Cuộc đời và sự nghiệp của
HT. Tuyên Hóa
Dịch giả: Thích Hằng
Đạt
Chương II
Thời kỳ xuất gia học đạo,
độ người
Vào năm Ngài được
mười chín tuổi, mẹ Ngài tạ thế. Lúc đó là hạ tuần tháng ba. Gió xuân
thổi vùn vụt, băng tuyết chảy tan làm đường lộ đầy sình lầy, khiến
người đi bộ phải chịu cực nhọc. Từ nhà đến nghĩa trang hơn mười dặm.
Trước ngày di chuyển quan tài, gia quyến cùng thân hữu rất lo lắng
vì đường lộ sình lầy thì làm sao khiêng áo quan được! Đêm hôm đó,
Ngài âm thầm cầu xin chư Long Thiên rằng hãy cho tuyết rơi hay khiến
nước đông lạnh. Canh năm khuya hôm đó, thời tiết đột nhiên chuyển
biến, lại thêm gió bấc thổi đến, khiến nhiệt độ hạ xuống, rồi tuyết
rơi lả tả. Hôm sau, trên mặt đất, khắp nơi đều trắng xóa. Đường lộ
hôm trước bùn lầy, nhưng hôm sau bị tuyết trắng phủ dầy. Hầu hết mọi
người trong làng đều nghĩ rằng đó là do hiếu hạnh của Ngài nên mới
cảm động trời đất.
Làm lễ an táng hạ
huyệt xong, ai nấy đều trở về nhà, còn Ngài vẫn ở lại bên mộ phần
người mẹ để thủ hiếu. Mồng tám tháng tư năm đó, Ngài đến chùa Tam
Duyên ở làng Nam Bình, thành phố Hợp Nhĩ Tân, lạy hòa thượng Thường
Trí làm thầy, chánh thức xuất gia. Thọ giới Sa Di xong, Ngài trở lại
mộ phần bà mẹ. Một vị cư sĩ dùng rơm tranh, lợp một am thất cho Ngài
ở. Trong thời gian thủ hiếu, Ngài lạy kinh Hoa Nghiêm, lễ Tịnh Sám,
tu thiền tập giáo quán, nghiêm trì giới luật ăn một ngày một buổi.
Ngài tự thuật: Mẹ
tôi bị bịnh nặng, nên thường nằm liệt trên giường. Tôi vừa tiếp tục
dạy học, lại vừa lo săn sóc cho bà. Tôi không biết rõ bịnh tình của
bà, nhưng đã hơn nửa năm, bà không thể đi hay ngồi dậy được. Tôi
giúp mẹ mình đi cầu, tắm rửa, ăn cơm. Thân của bà tiết ra mùi hôi
thúi, nhưng tôi không quản ngại, chỉ hết lòng lo lắng chăm sóc.
Trong nhà, trừ tôi ra, không ai có thể săn sóc bà được. Tôi đi khắp
nơi, tìm nhiều thầy thuốc đến nhà chữa trị, nhưng bịnh tình của bà
vẫn không lành. Đương thời (lúc mười tám tuổi), thỉnh thoảng tôi
nhịn đói cả tuần lễ, nhưng vẫn tiếp tục dạy học. Tôi nhịn ăn vì
thành tâm cầu nguyện cho mẹ mình sớm lành bịnh.
Vào lúc ấy, tại
sông Bạch Vân có một con hồ ly tinh rất linh. Nếu người nào thành
tâm khẩn cầu, nó sẽ cho thuốc trị bịnh. Nhiều người từ trăm ngàn dặm
đến cầu xin hồ tinh cho thuốc. Khi quân Nhật đặt căn cứ tại vùng đó,
hồ tinh vẫn cư ngụ trong căn cứ. Sau này, nó đuổi quân Nhật ra khỏi
vùng. Quân Nhật bí mật làm một nồi dầu và đặt hàng rào dây điện xung
quanh gần trại lính, rồi dùng xe lửa, chở tù binh Tàu đến, bỏ họ vào
nồi dầu. Không biết có bao nhiêu người đã bị chết trong nồi dầu đó.
Lần nọ, hồ tinh
biến thành một ông già tóc bạc phơ, rồi đi thẳng vào doanh trại.
Quân Nhật mang súng ống đuổi theo, nhưng ông lão lại chạy vào và đốt
cháy kho vũ khí. Sau hai lần kho đạn bị nổ, quân Nhật biết rằng
không thể ở đó lâu được, nên phải dời đi nơi khác. Việc này chứng
minh hồ tinh rất linh. Quân Nhật vừa rút khỏi vùng, hồ tinh bắt đầu
bốc thuốc cho những ai cầu cứu chữa bịnh. Người đến xin thuốc, chỉ
việc tới đó đặt một cái chén với miếng vải đỏ bao phủ lên trên. Cầu
xin bất cứ thuốc gì thì thuốc đó sẽ hiện ra trong chén. Nghe vậy,
tôi đến đó, khẩn cầu hồ tinh cho thuốc để cứu người mẹ. Tôi đặt chén
xuống, rồi quỳ xuống chờ đợi cả ba ngày ba đêm mà không có thuốc gì
hiện ra trong chén. Sau này có một lần, khi tôi đã xuất gia, hồ tinh
nhập vào thân của người bà con, cầu mong quy y với tôi. Lúc nói rõ
rằng nó chính là hồ tinh tại sông Bạch Vân, tôi bảo:
- Khi tôi cầu xin
thuốc, ngươi không cho gì cả. Hôm nay, sao dám đến xin quy y với tôi?
