng dường. Tại sao họ không nhận đồ cúng
dường? Tuy được phép thọ nhận, nhưng không phải do lòng tham kích
động. Sống một nơi trong thời gian dài, duyên pháp sẽ phát khởi. Do
đó có câu:
- Ngồi lâu sẽ nhập thiền định.
- Trụ lâu sẽ phát khởi duyên.
Do đó, ngoại trừ có
những việc quan trọng, tỳ kheo nên đi du phương. Do đó, ở nước Tàu
chư tăng thường đi vân du khắp nơi để lễ bái các tự viện nổi tiếng.
Hạnh này được gọi là ẩn tích che quang. Dầu ở bất cứ nơi nào, chư
tăng không trú quá ba đêm, và không được quảng cáo sự tu hành của
mình.
Khi tôi thủ hiếu
cạnh ngôi mộ người mẹ, có rất nhiều người xôn xao bàn tán. Một số
người nghĩ rằng đó là hành động tốt, phải nên làm. Một số người lại
nghĩ rằng hành động này là ngu xuẩn. Tuy nhiên, trong làng dân chúng
thường đem đồ đến cúng dường cho tôi. Đương thời, một vị thầy nọ có
thần thông ăn uống. Tuy ăn mỗi ngày một buổi, nhưng thầy lại dùng cả
một thúng bánh bao khoảng mười cân. Thầy ăn rất nhanh, giống như ngạ
quỶ! Nghĩ rằng tôi ở tại nghĩa trang không có đủ thức ăn, thầy gởi
cho tôi một thúng bánh bao. Những bánh bao này có tên là trong hai
ngoài tám.
Có một câu chuyện
liên quan đến bánh bao trong hai ngoài tám. Thuở xưa, có một vị tăng
hỏi ngài Triệu Châu:
- Ngài có biết
trong hai ngoài tám là gì không?
Tuy biết đó là một
loại bánh, nhưng Ngài không biết đó là nghĩa gì, nên bảo:
- Hãy đem đến để Ta
ăn.
Vị tăng kia nghĩ
rằng Ngài biết nghĩa này, nhưng thật ra Ngài nào có hiểu đâu. Do đó,
Ngài cảm thấy xấu hổ, thầm nghĩ: Tu hành trong bao năm mà chẳng biết
nghĩa lý của câu hỏi này. Đường tu mù mờ, nên phải đi tham phương
hành cước.
Dầu Ngài muốn đi
tham phương hành cước, nhưng mắt mờ, răng rụng, chân run. Ngài gọi
thị giả trẻ tuổi ra hỏi:
- Con cho Thầy mượn
một vật được không?
Thị giả suy nghĩ:
Nếu thầy mình cần vật gì, sao lại không giúp?
Do đó, thị giả đáp:
- Bạch Thầy! Bất cứ
vật gì Thầy muốn, con đều cho mượn.
- Miễn con đồng ý
là được rồi mà không cần phải hỏi Thầy cần mượn vật gì. Bây giờ con
hãy trở về phòng ngủ đi.
Thị giả cảm thấy
lời yêu cầu này thật lạ lùng, nhưng vẫn nghe lời Ngài, trở vào phòng
ngủ. Hôm sau, vừa thức dậy, thị giả dùng kiến soi mặt, thấy thân
mình thật giống như ngài Triệu Châu, râu dài tóc bạc răng rụng, nên
run sợ tự bảo:
- Quái lạ! Tại sao
mình lại nhập vào thân của lão hòa thượng?
Người thị giả bèn
chạy đi tìm Ngài. Bước vào, thị giả thấy thân mình đứng nơi đó. Sửng
sốt, người thị giả lại càng sợ hãi, la lên:
- Sao lạ lùng vậy!
Ngài an ủi người
thị giả, bảo:
- Hãy bình tĩnh và
đừng làm náo động. Từ từ thầy sẽ trả lại thân cho con. Bây giờ, con
hãy thay thế chức vụ trụ trì vì Thầy cần đi tham phương hành cước
một thời gian.
Sau đó, từ miền nam,
ngài Triệu Châu đi tham phương lên miền bắc. Nơi ấy, Ngài thấy dân
chúng làm bánh bao. Đang lúc làm bánh, họ dùng hai ngón tay để nhồi
bên trong, còn tám ngón tay thì nắn bên ngoài. Ngài liền hỏi họ:
- Bánh này gọi là
gì?
Họ đáp:
- Thầy không biết
bánh này gọi là gì sao? Bánh này được gọi là bánh bao trong hai
ngoài tám.
Bất chợt, ngài
Triệu Châu liền liễu ngộ, nên trở về chùa, trả lại thân cho người
thị giả, và trở lại với thân hình già nua. Do đó có câu: Triệu Châu
tham phương hành cước lúc tám mươi tuổi.
Tuy nhiên, Ngài
không dùng chính thân mình mà mượn thể xác của người thị giả, vì già
nua không thể đi xa. Đó là câu chuyện trong hai, ngoài tám.
Trở lại câu chuyện
về vị thầy có thần thông ăn uống. Thầy gởi khoảng năm sáu chục bánh
bao vì sợ tôi bị chết đói. Số bánh này, thầy ta có thể ăn hết trong
một hai ngày. Tuy nhiên, tôi ăn từ từ, cho đến ba tuần mới hết. Tôi
không phơi khô hay ướp lạnh chúng, vì rất làm biếng. Thường ngày,
sau khi thọ trai xong, tôi bèn ngồi thiền mà chẳng màng đến chi. Kết
quả, bánh bao bị mốc meo vì nhiệt độ nóng bên ngoài. Ngày cuối cùng,
bánh bao bị mốc meo, mọc khoảng một tấc rưỡi. Khi đó, tôi gạt bỏ
những phần bị mốc meo, rồi lại ăn nhưng rất khó nuốt, vì mùi hôi còn
hơn phẩn. Giờ đây, nhớ đến chúng, khiến tôi phải buồn nôn. Tuy nhiên,
tôi không liệng bỏ chúng được, vì đó là vật của người xuất gia cúng
dường cho mình, một sa di trẻ. Thấy tôi ăn những bánh bao này, người
khác liền khuyên là chớ dùng, vì sợ sẽ bị bịnh. Tôi hỏi:
- Nếu bịnh thì có
sao đâu?
Họ đáp:
- Có bịnh thì không
thể tu hành.
- Tôi sẵn sàng chết,
còn nói gì đến việc bịnh hoạn.
Tôi đã xả bỏ thân
tâm, nên ăn bất cứ vật hôi thúi gì cũng được. Tôi ăn những bánh bao
này, nhưng không bị bịnh hoạn chi hết.
Năm mười chín tuổi,
Ngài cắt tóc xuất gia, kết am thủ hiếu. Ngày mười chín tháng sáu,
mùa hạ năm đó, trước chánh điện, Ngài phát đại nguyện:
Kính lạy mười
phương chư Phật, ba tạng giáo điển chánh pháp, chư Hiền Thánh Tăng
trong quá khứ hiện tại và vị lai, xin nguyện chứng minh cho đệ tử Độ
Luân, Thích An Từ. Con nay phát tâm, không cầu phước báo trời người,
Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến chư vị Bồ Tát Quyền Thừa, chỉ y theo
tối thượng thừa, phát tâm Bồ Đề, nguyện cùng pháp giới chúng sanh,
một thời đồng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
1/ Nguyện tận hư
không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Bồ Tát, nếu
còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
2/ Nguyện tận hư
không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Duyên Giác,
nếu còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
3/ Nguyện tận hư
không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Thanh Văn, nếu
còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
4/ Nguyện các loài
trời trong ba cõi, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không
thủ chánh giác.
5/ Nguyện mười
phương, tất cả loài người trong ba cõi, nếu còn một vị nào chưa
thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
6/ Nguyện tất cả
loài A Tu La trong cõi trời người, nếu còn một vị nào chưa thành
Phật, con thề không thủ chánh giác.
7/ Nguyện tất cả
loài súc sanh trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật,
con thề không thủ chánh giác.
8/ Nguyện tất cả
loài ngạ quỶ trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật,
con thề không thủ chánh giác.
9/ Nguyện tất cả
loài địa ngục trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật,
con thề không thủ chánh giác.
10/ Nguyện tất cả
các vị trời người, tiên thiên, A Tu La, loài vật trên không dưới
nước, loài rồng trong các cõi linh, cùng chúng quỶ thần, đã từng quy
y với con, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ
chánh giác.
11/ Nguyện tất cả
các phước lạc mà con được thọ hưởng, đều đem hồi hướng, bố thí cho
tất cả chúng sanh trong pháp giới.
12/ Nguyện con sẽ
thay thế cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, chịu lãnh thọ hết
tất cả khổ nạn.
13/ Nguyện phân
thân vô số, khắp nhập vào tâm của tất cả chúng sanh không tin Phật
pháp, khiến họ đổi ác hướng thiện, ăn năn hối cải, quy y Tam Bảo, tu
hành rốt ráo thành Phật.
14/ Nguyện tất cả
chúng sanh, nếu thấy mặt cho đến nghe tên con, liền phát tâm Bồ Đề,
sớm thành Phật đạo.
15/ Nguyện tôn kính
giới pháp do Phật chế, thực hành ăn một ngày một buổi.
16/ Nguyện giác ngộ
chư hữu tình, nhiếp thọ hết mọi loài.
17/ Nguyện đời này
đắc được ngũ nhãn lục thông, phi hành tự tại.
18/ Nguyện tất cả
lời phát nguyện đều được thành tựu trọn vẹn.
Văn kết:
- Chúng sanh vô biên, thệ nguyện
độ.
- Phiền não vô tận, thệ nguyện
đoạn.
- Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học.
- Phật đạo vô thương thệ nguyện
thành.
Trong thời kỳ kết
am thủ hiếu, Ngài tôn thủ giới luật Phật chế, ăn mỗi ngày một buổi.
Khi ấy, có một cư sĩ lớn tuổi, tên là Đường Ngọc Minh, mỗi ngày tự
phát tâm đều đem thức ăn đến cúng dường Ngài. Lúc đó, vào đầu mùa hè,
nên ngày ngày trời mưa tầm tả, khiến người bộ hành, đi đứng rất khó
khăn. Vì thương ông cư sĩ tuổi cao sức yếu, Ngài bảo:
- Ngày nào trời
cũng mưa không dứt, đi đứng bất tiện. Thầy vẫn còn lương khô. Cụ hãy
đợi khi nào trời tạnh mưa rồi hãy mang thức ăn trở lại. Lương khô ở
đây, Thầy có thể dùng đến hơn hai mươi ngày.
(Phụ chú:
- Nguyện nhất thiết chúng sanh
- Kiến ngã diện, nãi chí văn ngã
danh.
- Tất phát Bồ Đề Tâm
- Tốc đắc thành Phật đạo.
Dịch:
- Nguyện tất cả chúng sanh
- Nếu thấy mặt hoặc nghe tên tôi
- Sẽ phát tâm Bồ Đề
- Chóng đắc thành Phật đạo.)
Ông lão tin là thật,
nên đợi hơn hai mươi ngày sau, lúc trời tạnh mưa thời tiết trong
lành, mới đem thức ăn trở lại cúng dường Ngài. Lúc đến am tranh, ông
lão mới biết rằng trong suốt hai mươi ngày liền, Ngài ngồi thiền
dụng công, không ăn uống chi cả. Việc này, khiến cho ông lão càng
thêm khâm phục thâm sâu về công hạnh tu hành của Ngài.
Trong mười tám đại
nguyện, có nguyện thứ mười hai: Nguyện con sẽ thay thế, chịu thọ hết
tất cả khổ nạn của chúng sanh trong pháp giới.
Vì vậy, mỗi khi có
người bị bịnh nan y, thành tâm đến cầu xin cứu giúp, Ngài luôn tìm
mọi cách để chữa trị. Ngài biết được rằng tất cả bịnh tật đều phát
xuất từ thân. Thân thể có được là do bốn đại hợp thành. Nếu xả sự
chấp trước vào thân thì bịnh tình tự nhiên thuyên giảm. Xả thân tức
là xả bỏ thân tâm, phá trừ chấp ngã, một lòng niệm Phật. Do lòng
thành, Ngài đã cứu sống rất nhiều người. Vì thế, danh tiếng của Ngài,
ngày một vang xa. Sau đây là vài câu chuyện của những người được
Ngài cứu trị.
*Trong thôn làng,
có một phu nhân tên là Trương Lý Thị, tuổi ngoài bốn mươi, bị bịnh
ói mửa kinh niên trong bốn năm trường mà các bác sĩ đông tây đều bó
tay. Nghe Ngài là người con chí hiếu và cũng thường cứu giúp dân
làng cùng nhiều người khác, nên bà đến cầu xin cứu độ. Quán sát căn
duyên sanh bịnh, Ngài liền giảng giải cho bà nghe đạo lý làm người,
khuyên phải thành tâm sám hối những tội lỗi xưa trước Tam Bảo. Từ đó,
bà chuyên tâm thành ý sám hối, mỗi ngày đến trước tượng Ngài lễ ba
lạy. Qua hai mươi mốt ngày, bịnh tình của bà tự nhiên thuyên giảm mà
không cần uống thuốc.
*Ngoài làng có một
bà họ Đường, do đường sanh sản khó khăn, nên đã trong bốn ngày liền
mà chưa sanh con được. Bác sĩ vô phương cứu chữa, nên sản phụ chỉ
còn nằm thở ngoi ngóp. Người nhà dọ hỏi khắp nơi mới biết đến Ngài,
nên họ vội chạy đến cầu cứu. Ngài bảo họ hãy trở về nhà, và toàn gia
đình phải đồng dâng hương, chí thành niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ
Tát, cùng phát tâm ăn chay trong một trăm ngày thì sản phụ mới có
thể sanh con được bình an vô sự. Họ trở về nhà, làm đúng theo lời
Ngài dạy. Chẳng bao lâu, bà hạ sanh một hài nhi, được mẹ tròn con
vuông. Qua việc này, càng ngày càng có nhiều người tín phục Ngài.
*Trương phu nhân
tại làng Bình Phòng, toàn thân tê liệt đã ba năm, chạy chữa biết bao
bác sĩ cùng các thuật sĩ mà bịnh vẫn không bớt. Nghe những câu
chuyện cứu người của Ngài, gia đình mướn xe chở bà đến am tranh, cầu
xin cứu giúp. Ngài bảo:
- Tôi không biết về
y dược, nhưng có vài người, vì lòng tin nên được cứu giúp. Chẳng qua
tâm tôi chân thành mới cảm hóa được người. Bà phải nên thành tâm sám
hối tội lỗi trong quá khứ, bỏ ác làm lành, cùng thường trì trai niệm
Phật thì nhất định sẽ được cảm ứng.
Trở về nhà, mỗi
ngày bà xá lạy tượng Ngài ba lần. Qua một trăm ngày, bịnh tê liệt
hoàn toàn thuyên giảm, đi đứng như người bình thường. Toàn gia đình
rất đỗi ngạc nhiên. Từ đó, họ đến thọ giới quy y với Ngài, cùng phát
nguyện cúng dường Tam Bảo.
*Cách làng khoảng
bốn mươi dặm, ông Đới Quốc Đường bị bịnh nặng nghiêm trọng; bịnh
tình đã đến thời kỳ cuối cùng, nên tuyệt vọng hoàn toàn; ông ta tìm
đến quỳ lạy khẩn cầu Ngài cứu giúp. Thấy ông thực rất chân thành,
Ngài bảo ông ta phải nhất tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát,
cùng phát nguyện ăn chay trường, chấm dứt nghiệp sát sanh hoàn toàn.
Ông vui vẻ chấp
thuận nghe theo. Ngài cũng gia trì cho ông ta bằng cách niệm Phật,
tụng đọc kinh chú. Khi ấy, toàn thân ông cảm giác thanh tịnh trong
mát, tinh thần sảng khoái. Từ đó, ông quy y Tam Bảo, kiên tâm trì
chú Đại Bi cùng thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Thật lạ kỳ, chẳng bao
lâu sau bịnh tình dần dần thuyên giảm.
*Gia đình của Vương
Phong Nghị cư trú ở làng Đông Bình Tử có hơn ba mươi người; tất cả
đều quy y Ngài. Em của Vương Phong Nghị là Vương Phong Cửu, có một
đứa con trai, đột nhiên bị cảm nặng. Trước chánh điện, Vương Phong
Cửu cầu xin Ngài cứu con ông. Suốt một tuần, ngày nào ông cũng lên
chánh điện khẩn cầu như thế. Vào đêm nọ, ông mơ thấy Ngài đến nhà,
cho con ông uống một viên thuốc. Khi thức dậy, ông phát hiện bịnh
tình của người con đã được thuyên giảm. Từ đó, Vương Phong Cửu càng
sanh tâm cung kính Ngài, lại khuyên bảo thân bằng quyến thuộc, bạn
bè quy y Tam Bảo.
*Cao Đức Phúc tại
thành phố Hợp Nhĩ Tân, Đại Nam Câu, thiên tánh hiếu thảo. Khi mẹ ông
bị bịnh hiểm nghèo, ông phát nguyện đến chùa Tam Duyên, chặt cánh
tay cúng dường, cầu mong chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ cho bà mẹ sớm
được bình phục. Khi đến chùa, lễ Phật xong, ông lấy đao ra, định
chặt cánh tay, nhưng người trong chùa phát giác được, nên chạy ra
ngăn cản. Hỏi ra nguyên nhân rành rẽ, mới biết ông là người con chí
hiếu, xả thân vì mẹ. Cư sĩ Lý Cảnh Hoa dẫn ông đến gặp đại lão hòa
thượng Thường Nhân. Hòa Thượng dạy rằng hãy dẫn ông ta đến gặp Ngài.
Ngài rất cảm động lòng hiếu thảo của ông, nên liền nhận lời đến nhà
cứu bà mẹ. Ngài bảo Cao Đức Phúc hãy chạy xe đạp về nhà trước, còn
Ngài sẽ tự đến sau. Khi Cao Đức Phúc vừa về đến nhà thì thấy Ngài đã
đến trước rồi. Bước vào nhà họ, Ngài thấy bà mẹ đã bị hôn mê trong
bảy tám ngày, tình trạng rất nguy kịch. Lúc ấy, bịnh nhân môi thâm,
lưỡi đen, hơi thở từ từ muốn đứt đoạn. Ngài bắt đầu viết văn sao,
rồi khép mắt trì chú cho đến ba giờ khuya mới nghỉ ngơi. Sáng sớm
hôm sau, bịnh nhân chợt ngồi dậy, kêu tên con bà. Cao Đức Phúc vừa
kinh hãi, vừa vui mừng vô hạn. Bà mẹ bảo:
- Mẹ đi lạc đường
đã mấy ngày liền, không biết cách nào trở về nhà. Chiều hôm qua, mẹ
gặp một vị hòa thượng, được Ngài dẫn về nhà. Hiện tại, mẹ cảm thấy
rất đói bụng. Con mau ra sau bếp, nấu cháo cho mẹ dùng.