Hồ tinh thưa:
- Khi Ngài quỳ nơi
đó, con không thể cho thuốc được, vì bị ánh sáng vàng chóa mắt.
Vì hồ tinh không
cho gì cả, tôi tự đến tiệm thuốc bắc, hốt vài thang thuốc cho mẹ
mình. Tuy nhiên, bà vẫn không khỏe lại được. Chẳng bao lâu, mẹ tôi
qua đời vào mồng chín tháng ba âm lịch. Ngày bà mẹ qua đời, trong
mình tôi không có một xu. Lúc báo tin cho các người anh hay tin buồn,
chỉ có người anh thứ ba là đến. Tôi hỏi:
- Mình phải mua
loại hòm gì cho mẹ?
Ông ta đáp:
- Nhà mình quá
nghèo túng; mua thức ăn còn không có tiền còn nói gì đến việc mua
hòm?
- Như vậy, chúng ta
phải làm gì?
- Chỉ việc đóng vài
tấm ván lại, rồi chôn bà.
- Không thể được!
Mẹ nuôi nấng biết bao con trai, con gái, nhưng cuối cùng bà chẳng có
một chiếc hòm để chôn. Em sẽ ra đường tìm xem.
Tôi ra thị trấn Lạp
Lâm để mua hòm. Nhờ trước kia đã từng giữ chức quản đốc của hội Đạo
Đức, nên tôi quen biết được vài người trong thị trấn. Tôi đến gặp
ông Điền, người nổi danh về việc mua bán quan tài. Vừa gặp tôi, ông
bảo:
- Anh đến đây để
mua hòm phải không?
Tôi đáp:
- Hiện giờ, không
có tiền, vậy ông có thể bán chịu cho tôi không?
- Được rồi! Khi nào
có tiền, hãy trả cho tôi.
Do đó, việc mua hòm
được giải quyết xong, và tôi sắp đặt chuyển hòm về nhà. Lúc sắp rời
tiệm, ông Điền lại đưa cho tôi ba trăm đồng, bảo:
- Nếu không có tiền
mua hòm, chắc chắn là anh không có gì để trang trải chi phí cho đám
tang. Hãy lấy số tiền này và trả lại cho tôi lúc nào cũng được.
Tôi biết là ông ta
tin tưởng mình, nên nhận lấy số tiền đó. Vào thời đó, ba trăm đồng
là số tiền rất lớn, vì vật giá rất rẻ, và không có nạn lạm phát.
Ngày mười chín
tháng ba, lúc trở về nhà tôi liệm xác bà mẹ vào hòm, sắp xếp người
khiêng áo quan, đặt để thức ăn. Tang lễ được cử hành vào ngày hôm
sau. Tuy nhiên, gió xuân ấm áp đã thổi tan băng giá tuyết đông,
khiến đường xá bùn lầy rất khó đi. Khu đất mai táng lại cách nhà
khoảng hai ba dặm. Tôi rất lo lắng cho những người khiêng hòm, vì họ
phải đi trên con đường bùn lầy và trơn trượt. Tối hôm đó, tôi cầu
nguyện chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thiên: Con không có nhiều thiện
duyên với trời người. Tuy nhiên, cầu xin chư Phật, chư Bồ Tát và chư
Thiên gia hộ cho sáng ngày mai tuyết rơi hoặc đóng băng.
Nếu tuyết rơi xuống
khoảng một tấc, hoặc mặt đất đóng băng giá, thì sẽ giúp người bộ
hành dễ dàng đi đứng. Lạ lùng thay! Trước khi trời hừng sáng, nhiệt
độ hạ thấp, tuyết rơi xuống khoảng một tấc, và băng đóng trên mặt
đất. Tôi biết rằng đây là cảm ứng của chư Phật và chư Bồ Tát.
Rạng ngày hôm sau
có trên hai mươi người đưa quan tài đến nghĩa địa. Mây dầy đặc giúp
người khiêng hòm bớt mệt nhọc. Làm lễ hạ quan tài xong, mây liền tan
hết, ánh mặt trời hiển hiện trên nền trời xanh thẳm, khiến tuyết tan
dần. Khi người người lục đục kéo nhau ra về, tôi ở lại ngồi bên cạnh
phần mộ người mẹ. Khi có người hỏi rằng sao lại ngồi nơi đó, tôi đáp
rằng muốn an ủi linh hồn mẹ tôi, nhưng chưa nói rõ ý muốn ở lại bên
phần mộ mẹ để thủ hiếu. Dầu họ cố khuyên lơn, nhưng tôi vẫn lặng
thinh như điếc. Tôi không cảm thấy đau buồn mà chỉ nhủ thầm: Mẹ ơi!
Tuy đã qua đời, nhưng con vẫn ngồi đây để an ủi mẹ. Lúc đó, tôi được
mười chín tuổi.
Vì nhiều người tò
mò về việc ngồi tại nghĩa địa, nên tôi sẽ kể rõ cho quý vị nghe.
Ngày đầu ngồi nơi đó, thử thách lớn đến. Ban ngày không có việc gì
xảy ra, nhưng ban đêm có một đàn chó săn đến. Những con chó này đã
được quân Nhật huấn luyện. Chúng rất hung tợn và thường ăn thịt
người. Những người giàu sang thường nuôi chúng để giữ nhà. Họ thường
thả lỏng chúng vào ban đêm. Chúng thường tụ tập với nhau để săn mồi,
tiến lui như quân binh của một tiểu đội du kích. Thấy tôi ngồi bên
phần mộ, chúng dự đoán là sẽ có buổi tiệc ngon. Vài chục con hung
hãn, đi xung quanh tôi khoảng năm mươi bước, rồi từ từ tiến gần đến.
Trước hết là con đầu đàn, rồi kế tiếp là cả bầy. Dầu chống lại một
con cũng không dễ dàng, còn nói chi đến việc chống cự cả bầy. Tôi
nghĩ thầm là mình chỉ có hai cách: Đầu hàng hay chống cự. Tuy nhiên,
không có vũ khí như súng, lựu đạn, dao găm, tre gậy, thì làm sao
chống cự? Thôi thì chỉ việc ngồi đây thủ hiếu, chẳng màng chú ý đến
chúng, dẫu bị cắn xé đến chết, cũng chẳng nề hà. Trong hoàn cảnh đó,
tôi phải chịu chết, chứ biết làm gì nữa, nên nhắm mắt chờ đợi.
Bầy chó tiến đến,
cách tôi khoảng ba mươi bước. Thấy tôi không động đậy, chúng bò sát
từ từ dưới đất, sủa và gầm gừ, cho đến khi chỉ cách tôi khoảng mười
thước. Khi ấy, không biết vì sao, tự nhiên chúng bắt đầu kêu oăng
oẳng và cắn lẫn nhau, giống như bị ai đánh đập, rồi cả bầy xoay đầu
bỏ chạy. Đó là ngày đầu tiên, tôi vượt qua thử thách, không bị chó
sói ăn thịt. Lúc làm những việc thiện, nghiệp chướng sẽ thử mình.
Nếu muốn thành Phật, sẽ bị ma quỶ thử thách. Vì tôi hành hạnh thủ
hiếu tại phần mộ mẹ hiền, nên những chủ nợ đến tìm kiếm. Có lẽ bầy
chó sói là kẻ thù của tôi trong đời quá khứ. Ngày nay, chúng đến đây
để tấn công khi tôi không có gì để chống cự. Tôi không chống lại
cũng không đầu hàng, nhưng cuối cùng chúng lại bỏ đi. Thật ra, chẳng
phải do tôi khiến chúng bỏ chạy, mà tự chúng cắn xé lẫn nhau rồi bỏ
đi.
Bầy chó sói vừa đi
thì bầy muỗi đến. Vào tháng ba, miền đông bắc chẳng hề có muỗi.
Song, một bầy muỗi mòng bay đến vào tối hôm thứ hai. Bay vù vù, bầy
muỗi mòng này to lớn và rất khát máu. Tôi thầm nghĩ: Bây giờ chỉ là
tháng ba, thời tiết vẫn còn lạnh lẽo, vậy thì bầy muỗi này từ đâu
bay đến? Thêm một thử thách nữa. Hôm qua là chó sói. Hôm nay là muỗi
mòng.
Tôi có thể đập
chúng, nhưng nếu giết chúng thì làm sao nhìn mặt mẹ mình? Tôi tự bảo:
Quý vị cứ tự nhiên uống máu của tôi.
Tôi cởi áo phần
thân trên ra. Chúng bay và đậu trên thân tôi, nhưng lại bỏ đi nơi
khác mà chẳng hề hút máu. Từ đó, không còn muỗi mòng nào bay đến nữa.
Trong vùng đất hoang vu, có rất nhiều muỗi mòng, nhưng tôi chưa hề
bị chúng cắn. Tuy nhiên, có rất nhiều người đến thăm tôi, thường bị
muỗi cắn, nên họ nói đùa là được bác sĩ chích ngừa. Đó là việc tôi
vượt qua thử thách vào ngày thứ hai.
Chắc quý vị nghĩ
rằng đây là những câu chuyện bông đùa. Tuy nhiên, tôi xin nói là
chẳng có chút gì vui cả. Nếu tôi không cởi áo ra, để chúng hút máu
cho thỏa thích, thì chắc gì được yên thân. Lúc đó tôi nói thầm: Quý
vị cứ việc hút khô máu. Tôi sẵn sàng chết nơi đây, mà không thù oán
gì cả, vì muốn kết duyên lành với quý vị. Khi tôi thành Phật, quý vị
sẽ là những người mà tôi cứu độ trước nhất.