Cao Đức Phúc nghe
thế, vui vẻ chỉ tay đến Ngài và hỏi bà mẹ:
- Vị Hòa Thượng mà
mẹ nói đó, vậy có phải là Ngài này không?
Mẹ ông nhìn Ngài
một chập rồi nói:
- Đúng rồi! Chính
là Ngài đã dẫn mẹ trở về nhà.
Qua việc này, toàn
gia đình Cao Đức Phúc bèn thọ giới quy y.
*Mùa thu, năm Dân
Quốc thứ ba mươi bốn, sau khi quân Nhật đầu hàng, vùng đông bắc hỗn
loạn, dân chúng bị bịnh truyền nhiễm, nên chết đầy dẫy nhiều vô số
kể. Tại làng Du Phường, phía nam thành phố Hợp Nhĩ Tân, có gia đình
họ Mai, chỉ trong ba ngày tất cả mười một người trong nhà đều chết
vì bịnh truyền nhiễm. Ngoài ra, một người làm công và người con rễ
cũng đang trong tình trạng nguy kịch. Ngài nghe chuyện thảm thương
như thế, nên vừa đi rẩy nước và vừa trì chú Đại Bi vòng khắp làng xã,
thị trấn. Kỳ lạ thay, Ngài rẩy nước đến nơi nào thì chỗ đó không còn
nghe việc người chết vì bịnh truyền nhiễm nữa.
Ngài tự thuật: Lúc
quân Nhật xâm chiếm vùng Mãn Châu vào ngày mười tám tháng chín năm
1931, tôi vẫn còn nhỏ dại, không biết gì về tổ quốc, gia đình. Sau
này, quân Nhật xâm chiếm nước Tàu và đốt phá bắn giết người Tàu,
khiến tôi cảm thấy thật bất công. Họ có quyền gì mà muốn xóa bỏ nước
Tàu? Tôi muốn tham gia quân cách mạng để đánh đuổi quân Nhật ra khỏi
nước, hầu mang lại ấm no hạnh phúc cho người Tàu. Tuy nhiên, vào lúc
cuối, tôi không thể thực hiện được ước muốn này, vì không thể xoay
ngược ý trời. Tôi không hận người Nhật vì biết rằng giữ tâm sân hận
là vô ích. Tôi chỉ tìm cách chống lại họ bằng lửa vì họ thuộc về
chất lửa, tức lấy độc trị độc, nghĩa là đốt nơi trú ở của họ. Tôi
cũng muốn viết báo để cổ võ cuộc cách mạng, nhưng không thành công.
Sau này, tôi chọn con đường làm tu sĩ, quyết tâm lập chí, vượt ngoài
thế sự, hoằng dương Phật pháp. Suốt đời, tôi hối tiếc là mình chưa
có thể hoàn thành trách nhiệm của một công dân, dùng xương máu để
báo đền ân nước. Dựa trên ngũ hành, tôi tiên đoán là quân Nhật sẽ
suy yếu dần và sẽ ra khỏi nước Tàu trong vòng năm năm. Thời quân
Nhật vừa đầu hàng, chánh phủ trung ương chưa tiếp thu vùng Mãn Châu;
quân cộng sản chưa nắm chính quyền; quốc gia vô chánh phủ nên có rất
nhiều quỶ ma và quái vật hiện hình trên các đường phố. Những người
đi trên đường phố thật ra là ma quỶ, nhưng không ai nhận ra hay
khống chế được chúng. Phù thủy đồng bóng đầy dẫy khắp nơi, mà chúng
cũng là ma quỶ hiện ra quấy phá. May mắn thay, vẫn còn có người tụng
thần chú Lăng Nghiêm. Vì vậy, dầu ma quỶ hiện hình nhưng chúng không
dám làm náo loạn. Hầu hết mọi người không biết đến điều này, nhưng
tôi thấy rõ ràng những việc gì xảy ra.
*Lần nọ, một em bé
đang chơi ngoài sân, vô ý bị sâu độc cắn vào vành tai. Bé thở hổn
hển, đầu nhức dữ dội, sắc mặt xanh xao trắng bệt. Vì bị sâu độc cắn,
nên không có cách gì để chữa trị. Lúc người nhà mang em đến cầu cứu,
Ngài bèn trì tụng thần chú Bồ Tát Quân Trà Lợi. Vài tiếng sau, bé tự
nhiên tỉnh dậy như thường. Do đây mới biết công dụng của thần chú
thật không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên, người trì tụng chú nhất định
phải chuyên tâm thành ý, trì giới thanh tịnh, chân chánh tu hành,
thì tự nhiên sẽ được chư Phật chư Bồ Tát, cùng tám bộ trời rồng thầm
gia hộ. Dầu tụng chú mỏi hơi rát cổ mà không nghiêm trì giới luật
thì sẽ bị đọa lạc vào đường ma.
*Từ khi Ngài kết am
thủ hiếu, có hơn hai ngàn người xa gần đến quy y. Lúc ấy, một vị tú
tài triều Thanh tên là Cốc Giới Tam, học rộng hiểu nhiều, thâm hiểu
tiếng Tàu. Trong thời loạn ly, ông thuộc loại người không cần ra cửa
mà vẫn biết chuyện thiên hạ, như phượng hoàng lân giác. Thế nên, mọi
người đều rất kính trọng những người như ông ta. Công việc thường
ngày của ông là dạy học. Ông cũng nghiên cứu Phật pháp thâm sâu,
nhưng chỉ tiếc là chưa có thể lãnh hội được hết những lời dạy cao
siêu của Phật. Nghe hạnh tu trì của Ngài, ông đến cầu xin chỉ dạy.
Ngài dạy ông những điểm trọng yếu trong sự tu hành cùng pháp môn tâm
địa, không lập văn tự. Vừa nghe xong, ông rất vui mừng, cảm phục và
cầu xin thọ giới quy y Ngài. Dân Quốc năm thứ ba mươi hai, ông ngồi
xếp bằng mà tịch, gương mặt vẫn hồng hào như lúc sống.
*Một gã ăn mày tên
là KỶ Đại Phúc, thường đến am thủ hiếu để đảnh lễ Ngài. Ngày nọ, sau
khi lạy xong, ông hỏi:
- Xin Ngài giải
thích cho biết tại sao con phải lâm vào tình cảnh nghèo khổ như vầy?
Ngài giảng giải cho
ông ta nghe về đạo lý nhân quả trong ba đời. Ngài nhắc rằng kinh có
dạy:
- Tại sao được
hưởng vinh hoa phú quý trong hiện đời? Vì đời trước đã từng cúng
dường Tam Bảo, bố thí cho người nghèo. Tại sao đời này lại nghèo hèn?
Vì đời trước chưa từng cứu giúp người nghèo.
Nghe xong, KỶ Đại
Phúc liền hiểu rõ đạo lý nhân quả, nên nói:
- Con thường tự hỏi
rằng trong đời, mình chưa làm gì sai trái, mà sao bị khốn khổ nghèo
cùng, đến nỗi phải đi ăn xin nơi nhà người? Ngày nay mới biết là đời
trước thường bỏn xẻn keo kiệt, không hiểu quả báo của sự bố thí. Vậy
thì đời này, có cách gì để cứu vãn hoàn cảnh hiện tại không?
Người quân tử học
cách tạo mạng. Kể từ bây giờ trở đi, Ông phải nên bắt đầu nỗ lực tạo
nghiệp lành, tích tụ công đức cho nhiều, tự mình thay đổi vận mạng,
thì phước gì lại không đến! Xưa kia, Chu KỶ là kẻ ăn xin, nhưng nhờ
hiểu rõ lý nhân quả báo ứng, nên nỗ lực tạo công đức, sửa chữa cầu
đò. Đời sau, ông được sanh vào nhà Đế Vương, hưởng thọ phước báo tôn
vinh của một vì hoàng tử. Đấy có phải là biện pháp cải đổi vận mạng
không?
KỶ Đại Phúc nghe
thế rất vui mừng, lòng tràn trề niềm hy vọng vào cuộc sống tương lai,
nên thỉnh cầu quy y Tam Bảo làm đệ tử Ngài. Trong lúc xin ăn, ông
luôn niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Xin được bao gạo nào, ông liền
dành dụm, bố thí lại cho những người nghèo cùng khác. Ngày thường,
nếu có cơ hội, ông đều vui vẻ tùy duyên làm việc lành. Cứ như thế,
ông tích tụ công đức được vài năm. Mùa đông, năm Dân Quốc thứ hai
mươi chín, ông dự biết ngày vãng sanh. Đến ngày đó, quả nhiên ông
vãng sanh trong lúc niệm Phật.
*Trong thôn có bà
tên là Viên Mộ Hàng, nổi danh hung tợn ngang ngược. Thường ngày,
không biết kính nể chồng, lại thêm chửi mắng vô lễ với cha mẹ chồng,
không thuận hòa với chị em dâu, cùng họ hàng thân thuộc và bà con
lối xóm. Bà chẳng cung kính quỶ thần, không tin nhân quả, lại còn
hủy báng. Nói chung, bà không làm việc lành gì cả, còn bao việc xấu
thì đều có phần. Thế nên, người trong thôn đều gọi bà là Hổ Cái.
Ngày nọ, bà cùng những người khác đến am thủ hiếu, và thấy Ngài ngồi
xếp bằng, xoay mặt về hướng tây, âm thầm niệm Phật. Vì không biết
Ngài làm thế với mục đích gì, nên bà hỏi:
- Thầy đang làm gì
vậy?
Ngài đáp:
- Tôi đang niệm
Phật để cầu siêu độ cho người mẹ. Hy vọng mẹ tôi sớm được vãng sanh
qua cõi Cực Lạc ở phương tây, hầu mong đáp đền ân đức sanh thành
dưỡng dục. Đó là đạo làm người căn bản.
Do không tin có quỶ
thần, nên khi nghe Ngài nói như thế, bà ta lại càng thêm nghi mà hỏi:
- Có phải sau khi
chết, con người liền biến thành ma không?
- Tại sao chỉ nói
chết rồi mới biến thành ma! Có người, lúc sống tâm chứa toàn tâm ma,
nói lời ma, làm việc ma, vậy có khác biệt gì với ma? Kẻ thường sân
hận tức là quỶ mặt đỏ. Kẻ thường oán giận, tức là quỶ mặt vàng. Kẻ
thường quấy nhiễu người, tức là quỶ mặt trắng. Người dễ nóng giận,
tức là quỶ mặt xanh. Kẻ thường chọc giận người, tức là quỶ mặt đen.
Nếu dùng tâm sân hận, oán giận, buồn bực, phiền muộn mà đối đãi với
người thì làm năm loài quỶ trên. Khi ấy, gia đình chắc chắn không
bình an, hay bị tổn khí hao tài và thiên tai hoạn nạn thường đến
liên tục. Tâm người là thần; thần cũng là tâm. Nếu bà khởi tâm lương
thiện, tức là tánh thần. Nếu bội ngược tâm lương thiện thì tức là
khi dể thánh thần. Sau khi chết, chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục, chịu
bao khổ đau. Lúc đó, muốn thoát ra địa ngục, e rằng đã quá muộn.
Chúng sanh bỏ tánh giác mà hợp với trần lao, bỏ chân theo vọng, xa
rời tự tánh sẳn có, chạy tìm cầu vật chất hão huyền ở thế gian. Nếu
biết xoay chuyển, bỏ trần lao để hợp với tánh giác, xả vọng về chân
thì đồng như Phật không khác, mãi mãi thoát khỏi sáu đường luân hồi,
chấm dứt sanh tử.
Vừa nghe những lời
như thế, rồi nhớ lại bao tội lỗi của mình lúc trước, bà ta hốt hoảng
run sợ mà khóc lóc, thưa:
- Lúc trước, con
nào biết đạo lý làm người, lại không tin nhân quả báo ứng, nên gây
bao tội lỗi. Hôm nay nhờ Pháp Sư từ bi chỉ dạy mới biết tội mình quá
nặng nề nên rất ăn năn hối hận, nhưng không biết phải làm gì để
chuyển nghiệp xấu?
Nói xong, bà khóc
nức nở, thỉnh cầu Ngài cứu giúp. Ngài bảo:
- Bà đã nhận rõ
những việc quấy ngày trước, tức là tánh lương thiện phát khởi, căn
lành đâm chồi nẩy sinh. Bà chỉ nên sửa đổi tâm tánh, chớ quá bi
thương sầu lụy. Làm người chứ đâu phải thánh hiền, ai mà không có
tội lỗi? Bà chỉ nên thành tâm sám hối thì những nghiệp tội thâm
trọng kia đều sẽ tiêu trừ. Bà hãy coi mình như đã chết vào hôm qua.
Sau khi thành tâm sám hối, bà phải nên phát nguyện làm tròn bổn phận
của người tại gia, gắng sức hộ trì, hoằng dương Phật pháp, khuyên
người làm việc lành, quy y Tam Bảo. Khi công đức của bà được đầy đủ,
thì những tội lỗi xưa đều tiêu tan hết. Tại sao? Kẻ đại gian ác nếu
biết xoay đầu cải đổi, thì là người đại thiện. Người đại thiện tạo
tội, lần lần cũng thành kẻ đại gian ác.
Nghe như thế, tâm
bà vui mừng hớn hở, đứng dậy lễ ba lạy, cầu xin thọ giới quy y,
chính thức làm đệ tử Ngài. Sau khi quy y Tam Bảo, không những bà sửa
đổi tâm tánh mà còn tự đi khắp nơi hoằng pháp, chỉ dạy người đời. Về
sau, có hơn tám trăm người được bà dẫn đến quy y Ngài. Khi ấy, thân
bằng quyến thuộc trong thôn làng thấy tâm tánh bà thay đổi nên rất
đỗi kinh ngạc và xem như hai con người. Biệt hiệu Hổ Cái nay không
được dùng nữa, mà mọi người lại gọi bà là Quán Âm Tiếp Dẫn. Bà ăn
chay niệm Phật, hoằng dương Phật pháp, khuyến hóa người đời, cứ như
thế trong mười năm mà vẫn như một ngày. Hạ tuần tháng tám năm Dân
Quốc thứ ba mươi ba, bà dự biết được ngày vãng sanh của mình, nên
bảo người nhà:
- Xưa kia, tôi vốn
tạo bao tội trọng, nhưng sau khi quy y Tam Bảo rồi thì sửa đổi tâm
tánh, hướng về việc lành, cùng khuyến hóa người. Do những công đức
đó, nay biết được rằng mười chín tháng chín sẽ là ngày vãng sanh.
Lúc đó, quý vị chớ buồn rầu, xin hãy niệm Phật trợ niệm cho tôi!
Đến ngày mười chín
tháng chín, quả nhiên trong khi niệm Phật, bà được vãng sanh, thọ
sáu mươi chín tuổi.
*Vùng cạnh thôn của
Ngài có một cậu học sinh họ Đường, tuy đã mười bốn tuổi nhưng thân
thể yếu ớt bịnh hoạn, lại rất ngu si, đọc chi rồi cũng quên hết. Tuy
cha mẹ tìm bao cách dạy dỗ đốc thúc, nhưng đều không hiệu quả. Khi
ấy, do có lần cậu ta nghe người trong thôn kể về sự tích của Ngài,
nên có ý định là sẽ đến cầu xin chỉ dạy. Ngày nọ, cậu ta cùng với
mười lăm bạn đồng học, đến quỳ lạy, chắp tay khẩn cầu Ngài từ bi chỉ
bảo cách khai mở trí huệ để học thuộc bài dễ dàng. Ngài bảo:
- Phương pháp học
bài có ba vào ba trên. Ba cách vào tức là vào tâm, vào miệng, vào
mắt. Dùng mắt xem bài; dùng miệng đọc bài; dùng tâm suy nghĩ. Ba
trên nghĩa là trên đường, trên gối, trên sàn cầu. Lúc đi trên đường
nên suy nghĩ, nhớ lại bài học mà thầy cô vừa dạy trong trường. Trước
khi đi ngủ, phải đọc qua một lần những bài học đó. Lúc ngồi trên sàn
cầu, đừng để uổng phí thời gian vì vọng tưởng mà nên gắng tâm, nhớ
lại những gì mình đã học vừa qua. Khi học bài, nếu có ai mở nhạc
cũng không nghe, hay có sắc tướng gì kỳ lạ cũng không nhìn. Các con
nếu cứ thế mà chuyên tâm nhất ý thì chẳng việc chi lại không hiểu,
còn nói gì đến việc học thuộc bài!
Bọn học sinh nghe
như thế liền hiểu rõ. Sau khi trở về nhà, chúng y theo lời Ngài dạy,
nên quả nhiên trí huệ được khai sáng. Từ học sinh bình thường, nay
trở thành thông minh, khiến cha mẹ và thầy cô giáo của chúng đều
ngạc nhiên. Từ đó, học sinh khắp nơi tìm đến xin quy y và cầu Ngài
chỉ dạy.
*Tại tỉnh Kiết Lâm,
huyện Ngũ Thường, có một em bé tên là Trịnh Hiếu Đức. Lúc năm sáu
tuổi, em bắt đầu lễ lạy cha mẹ, rất mực hiếu thảo. Danh hiếu thảo
của em vang đồn khắp nơi. Có nhiều đạo sĩ bàng môn tả đạo chuyên bày
chuyện dị đoan, gạt gẫm, hà hiếp người đời, muốn em làm đệ tử của họ.
Tuy nhỏ, nhưng em rất mực ngay thẳng. Nghe hiếu hạnh của em, Ngài
tìm đến xem coi hư thật.
Trịnh Hiếu Đức lúc
đó được mười một tuổi. Từ trong song cửa, thấy Ngài đang bước vào
sân nhà, em liền thưa với mẹ:
- Thưa mẹ! Thầy của
con đang đến kìa!
Mẹ em hỏi:
- Ai là thầy của
con?
Trịnh Hiếu Đức chưa
kịp trả lời, vội chạy ra ngoài sân nghinh tiếp, cúi đầu đảnh lễ Ngài.
Sau khi bước vào nhà và ngồi xuống ghế xong, Ngài hỏi:
- Ai dạy con lễ lạy
cha mẹ vậy?
- Con nghe ở huyện
Song Thành có mười bốn người chí hiếu, nên nay bắt chước họ.