Vì vậy, khi bay
trên người tôi, chúng cũng muốn làm bạn, mà không nỡ lòng hút máu.
Do đó, sau khi xuất gia, tôi tự gọi mình là tỳ kheo muỗi mòng. Tôi
thường dùng tên này vì danh Độ Luân hay Tuyên Hóa, khiến người khác
nghe đến liền cảm thấy nhức đầu chóng mặt. Đó là lý do mà tôi có tên
tục là muỗi mòng.
Nếu có ai nghĩ rằng
tôi chỉ kể chuyện suông thôi, thì cứ cho là như vậy đi. Tôi kể cho
quý vị nghe thêm một thử thách trong đêm thứ ba. Chúng là kiến, có
cả hàng ngàn con. Lúc ngồi nơi đó, chúng bò lên thân và cắn cùng
thân mình. Tôi biết rằng chúng muốn đuổi mình đi hoặc thử lòng thành
của mình. Lần nữa, tôi không kháng cự gì cả, chỉ tự nghĩ: Quý vị
muốn đuổi tôi đi nơi khác, nhưng tôi không hề muốn đuổi quý vị; muốn
bò lên đầu, mặt mũi, lỗ tai, miệng, v.v..., chỗ nào cũng được, xin
hãy tự tiện.
Sau khoảng nửa
tiếng, chúng bò đi hết. Lạ lùng thay! Từ đó, không còn một chú kiến
nào đến quấy rầy tôi nữa. Bầy kiến chắc nghĩ rằng không thể xâm
chiếm đất được, nên phải bỏ đi nơi khác.
Từ ba sự kiện này,
tôi nhận thấy rằng nếu chúng ta không kháng cự lại kẻ thù, tức xem
họ như thân thuộc, thì từ từ họ sẽ xem mình là bạn. Do đó, tôi tự
đặt tên mình là chú kiến nhỏ nhoi. Hôm nay, biết chú muỗi mòng và
chú kiến nhỏ nhoi đang thuyết pháp giảng kinh, nên rất ít người đến
nghe, vì họ sợ muỗi mòng, kiến, trùng cắn chích. Những ai dám đến
đây tức là sẵn sàng làm bạn với muỗi cùng kiến. Tôi không muốn nói
nhiều vì e rằng quý vị sẽ thêm sợ hãi.
Ngày thứ tư, chó
sói, muỗi mòng, kiến đều bỏ đi, nhưng lại đến phiên chuột, với thân
mình to lớn như mèo. Tôi không biết có phải chúng là những con chuột
cống ở Đài Loan, thường trốn trên mái nhà hay không? Ban đầu, tôi
tưởng là mèo, nhưng nhìn kỸ thì thấy chúng là một đàn chuột trắng và
xám với những cặp mắt ti hí và tinh ranh như trộm cướp, thường chui
dưới những cánh đồng, nhiều vô số kể. Chúng bắt đầu giở trò, bò và
nhảy lên cùng thân mình, đầu cổ tôi. Tuy nhiên, khi chúng nhảy lên
đầu, tôi lấy tay trùm lại, nên bị chúng cắn tay, khiến chảy máu dầm
dề. Khi ấy, tôi nghĩ thầm: Được rồi! Tôi không kháng cự nữa đâu. Hãy
tiếp tục cắn đi.
Tôi để chúng tự do
leo lên đầu cổ mình mẩy. Khoảng hai mươi phút sau, cả bầy chuột đều
bỏ chạy. Đây là chuột thử thách vào ngày thứ tư.
Ngày thứ năm, tôi
bị một đàn rắn rít độc hại lớn nhỏ, dài ngắn vây quanh. Thường ngày,
rất ít thấy rắn trong vùng đó, nhưng hôm ấy, chúng lại kéo đến làm
thịt tôi. Lần nữa, tôi nghĩ: Quý vị cứ việc cắn đi; nếu phải chết,
thì có sao đâu.
Tuy nhiên, không có
con nào cắn tôi. Ngày thứ sáu, một bầy bò cạp đột nhiên xuất hiện.
Chúng dài cả ba bốn tấc. Tôi đã từng thấy qua những con bò cạp lớn
tại chùa Từ Hưng trên núi Đại Tự và chùa Tây Lạc Viên tại Hương Cảng,
nhưng chưa bao giờ thấy những con bò cạp lớn như thế. Cỏ dại lao xao
khi chúng bò đến từ khắp nơi. Tôi tự bảo: Quái lạ thật! Mình bị chó
sói, muỗi mòng, kiến, chuột, rắn rít tấn công. Bây giờ lại đến phiên
bò cạp. Dầu con gì đến, mình sẽ để chúng cắn.
Vì không có tâm sợ
hãi hay thù hằn, chúng tự giải tán và biến mất. Ngày thứ bảy lại
khác hơn sáu ngày trước. Mùi hương lạ, khác hẳn với hương thơm thế
tục, bay đầy khắp hư không. Sau bảy ngày, mọi việc đều tĩnh lặng.
Lúc ngồi bên cạnh
phần mộ người mẹ, vì không có ai mang thức ăn, nên tôi chịu nhịn đói.
Tuy nhiên, sau ngày thứ bảy, cha tôi mang thực phẩm đến. Khi đó, cha
tôi tuổi khoảng bảy mươi. Ông vừa khóc vừa khuyên tôi hãy trở về nhà.
Dầu nhịn ăn trong bảy ngày, tôi vẫn không cảm thấy đói. Vì người cha
mang thức ăn đến, nên tôi phải cố gượng ăn. Sau đó, tôi thưa với cha
mình rằng xin đừng mang thêm thức ăn gì nữa, rồi nhấn mạnh rằng sẽ
không nhận thức ăn hay vật gì của thân nhân đem đến.
Bao việc xảy đến
khi tôi ngồi bên phần mộ, nhưng chưa bao giờ gặp ma quỶ. Những khi
đói bụng, tôi ăn cỏ dại và lá hoang. Ngày nọ, ăn nhằm một loại nấm
mà khiến cho tôi muốn cười suốt ngày. Từ đó, tôi biết được nấm có
chất hoá học, khích thích cười đùa. Thời gian sống bên ngôi mộ người
mẹ là một trong những lúc cực khổ nhất của cuộc đời. Dùng lá tranh,
tôi xây am nhỏ thành hình chữ A, nhưng nó không thể chống đỡ gió mưa
sương tuyết. Những khi ngoài trời tuyết rơi thì trong am cũng trắng
bạch. Lúc mưa to gió lớn thì am thất cũng ướt nhèm.
Vừa bắt đầu học
Phật pháp, tôi tụng kinh Địa Tạng và Pháp Hoa. Mùa đông năm mười tám
tuổi, lần đầu tiên tôi được đọc ba quyển kinh Địa Tạng. Tôi nhớ lại
là được xem kinh Địa Tạng tại chùa của hòa thượng Diệu Liên. Hòa
thượng tự tay viết và in ấn quyển kinh này. Hòa thượng Diệu Liên vốn
là tiến sĩ của viện Hàn Lâm và đã từng làm quan trong triều Mãn
Thanh tại Hàng Châu. Lúc được bổ nhiệm làm quan tại Hàng Châu, Ngài
đến đó sớm hơn vài ngày, mà chưa nhận chức chính thức. Vì không có
việc gì làm, Ngài mặc áo quần thường dân, đến đền miếu, dự xem buổi
lên đồng cốt; đây là pháp nửa thật nửa giả của bàng môn tả đạo mà
không phải là pháp của Đạo giáo hay Phật giáo. Vừa bước vào cửa miếu,
dẫu người xung quanh không ai nhận ra lai lịch, nhưng con đồng lại
gọi đúng tên tục của Ngài, Trương Hàn Thừa, và bảo rằng phải lắng
nghe theo mạng lịnh:
- Đời trước ông là
người con chí hiếu, nên đời nay được làm quan. Vì vậy, phải làm vị
quan thanh liêm, chứ đừng hành động như bọn quan lại tham ô. Hãy vận
dụng hết tài năng mà hành sự.
Nghe như thế, Ngài
toát mồ hôi, nghĩ ngợi: Thật quái lạ! Đồng cốt lại biết quá khứ của
mình!
Ngài đã từng là
người nghiện hút thuốc phiện, nhưng bấy giờ không còn muốn hút nữa.
Nghỉ ngơi vài ngày xong, Ngài đem thuốc phiện và những ống thuốc ra
đến Tây Hồ. Người khác nhìn thấy, tuởng rằng Ngài sẽ đến đó mà hút
thuốc phiện. Khi bơi thuyền ra giữa Tây Hồ, Ngài liệng hết chúng
xuống nước. Vừa ngưng hút thuốc phiện, Ngài tu học Phật pháp, rồi
lại xuất gia. Ngài có căn bản học vấn vững chắc về Khổng giáo, và
thư bút rất tuyệt vời. Sau này, Ngài cho tôi quyển kinh Địa Tạng do
chính tay mình viết. Từ đó, tôi bắt đầu tụng đọc kinh này vào những
buổi trưa, và thường đốt một nén hương cháy khoảng hai giờ, mà người
miền bắc gọi là cây hương tinh tấn. Sau này, vì tôi quỳ trên gạch đá
chứ không có gối lót, nên đầu gối bị lở loét chảy máu, nhưng tự bảo:
Mi cứ việc lở loét. Ta chẳng nề hà.
Lần đầu tụng kinh
Địa Tạng, thân tâm tôi cảm giác rất thanh tịnh và an lạc, không thể
diễn bày. Hôm nay, ngồi trên chiếc ghế trường kỶ đã được bao bọc kỸ
càng, mà quý vị lại muốn lót thêm một lớp nệm nữa. Lúc quỳ, quý vị
phải có gối để lót đầu gối, vì không thể nhẫn thọ cực khổ nhỏ nhoi.