Cha của Trịnh Hiếu
Đức vui vẻ xen vào, thưa:
- Thực là nhờ phước
đức tổ tiên ông bà, nên chúng con mới có đứa bé hiếu thảo này. Mong
cầu chư Phật gia hộ, che chở cho nó.
Đàm đạo một hồi,
Ngài từ trên giường bước xuống, tìm đôi dép mãi mà không được, chỉ
thấy Trịnh Hiếu Đức quỳ dưới đất, khẩn cầu:
- Kính bạch Thầy!
Thầy đã đến đây! Vậy kính thỉnh Thầy ở lại dùng cơm trưa.
Ngài chấp thuận. Ăn
cơm xong, Ngài dạy Trịnh Hiếu Đức:
- Con đã quy y, gọi
Ta bằng Thầy. Thế thì, con phải nghe lời Thầy, hay Thầy phải nghe
lời con?
- Bạch Thầy! Đương
nhiên là đệ tử phải nghe lời Thầy. Nay con xin sám hối.
Trịnh Hiếu Đức thật
rất thông minh lanh lợi, tự biết lỗi lầm.
Ngài dạy:
- Lúc tu đạo, tâm
phải thẳng thắn chánh trực. Như con vừa dấu đôi dép của Thầy, đó là
dùng thủ đoạn của người đời, tức không tôn kính thầy trọng đạo chút
nào.
Trịnh Hiếu Đức nghe
như thế, xấu hổ mà khóc. Ngài dạy thêm:
- Niệm Phật phải thường không
dứt đoạn.
- Miệng niệm Di Đà mãi thành
khối
- Không khởi tạp niệm đắc tam
muội
- Vãng sanh Tịnh Độ chắc có phần
- Ngày cuối chán khổ cõi Ta Bà
- Tâm niệm vừa rồi nhàm bụi trần
- Cầu sanh Cực Lạc ý niệm trọng
- Xả bỏ niệm nhơ, quy niệm tịnh.
Thông thường, đối
với các đệ tử lớn tuổi, Ngài dạy họ ngồi thiền, tập định. Tuy nhiên,
về phần Trịnh Hiếu Đức, Ngài dạy em chuyên tu pháp môn niệm Phật, y
chiếu theo các câu kệ trên mà hành, và nhắc nhở lý nhân trước quả
sau. Thật ra, nếu không phải là người sáng mắt thì không thể hiểu
được.
Nơi thủ hiếu là
vùng nghĩa địa hoang vu, không người lui tới, vậy mà cũng có dân
chúng đến vì muốn cầu kiến Ngài. Có người bịnh nặng, được Ngài cứu
chữa lành, nên thường tới lui lễ bái. Lại có người thấy đức hạnh thủ
hiếu bên ngôi mộ người mẹ và oai nghi đạo hạnh của Ngài, mà đến quy
y Tam Bảo. Am tranh nhỏ, được dân làng tôn sùng, nên trở thành ngôi
miếu tự. Sau khi mãn hạn thủ hiếu ba năm, Ngài đến ẩn cư tại động Di
Đà, nơi phần núi Đông Bộ, thuộc rặng núi Trường Bạch. Tại đó, cây
cối rậm rạp um tùm, nhiều chim chóc thú rừng hoang dã, không dấu
chân người. Thật là nơi lý tưởng cho những ai muốn tu hành khổ hạnh.
Lúc ẩn cư tu hành, đói thì ăn rau dại, khát uống nước suối. Thỉnh
thoảng, Ngài xuống núi mua nhang dầu.
Ngài tự thuật: Lúc
mười chín tuổi, tuy là sa di, nhưng có rất nhiều người ở vùng Mãn
Châu đến cầu xin quy y với tôi. Tại sao? Vì họ thấy tôi khác lạ hơn
những người khác. Mùa đông, tôi đi chân không trên tuyết mà không bị
lạnh cóng, và chỉ mặc ba lớp áo cả năm này tháng nọ, dầu nhiệt độ có
xuống dưới không độ khoảng 33 hoặc 34 độ C. Họ thấy tôi hành được
những hạnh này, nên muốn quy y với tôi.
Tuy không muốn thâu
nhận đệ tử, nhưng họ quá thành tâm cầu khẩn. Tôi nhớ đến một đạo sĩ
ngoại đạo, tên là Quan Trung HỶ (có lẽ là con cháu của Quan Đế Công)
sống cạnh sông Bối Nhân, Mãn Châu. Vì là người miền núi, đầu gối của
ông rất to. Ông tự lập một đạo, được gọi là Thu Nguyên, và thu nhận
trên ba ngàn đệ tử. Ai muốn nhập đạo thì phải trả một số tiền rất
lớn. Tại sao? Vì ông ta có những bảo bối quý giá. Mỗi bảo bối trị
giá khoảng một ngàn đồng. Thật ra, ông ta chỉ có bảo bối trên ngôn
từ, chứ không có thực thể. Ông ta giải thích:
Vì chưa đúng lúc,
Ta không thể giao bảo bối cho quý vị được. Đúng thời điểm, Ta sẽ đưa
bảo bối, thì quý vị mới có thể dùng được.
Nghe như thế, ba
bốn ngàn đệ tử tin tưởng những lời này. Lúc ấy, tuổi của ông ta trên
bốn mươi. Về sau, tự biết không thể tiếp tục lừa phỉnh người, không
có gì để hộ vệ sanh mạng, và không biết đạo lý tu hành, nên ông ta
đi tham phương học đạo khắp nơi. Thời đó, tại vùng Mãn Châu, bàng
môn tả đạo xuất hiện rất nhiều như Ngọc Hư Môn, Như Ý Môn, v.v...
Mỗi khi nghe có người tu hành đạt đạo, dẫu xa cách mấy, ông ta vẫn
tìm đến thỉnh cầu chỉ dạy phương pháp tu hành. Dẫn theo người cháu
là Quan Chiêm Hải, ông ta đi khắp nơi trong ba năm. Sau ba năm tầm
cầu, ông không tầm được đạo, nên rất lo lắng. Mỗi ngày, ông thầm lo
nghĩ: Cái chết gần kề mà mình chưa biết cách tu đạo.
Người cháu của ông
ta không muốn lập gia đình, nên cả hai chú cháu trở thành người mê
đạo. Ngày nọ, tôi đến nhà của họ. Lạ lùng thay! Trước khi tôi đến,
Quan Chiêm Hải có mộng thấy một giấc mơ. Trong giấc mơ, lúc thấy tôi
đến nhà rồi ngồi trên giường, ông ta bèn quỳ xuống và cầu xin chỉ
dạy cách tu đạo. Ông lại thấy tôi dùng hai tay lột da của ông ta
trông giống da heo, rồi liệng xuống đất. Ông nghĩ thầm: Tại sao mình
có da heo trên thân?Trong giấc mơ ông nghe tôi bảo:
- Ngươi chưa ăn
chay trường, vẫn còn ăn thịt heo, nên trong tương lai trên lưng
ngươi sẽ có da heo.
Ông ta hoảng sợ, la
lên:
- Ô! Làm thân heo
thật dơ bẩn, không có ý nghĩa gì.
Lúc đó, ông ta liền
thức dậy. Hôm sau, tôi đến nhà họ. Người cháu thưa với ông chú:
- Chú có nhận ra vị
thầy này không?
Ông chú đáp:
- Chú biết vị thầy
này lúc trước có hành hạnh thủ hiếu bên phần mộ người mẹ.
- Đêm qua cháu mơ
thấy vị này đến nhà mình, mà hôm nay Ngài đến thật sự.
- Thật à! Cháu mơ
thấy những gì?
Người cháu kể lại
giấc mơ xong, ông chú bảo:
- Đây chắc hẳn là
một vị đạo nhân đến nhà mình truyền đạo hôm nay. Hai chú cháu mình
phải thành tâm cầu pháp.
Bàn xong, họ bước
vào căn phòng tôi đang ngồi, rồi đóng cửa lại và quỳ xuống cầu đạo.
Tôi bảo:
- Quý vị bị bịnh
thần kinh mới đi cầu đạo nơi tôi. Ngoài việc ăn ngủ ra, tôi không
biết gì cả. So với quý vị, tôi không khác chút nào, vì chưa hề biết
gì là đạo.
Họ thưa:
- Chúng con biết
Ngài hành hạnh thủ hiếu.
Ông chú tuy biết
tôi đã từng hành hạnh thủ hiếu nơi phần mộ người mẹ, và muốn tìm gặp
tôi, nhưng chưa có dịp. Ông chú lại nói:
- Con biết là Ngài
sẽ đến đây giáo hóa vì đêm qua người cháu mơ thấy Ngài lột da heo
cho nó.
Tôi bảo:
- Ông nói lời thật
quá hàm hồ. Người cháu của ông không phải là heo, làm sao tôi lột da
heo cho hắn được?
- Tuy nhiên, đây là
sự thật! Dầu gì đi nữa, xin Ngài hãy dạy chúng con cách thức tu hành.
- Tôi không biết
cách dạy quý vị tu hành. Quý vị nên đi tầm sư học đạo. Tôi có thể
giúp đỡ quý vị bằng cách giới thiệu một vị thiện tri thức.
- Chúng con đã đi
khắp nơi tầm cầu trong ba năm trường mà không tìm được ai. Đến đâu
cũng nghe toàn là tiếng hay mà công phu tu hành chân chánh lại không
có.
- Tôi có thể giúp
quý vị đi tìm.
Họ vốn muốn lễ lạy
tôi làm thầy, nhưng tôi không biết rằng họ là chân hay giả, có thật
tin, hoặc thử thách mình! Tôi không bao giờ làm việc một cách cẩu
thả, nên dẫn họ đến gặp đại sư Thường Nhân và các vị cao nhân tu
hành. Tuy gặp được các ngài, nhưng họ vẫn không chịu quy y, lễ bái,
mà chỉ nằng nặc muốn lễ tôi làm thầy. Lúc ấy, tôi chỉ là sa di, nên
không muốn nhận đệ tử, nhưng họ cứ quỳ mãi trước mặt tôi mà không
đứng dậy. Sau này, tôi dạy Quan Trung HỶ xếp bằng ngồi thiền, bảo:
- Ông chớ cho rằng
tôi có đạo đức. Trong buổi đầu, vì chưa gặp được thiện tri thức, tôi
sẽ chỉ ông phương pháp tu hành. Ông phải nên tập xếp bằng ngồi thiền.
Nếu ngồi xếp bằng được, tôi sẽ trở lại chỉ dạy tiếp tục.
Đối với người cháu,
việc ngồi thiền như thế rất dễ dàng. Ngược lại, Quan Trung HỶ tuy
nghe theo và quyết chí thực hành ngồi xếp bằng thẳng lưng, nhưng vì
lớn tuổi và đầu gối to, nên khi ngồi thì bắp đùi lại hổng lên. Ông
ta cố gắng ngồi, bằng cách đè đầu gối xuống. Trở lại nhà họ trong
một tuần sau, tôi thấy đầu gối ông ta bị sưng vù, không thể đi đứng.
Tôi bảo:
- Thôi, ông đừng cố
gượng ngồi xếp bằng nữa!
Ông chú đáp:
- Con vẫn ngồi xếp
bằng dầu cho đầu gối có bị sưng.
- Chớ nên cưỡng ép,
ông không thể chịu nổi đâu.
- Như thế là nghĩa
gì? Gần chết mà con không tu, thì đợi đến bao giờ mới chịu hành! Dầu
gì đi nữa, con nhất quyết ngồi thiền. Nếu có chết, đó là việc thường
tình. Nếu vẫn còn sống thì con phải tu hành.
- Cứ việc làm theo
ý của ông.
Nói xong, tôi bỏ ra
về. Một trăm ngày sau, tôi trở lại, thấy đầu gối của ông ta không
còn bị sưng nữa. Tôi hỏi:
- Ông không còn xếp
bằng, ngồi thiền nữa à?
Ông ta cười, nói:
- Con xếp bằng ngồi
thiền được rồi. Dầu ngồi bao lâu đi nữa, chân con vẫn không bị đau
hay sưng.
Kế đến, tôi chỉ dẫn
ông ta cách thức dụng công ngồi thiền và tham thiền. Ông chú rất vui
mừng và tu thiền mỗi ngày trong ba năm liền. Ba tháng trước khi qua
đời, ông ta nhóm họp thân quyến lại, bảo:
- Vào giờ đó, ngày
đó, tôi sẽ qua đời. Ước muốn của tôi hiện nay là được thấy thầy mình.
Tuy nhiên, tôi không biết Ngài đang ở tại đâu, nên không thể tìm
được.
Đến ngày ra đi, ông
ta ngồi xếp bằng, không bịnh mà qua đời. Đêm hôm đó, có rất nhiều
dân làng mơ thấy ông ta được hai đồng tử mặc áo sòng màu đen, hướng
dẫn bay về hướng tây.
Ông chú vốn là
ngoại đạo, nhưng sau này học chánh pháp và tu hành không sợ khổ nhọc,
bịnh tật, nên mới đạt chút ít thành tựu. Nếu ngừng tu hành lúc đầu
gối bị sưng, thì tôi nghĩ rằng ông ta không thể thành tựu được như
thế. Người tu hành phải chịu khổ đau trước khi đạt được niềm an lạc
vĩnh cửu. Nếu không chịu nổi những khổ đau tạm thời thì không thể
đạt đến nơi thường lạc. Quan Trung HỶ là gương sáng tu hành cho
chúng ta. Nếu muốn đạt chân định, chân huệ, thường lạc, thì đầu tiên
nhất định phải chịu đựng sự đau khổ.
Bàn về người cháu,
vào lúc đó, nó vẫn theo tôi. Ngày nọ, đang cùng tôi đi trên đường,
nó chợt quỳ xuống nắm vạt áo của tôi, cầu xin làm đệ tử. Tôi bảo:
- Tôi không tu hành
gì cả. Ông quy y tôi có lợi ích gì?
Nó thưa:
- Con nhất quyết
muốn quy y Ngài.
Tôi vùng tay ra và
bỏ đi. Đi khoảng một dặm, rồi xoay đầu lại, tôi thấy nó vẫn còn đang
quỳ. Trở lại, tôi thấy nó khóc nức nở. Vì vậy, bắt buộc tôi phải
nhận nó làm đệ tử đầu tiên của tôi. Nó thật có hiếu, vì luôn lo lắng
cho thầy mình.
Sau này, vì biết
mình không có đạo đức và không đáng làm thầy người khác, nên tôi
phát lời nguyện không lớn cũng không nhỏ, rằng nếu có chúng sanh nào,
dầu là người, phi nhân, trời rồng, tám bộ quỶ thần, đã quy y với tôi
mà chưa thành Phật thì tôi nguyện sẽ đợi chờ và không thành Phật.
Điều này minh chứng lòng chân thành của mình đối với các đệ tử. Quy
y xong, họ có đối xử như thế nào, tôi vẫn không màng. Nếu họ tu hành
đúng theo chánh pháp thì nhất định sẽ thành Phật trong tương lai.
Tại sao tôi phát nguyện như thế? Vì tôi cảm thấy rằng nếu có chúng
sanh nào quy y với mình mà không trợ giúp họ thành Phật đạo, thì
thật sự chưa làm tròn trách nhiệm, và không đáng làm thầy, hoặc làm
đệ tử họ. Hôm nay, tôi đã kể lại nguyên nhân tại sao lại phát nguyện
như thế. Quy y tôi xong, quý vị nhất định phải nỗ lực tiến bước tinh
tấn tu hành, chớ giải đãi làm biếng. Phải thay đổi tánh xấu, cải ác
hướng thiện, dũng mãnh tiến đến quả vị Bồ Đề. Nếu không tu hành, quý
vị sẽ cản trở thầy mình thành Phật.
Lúc trẻ, vì thất
bại trong việc khởi xướng cuộc cách mạng, tôi xuất gia tu hành, rồi
đi khắp nơi chữa bịnh cho người. Dầu đã học qua các sách vở về y
thuật, nhưng tôi không dùng những kiến thức đó để trị bịnh, mà chỉ
dựa trên thần chú Thủ Lăng Nghiêm cùng thần chú Đại Bi. Tôi dùng
pháp ấn Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn (bốn mươi hai tay mắt) trong chú Đại Bi
và ba mươi hai pháp trong chú Thủ Lăng Nghiêm để hàng phục thiên ma
ngoại đạo, cùng dùng định lực để khống chế yêu ma quỶ quái. Trong
đời này, tôi đã từng gặp rất nhiều yêu ma quỶ quái biến thành hình
người. Nghe lời này, người người đều không tin, vì chưa từng biết
đến những việc kỳ quái, lạ lùng. Khi xưa, lúc quân Nhật vừa đầu hàng,
chánh phủ Quốc Dân Đảng chưa chánh thức tiếp thu thành phố Nhĩ Hợp
Tân và đảng Cộng sản chưa tiếp thu hết vùng Mãn Châu, yêu ma quỶ
quái xuất hiện khắp nơi. Khi có chánh phủ, yêu ma quỶ quái lại lẫn
tránh, không dám lộng hành. Vào những lúc vô chánh phủ, chúng liền
xuất hiện.
Quả Năng vốn họ Lô,
là một trong những đệ tử đầu tiên của Ngài. Xưa kia, ông là thợ may,
kiếm tiền rất nhiều, nhưng đều cho cô bồ hết để mua thuốc phiện. Sau
này, ông biết mình sai lầm, nên quyết định bỏ cô ta, xuất gia tu đạo.
Trong mình không có nhiều tiền, nên khi đến vài ngôi chùa cầu xin
tạm trú, đều bị từ chối. Hôm nọ, ông đến ở trọ tại một quán ăn. Bà
chủ hỏi:
- Thầy của tôi hiện
đang ở đây. Ông có muốn gặp mặt không?
Thầy gật đầu đồng
ý, bà bèn dẫn ông ta đến bái kiến Ngài. Khi gặp mặt Ngài, ông rất hổ
thẹn.
Ngài hỏi:
- Sao con buồn vậy?
Ông đáp:
- Con không có tiền.
Thầy vì sao đến đây?
- Thầy đến vì con!
- Bạch Thầy! Sao
Thầy lại vì con mà đến?
- Vì Thầy muốn thế
độ cho con xuất gia!
Quả Năng kinh ngạc
vì ông chưa từng đề cập việc mình muốn đi tu cho ai nghe. Ngài thúc
giục ông:
- Thôi đi mau lên,
nếu không thì cô bạn gái sẽ đến, kéo con về nhà!
- Bạch Thầy! Con
không có y cà sa.