Tôi ngu xuẩn hơn quý vị vì quỳ mà không chịu lót đầu gối, khiến nó
phải bị lỡ loét.
Tôi nhớ lại lúc xưa,
thường tụng kinh Pháp Hoa đến độ mắt bị chảy máu. Tại sao? Càng tụng
chừng nào, tôi càng thích chừng đó mà quên đi việc ăn uống ngủ nghỉ
trong mấy ngày liền, khiến đôi mắt rướm máu. Đến khi máu chảy xuống
quyển kinh thì tôi mới biết, nên buộc lòng phải nghỉ ngơi. Quý vị có
thể bảo:
- Hòa Thượng! Ngài
thật ngu si!
Vâng! Nếu tôi thông
minh như quý vị thì đôi mắt không đến nỗi phải bị chảy máu. Có lẽ
quý vị sẽ cười thầm: Vâng rất đúng!
Tuy thông minh
nhưng quý vị (thính giả trong pháp đường) vẫn là đệ tử, theo tôi học
Phật pháp. Đối với tôi, việc tụng kinh đến độ mắt chảy máu là việc
thường xảy ra.
Bàn về quá khứ, quý
vị chớ nghĩ rằng tôi luôn làm tăng sĩ. Tuy không nhớ hết những việc
lên voi xuống ngựa, nhưng tôi tự biết mình đã từng làm vua, quan,
dân dã, rất đỗi phiền hà. Việc gì cũng đều phiền hà. Học sinh, công
nhân, thương gia, quan quân, tăng sĩ, mỗi người có việc phiền hà
riêng. Tuy nhiên, nếu biết mình đang làm việc gì và chuyển được cảnh
thì phiền hà không còn. Hãy cố gắng tinh tấn tiến bước.
Ngược dòng thì gặp
đạo
Nhẫn nhượng thì
dụng đạo.
Vô luận việc gì,
nếu không biết xả chấp nê đều trở thành phiền não. Xả bỏ được nghĩa
là mọi việc đều tốt đẹp, chẳng có gì là phiền muộn. Nếu hành được
như thế, sẽ thấy lẽ vi huyền trong tự tâm.
Trong thời gian thủ
hiếu bên cạnh phần mộ người mẹ, tôi xuống tóc xuất gia. Trước đó,
tôi đã quy y với đại sư Thường Nhân. Tuy thất học, nhưng đại sư
Thường Nhân có tài thuyết pháp hùng biện. Ngài là vị trụ trì chùa
Tam Duyên, và cũng từng thủ hiếu bên cạnh mộ cha mẹ trong sáu năm.
Hai năm đầu, Ngài không dùng thức ăn nấu chín và cùng không giao tế
với ai. Ngôi chùa Tam Duyên, nơi tôi xuất gia, có khoảng năm mươi tỳ
kheo, nhưng đôi khi chỉ còn vài người. Lúc tôi đến chùa, đại sư
Thường Nhân vừa ra ngoài hóa duyên, nên không có ai nhận ra tôi. Tôi
thưa:
- Hôm nay, con đến
đây cầu xin xuất gia, để nương theo ngài Trụ Trì tu học.
Nghe như thế, họ
đều chấp thuận. Xuất gia xong, tôi hành bao khổ hạnh, khác biệt với
sự tu tập của quý vị trong hiện thời, tức thường đánh máy, tụng kinh,
v.v... Trong ngôi chùa lớn ở vùng thôn quê có rất nhiều việc để làm.
Công việc đầu tiên của tôi là quét dọn hầm cầu. Mỗi ngày, phải đi đổ
phân vì không muốn có mùi hôi hám xông lên trong chùa. Họ giao nhiệm
vụ này cho tôi vì biết rằng tôi chưa cắt đứt chấp trước về mùi vị.
Mỗi ngày tôi vui vẻ làm việc, chẳng hề quản ngại. Tôi cũng làm rất
nhiều công việc lặt vặt trong chùa như quét dọn, nấu cơm, rửa chén.
Lúc tuyết rơi, tôi thức dậy khoảng hai giờ sáng, trong lúc mọi người
đang say giấc nồng, để quét dọn đường đi cho đại chúng lên chánh
điện tụng kinh vào lúc bốn giờ sáng. Tôi làm công việc này trong một
thời gian dài mà không ai biết đến.
Lúc nhỏ, tôi rất
thích tranh cãi rầy rà với những người khác. Xuất gia xong, tôi
thường bị người khác chửi mắng, đánh đập và chèn ép. Mọi người đều
khinh bỉ và cho rằng tôi là kẻ vô loại. Có vài thầy ở trong chùa
thường lợi dụng, chửi mắng và đánh đập tôi.
Vào buổi đầu tu học
Phật pháp, Ngài thường thích tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Do lòng đại từ đại bi cao cả, Bồ Tát Địa Tạng luôn lân mẫn đến chúng
sanh mà họ nào hay biết. Vì vậy, Ngài phát tâm quỳ trước chánh điện,
tụng kinh Địa Tạng suốt hai giờ liền vào mỗi ngày. Nền đất trên
chánh điện được trét bằng xi măng thô. Quần của Ngài chỉ có một lớp
vải mỏng, thì đầu gối tránh sao không khỏi bị rách sướt! Tuy nhiên,
Ngài vẫn không cảm giác đau đớn, vì càng tụng lại càng thích. Ngày
qua tháng lại, Ngài vẫn luôn thành tâm tụng kinh trước chánh điện.
Có lần, một cư sĩ nọ đến chùa, mang đồ cúng dường, và thấy Ngài quỳ
tụng kinh như thế, nên rất tán thán. Sau khi cư sĩ ra về, thầy trụ
trì mắng Ngài:
- Thầy làm bộ làm
dạng, cố ý cho cư sĩ thấy, để tỏ ra mình là người tu hành lâu năm.
Thật là giả dối.
Ngài không nói một
lời nào, tự biết rõ tâm mình chỉ muốn tụng kinh. Song, từ đó nhiều
việc ồn ào vô lý xảy ra. Trước khi tụng kinh, những người khác đến
chửi mắng:
- Ô! Thứ đồ làm bộ
tu hành.
Ngài vừa tụng kinh
xong thì họ mỉa mai:
- Xem kìa, ổng giả
bộ tụng kinh xong rồi.
Bị bao lời gièm pha,
nhưng Ngài vẫn ẩn nhẫn, chẳng hề hé môi. Qua một trăm ngày tụng kinh,
ma chướng lại đến. Ngày nọ, vừa tụng kinh xong, vị sư huynh không
nói một lời, đến trước mặt, tát vào mặt Ngài. Tuy bị đánh, nhưng
Ngài nhẫn nhục lặng thinh. Vị sư huynh quát mắng:
- Thầy là ai mà sao
quá biếng nhác! Mọi người làm việc, còn Thầy thì giả bộ tụng kinh,
biểu diễn cho kẻ khác xem! Trong chùa không có chỗ cho Thầy tu hành
sao? Có công đức bao nhiêu mà ở đây tu hành?
Từ đó, Ngài ngưng
tụng kinh Địa Tạng. Tu đạo không phải dễ, luôn gặp ma chướng. Người
dụng công tu hành có chút điểm thành tựu thì ma đến khảo nghiệm định
lực của mình. Gặp nghịch cảnh, Ngài chưa từng thối tâm, tinh tấn tu
trì trước sau như một.
Ngài tự thuật: Lúc
sống bên cạnh phần mộ của người mẹ, tôi dành mọi thời gian vào việc
lễ bái, tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, nên tâm tư rất an lạc. Lúc
nhỏ, khi đọc qua truyện Tam Quốc Chí, đến đoạn Quan Công bị giết hại,
tôi khóc cả ba ngày, vì thương cho người trung nghĩa bị kẻ gian hãm
hại. Tuy nhiên, khi bà mẹ qua đời, tôi không rơi lệ chi hết, vì nghĩ
rằng buồn quá không còn gì để khóc. Lúc đó, tôi cũng vừa xuất gia,
với mục đích là cắt đứt dòng sanh tử luân hồi. Thuở nhỏ, tôi có biệt
hiệu là Khất Sĩ. Giờ đây, tôi mới thật sự là người khất sĩ, và là
tăng sĩ. Mãi đến khi tôi thủ hiếu bên cạnh phần mộ bà mẹ, cha tôi
mới biết quyết định xuất gia của tôi. Cha tôi suốt ngày chỉ lo uống
rượu. Ông thường tới thị trấn, cách nhà khoảng hai dặm để mua vài
đấu rượu. Ông có thể uống một lần khoảng bốn đấu rượu. Uống rượu no
rồi, ông thường đi ngủ. Sau khi tôi rời miền đông bắc, cha tôi bị
bịnh trong ba ngày liền trước lúc lâm chung. Ông nhịn ăn và ngồi
thẳng mà qua đời. Hiện tại, tôi mời và giúp đỡ người anh thứ ba qua
MỸ, vì ông ta lo lắng cho cha tôi lúc trước. Mọi việc làm tôi đều
được thúc đẩy bởi lòng hiếu thảo. Người khác bàn về việc thực hành
hạnh hiếu thảo chỉ trong vài năm, nhưng riêng tôi thì lại không có
giới hạn thời gian. Tưởng nhớ đến cha mẹ, tôi không dám làm những
việc xấu, vì sợ sẽ trở thành đứa con bất hiếu. Nếu hỏi rằng tôi thực
hành hạnh hiếu thảo đã bao năm thì xin đáp là hiện nay tôi vẫn đang
thực hành. Được người khác khen ngợi là rất hiếu thảo, nhưng tôi cảm
thấy hạnh thủ hiếu của mình chưa được vẹn toàn. Do đó, tôi muốn đối
xử tất cả người già như cha mẹ của mình, vì quán thấy tất cả người
nam là cha, và tất cả người nữ là mẹ của mình trong đời quá khứ, và
là chư Phật trong đời tương lai. Tướng Nhạc Võ Mục, trước mọi buổi
ăn, ông ta đều thành tâm tưởng niệm hai vị vua đời Tống rồi sau đó
mới dùng. Tôi rất ngưỡng mộ những vị như thế, vì họ là các bậc siêu
phàm. Cá nhân tôi không thể xứng đáng làm thầy của trời người.