Ngài liền cởi chiếc
y cà sa bên ngoài ra cho Quả Năng. Hai người đến chùa Tam Duyên. Nơi
đó, Quả Năng phụ trách việc gánh nước nấu cơm. Ngày nọ, Quả Năng tự
làm giường bằng gạch ngói. Thấy vậy, Ngài hỏi:
- Ai cho phép con
làm giường này?
Quả Năng đáp:
- Bạch Thầy! Không
ai cả. Con tự làm lấy.
- Con là ai, sao
dám tự tiện làm thế. Mau lấy gạch ra, rồi lên chánh điện quỳ ba cây
nhang sám hối.
Lát sau, không thấy
Quả Năng quỳ trên chánh điện, nên Ngài hỏi:
- Tại sao con không
lên chánh điện quỳ?
Quả Năng đáp:
- Bạch Thầy! Thầy
nói thiệt sao?
- Thầy thật xấu hổ.
Con không quỳ, đó là lỗi của Thầy. Nếu có đức độ thì đệ tử phải nghe
lời dạy, bằng ngược lại mình phải tự quỳ.
Ngài nói xong, liền
lên chánh điện quỳ. Quả Năng thấy vậy, liền thưa:
- Bạch Thầy! Đó là
lỗi của con. Con sẽ quỳ. Thỉnh Thầy đứng dậy!
Ngài không màng lời
nói đó, cứ tiếp tục quỳ. Như thế, cả hai thầy trò đồng quỳ. Từ đó,
các đệ tử không ai dám không nghe lời Ngài chỉ dạy.
Sáng nọ, đang trú
tại chùa Tam Duyên, Ngài bảo Quả Năng:
- Hôm nay có một
đứa bé đến xin xuất gia. Con hãy cho Thầy biết khi nó đến.
Đến trưa, Quả Năng
chạy vào phòng, thở hổn hển, thưa:
- Bạch Thầy! Đứa bé
mà Thầy nói hồi sáng, nay đã đến rồi.
Ngài bước ra ngoài,
thấy một đứa bé trạc tuổi mười một, khuôn mặt bướng bỉnh, quần áo
lem luốt, nhưng năm căn đoan chánh, có đức tướng tỳ kheo. Bé vừa
thấy Ngài như đã gặp người thân thuộc, nên vui mừng, không thể cầm
được nước mắt. Ngài cố ý hỏi thử:
- Con đến đây làm
gì?
Bé đáp:
- Con muốn xuất gia.
- Cái gì? Có phải
con vì không đủ cơm ăn áo mặc và nhà ở mà đến đây đòi đi tu không?
- Dạ không phải.
Con có bịnh kỳ lạ, khiến nằm ngồi không yên, nên rất ưu sầu vì tự
biết mình có ma chướng.
- Làm sao con biết?
- Lúc năm tuổi, con
chữa bịnh cho người khác được. Khi bịnh nhân đến, con bảo rằng Hãy
mau hết bịnh, thì họ liền hết bịnh. Sau này, bỗng dưng con lại bị
bịnh kỳ lạ. Vài tháng trước, trong ba đêm liền, con mơ thấy một lão
hòa thượng, như vị này (bé chỉ tay đến tượng Phật Di Lặc). Ngài bảo
con rằng hãy đến chùa Tam Duyên, cầu xuất gia với pháp sư Độ Luân,
thì bịnh sẽ hết. Con đi bộ trên ngàn dặm, liên tiếp trong vài tháng
trường, nay mới đến đây. Trên đường, con thường ngủ đêm trên những
cánh đồng hoang dã. Đêm nọ, một bầy sói đến vây quanh. Con quát:
Chúng bây ăn đạn, thì tự nhiên chúng bỏ đi hết. Hôm nay con thật tâm
vì muốn xuất gia nên đến đây.
(Khi ấy, quân Nhật
vừa đầu hàng, vùng đông bắc chưa có xe cộ. Trên đường, Quả Tá lượm
một trái lựu đạn, đuổi được bầy sói. Đây thật là do chư Phật, chư Bồ
Tát gia hộ cho em.)
- Xuất gia là việc
không dễ dàng. Làm việc mà người khác không thể làm. Thọ nhận những
gì người khác không thể thọ.
Nói xong, Ngài tiện
tay với lấy một miếng bánh bao trên bàn thờ, bỏ vào miệng nhai, rồi
nhả xuống đất và nói:
- Hãy lượm bánh lên
mà ăn, rồi sẽ nói chuyện sau.
Lập tức, không nhờm
gớm, bé lấy tay bốc bánh lên ăn. Thử xong, Ngài chánh thức nhận em
làm chú tiểu Sa Di, và ban cho pháp danh là Quả Tá. Xuất gia xong,
bịnh ma chướng của Quả Tá liền hết. Chú dụng công tu hành, chưa đầy
nửa năm đắc được thiên nhãn thông cùng tha tâm thông, có thể biết
đời quá khứ và đọc được tư tưởng người khác. Mọi người đều gọi chú
là Tiểu Thần Thông. Ngày nọ có người hỏi:
- Chú có thần thông.
Vậy thầy của chú có thần thông không?
Nghe như thế, chú
kiêu ngạo đáp:
- Thực tình không
biết Thầy tôi có thần thông hay không nữa!
Ngay lúc ấy, thần
thông của chú liền biến mất. Bịnh ma chướng xưa kia lại tái phát chỉ
vì lời nói hồ đồ. Ngài vì chú, tận lực hết công phu, cầu chư Phật,
chư Bồ Tát gia hộ, nên bịnh ma chướng của chú từ từ tiêu mất. Ngài
làm kệ:
- Tu đạo như leo lên núi trăm
thước
- Khi xuống thì dễ trèo lên thì
khó
- Nếu vượt được qua đầu ngọn tre
- Mười phương thế giới liền hiện
tiền
- Chúng ta sao không luôn cảnh
giác.
Vì chữa bịnh cho
Quả Tá, nên loài yêu quái ở biển oán giận Ngài. Chúng tìm cách báo
thù, bằng cách làm ngập lụt nhiều nơi, khiến nhiều người bị chết.
Tàu bè đi từ Thiên Tân đến Thượng Hải, thường bị hải yêu tác quái.
Tuy nhiên, nhờ sự cảm ứng và oai thần lực của Bồ Tát Quán Thế Âm,
tàu bè ít bị đắm chìm. Ngày nọ, Ngài cùng với các đệ tử đi ngang qua
làng Đông Bình, trú tại nhà cư sĩ họ Trịnh, một đệ tử quy y. Tên của
làng Đông Bình vốn là Do Lai, vì làng này có một con suối từ lòng
núi chảy ra, xoáy mòn bao năm thành vùng đất trũng, bốn bề cao ráo
nhưng nước lại đọng ở giữa như miệng giếng. Ngài vừa đến thì đột
nhiên trời mưa to, sóng nước chảy cuồn cuộn vào làng như thác đổ.
Đồng thời, nước giếng trong thôn cũng vụt chảy ra. Hơn tám trăm căn
nhà bị lụt lội, khiến nhiều người bị nguy khốn, nên phải leo lên nóc
nhà mà ở. Ngài bảo mọi người trong nhà họ Trịnh đều phải tụng chú
Đại Bi. Lạ thay, bên ngoài nhà họ Trịnh, nước dâng cao cả tám tấc.
Hàng rào chỉ đóng bằng vài cây cọc nhỏ mà nước chỉ chảy vào nhà
khoảng một tấc. Thần chú Đại Bi thật linh nghiệm thông thiên triệt
địa. Chẳng bao lâu, mây tan mưa tạnh, nước từ từ hạ xuống. Trong
trận lụt đó, hơn mười tám người trong làng bị chết đuối. Nhiều người
thấy quái vật bơi lội trong nước.
Trị bịnh giúp người
thì gây oán với yêu ma quỶ quái. Thật không phải là chuyện đùa. Ngài
cũng từng nói: Lúc trẻ thì không kể. Tu hành đến giai đoạn bị ma
chướng thử thách này, mới biết phân lượng cao thấp.
Tại thành phố Hợp
Nhĩ Tân, làng Đại Nam Câu, khu Hương Phường, có một người họ Diêu.
Khi chưa quy y Tam Bảo, ông là kẻ giang hồ lãng tử, không những hút
nha phiến mà còn đam mê cờ bạc, rượu chè. Không tật xấu nào mà ông
không có. Khi ấy, Nhật Bổn đang thống trị vùng Đông Bắc, thành lập
nước Mãn Châu. Lợi dụng vua Tuyên Thống nhà Thanh hèn yếu, quân Nhật
dựng ông làm hoàng đế bù nhìn tại Mãn Châu, còn mọi việc trong chánh
quyền đều bị người Nhật thao túng, lạm quyền. Nhật Bổn sợ quân Nga
xâm lăng vào Mãn Châu, nên xây phòng tuyến bên sông Hắc Hà, bắt lao
công phục dịch bằng áp lực chứ không trả tiền công. Nếu bị bắt đi
làm lao công thì phải làm việc cực nhọc quần quật suốt mãi, không
mong có ngày trở lại quê nhà. Bàn về đời sống của người lao công,
khiến không khỏi rùng mình. Người bị bắt đi làm lao công cũng như bị
hành phạt trong địa ngục chốn trần gian, khổ sở khôn lường. Ông Diêu,
vì không nghề nghiệp, nên bị quân Nhật bắt và tống đi làm lao công
nơi đó. Ban ngày đem thân trâu ngựa để làm việc. Tối đến, đắp rơm mà
ngủ, khiến lạnh cóng chết người. Ông không biết bao giờ mới trốn
thoát được. Bốn bề doanh trại đều có dây điện bao bọc. Nếu chạm phải,
sẽ bị điện giật chết. Tuy vậy, ông vẫn hy vọng chờ cơ hội thuận tiện
để vượt trại vì không thể chịu đựng được sự ngược đãi vô nhân đạo
trong đó. Tối hôm nọ, ông liều chết để tìm tự do, nghĩa là nhất định
trốn trại địa ngục trần lao. Ông lợi dụng lúc đi tiểu tiện để chạy
trốn. Vừa định chạy thì đột nhiên một ông lão tóc bạc phơ tiến đến,
bảo:
Nay không phải là
lúc trốn, vì ông chưa thọ hết quả khổ. Hãy nhẫn nại một thời gian.
Khi dịp may đến, tôi sẽ báo cho ông biết. Hy vọng ông nên đề cao
cảnh giác, chớ bỏ lỡ cơ hội.
Nói xong, ông lão
biến mất. Tin tưởng lời của ông lão tóc trắng, ông Diêu trở lại
doanh trại. Hai ba ngày sau, trong một giấc mộng, ông Diêu lại mơ
thấy ông lão tóc trắng lúc trước và được ông ta báo mộng:
Hôm nay là ngày
trốn trại. Ngoài cửa có hai con chó trắng. Ông hãy đi theo dấu chân
chúng, không nên sai chạy. Hãy nhớ! Hãy nhớ!
Ông kinh hoàng giựt
mình thức dậy, rồi đi ra ngoài cửa, và quả nhiên thấy hai con chó
trắng đang đứng đợi. Nghe lời chỉ dẫn, ông bước theo chân của chúng.
Đến hàng rào, chúng liền chui qua, còn ông thì lấy rơm khô đắp trên
mình rồi từ từ bò qua, thoát ra miệng hổ bình an vô sự. Lúc nhìn lại
thì ông không thấy hai chó trắng đâu cả, mới biết là được thần nhân
trợ giúp. Vì sợ quân Nhật đuổi bắt nên vào ban ngày, ông trốn trong
các lùm cây; đói ăn rau dại, khát uống nước suối, đến tối mới dám đi.
Lần hồi, qua vài mươi ngày khổ nhọc, ông trở về làng. Sau khi nếm
mùi khổ đau, ông hiểu rằng làm người thật là khổ, nên quyết định
xuất gia tu đạo. Tuy nhiên, đến chùa nào, ông cũng bị từ chối. Lúc
đến chùa Tam Duyên, vì thấy y phục rách rưới dơ bẩn, người trong
chùa tưởng ông là kẻ ăn xin, nên không cho phép ở lại. Chùa lớn
không chứa, chùa nhỏ không nhận vì dáng điệu lôi thôi tàn tạ của ông.
Một gã nọ, tự giới thiệu rằng hắn là một kẻ tu hành lâu năm, biết ba
mươi sáu ngôi sao Thiên Cương, bảy mươi hai phép biến hóa, bay được
khắp hư không, cỡi mây lướt sóng, thổi gió kêu mưa, và trị hết những
bịnh nan y, cùng có tay chân thần kỳ diệu dụng như khiến kẻ già nua
được hồi xuân. Hắn tự thổi phồng mình bằng những lời ma quái quỶ
quyệt, nói xạo nói càn, không ai tin nổi, nhưng chỉ trừ ông là dám
lạy hắn làm thầy. Hắn dùng mọi thủ đoạn bất chánh để kiếm tiền,
khiến người khác cung phụng, sống qua ngày. Chẳng bao lâu, ông Diêu
biết hắn chả có tài cán gì, mà chỉ là kẻ vô lại, chuyên lường gạt
người, nên bỏ đi. Sau này, ông biết được Ngài đang ở tại làng Đại
Nam Câu đã từng trì chú cứu sống mẹ ông Cao Đức Phúc. Vì vậy, ông
đến gặp Ngài, quỳ mãi không đứng, cầu xin xuất gia. Khi ấy, Ngài
không để ý, chỉ ngồi thiền hướng mặt vào vách. Khoảng một giờ sau,
Ngài xoay đầu lại, thấy ông vẫn còn quỳ nên hỏi:
- Ông làm gì vậy?
Ông thưa:
- Thỉnh Thầy từ bi,
nhận con làm đệ tử.
- Ông muốn theo tôi
xuất gia à? Ông sẽ thất vọng, vì tôi không có đức hạnh, công phu gì
để chỉ dạy.
- Nay chỉ thỉnh cầu
Ngài nhận con làm đệ tử là mãn nguyện rồi, còn những việc khác con
không cầu xin.
- Tại gia tu đạo
không dễ. Xuất gia tu đạo lại khó hơn. Vì thế, việc lớn chưa rõ, như
để tang cha mẹ. Việc lớn rõ rồi, lại như để tang cha mẹ. Xuất gia là
việc khổ nhọc. Nhẫn những gì người khác không thể nhẫn nỗi. Nhường
nhịn những gì người khác không thể nhường. Ăn đồ kham khổ mà kẻ khác
không thể ăn. Thọ nhận những gì kẻ khác không thể thọ. Quên mình vì
người. Bỏ việc riêng tư mà lo việc công ích. Như thế, ông làm được
hay không? Nếu làm được thì tôi sẽ nhận ông làm đệ tử. Nếu không thể
làm được thì đừng theo tôi xuất gia.
Ông Diêu không một
chút đắn đo, liền thưa:
- Bạch Thầy! Tất cả
khổ nhọc, con đều nhẫn nổi. Xuất gia tuy khổ, nhưng con tin rằng
không khổ bằng bị bắt đi làm lao công trong doanh trại Nhật. Con tin
mình sẽ chịu đựng được hết.
Ngài liền nói kệ:
- Niệm niệm chớ quên khổ sanh tử
- Tâm tâm muốn thoát vòng luân
hồi
- Đập vụn hư không rõ Phật tánh
- Thông thể thoát mê, thấy cội
nguồn
- Nay chính thời mạt pháp
- Kẻ xuất gia tuy nhiều
- Thiết thật tu hành rất ít
- Người tin Phật tuy đông
- Đạo nghiệp thành không nhiều
- Nếu thành tâm xuất gia
- Hãy lập chí rộng lớn
- Phát Bồ Đề thù thắng
- Thắp đuốc trong bão táp
- Nung lửa luyện chân kim
- Đạo nghiệp sớm viên thành
- Tinh tấn hoằng Phật pháp
- Khiến pháp Phật chiếu khắp
- Không phụ nguyện xuất gia.
Qua những lần gạn
hỏi, Ngài biết ông có thể thọ nhẫn được sự cực khổ, nên dẫn về chùa
Tam Duyên cho cạo tóc xuất gia và thọ giới Sa Di, với pháp danh Quả
Thuấn, cùng giao nhiệm vụ lo việc bếp núc. Quả Thuấn siêng năng làm
việc, chân chánh dụng công tu hành, mỗi ngày ăn một buổi. Trước khi
đi ngủ, đều ngồi thiền nhập định cho đến khuya. Những khi Ngài có
đều gì muốn dạy bảo, chỉ cần nghĩ tưởng đến là Quả Thuấn biết ngay.
Lần nọ, Quả Thuấn thấy bên cạnh miếu Long Vương ở Tây Sơn, vùng Đại
Nam Câu, có một mảnh đất trống. Được Ngài đồng ý, Quả Thuấn đến đó
cất am tranh tu hành. Quả Thuấn thỉnh Ngài đến làm lễ khai quang,
thiết đặt tượng Phật trong am thất. Ngài dẫn Quả Năng, Quả Trị, Quả
Tá đến đó làm lễ. Chiều hôm ấy, mười vị thần rồng nơi miếu bên cạnh
am đến đảnh lễ Ngài, cầu xin thọ giới quy y Tam Bảo. Lúc đó, vào mùa
hè, trời nắng gắt không mưa, khiến lúa mạ héo vàng. Nông dân nương
nhờ thời tiết mà sống, nên nay buồn rầu ta thán, chỉ biết cầu trời
khẩn Phật từ bi ban nước cam lộ. Vì vậy, Ngài bảo các thần rồng:
- Công việc của quý
vị là lo mưa móc. Tại sao đến hôm nay mà vẫn không mưa?
Các thần rồng thưa:
- Bạch Ngài! Vì
chưa được lịnh của Thiên Đế, nên chúng con không dám phun mưa. Nếu
làm thì sẽ bị phạt.
- Quý vị hãy lên
bảo điện Linh Tiêu, cầu thỉnh Đại Đế từ bi cho mưa trong khoảng chu
vi bốn mươi dặm. Ngày mai, phun mưa xong rồi mới đến đây thọ giới
quy y.
Hôm sau, quả nhiên
mưa khắp trong vòng bốn mươi dặm. Lúa mạ có nước, nên sinh sôi nẩy
nở. (Đến mùa thu, thâu hoạch lúa thóc nhiều hơn năm trước). Ngày thứ
ba, các thần rồng đến trước chánh điện nơi am tranh, thọ tam quy y.
Để kỶ niệm, Ngài viết tấm bảng đặt trước am là Am rồng phun mưa.
Nhập thất chẳng bao
lâu, có hai vị họ Lưu và họ Dương, người cùng làng với Quả Thuấn,
cũng là Phật tử thuần thành, đồng trú tại đó. Mỗi ngày, họ y theo
Quả Thuấn tụng kinh sáng trưa chiều, cùng tinh tấn tụng chú Đại Bi.
Sau này, cư sĩ họ Lưu xuất gia tu đạo, còn cư sĩ họ Dương thì gia
nhập quân đội, vào bát lộ quân. Trong hai năm vào quân ngũ, họ Dương
thường gởi thơ về nhà. Mùa thu năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy (1948),
đột nhiên dứt bặt thư từ. Bảy tháng sau, lúc Quả Thuấn đang tụng chú
Đại Bi trong am, bất chợt thấy ông Dương trở về nhà và gõ cửa. Nghe
tiếng động, Quả Thuấn bước ra ngoài mở cửa. Ông Dương vội bước mau,
chạy thẳng vào, leo lên rồi nằm trên giường, và nói rằng bị trọng
thương vì trúng đạn. Quả Thuấn vẫn tiếp tục tụng chú Đại Bi. Lát sau,
ông Dương bỗng biến thành con hồ ly. Trong chớp mắt, hồ ly lại biến
mất. Việc này là như thế nào? Ông Dương bị trúng đạn mà chết. Con hồ
ly lại ăn não của ông, nên nó mới biến thành thân ông ta, rồi đến
phá đạo hạnh tu hành của Quả Thuấn. Tuy nhiên, nhờ oai đức tu hành
tụng chú Đại Bi hằng ngày của Quả Thuấn nên yêu quái hồ ly mới kinh
sợ mà biến mất. Thời đó, Quả Thuấn thấy Phật giáo suy vi, tăng ni bị
áp bức, tượng Phật tượng Bồ Tát bị hủy hoại, kinh tạng bị thiêu đốt,
nên phát nguyện thiêu thân cúng dường Phật. Khi ấy, Ngài dẫn hết tất
cả đệ tử lên chánh điện, phát nguyện rằng nếu sống đến một trăm tuổi
thì sẽ thiêu thân cúng dường chư Phật. Quả Thuấn cũng phát nguyện
rằng nếu có cơ hội, Thầy sẽ thiêu thân cúng dường chư Phật chư Bồ
Tát như Bồ Tát Dược Vương mà không đợi đến một trăm tuổi. Ngày mười
tám tháng tư năm 1949, thầy chất củi, rải dầu, ngồi xếp bằng trên đó,
rồi châm lửa tự thiêu, khiến thân biến thành tro bụi. Hôm sau, người
trong thôn phát hiện am Rồng Phun Mưabị cháy. Lúc chạy đến, họ mới
biết là Quả Thuấn tự thiêu, cúng dường chư Phật. Thân thầy tuy hóa
ra tro, nhưng trái tim vẫn còn nguyên vẹn. Mọi người đều rơi lệ, đem
tro cốt và trái tim Quả Thuấn mai táng nơi đó. Việc họ Dương bị
trúng đạn mà chết rồi bị hồ tinh ăn tinh não, biến hình đến phá Quả
Thuấn và việc Quả Thuấn tự thiêu cúng dường chư Phật có cư sĩ Cao
Đức Phúc làm chứng tín, nên nhật báo Hoa Kiều tại Hồng Kông có đăng
tải toàn bộ tin tức vào ngày hai mươi tháng chín năm 1949.
Tại làng Sương Bách
Kỳ Tứ, huyện Song Thành, có lão cư sĩ Hạ Tôn Dương, đức cao trọng
vọng, rất được dân làng tôn kính. Mùa xuân năm 1945, vào ngày hai
mươi tháng hai, Ngài làm lễ quy y cho bảy mươi hai người tại nhà ông.
Ngài dạy họ phương pháp trì chú Đại Bi, bảo:
- Nếu các vị chuyên
tâm thành ý thì nhất định sẽ được cảm ứng.
Ngài tự thuật: Lúc
trẻ, vì thất bại trong việc khởi xướng cuộc cách mạng, tôi xuất gia
tu hành, rồi đi khắp nơi chữa bịnh cho người. Dầu đã học qua các
sách vở về y thuật, nhưng tôi không dùng những kiến thức đó để trị
bịnh, mà chỉ dựa trên thần chú Thủ Lăng Nghiêm và thần chú Đại Bi.
Tôi cũng dùng pháp bốn mươi hai tay mắt trong chú Đại Bi và ba mươi
hai pháp trong chú Thủ Lăng Nghiêm để hàng phục thiên ma ngoại đạo.
Tôi nhớ lại việc gặp một con quỶ cái ngàn tuổi, nay sẽ kể cho quý vị
nghe. Tuy nhiên, chớ sợ sệt vì nó không còn làm hại người nữa.
Vào ngày mười hai
tháng hai, hai mươi bảy năm về trước (1945), tôi có dịp ghé thăm gia
đình họ Chu ở Mãn Châu. Trong thị trấn đó, có một hội đạo đức. Hội
viên đều gặp nhau mỗi ngày để bàn luận về đạo đức. Vì gặp vài đệ tử
quy y nên tôi nán lại thị trấn đó vài ngày. Lần đó, tôi gặp một ông
thầy bói. Ông ta thường dùng tám chữ (về giờ giấc, ngày tháng năm
sinh) mà bói toán rất linh nghiệm. Sau khi bói toán tuổi tôi, ông
bảo:
- Lẽ ra Ngài phải
làm một vị đại quan, sao lại xuất gia?
Tôi đáp:
- Tôi không có ý
định ra làm quan, mà chỉ biết cách làm tăng sĩ, nên mới xuất gia.
Ông nhìn bàn tay
tôi rồi nói:
- Ô! Đáng thương
thay, ít nhất Ngài phải làm đại quan trong triều.
- Không đâu! Tôi
làm quan nhỏ chắc cũng chưa được nữa!
Ông ta nhìn bàn tay
tôi, lại nói tiếp:
- Năm nay Ngài sẽ
gặp điềm lành mà có thể thay đổi cuộc đời!
- Việc đó là gì?
- Sau mồng mười
tháng kế, cuộc đời của Ngài sẽ hoàn toàn đổi thay.
- Đổi thay như thế
nào?
- Hiện nay, trong
vòng ngàn dặm, ai ai cũng đều tin tưởng Ngài. Song, đến lúc đó,
người người trong mười ngàn dặm sẽ tin tưởng Ngài.
- Tại sao?
- Tới khi đó, Ngài
sẽ biết.
Hai hôm sau, vào
ngày mười bốn tháng hai, tôi đến thôn Sương Bách Kỳ Tứ. Nơi đó, tôi
có đệ tử quy y là Hạ Tôn Dương, tuổi ngoài sáu mươi. Gia đình của
ông ta có hơn ba mươi người. Ông là một trong những địa chủ giàu có
nhất trong vùng, nhưng chưa từng tin tưởng Phật giáo hay tôn giáo
nào cả. Tuy nhiên, vừa gặp mặt, ông ta lại muốn quy y với tôi. Sau
này, ông ta cùng mọi người trong gia đình đều thọ giới quy y. Mỗi
lần đến vùng đó, tôi đều ở lại nhà ông ta, khiến mọi người trong gia
đình rất vui mừng. Lần nọ, tôi trú tại nhà họ khoảng mười ngày. Lúc
đó, có bảy mươi hai người đến quy y với tôi. Vào ngày hai mươi lăm,
tôi quá giang xe của ông ta để đến huyện Song Thành. Vì huyện cách
xa làng hơn hai mươi dặm, chúng tôi rời nhà vào lúc ba giờ sáng. Mặc
dầu lúc đó là mùa xuân, nhưng thời tiết rất lạnh. Tài xế và phụ xế
đều đội mũ len, mặc áo quần và mang giày vớ ấm. Vì nghèo nàn, tôi
chỉ mặc ba lớp áo quần mỏng; chân mang đôi giày La Hán mà không có
vớ; đầu đội nón xếp chưa đến lỗ tai, như hòa thượng Chí Công thuở
xưa. Chúng tôi đi từ ba giờ sáng đến bảy giờ tối thì tới huyện thành.
Tài xế và phụ xế tưởng tôi sẽ bị chết cóng vì mặc không đủ ấm. Họ
thường ngừng xe lại, vận động cơ thể để cho ấm người. Tuy nhiên, tôi
vẫn ngồi trong xe mãi. Khi xe ngừng tại cửa đông huyện thành, tôi
liền bước xuống, khiến họ ngạc nhiên:
- Ô! Chúng tôi nghĩ
rằng chắc Thầy đã bị chết cóng rồi!
Tôi ở tại nhà những
vị hộ pháp khoảng mười ngày, rồi đến ngày mười chín tháng ba, trở
lại nhà của ông Hạ Tôn Dương. Vừa trở lại, ông ta liền thưa với tôi
rằng cô con gái của Hạ Văn Sơn (vốn là đệ tử quy y của tôi) đang bị
bịnh nặng trầm trọng. Cô bé không ăn uống hay nói năng gì cả trong
sáu ngày liền mà sắc mặt lại hung tợn như muốn ăn nuốt kẻ khác. Khi
đó, mẹ của cô ta đến thưa:
- Bạch Thầy! Con
gái của con bị bịnh nặng vài ngày sau khi thọ giới quy y. Nó không
nói chuyện, ăn uống hay ngủ nghỉ mà chỉ nằm trên giường, giương mắt
nhìn lên trần nhà. Con không biết nó bị bịnh gì.
Đương thời, tôi có
một đệ tử là Hàn Võng Cát. Ông ta có thể biết nhân quả đời trước.
Tôi bảo bà mẹ:
- Tôi không thể cứu
chữa cô bé, nên bà có cầu xin giúp đỡ cũng vô ích. Song, đệ tử của
tôi là Hàn Võng Cát, đã mở ngũ nhãn, biết rõ nhân duyên đời quá khứ,
hiện tại, vị lai. Bà hãy hỏi ông đó.
Hàn Võng Cát cũng
đã quy y với tôi vào ngày hai mươi lăm tháng hai năm đó. Ban đầu,
tôi từ chối vì lúc xưa ông ta đã từng cùng làm việc với tôi trong
hội Đạo Đức, và chúng tôi rất thân thiện với nhau. Sau khi tôi xuất
gia, Hàn Võng Cát tu hành khai mở ngũ nhãn, rồi thấy rằng đời đời
tôi đã từng làm thầy ông ta. Vì vậy, ông ta muốn quy y với tôi.
Tôi bảo:
- Chúng ta vốn là
bạn thân thì sao tôi lại nhận ông làm đệ tử?
Ông đáp:
- Dẫu như thế,
nhưng nếu con không quy y với thầy thì đời này chắc sẽ bị đọa lạc.
Nói xong, ông quỳ
mãi dưới đất không chịu đứng dậy, quyết định cầu xin quy y. Tuy
không muốn nhận ông ta làm đệ tử nhưng qua nửa giờ sau, tôi bảo:
- Những ai muốn thọ
giới quy y phải nghe lời chỉ dạy của tôi. Ông có tài biết quá khứ,
hiện tại, vị lai. Có thể vì thế mà ông kiêu căng không chịu nghe lời
tôi chỉ dạy chăng?
Ông đáp:
- Thưa Thầy! Con
chắc chắn sẽ nghe theo lời chỉ dạy. Dầu Thầy có bảo con phải nhảy
vào dầu sôi hoặc đi trên lửa bỏng, con sẽ không từ nan.
- Có thật không?
Nếu tôi có bảo lời gì, ông không thể không nghe theo.
- Dầu Thầy bảo làm
việc gì, con đều tuân theo mà không màng nguy hiểm.
Vì thế, Hàn Võng
Cát là một trong bảy mươi hai người quy y với tôi vào ngày hai mươi
lăm tháng hai. Lúc bàn về bịnh tình của cô bé nọ, tôi bảo Hàn Võng
Cát:
- Ông có thể nhìn
thấy nhân quả tiền kiếp và chuẩn đoán bịnh tình. Bây giờ tôi có
người đệ tử đang bịnh nặng. Vậy ông hãy xem bịnh của cô ta ra sao.
Hàn Võng Cát ngồi
thiền, quán sát bịnh tình. Đột nhiên, mặt ông tái mét, thưa:
- Bạch Thầy! Chúng
ta không thể giúp được vì vượt ngoài khả năng của mình.
- Ông nói như thế
là nghĩa gì?
- Không có cách nào
để hàng phục con quỶ này được.
- Nó là loại quỶ gì?
- Con quỶ gieo bịnh
này rất hung tợn. Nó có thể biến thành hình người để làm rối loạn và
gieo rắc tai họa cho nhân loại.
- Sao nó có tài như
thế?
- Nó vốn là yêu quỶ
trong đời Chu. Vì có hành vi tà vạy, nó bị một vị đạo nhân dùng lôi
sét thần thông đánh. Tuy nhiên, tinh khí của nó không hoàn toàn tan
mất. Sau này, nhờ tu hành trở lại, nó từ từ thu nhiếp tinh khí, trở
thành quỶ cái hung tợn. Nó có thể tự tại bay đi, hiện hình hay biến
mất. Giờ đây, nó hiện thân một bà già và đi khắp nơi để bắt người
làm quyến thuộc. Con không nghĩ rằng mình có đủ khả năng đối đầu với
nó được.
- Nếu chúng ta đối
đầu với nó thì việc gì sẽ xảy ra?
Hàn Võng Cát run sợ
đáp:
- Chúng ta có thể
mất mạng. Con quỶ cái này có khí giới ma thuật, chống lại lôi sét:
Mũ đen được làm bằng màng trứng che thân hài nhi. Khi đội mũ đen này,
sét không thể đánh nó được vì sấm sét gớm vật dơ. (Người Tây Phương
thường nghĩ rằng không ai có thể khống chế sấm sét. Có những loại
sấm sét tầm thường và cũng có những loại rất kỳ đặc, do chư thiên
dùng để đánh yêu ma quỶ quái lộng hành trên thế gian). Ngoài mũ đen
để tránh bị sét đánh, con quỶ cái này lại tạo thêm khí giới ma thuật:
Thứ nhất là hai trái banh, vốn là hai đôi mắt của xác người. Nếu nó
dùng hai trái banh này ném trúng người nào thì người đó sẽ chết ngay
tức khắc. Thứ hai là chiếc mũ đen. Nếu đặt chiếc mũ lên trên đầu ai
thì hồn của người ấy sẽ bị khống chế và trở thành quyến thuộc của nó.
Ngưng chốc lát, ông
nói tiếp:
- Chúng ta không
thể lo việc này được.
- Như thế, cô bé
kia sẽ ra sao?
- Chắc sẽ chết, vì
không có cách nào cứu cô ta được.
- Tôi không thể để
cho cô ta chết. Nếu không phải là đệ tử quy y thì tôi không màng đến.
Tuy nhiên, cô ta đã thọ giới quy y rồi nên tôi không thể nào đành
lòng để cho quỶ cái đoạt mạng cô ta.
- Vậy thì Thầy hãy
lo việc đó đi. Con không muốn nhúng tay vào.
- Ông nói cái gì!
Khi quy y với tôi, ông hứa là sẵn sàng nhảy vào dầu sôi lửa bỏng.
Giờ đây, không cần làm như thế mà ông lại thất hứa? Nếu sợ, ông
không cần làm đệ tử của tôi.
Hàn Võng Cát im
lặng, suy nghĩ chút lát, thưa:
- Nếu Thầy ra lịnh
cho chư thiên hộ pháp bảo hộ con thì...
- Chớ nói lời nhảm.
Nếu muốn đi thì cứ đi, lưỡng lự làm gì!
Ông ta không còn
biết nói lời gì, chỉ việc đi theo tôi. Chúng tôi đến nhà, thấy cô bé
nằm chỏng khu trên giường, trông thật xấu xa. Cặp mắt cô bé mở to
như mắt bò, trợn tròng nhìn chúng tôi rất hung tợn. Tôi hỏi người
trong gia đình:
- Nguyên nhân cô bé
này bị bịnh như thế nào?
Họ kể lại rằng
trong bảy ngày trước, có một bà lão lạ kỳ khoảng năm mươi tuổi, cao
độ ba thước, tay mang đôi găng tay màu tím đen và cầm chiếc mũ đen,
bím tóc thành hai đường xõa xuống nơi màng tang, mặc quần màu vàng
và đôi giày màu vàng, ngồi khóc lóc tại nghĩa trang. Nghe tiếng bà
khóc, phu nhân họ Hạ, người đã quy y với tôi, đến an ủi:
- Thôi bà đừng khóc
nữa.
Tuy nhiên, bà ta
vẫn khóc lóc kể lễ:
- Ôi! Thân của tôi!
Thân của tôi!
Bà ta tìm kiếm thân
của bà. Phu nhân họ Hạ hỏi:
- Bà từ đâu đến?
Bà ta đáp:
- Đừng nói chuyện
với Ta. Ta là quỶ!
Phu nhân họ Hạ run
sợ bỏ chạy. Tuy nhiên, bà ta đi theo phu nhân họ Hạ, rồi đến trước
cổng làng. Dường như có chư thần gác cổng vì bà ta không thể bước
vào làng. Ngôi làng được bao bọc bởi những bức tường bằng gạch. Mỗi
phía đều có cổng ra vào. Tôi nghĩ rằng thần giữ cổng không cho bà ta
vào làng. Khi đó, xe ngựa của ông Hạ Tôn Dương từ ngoài trở về làng.
Xe vừa đến cổng làng thì con ngựa liền run sợ, hí to lên khi thấy bà
ta (loài ngựa cảm nhận được những điều mà con người không thể biết
được). Lúc xe ngựa chạy ngang qua cổng, bà ta đi theo sau, rồi vào
làng. Kế đến, bà ta chạy thẳng tới nhà của ông Vưu Trung Bảo, tiếp
tục tìm kiếm cái thân. Vừa gặp ông Vưu, bà ta lại chạy ra đường. Có
khoảng bốn mươi người tò mò chạy theo, hỏi han:
- Bà họ gì?
Bà đáp:
- Ta không có họ.
- Tên của bà là gì?
- Ta không có tên.
- Bà từ đâu đến và
tới đây để làm gì?
- Ta là quỶ, hiện
đang tìm kiếm thân của mình.
Vì trong đám đông
có rất nhiều người, nên họ không tỏ vẻ sợ sệt khi nghe bà ta tự xưng
là quỶ. Họ gọi bà ta là bà già ngu si, vì những lời nhảm nhí đó. Tuy
nhiên, diện mạo của bà ta thật giống như quỶ. Bà ta tiếp tục đờ đẫn
tiến thẳng tới nhà ông Hạ Văn Sơn. Khi đó, bà liệng chiếc nón đen
qua tường cao tám thước, rồi phi thân nhảy qua. Không ai có thể nhảy
qua được như bà. Đám đông xôn xao bảo:
- Bà già đần độn
biết võ !
Nói xong, họ nhốn
nháo chạy thẳng đến cổng chính để xem bà ta. Con trai của Hạ Văn Sơn
là Hạ Tôn Toàn cũng là đệ tử quy y của tôi, liền chạy vào nhà báo
tin cho người mẹ hay:
- Mẹ ơi! Bà già ngu
đần đã vào nhà mình rồi.
Vợ của Hạ Văn Sơn
nhìn ra ngoài cửa sổ, chẳng thấy động tịnh gì, nhưng khi xoay đầu
lại, thì thấy bà lão đang leo lên giường gạch. Phân nửa thân thì
trên giường, còn phân nửa thì ở dưới đất, vì bà đang tìm cái thân.
Vợ Hạ Văn Sơn la lên:
- Bà tìm ai, và
muốn gì?
Tuy nhiên, bà lão
vẫn không thèm trả lời. Thấy vậy, vợ Hạ Văn Sơn bảo đứa con gái:
- Bà lão này thật
là ma quái. Hãy mau niệm thần chú Đại Bi.
Những ai đã quy y,
tôi thường dạy họ tụng thần chú Đại Bi. Tôi nói:
- Mỗi người trong
quý vị phải học thuộc chú Đại Bi, vì trong tương lai sẽ cần đến. Nếu
gặp việc hiểm nguy cấp bách hay tai nạn mà tụng thần chú này thì Bồ
Tát Quán Âm sẽ gia trì cho quý vị.
Từ đó, rất nhiều
người đọc tụng thần chú Đại Bi này. Vì đã quy y và nhớ lời dặn dò
của tôi, nên vợ của Hạ Văn Sơn và đứa con gái của bà liền tụng chú
Đại Bi. Họ vừa tụng đến câu đầu nam mô hát ra đát đa dá da dạ da, bà
già kia liền bò xuống đất nằm sóng soài như thây chết. Thấy vậy, cả
gia đình đều bực tức vì nếu có ai chết trong nhà, thật là một điềm
xấu. Thế nên, họ bèn báo tin cho cảnh sát. Một vị cảnh sát đến nhà
dùng tay khiêng bà ta mang ra ngoài sân. Thứ đến, ông dẫn bà ta về
tòa án của làng để hỏi cung:
- Bà từ đâu đến và
sao đến đây?
Bà đáp:
- Chớ hỏi! Tôi chỉ
là thây chết mà không có nhà hay tên tuổi và chỉ trú nơi đang ở.
Lo lắng vì tánh khí
quái lạ này, ông cảnh sát liền dẫn bà ta ra khỏi đồn canh ngoài làng
khoảng năm mươi bước. Tuy nhiên, vừa trở vào cổng làng, ông lại thấy
bà ta đứng ngay đằng sau lưng. Lần thứ hai, ông dẫn bà ta ra khỏi
làng khoảng bảy mươi bước. Lúc xoay đầu lại, ông ta vẫn thấy bà ta
đi theo sau. Lần cuối, ông cùng bốn vị cảnh sát khác kéo bà ta ra
khỏi làng gần hai trăm bước, rồi bảo:
- Hãy đi khỏi chỗ
này, nếu không sẽ bị bắn.
Nói xong, họ bắn
chỉ thiên mấy phát đạn. Bà ta nghe tiếng súng bèn run sợ vì tưởng là
tiếng sấm lúc trước đã đánh tan thân mình. Lần này, bà ta không còn
dám vào làng nữa. Dầu bà ta đã đi mất, nhưng đứa con gái của Hạ Văn
Sơn, tuổi khoảng mười bảy, lại nhuốm bịnh nặng và thường úp đầu trên
gối, nằm chõng khu trên giường, mắt trợn trừng trừng mà không nói
năng ăn uống hay ngủ nghỉ suốt cả bảy ngày. Trước khi đến nhà của Hạ
Văn Sơn, tôi bảo Hàn Võng Cát:
- Ông bảo rằng
chúng ta không thể lo nổi việc này vì có thể tổn tánh mạng. Tuy thế,
có hai lý do mà tôi phải ra tay. Thứ nhất, do cô ta đã quy y Tam Bảo
mà nay bị quỶ nhập, nên tôi phải cứu độ, chứ nào nhẫn tâm nhìn xem
đệ tử mình chết. Thứ hai, tôi phải cứu con quỶ này. Ông bảo là không
ai có thể khống chế được nó. Nó đã tạo lắm tội ác và giết hại rất
nhiều người. Do đó, phải có người khống chế và trừng phạt nó, nhưng
không nên diệt trừ vì nó đã từng tinh tấn tu hành trong bao năm. Dầu
có bị thần thông của nó hãm hại, tôi vẫn phải cứu và dạy nó trở
thành người lương thiện. Chí nguyện của tôi là phải cứu hộ tất cả
chúng sanh. Nếu hôm nay không bị khống chế, thì tương lai nó sẽ hại
rất nhiều người. Vì những lý do này, tôi phải ra tay cứu giúp.
Ngay lúc đó, ông
cảnh sát chợt đi ngang qua. Nghe chúng tôi nói rằng bà lão là QuỶ,
ông ta liền bảo:
- Ồ! Thảo nào tôi
có thể dùng một tay nâng bà ta lên như cầm tấm giấy. Lúc đó, tôi
không để ý đến mà nay mới biết ra bà ta là quỶ ma.
Khi ấy, chúng tôi
phải đi tìm con quỶ cái này. Làm thế nào tìm được? Tôi dùng các pháp
trong thần chú Thủ Lăng Nghiêm để bắt nó. Thứ nhất, pháp tiêu tai
hoạn nạn, tức là khi gặp hoạn nạn phải dùng pháp này để xoay chuyển.
Thứ hai, pháp Kiết Tường, tức là chuyển điềm xấu trở thành điềm lành.
Thứ ba, pháp Câu Triệu, tức là pháp có thể bắt quỶ ma bất cứ chỗ nào.
Thứ tư, pháp Hàng Phục, tức là hàng phục được bất cứ loài ma nào
đang đến. Tôi dùng những pháp này để bắt con quỶ cái Như Ý này.
Vừa bước vào nhà
của Hạ Văn Sơn con quỶ cái định dùng chiếc nón đen, tức khí giới ma
thuật, để trùm lên đầu tôi, nhưng không được. Kế đến, nó ném hai
trái banh, nhưng không trúng người tôi. Vì cả hai ma thuật đều thất
bại, nên nó xoay đầu bỏ chạy. Tuy nhiên, tôi đã đặt bẩy vô hình dầu
nó có chạy đến đâu. Trời, rồng, thiên long bát bộ đều nhìn nó khắp
mọi nơi phải trái, trước sau, trên dưới. Nhận thấy không thể chạy
thoát, nó quỳ xuống khóc lóc:
- Tôi không bao giờ
nghĩ rằng mình sẽ bị người khác khống chế. Xin hãy tha thứ cho tôi.
Tôi đáp:
- Ta sẵn sàng để
cho ngươi đi, nhưng với điều kiện là phải cải tà quy chánh, cùng quy
y Tam Bảo.
Nó gật đầu đồng ý.
Khi đó, tôi thuyết pháp mười hai nhân duyên, Tứ Diệu Đế, lục độ Ba
La Mật. Nó liền hiểu rõ và phát tâm Bồ Đề cùng cầu khẩn quy y Tam
Bảo. Tôi chấp nhận và đặt cho nó pháp danh Thiên Nữ Kim Cang Như Ý.
Sau khi đã quy y
Tam Bảo, tôi bảo nó trú tại một căn chòi, gần nhà của Hạ Văn Sơn. Nó
lại thường theo tôi cứu người. Vì thân nó vốn là quỶ ma, nên đi đâu
cũng thoát ra mùi hôi thúi. Đối với tôi thì chẳng nhằm gì, nhưng đối
với những người khác, khi họ ngửi đến khiến phải buồn nôn. Nhận thấy
nó đi theo cũng chẳng ích lợi gì, nên tôi đưa nó về trú tại núi Lỗi
Pháp, huyện Giao Hà, tỉnh Kiết Lâm, tu hành trong động Vạn Thánh
Linh Lung. Nó là con quỶ chúa lớn nhất mà tôi đã từng gặp qua tại
vùng Mãn Châu. Tôi cũng từng đến và gởi rất nhiều đệ tử kỳ quái tới
hang động đó tu hành. Nhờ tu hành tinh tấn nên chẳng bao lâu nó đạt
được thần thông và có thể cứu người. Khi cứu giúp họ, nó không thích
được người khác biết đến. Hành việc lành mà cho người khác biết thì
đó không phải là chân thật lành. Làm việc ác mà không muốn cho người
khác biết thì đó thật là ác.
Tại sao hang này
được gọi là Vạn Thánh Linh Lung? Vì hang này có ba cánh cửa thông
đồng với nhau. Đứng tại một cánh cửa thì thấy được hai cánh cửa kia.
Hang động này giống như cái ly úp, tức là bên ngoài có thể nhìn vào
bên trong, và bên trong có thể nhìn ra bên ngoài. Trong động có một
ngôi chùa, được xây bằng gạch và gỗ, do lừa ngựa chuyên chở từ dưới
chân núi lên. Mỗi con lừa chỉ mang được hai miếng gạch hoặc một tấm
ván. Bên ngoài cửa hướng tây có một hang động, được gọi là Lão Quân.
Bên ngoài cửa phía đông là hang Tích Thủy. Hang này có thể cung cấp
nước cho quân binh cả mười ngàn người ngựa. Đằng sau là hang KỶ Tổ.
Danh này được đặt sau tên của ông KỶ Hiểu Thường, người Mãn Châu, đã
từng hàng phục năm con quỶ, mà trong đó có quỶ Cá Đen, vốn là quan
Hắc Đại Nhân thuộc triều nhà Minh. Câu chuyện như sau: Ông quan Hắc
Đại Nhân chẳng phải là người. Biết rõ việc này, vào ngày nọ, KỶ Hiểu
Thường đứng đợi quan Hắc Đại Nhân tại một ven núi để bắt hắn. Khi
quan Hắc Đại Nhân vừa đi ngang qua, KỶ Hiểu Thường bèn vung sét đánh
chết.
Không ai biết đúng
con số của các hang động trong ngọn núi Lỗi Pháp. Mỗi lần đếm thì
mỗi lần lại khác đi. Hôm nay có thể đếm là bảy mươi hai hang động.
Ngày mai có thể đếm là bảy mươi ba, v.v...
Lại nữa, xưa kia
một người nọ tình cờ đi ngang qua đó, thấy hai ông già tóc bạc phơ
đang đánh cờ. Khi người kia ho đằng hắng, thì hai ông già kia hỏi
nhau:
- Làm sao hắn ta
lên đây được?
Nói xong, cửa đá
liền tự động đóng lại. Người này quỳ nơi đó, cầu đạo mãi cho đến
chết. Ngôi mộ của ông ta vẫn còn cạnh ngay hang Cửa Đá. Ông ta thật
là người thành tâm cầu đạo.
Có rất nhiều tiên
nhân quỶ thần cư trú trên ngọn núi đó, điển hình là Lý Minh Phước.
Ông ta chạy nhanh như khỉ. Lần nọ, đến thăm hang động vào khoảng bốn
giờ sáng, tôi thấy ông ta đang lễ Phật. Tóc ông ta dầy cồm cộm, chắc
nặng khoảng năm sáu cân vì không bao giờ tắm gội. Tuy thân hình nhỏ
nhắn, nhưng trông ông rất khỏe mạnh. Một mình ông ta có thể mang một
thanh sắt làm đường rầy xe lửa mà khoảng tám người thường mới khiêng
nổi. Tuổi tác của ông ta bao nhiêu và từ đâu đến mà không ai biết
được. Ông ta là một nhân vật lạ lùng mà tôi đã từng gặp qua.
Hôm nay, vì cảm
hứng nên tôi mới kể những câu chuyện này cho quý vị nghe. Đây là
những câu chuyện thật, không phải do tôi bịa đặt. Hầu hết quý vị
chắc không tin. Tuy nhiên, dầu quý vị có tin hay không, tôi vẫn
thích kể vì đó là sự thật.
*Trong làng Tam
Tánh huyện Song Thành, có Dương Thiếu Anh con thứ ba của Dương Dục
Côn, tướng quốc Mãn Châu, đang đóng binh tại tỉnh Tam Giang (nay là
tỉnh Hợp Giang). Năm 1942, Dương Thiếu Anh mời mẹ và em gái đồng trú
tại doanh trại. Cô em, tên là Thục Lan, chưa lập gia thất. Chẳng bao
lâu, Dương Thiếu Anh gả cô ta cho bạn đồng nghiệp là Bạch Giáo Quản.
Trong ngày hôn lễ, Dương Thục Lan đột nhiên bị tê liệt và hôn mê bất
tỉnh khiến người nhà đành bó tay thúc thủ. Ngày nọ, Dương Thục Lan
chợt tỉnh dậy, nói:
- Mẹ ơi! Ngài Quán
Âm mặc áo trắng đang đến. Mẹ hãy mau đốt hương.
Nói xong, cô ta
liền đứng dậy lễ lạy. Bà mẹ thấy cô ta dường như đang nói chuyện với
ai, rồi chốc lát sau, ra dạng như tiễn đưa khách. Sau đó, Dương Thục
Lan xoay đầu lại nói:
- Bồ Tát Quán Âm
vừa bảo con rằng nếu không kết hôn mà xuất gia tu hành thì bịnh tình
sẽ thuyên giảm. Ngài đồng ý là sau khi cha mẹ qua đời, con sẽ xuất
gia tu đạo.
Cô còn nói thêm là
ngày hôm sau sẽ có một Pháp Sư đến trị bịnh cho mình. Ngày kế, Dương
Thục Lan nghe tiếng khánh gõ trên bàn Phật ba lần, lại mơ thấy một
vị Pháp Sư bước vào nhà, thân mặc y ca sa rách rưới, đi chân không,
tay cầm cây phất trần quất lên mình cô ta. Cứ như thế, cô mơ thấy
Ngài liên tục cả chín ngày, và mỗi ngày ba lần. Lần cuối, Pháp Sư
hỏi:
- Cô có thật tâm
thành ý, muốn xuất gia không?
Cô đáp:
- Sau khi hết bịnh,
con sẽ quyết định xuất gia tu hành.
Pháp Sư lại cho cô
thêm một viên thuốc để uống. Uống xong, bịnh cô ta dần dà bình phục.
Đang lúc cô bịnh, bà mẹ liền đánh điện tín về nhà, báo cho cha cô
hay. Cha cô vội đến thăm, nhưng lúc ấy bịnh cô đã thuyên giảm rất
nhiều. Mẹ cô thuật lại bịnh tình con mình cho ông chồng. Nghe qua,
cha cô bảo:
- Vì do khí trong
người bốc lên, chứ làm gì có chuyện người phàm mà thấy được Bồ Tát
Quán Âm.
Nói xong, ông trách
bà vợ sao mê tín quá đáng. Dương Thục Lan nghe cha nói thế, đâm ra
nghi ngờ giấc mộng xưa, tín tâm quyết định xuất gia cũng lung lay.
Sau này, cô ta theo cha mẹ trở về làng Tam Tánh. Đêm nọ, cô mơ thấy
Bồ Tát Di Lặc bảo:
- Thọ mạng của cha
con chỉ còn trong bảy ngày.
Hôm sau, tỉnh dậy,
cô thuật lại giấc mộng vừa rồi cho cha nghe. Tưởng ông sẽ tin, nhưng
nào ngờ, ông còn đánh mắng cô nữa. Vì thế, tâm cô bồn chồn lo lắng
bất an. Cô cố gắng ngăn cha mình đừng ra khỏi nhà, nhưng ông nhất
định cố chấp không tin. Đến ngày thứ bảy, vừa mua vé xe lửa tại trạm
Song Thành xong, ông quay về nhà nhưng bất chợt té lăn hôn mê bất
tỉnh trên đường lộ. Cảnh sát trưởng trạm xe lửa liền sai người
khiêng ông về nhà, rồi chốc sau ông từ trần. Dương Thế Siêu là anh
thứ ba cũng không tin bất cứ gì của em gái mình nói, lại ngăn cản
Dương Thục Lan xuất gia, thậm chí còn khinh chê hủy báng Tam Bảo.
Đêm nọ, ông mộng thấy Bồ Tát Di lặc bảo:
- Trong vòng một
tháng, con sẽ chết.
Giật mình tỉnh dậy,
mới biết đó là điềm mộng xấu, nhưng tâm ông vẫn không chút ăn năn
hối cải. Đúng một tháng sau, quả nhiên ông tạ thế vào ngày mười ba
tháng năm, năm 1945. Ngày hai mươi tháng chạp năm 1945, Ngài đến nhà
Dương Thục Lan. Khi Ngài vừa bước vào thì cô liền kéo tay mẹ và nói:
- Lúc ở Tam Giang,
Pháp Sư trị bịnh cho con trong giấc mộng chính là vị này đây. Hôm
nay, Ngài lại đến nhà mình.
Nói xong, cô liền
chạy đến đảnh lễ Ngài. Ngài bảo:
- Con vẫn còn nhận
ra Thầy à?
Cô đáp:
- Bạch Thầy! Vâng
ạ.
- Con vẫn còn muốn
xuất gia không?
- Bạch Thầy! Xưa
kia, vì trong lúc bịnh hoạn, tâm tư ngu muội lại không thấy chứng cứ
nên đâm ra nghi ngờ. Nay biết được rằng tất cả mọi việc đều đúng
chân thật, nên đương nhiên là con sẽ xuất gia.
Từ đó, cô ăn chay
niệm Phật, chân thành khẩn thiết tu hành. Cô quy y Tam Bảo trước,
rồi khuyến hóa quyến thuộc trong nhà đồng quy y Ngài.
*Phan Tể Thời là
một trong những phú hộ trong huyện Song Thành. Cả hai vợ chồng đã
ngoài bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có một mụn con, nên rất buồn rầu. Vì
ngưỡng mộ đức hạnh của Ngài, nên họ tìm đến quy y và chuyên cần học
Phật pháp. Họ thường cầu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm, mong Đại Sĩ gia
hộ cho có con nối dõi. Họ cũng thành tâm khẩn thiết cầu Ngài gia trì
trợ giúp. Ngài bảo:
- Phải hành muôn
việc lành. Ông có thể bố thí nửa gia tài cho người nghèo không? Nếu
làm được như thế, tích tụ công đức đầy đủ, thì tôi tin chắc rằng
nhất định ông sẽ mãn nguyện.
Nghe Ngài nói như
thế, ông liền y theo đem tiền của ra sửa chữa chùa chiền, cúng dường
Tam Bảo, bố thí cho các hội đoàn từ thiện, giúp người nghèo khổ
không nơi nương tựa. Một năm sau, vợ ông quả nhiên sanh được một bé
trai tên là Thí Đức, thiên tánh thông minh, trí huệ lanh lợi. Vì vậy,
ông Phan Tể Thời lại càng tin tưởng Phật pháp; ngày ngày tụng kinh
niệm Phật, chuyên cần tu hành các pháp lành.
Sau này, Ngài trở
về chùa Tam Duyên để tu hành.
Ngài thuật: Khi trở
về chùa, đại sư Thường Nhân thấy tôi bảo:
- A! Con đã đến!
Tôi thưa:
- Dạ vâng! Con đã
đến!
Làm lễ chính thức
xuất gia cho tôi xong, đại sư Thường Nhân nhóm họp tăng chúng để
chọn lựa vị thủ tọa. Quyền hạn của vị thủ tọa chỉ sau vị trụ trì.
Khi ngài trụ trì thối vị, thủ tọa sẽ lên thay thế. Giữa vài mươi vị
tăng, đại sư Thường Nhân muốn chọn tôi làm thủ tọa, nhưng mọi người
đều chống đối:
- Thầy đó mới vừa
xuất gia, cớ sao lại làm thủ tọa?
Đại sư Thường Nhân
bảo:
- Được rồi! Hãy đến
trước tượng Bồ Tát Vi Đà mà lấy thẻ bốc thăm.
Lạ lùng thay! Ba
lần lấy thẻ, họ đều bốc trúng tên tôi, nên không còn ai hở miệng vì
tôi đã được Bồ Tát Vi Đà chọn lựa dẫu vẫn là sa di. Sau này, biết
đại sư Thường Nhân muốn mình làm tăng quản gia, tôi bèn thưa:
- Vâng con xin nhận
chức, nhưng với điều kiện là không muốn dính líu đến tiền bạc.
Đây là cách tôi trì
giới không giữ tiền bạc. Lắm khi, có những việc lạ lùng xảy đến nhờ
trì giới không giữ tiền. Bất cứ lúc nào đến trạm xe lửa gần chùa,
tôi cũng không mang theo tiền bạc vì không thể giữ tiền. Tôi thường
ngồi đó, đợi người quen đến mua vé giùm. Nếu không có ai đến, tôi
chỉ việc ngồi đợi chờ. Kỳ lạ thay! Mỗi khi ra nhà ga xe lửa, liền có
người tới hỏi thăm rằng muốn đi đâu, rồi họ lại mua vé cho tôi.
Thể theo lời dạy
của lão hòa thượng Thường Nhân, Ngài trở về chùa Tam Duyên, giúp đỡ
tăng chúng xây cất tự viện. Tất cả vật liệu như cây cối, ngói gạch
đều phải được chuyên chở bằng xe. Tuy nhiên, lúc đó nhằm vào mùa gặt
lúa, nên chùa không thể mướn xe được. Ngài biết rõ, nên đến nhà ông
Lưu Trung Cần, trưởng gia trung thương tại Tây Đại Bá, mượn xe. Họ
Lưu trả lời:
- Bạch Thầy! Làm
việc thiện, con không quản ngại, nhưng ngặt vì lúc này trùng vào mùa
gặt lúa nên không cách chi giúp được.
Khi ấy, vợ thứ của
Lưu Trung Cần từ trong phòng bước ra, thấy Ngài liền cầu xin cứu
giúp đứa con trai đang bị bịnh nặng trầm trọng. Ngài nhìn bà một hồi
rồi hỏi:
- Bà có biết là đứa
con này chắc phải chết không?
Bà đáp:
- Dạ con biết.
- Vì bà không hiếu
thảo với cha mẹ chồng. Nếu tin lời tôi, đến trước cha mẹ chồng cầu
xin sám hối thì con bà mới mong toàn mạng được.
Vì muốn cứu con nên
bà làm theo lời Ngài dạy, nhưng bịnh tình đứa bé vẫn không thuyên
giảm. Ngài bảo rằng hãy đem con bà đến. Khi đứa bé được mang đến,
Ngài lấy tay vỗ trên đầu em ba lần. Bịnh tình của em bé tự nhiên
giảm bớt. Lưu Trung Cần mục kích rõ sự tình nên rất cảm phục Ngài.
Ông chủ động kêu gọi hội tập tất cả xe cộ lớn nhỏ trong toàn khu,
liên tục chuyên chở vật liệu xây cất cho chùa trong vài ngày. Câu
chuyện Ngài cứu sống con của Lưu Trung Cần dần dần lan xa.
*Lý Thanh Sơn ở
thôn Dương Gia Điếm có người em bị bịnh nặng, nên chạy đến cầu Ngài
cứu giúp. Đáp lời cầu khẩn, Ngài đến nhà ông; nhưng vừa bước đến cửa
Ngài linh cảm điềm chi lạ kỳ, nên nói với Lý Thanh Sơn:
- Âm khí trong nhà
ông quá nặng. Tôi không đủ năng lực để giải cứu. Vài ngày tới đây,
sợ rằng trong nhà sẽ có những chuyện không may.
Quả nhiên, bảy ngày
sau, Lý Thanh Sơn cùng em mình bị uất khí mà chết. Chẳng bao lâu,
cháu gái của Lý Thanh Sơn cũng chết vì bịnh.
*Trong thôn Dương
Gia, em Vương Thân mười hai tuổi bị bịnh lao phổi ho ra máu. Vì thế,
cha mẹ em đến cầu Ngài cứu giúp. Sau khi quán sát nhân duyên, Ngài
bảo:
- Nếu ông bà cho
phép em xuất gia thì bịnh tình sẽ thuyên giảm. Ngoài ra, không còn
cách nào khác.
Cha mẹ em liền đồng
ý. Chẳng bao lâu, em bớt bịnh hẳn. Thấy con mình hết bịnh, hai vợ
chồng hối hận, không cho đi tu. Ngài viết thư ba lần, khuyên họ phải
giữ lời hứa. Lá thư cuối cùng, Ngài cảnh tỉnh họ:
- Nếu ông bà không
cho con mình xuất gia quy y Phật thì sợ rằng bịnh tình của nó sẽ bộc
phát trở lại. Khi ấy, khó mà trị liệu.
Cha mẹ em không
màng đến. Qua một năm sau, bịnh của Vương Thân lại bộc phát. Cha mẹ
lo lắng chạy chữa biết bao bác sĩ, thuốc men, nhưng đều vô hiệu. Vài
mươi ngày sau, Vương Thân lìa đời. Cha mẹ em mới hối hận vì trước
kia không nghe lời, tin tưởng Ngài, nên nay con mình mới mất.
Sau khi Nhật Bổn
đầu hàng, giao thông ở vùng đông bắc và nội địa Đại Lục được thuận
tiện. Vì đã từng ngưỡng mộ đức hạnh của đại lão hòa thượng Hư Vân,
vị đại thiện tri thức tại chùa Nam Hoa ở Quảng Đông, vào mùa thu năm
1946 từ chùa Tam Duyên tại Hợp Nhĩ Tân, Ngài bắt đầu đi tham bái,
chẳng quản đường xa vạn dặm. Khi đến chùa Bát Nhã tại Trường Xuân,
hai người đệ tử là Quả Năng và Quả Thuấn ở lại nơi đó thọ giới cụ
túc, còn Ngài với một bộ ca sa không một đồng xu dính túi, một mình
thẳng bước vào Nam. Lúc đến Thiên Tân, Ngài tạm trú tại viện Đại Bi.
Nơi đây, đại lão hòa thượng Đàm Hư, đức cao vọng trọng, đang giảng
kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đại lão hòa thượng Định Tây (Như Quang) cũng
từ viện Đại Bi mà trở lại vùng đông bắc. Chẳng bao lâu, Ngài cùng
với lão pháp sư Thể Kính và mười hai vị tăng khác, đi thuyền đến
Thượng Hải. Khi đến Hoàng Hải, đột nhiên sóng gió nổi lên ầm ầm,
khiến thuyền bị chao ngửa, tiến thối lưỡng nan. Hầu hết mọi người
trên thuyền đều bị nôn mửa. Thức ăn nước uống trên thuyền đều cạn.
Ai ai cũng nghĩ rằng phần số đã đến, khó tránh khỏi kiếp họa. Sau
này, Ngài có làm bài kệ để ghi nhớ sự kiện đó:
- Kết bạn Nam hành mười bốn tăng
- Trưởng lão tóc dài Sa Di trẻ
- Biển trời xanh giáp ngàn muôn
lý
- Sóng đen nổi dậy lắm muôn
trùng
- Pháp hàng yêu tà thuyền chưa
mất
- Thánh trợ luân phong ói mửa
tan
- Vui đến Hổ Hải trừ đói khát
- Võ Xương Chánh Giác bảo loa
vang.
Kết bạn Nam hành
mười bốn tăng: Trên thuyền đi từ Thiên Tân đến Thượng Hải, có mười
bốn vị tăng.
Trưởng lão tóc dài
Sa Di trẻ: Trưởng lão tóc dài tức là lão pháp sư Thể Kính, vì Ngài
tuổi cao lạp lớn.
Biển trời xanh giáp
ngàn muôn lý: Khi đó, biển trời đồng một màu xanh biếc, nhìn xa
không bờ mé, chỉ có con thuyền đơn độc lướt trên sóng gió.
Sóng đen nổi dậy
lắm muôn trùng: Đột nhiên, sóng nước biến thành màu đen, cuồn cuộn
nổi dậy, cao năm sáu thước. Theo bình thường thì từ Thiên Tân đến
Thượng Hải, đi thuyền mất khoảng một tuần. Tuy nhiên, lúc đó thuyền
Ngài đi mất cả hai tuần mới đến Thượng Hải.
Pháp hàng yêu tà,
thuyền chưa mất: Lúc trước, vì cứu đệ tử Quả Tá, nên loài yêu quái ở
biển cả rất oán ghét Ngài. Xưa kia tại làng Đông Tỉnh, yêu quái ở
biển muốn nhận chìm Ngài và cả dân làng nhưng không được. Có ai ngờ
rằng chúng trở lại báo thù! Ngài ói mửa liên tục, nhưng vẫn âm thầm
cầu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm cứu giúp:
- Bạch Bồ Tát! Nếu
con có làm gì lợi ích cho chúng sanh trên thế gian thì xin Ngài hãy
cứu mạng. Nếu sống mà không ích lợi cho ai hết thì con cam chịu tất
cả nghiệp chướng.
Kỳ lạ thay, vừa
nguyện xong thì sóng lặng thuyền an.
Thánh trợ luân
phong, ói mửa tan: Bồ Tát Quán Âm thật đại từ đại bi, cứu trợ Ngài
và mọi người trên thuyền thoát hiểm.
Vui đến Hổ Hải, trừ
đói khát: Khi thuyền đến bến thì lão pháp sư Thể Kính bảo tăng chúng
lên bờ mua mì ăn. Ăn no xong, còn dư chút ít họ định đổ xuống sông.
Pháp sư Phạn Đầu liền hỏi Ngài có muốn ăn không? Tuy không ăn quá
ngọ nhưng Ngài suy nghĩ: Đã mấy ngày trời đói khát không có thức ăn.
Hôm nay họ muốn đổ thức ăn thừa xuống sông, chắc sẽ gieo thêm nghiệp}.
Suy nghĩ như thế, Ngài ăn hết hai tô mì dư. Thầy kia thấy thế liền
báo với lão pháp sư Thể Kính:
- Ông ấy nói là
không ăn quá ngọ, nhưng khi thấy không có người, liền ăn vụng.
Lão pháp sư Thể
Kính liền mắng chửi, nhưng Ngài nhẫn chịu không lời biện hộ.
Võ Xương Chánh Giác
bảo loa vang: Từ Thượng Hải, Ngài đến thành phố Võ Xương tỉnh Hồ Bắc,
trú tại chùa Chánh Giác. Ngày đêm mặc một bộ y ca sa trăm mảnh vá.
Ngài ngồi dụng công tu hành ngày đêm trên giường thiền, bên cạnh cửa
chánh điện. Lúc ấy, Ngài giữ trách nhiệm hương đăng. Trong chánh
điện thường có mùi hương lạ. Tất cả việc trong chùa Ngài đều làm cả,
như gánh nước, nấu cơm, rửa cầu tiêu, v.v...
Năm 1947, Ngài qua
núi Phổ Đà, đạo tràng Bồ Tát Quán Thế Âm, thọ giới cụ túc, rồi đến
chùa Linh Nham Sơn ở Tô Châu nghiên cứu, đọc tụng kinh đIển. Mùa thu,
Ngài đến núi Không Thanh, tham gia mười tuần thiền thất. Ngài lễ bái
hai vị đại lão hòa thượng Minh Quán và Liễu Thừa. Đại lão hòa thượng
Minh Quán là vị trụ trì núi Không Thanh. Trong thiền đường, duy nhất
chỉ có Ngài và đại lão hòa thượng Minh Quán là ngồi thiền suốt bảy
mươi ngày.
Ngài tự thuật: Lại
nghe nơi chùa Nam Hoa, tổ đình Tào Khê, có bậc đại thiện tri thức
trong thiền tông, tức là đại lão hòa thượng Hư Vân đang làm hóa chủ,
nên khởi tâm muốn đến tham bái. Vì nhân duyên trở ngại, núi sông
cách ngăn, nên chưa thực hiện được ý nguyện.
Năm 1945, sau khi
quân Nhật đầu hàng, giao thông được thuận tiện. Trung tuần tháng tám
mùa thu năm 1946, cùng với hai đệ tử Quả Năng và Quả Thuấn, tôi khăn
gói lên đường tìm đến chùa Nam Hoa hầu mong thân cận hòa thượng Hư
Vân (sau này, kể từ lúc Quả Năng đi tham phương hành cước, tôi không
biết đến tin tức nữa. Về sau, Quả Thuấn đốt thân cúng dường chư Phật).
Ngày đi đêm nghỉ, hành trình muôn phần gian nan vất vã. Lắm lúc phải
đi trong những đêm trăng sáng. Chúng tôi đến chùa Bát Nhã tại Trường
Xuân (thời Mãn Châu, được gọi là Tân Kinh). Hai người đệ tử của tôi
ở lại, đợi thọ giới cụ túc trong năm kế. Không mang theo vật dụng y
phục dư thừa, tôi một mình đi vào nội địa. Khi đến Thiên Tân, tôi
trú tại Viện Đại Bi, nghe lão pháp sư Đàm Hư giảng kinh Lăng Nghiêm.
Sau đó, tôi cùng pháp sư Thể Kính và các thầy như Thánh Chiếu, Thánh
Diệu, Chiếu Định, Nguyễn Dương, Nhuận Huệ, Bổn Trí, Giác Trí, Dung
Linh, Linh Quán, Tinh Giới v.v... đi thuyền đến chùa Chánh Giác tại
Hồ Bắc. Nhân dịp này tôi viết kệ:
- Đồng đi thuyền cùng bốn mươi
tăng
- Mỗi mỗi tôn quý, tôi nghèo nàn
- Áo rách nhất thực, không vật
thừa
- Tùy người hủy báng, cùng mắng
chửi.
Tại chùa đó, tôi
nhận những công tác khổ nhọc như quét dọn, nấu nước, làm vườn, giữ
cửa, hương đăng v.v... Tuy mệt nhọc nhưng công phu thiền định có
phần tương ưng. Năm 1947, vừa thọ giới cụ túc tại núi Phổ Đà xong,
tôi đến chùa Linh Nghiêm Sơn tại Tô Châu để nghiên cứu học kinh giáo.
Mùa thu, tôi đến núi Không Sơn, lễ bái hòa thượng Minh Quán và Liễu
Thừa, cùng tham gia thiền thất qua đông.
Ngài từ Thượng Hải
đến Hán Khẩu, rồi qua Quảng Châu. Đối với tất cả người xuất gia,
những người lái đò đều không lấy tiền, vì họ nghĩ rằng trên đò nếu
có người tu hành thì mọi việc sẽ tốt lành, bình an vô sự.
Khi đò đến Hán Khẩu
thì trời hừng sáng. Trên thuyền, thấy có một người chân đi khập
khểnh, Ngài bèn hỏi:
- Cớ sao ông đi
đứng khó khăn vậy?
Đáp:
- Tôi bị người vu
cáo rằng bán than lậu, nên bị đánh và nhận chìm xuống nước, đến nỗi
phải bị tật nguyền. Các khớp xương rất đau nhức vào mỗi khi trời trở
gió. Nếu không có nạng thì không thể đi.
- Ông muốn bình
phục không?
- Đương nhiên là
muốn.
- Ông hãy bỏ cây
nạng xuống.
- Nếu không có nạng
thì làm sao đi đứng?
- Tôi sẽ trợ giúp
cho, chứ không gạt ông đâu.
Ông ta nghe theo.
Ngài vừa lấy tay thoa chân, vừa tụng chú Đại Bi khoảng mười lăm phút
rồi bảo:
- Ông hãy đứng dậy.
Ông ta đứng dậy
thật. Ngài bảo tiếp:
- Chạy thử xem.
Ông ta liền chạy
vòng quanh Ngài. Trên đò có khoảng bốn năm mươi người. Họ lập tức
vây quanh cầu Ngài chữa bịnh. Người thì nói đau tay, nhức xương, v.v...
Ngài bảo:
- Quý vị có sợ ăn
gậy không?
Nói xong, bên trái
Ngài đánh, bên phải duỗi chân. Mọi người đều bảo rằng khi được Ngài
đánh, bịnh liền hết. Họ cảm kích vô cùng và cúng dường Ngài khoảng
một trăm ngàn đồng.
Ngài tự thuật:
Tháng giêng năm 1948, tôi đến Thượng Hải, rồi lại đi thuyền tới chùa
Bảo Thông tại Hồ Bắc. Trên thuyền, gặp một người tàn tật, tôi tụng
chú Đại Bi gia trì, khiến ông ta đi được. Những người đi cùng thuyền
đều khởi tâm cung kính. Trước khi rời thuyền, họ cúng dường cho tôi
khoảng bảy mươi ngàn đồng. Vì thế, tôi có thể mua vé xe lửa đi Khúc
Giang. Tại trạm xe lửa, tôi gặp thầy Chu Dịch, người Hồ Bắc. Biết
thầy cũng muốn đến chùa Nam Hoa để thân cận hòa thượng Hư Vân, tôi
hỏi:
- Thầy có tiền mua
vé xe lửa không?
Thầy đáp:
- Không.
Do đó, tôi mua cho
thầy một vé xe lửa, rồi đồng đến Mã Bá. Khi tới trạm xe lửa, thầy
Chu Dịch lại bảo:
- Tôi đói bụng.
Mua xong vé xe lửa,
còn dư lại khoảng bảy mươi ngàn đồng, tôi đưa hết cho thầy Chu Dịch.
Một lần nữa, tôi không còn đồng xu dính túi.
Năm 1948, Ngài đến
chùa Nam Hoa tự Bảo Lâm ở Tào Khê tỉnh Quảng Đông, lễ bái chân thân
của Đại Giám thiền sư, tức Lục Tổ Huệ Năng, cùng đại lão hòa thượng
Hư Vân. Khi ấy đại lão hòa thượng Hư Vân đã được một trăm lẻ chín
tuổi. Bái kiến đàm đạo xong, đại lão hòa thượng Hư Vân biết Ngài là
bậc pháp khí nên ủy nhiệm làm giáo thọ Phật Học Viện tại chùa Nam
hoa. Ngài nghiêm trì giới luật cẩn mật nên được đại lão hòa thượng
Hư Vân thầm tán thán. Ngài cũng được giao phó làm pháp sư Giám học
tại học viện giới luật và làm Tôn Chứng A Xà Lê trong những kỳ giới
đàn. Ngài cùng đại lão hòa thượng Hư Vân tâm đầu ý hợp. Ngài viết kệ:
- Ngài Hư Vân thấy tôi bảo như
thị
- Tôi thấy ngài Hư Vân chứng như
thị
- Ngài Hư Vân và tôi đồng như
thị
- Nguyện độ chúng sanh cũng như
thị.
Ngài tự thuật: Đến
chùa Nam Hoa, lễ bái hòa thượng Hư Vân. Vừa gặp Ngài, tôi cảm giác
như con được gặp mẹ hay đứa cùng tử trở về nhà. Bao năm ngưỡng mộ
nay đã mãn nguyện. Lúc mới đến, tôi nhận chức hương đăng tại điện Tổ
Sư. Lúc pháp sư Trí Tham đến chùa, tôi cùng Ngài đàm luận, đạo nghĩa
rất tương hợp. Kế đến, pháp sư tiến cử tôi, thưa với ngài Hư Vân
rằng tôi là bậc nhân tài pháp khí. Nghe như thế, ngài Hư Vân liền
gọi tôi vào phòng phương trượng, giao trách nhiệm làm pháp sư Giám
Học tại viện giới luật. Ngài Hư Vân bảo ba lần nhưng tôi đều từ chối,
thưa:
- Con từ muôn dặm
tham phương hành cước đến đây chỉ vì muốn liễu sanh thoát tử, thân
cận thiện tri thức. Nếu được ấn chứng rằng con sẽ cắt đứt sanh tử
thì dầu Ngài có bảo nhảy vào dầu sôi, đi trên lửa bỏng, hay xả bỏ
thân mạng, con chẳng từ nan.
Ngài Hư Vân đáp:
- Tự mình cắt đứt
sanh tử, ví như tự ăn thì tự no. Nếu bảo đảm rằng con sẽ liễu sanh
tử thì Thầy lừa dối con, nên không thể làm được như thế. Tuy nhiên,
điểm trọng yếu của việc tu hành là nội công ngoại quả (trong tâm
dụng công, ngoài làm việc phước), phước huệ song tu thì mới mong
thành tựu, chớ không thể tự liễu giải lo cho chính mình, đơn độc
thành A La Hán. Phải hành hạnh Bồ Tát, đem lại phước lành cho thiên
hạ, hộ trì thường trụ (chùa chiền hay ngôi Tam Bảo), làm việc vì đại
chúng thì phước huệ mới mong vẹn toàn, và mới có khả năng cắt đứt
dòng sanh tử.
Tuy nghe thế, tôi
vẫn từ chối nhận chức giám học học viện giới luật. Do đó, hòa thượng
Hư Vân bảo tiếp:
- Từ vùng đông bắc,
đường xa muôn dặm đến đây để mong thân cận Thầy, nhưng nay lại không
nghe lời, vậy con đến đây để làm gì?
Không thể khước từ,
tôi đành phải nhậm chức. Ngày thường, quan sát thấy ngôn hạnh động
tác của ngài Hư Vân rất bình thường giản dị. Tuy nhiên, khác với
người thế tục, ngài Hư Vân luôn dùng thân khổ hạnh tu trì, làm mô
phạm cho đời. Mùa xuân, trong một kỳ truyền giới, khi tiếng bản gõ
vào buổi sáng sớm được đánh lên, chính tai tôi nghe tiếng hổ rống
rất gần, rồi dần dần xa đi. Các pháp lữ bảo:
- Đó là con hổ, đệ
tử quy y của ngài Hư Vân. Nó đang trú ẩn tại hang động ngọn núi đằng
sau chùa. Mỗi lần có đại giới đàn, nó đều đi ra hộ pháp.
Kỳ đại giới đàn vào
mùa xuân kết thúc, ngài Hư Vân âm thầm đơn độc trở về Vân Môn để
giám đốc công trình trùng hưng chùa viện. Mùa hè, do sự thỉnh mời
của ông cư sĩ Hoàng Chú Tai, tôi đến Nam Thành ở Giang Tây giảng
kinh A Di Đà, rồi trở lại chùa Nam Hoa vào trung tuần tháng tám.
Trung tuần tháng chín, một bọn cướp phá cửa chùa Nam Hoa xông vào
học viện giới luật. Thấy tôi bước ra, chúng chỉa súng thẳng vào ngực
tôi, bảo:
- Bắn chết cho xem.
Tôi đáp:
- Sao các ông muốn
bắn tôi?
- Vì ông không mở
cửa!
- Tôi không mở cửa
vì các ông vào đây không phải tặng quà cáp. Giả sử đứng trong vị trí
của tôi, chắc chắn các ông không dám mở cửa.
- Đưa tiền đây!
Tôi chỉ vào y ca sa
rách rưới của mình, bảo:
- Ăn mặc rách rưới
như vầy, vậy có tiền sao?
- Vậy ai có tiền?
- Tôi là Pháp Sư ở
đây, còn những vị khác đều là học tăng. Tôi không có đồng xu dính
túi, thì chắc chắn họ cũng rất nghèo nàn. Nơi đây là phòng của tôi.
Nếu thấy có vật gì vừa ý, hãy tự tiện lấy.
Nghe tôi nói chuyện
bình thường với bọn cướp, thầy Hoài Nhất từ phòng trong bước ra,
tham gia bàn luận. Bọn cướp liền bỏ lơ tôi, nhưng lại bắt thầy Hoài
Nhất. Chúng đối xử thầy Hoài Nhất giống hệt như tôi. Thầy Hoài Nhất
run sợ khóc lóc, không dám ngẩng mặt nhìn lên. Bọn cướp bảo:
- Đưa tiền ra đây!
Thầy vừa run vừa
đáp:
- Vâng !
Chúng vào phòng
thầy Hoài Nhất, lấy sạch hết tất cả đồ đạc. Hôm sau, khi lên lớp
thầy Hoài Nhất bảo các học tăng:
- Hơn một trăm tăng
chúng tại chùa Nam Hoa đều sợ hãi, chỉ trừ pháp sư Độ Luân là không
chút gì sợ sệt.
Tôi nói:
- Thầy Hoài Nhất
bảo rằng trong chùa chỉ có một mình tôi là không sợ hãi. Thật không
đúng lắm! Theo tôi biết, chùa mình có bốn vị thật vô úy. Thứ nhất là
đại sư Lục Tổ Huệ Năng, ngồi như như bất động, rõ rõ thường minh,
chẳng màng đến muôn việc. Thứ hai là tổ sư Hám Sơn, chánh thân đoan
tọa, mắt nhắm dưỡng thần, nội ngoại cảnh không, nhân ngã đều mất.
Thứ ba là tổ sư Đan Điền, ngửa cổ nhìn xung quanh xem xét động tịnh
không nói một lời. Thứ tư là sơn tăng Độ Luân, chẳng những nhìn mà
còn hiên ngang hăng hái nói chuyện với bọn cướp không chút dao động.
Vừa nói xong, tăng
chúng trong lớp đều cười to. Chẳng bao lâu, ngài Hư Vân cấp tốc từ
núi Vân Môn trở về chùa Nam Hoa vân tập tăng chúng mở cuộc hội họp.
Trong buổi họp đó, ngài Hư Vân làm chủ tọa với sự có mặt của tôi,
thầy Hoài Nhất cùng hơn ba mươi học tăng như thầy Tổ Ấn, Vân Diệu,
Ngộ Vân, Tuyên Dương, Hằng Định, Đề Huy, Đề Quảng, Pháp Lượng, Hải
Long, Pháp Huệ, Vạn Tâm, Chỉ Không, Pháp Minh, Pháp Khai. Từ lúc
chùa bị cướp bóc, toàn thể tăng chúng đều náo động, cùng muốn bỏ đi
nơi khác. Tuy được ngài Hư Vân giữ lại, nhưng thầy Hoài Nhất một mặt
cự tuyệt, một mặt Thầy cố giữ các đồng học ở lại, khiến họ đều không
nghe theo. Nhìn thấy việc này, ngài Hư Vân buồn rầu rơi lệ bảo:
- Suốt tận đời vị
lai, tôi mãi mãi sẽ không lập Phật học viện nữa!
Nói xong, ngài Hư
Vân đứng dậy, đi thẳng vào phòng phương trượng. Thấy như thế, tôi
rất cảm động, thệ nguyện nhận nhiệm vụ duy trì Phật Học Viện. Từ lúc
thầy Hoài Nhất bỏ đi Quảng Tây, học viện giới luật tại chùa Nam Hoa
chỉ còn mình tôi đảm trách. Mồng một tháng giêng năm 1949, tôi viết
thư từ chức giám học học viện giới luật, rồi trú tại tàng kinh các
để tụng đọc Đại Tạng Kinh. Trong kỳ giới đàn, tôi được thỉnh làm tôn
chứng A Xà Lê.
Tháng chín năm
1948, do lời thỉnh mời của cư sĩ Lâm Chú Tai, Ngài đến huyện Nam
Thành tỉnh Giang Tây, giảng kinh A Di Đà. Khi đó, thính chúng tuy
chỉ có khoảng một trăm người, nhưng vì họ thành tâm muốn nghe pháp,
nên trong pháp hội giảng kinh đó, có nhiều sự cảm ứng không thể nghĩ
bàn như sau.
Cư sĩ Vạn Quả Lạc
đã từng bị ma ám trong nhiều năm. Ông thường thỉnh chư Tăng, đạo sĩ
giảng kinh thuyết pháp. Ông cũng lạy Đại Bi Sám Pháp, Lương Hoàng
Bảo Sám, làm lễ phóng sanh, Du Già Diệm Khẩu, thí thực cô hồn, v.v...
Tất cả công đức Phật sự ông đều làm, nhưng chưa có hiệu quả. Kỳ lạ
thay, khi đến nghe Ngài giảng kinh A Di Đà thì ma cảnh hiện trong
giấc ngủ tự tan mất.
Cư sĩ họ Đồ bịnh
liệt nửa người cố đến nghe Ngài giảng kinh A Di Đà nên bịnh dần dần
thuyên giảm.
Hai sự kiện này
được lưu truyền rất rộng rãi trong thời bấy giờ. Chúng ta thấy rằng
không những niệm Phật, tham thiền, bái sám mà cũng cần phải nghe
kinh thuyết pháp thì mới tiêu trừ được ma chướng.
Năm 1949, đại lão
hòa thượng Hư Vân trở về Đại Giám Thiền Tự ở núi Vân Môn, tỉnh Quảng
Đông, trông coi công trình sửa chữa chùa. Ngài đến núi Vân Môn bái
biệt đại lão hòa thượng Hư Vân. Đại lão hòa thượng Hư Vân dùng lời
ân cần khẩn thiết, cố giữ Ngài lại. Tuy nhiên, vì nghĩ rằng trên thế
giới, rất nhiều người ngay cả chữ Phật Đàcũng chưa từng biết đến,
nên Ngài phát nguyện hoằng dương Phật pháp khắp hoàn cầu. Do đó,
Ngài qua Hồng Kông hoằng pháp, nơi đạo Thiên Chúa và Cơ Đốc đang
phát triển mạnh.
Mùa đông năm 1948,
bà A Nan Đà, gia đình vốn theo đạo Thiên Chúa, vì quyết tâm nghiên
cứu tu học Phật pháp và ngưỡng mộ đức hạnh của đại lão hòa thượng Hư
Vân, nên bà từ MỸ qua Trung Quốc, đến chùa Nam Hoa hành hương tham
bái.
(Phụ chú, trong
quyển Đường Mây Trên Đất Hoa có ghi rõ về cuộc đối thoại giữa Ngài
và bà A Nan Đà, như sau:
...Trong năm, có bà
người MỸ tên là Ananda Jenning, mến mộ thiền đức của ngài Hư Vân, từ
ngàn dặm xa xôi, đáp máy bay qua Hoa Lục để cầu chỉ dạy. Được bộ
ngoại giao Hoa-MỸ báo tin, ngài Hư Vân chấp thuận. Đầu tiên, ở Hồng
Kông, Bà lược thuật lý do muốn gặp ngài Hư Vân là vì thích nghiên
cứu Phật pháp. Cha bà vốn là bác sĩ người Thiên Chúa giáo. Bà đã
từng nghiên cứu về Thần giáo hơn hai mươi năm, nhưng không hiểu rõ
cho lắm, nên mới đi khắp nơi học hỏi nghĩa lý Phật pháp. Sau đó bà
qua Ấn Độ tu hành, nhập thất bốn năm, được chút sở đắc, nhưng vẫn
còn chỗ nghi, nên nay không quản muôn dặm đường, tìm thầy học đạo.
Sau đó, bà được đưa về chùa Nam Hoa, thọ giới quy y, pháp danh là
Khoan Hoằng. Ngài Hư Vân khai mở thiền thất. Bốn chúng đến chiêm lễ,
tham gia rất đông. Ngày đầu khai mở thiền thất, ngài Hư Vân thượng
đường khai thị:
- Bàn về việc này,
gốc vốn viên thành. Nơi thánh không tăng, nơi phàm không giảm. Như
Lai bị luân hồi trong sáu đường. Nơi nào cũng nghe đến. Quán Âm lưu
chuyển trong mười loài. Loài nào cũng đều như thế. Nếu vậy thì cần
cầu chi, tìm ở nơi nào? Tổ Sư nói: Nếu có thị phi thì tự tâm rối rít.
Khi thuyền chưa chạy tức đã bị ăn gậy rồi.
Thật đáng thương
thay! Của báu trong nhà mà không tự mở ra. Đến chòi tranh tìm tranh,
ôm đầu chạy đi tìm đầu, nước để trước mặt mà kêu khát, chỉ vì một
niệm vô minh, tâm cuồng không dứt.
Chư vị đại đức! Sao
phải khổ công đến đây? Vì chư vị không thích phí tiền cho đôi dép
rách, nên tôi cũng không sợ mở miệng xấu ra mà nói!
Ông già Thích Ca đã
đến! Tham quán!
Chư vị trưởng lão
cũng ban pháp nhủ, khai thị đại chúng. Môn hạ, đệ tử ngài Hư Vân là
Độ Luân, pháp danh Tuyên Hóa, đối đáp cùng với bà Ananda Jenning.
Thầy Tuyên Hóa hỏi:
- Bà từ phương xa
trải qua bao cực khổ, nay đến đây với mục đích gì?
Đáp:
- Vì tôi muốn học
Phật pháp.
- Học Phật pháp thì
phải biết cách chấm dứt dòng sanh tử luân hồi. Vậy thì theo ý bà đối
với sanh tử như thế nào?
- Gốc vốn không
sanh tử thì cần gì phải thoát ra.
- Nếu không sanh tử
thì cần gì phải học Phật pháp?
- Xưa nay không có
Phật. Người học là Phật.
- Phật có đủ ba
mươi hai tướng tốt. Khi Ngài đặt ngón chân lên đất, thì dấu ấn phát
quang. Vậy bà được gì?
- Được cùng không
được, chỉ là lời nói nhảm thôi.
- Diệu giải của bà,
lời lời đều hợp cả. Tuy thế, nói ăn mà bụng vẫn đói. Vậy một câu cứu
cánh, bà thử nói xem?
- Cứu cánh vốn
không câu. Lời nói, gốc cũng không có. Nếu không dẹp bỏ lời nói tạp,
làm sao biết được tánh giác vốn là mẹ của muôn vật!
- Những lời của bà,
đều hợp với ý Tổ, nhưng nếu còn biết một chữ, tức là cửa ngỏ của tai
họa. Bà đã giải nhập được rồi. Vậy dám hỏi chứ rời ngôn ngữ, tuyệt
không câu cú, bản lai diện mục của bà là gì?
- Kinh Kim Cang nói
rằng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tức không phải a nậu đa la tam
miệu tam bồ đề.
- Tuy là thế, mạng
căn không thể cắt đứt bằng tri kiến. Hy vọng bà hãy nhìn rõ vào.
- Tôi ít xem kinh
Phật. Sau bốn năm nhập thất, ra ngoài bàn luận cùng người, ai ai
cũng nói rằng lời tôi luôn hợp với Phật pháp, nhưng lời tôi không
phải dựa vào kinh điển, cũng không dựa vào tri kiến.
- Tuy không từ kinh
điển mà được lúc tĩnh tọa ngồi thiền, đó là do trí tuệ tiềm ẩn phát
ra. Nó cũng chính là tri kiến vậy.
- Phật pháp trọng
thật chứng, không trọng tri kiến. Như thế nghĩa là gì?
- Không câu nệ kinh
luận, không chấp trước tánh tướng, đầu đầu là đạo, nơi nơi là chân
lý. Chỉ miễn cưỡng nói Như Thị đó thôi!
Sau đó bà theo ngài
Hư Vân đến Vân Môn lễ tổ, rồi ở lại khoảng nửa tháng, mới trở về MỸ.
Bà nói rằng khi trở về nước sẽ xiển dương Phật pháp. Bà là người MỸ
đầu tiên qua Hoa Lục cầu học giáo nghĩa thâm sâu trong Phật pháp. Bà
tuy có chỗ chứng đắc, nhưng vì ngôn ngữ không thông, nên khi đến
Hồng Kông và chùa Nam Hoa, tham gia thiền thất, được cư sĩ họ Nhan
phiên dịch trong các buổi đối thoại. Những bài khai thị của ngài Hư
Vân, cũng được cư sĩ họ Nhan phiên dịch, khiến bà có thể lãnh hội
nghĩa lý tinh thâm viên thông của Phật pháp. Thật là một thắng duyên
hy hữu.)
|