Lúc thủ hiếu tại am
tranh, có vài lần dân làng thường tưởng am tranh của tôi bị cháy.
Tuy nhiên, lúc họ chạy đến thì không thấy có lửa gì hết. Đêm nọ, khi
tôi đang ngồi thiền, nhập vào không định, quên hẳn nhân ngã, thì đất
đai rung chuyển, khiến tôi chợt cảm thấy thân bị động. Tôi nghĩ thầm:
QuỶ ma nào lung lay thân mình đây? Định lực của nó thật dữ tợn.
Hôm sau, có người
đến báo cho tôi biết là trong vùng vừa xảy ra trận động đất. Khi đó,
một giếng nước kế bên am tranh của tôi bỗng nhiên phun ra lửa, chứ
chẳng phun ra nước. Trên thế gian này có nhiều chuyện lạ lùng thật.
Tôi tin tưởng rằng
bên dưới giếng nước có một khoáng chất hóa học, sulfur, hỗ trợ cho
núi lửa. Do đó, giếng nước mới vụt ra lửa.
Chiều hôm nọ, tôi
thấy đức Lục Tổ đến. Ngài khoảng độ năm sáu mươi tuổi, và mặc y ca
sa màu xám. Ngài giải thích cho tôi nghe về lý lẽ tu hành, và thọ ký
rằng trong tương lai tôi sẽ đến nước MỸ. Ngài cũng cho biết rõ rằng
tôi sẽ gặp những hạng người nào. Dạy bảo xong, Ngài liền biến mất.
Việc này thật lạ lùng, vì tôi trông thấy Ngài rõ ràng trong ban ngày.
Quân Nhật xâm chiếm
vùng đông bắc khi tôi đang thủ hiếu. Có người kể cho tôi nghe rằng
quân Nhật bắt rất nhiều người Tàu và nhốt trong những trại lao công.
Tù nhân không có đủ thức ăn để dùng, quần áo để mặc. Vì vậy, họ chết
đói và chết rét rất nhiều. Thật là cay đắng. Nghe thấy hoàn cảnh khổ
đau của họ, tôi phát nguyện ăn mỗi ngày một buổi. Tôi muốn để dành
buổi cơm sáng và tối cho những ai không có thức ăn. Có người cho
rằng thái độ này rất ngu xuẩn. Vâng, quý vị có thể bảo làm việc này
rất ngu ngốc vì người đói không nhận được phần ăn của tôi để dành,
một cách trực tiếp. Tuy nhiên, quý vị phải biết việc đó dựa trên
định luật bảo toàn năng lượng. Thức ăn tôi không dùng sẽ còn ở trên
thế gian. Vì vậy, tôi phát nguyện ăn mỗi ngày một buổi. Kinh Bốn
Mươi Hai Chương thuyết: Chư tỳ kheo thọ trai mỗi ngày một buổi vào
giờ ngọ, ngủ qua đêm dưới gốc cây; cẩn trọng, chớ làm việc thế sự.
Tôi cũng phát
nguyện rằng không mặc vải ấm. Mùa đông tại vùng Mãn Châu, nhiệt độ
đôi khi dưới 0(C độ khoảng -33(C hoặc -34(C, khiến nhiều người bị
chết rét. Tuy nhiên, ngay cả nhiệt độ thấp như thế, tôi chỉ mặc ba
lớp áo. Dầu cho mùa hè hay mùa đông, tôi đều mặc như thế. Do lời
nguyện này, tôi có thể để dành và hồi hướng phần vải dư cho những
người cần dùng. Họ có nhận được sự lợi ích này không? Một lần nữa,
dựa trên định luật bảo toàn năng lượng, chắc chắn sẽ có người dùng
số vải này. Tôi không cảm thấy lạnh lắm trong thời tiết băng giá.
Sau này, không cần mang giày vớ, tôi có thể đi chân không trên đất
đóng băng mà chân không bị cóng. Từ việc này, khiến tôi nhớ lại một
câu chuyện vui. Đương thời, tôi có một người bạn, khoảng mười tám
tuổi, tánh tình lanh lợi. Thấy tôi đi trên băng tuyết mà không mang
giày vớ, anh ta cũng muốn bắt chước. Chưa đi được một trăm thước thì
chân của anh ta đã bị lạnh cóng và sưng vù. Không thể chịu đựng nổi,
anh ta mau kíp chạy vào chùa. Sáu tháng sau, anh ta mới đi đứng lại
bình thường. Lúc đó, tôi được hai mươi tuổi, tức lớn hơn anh ta hai
tuổi. Tuy nhiên, tôi có thể chịu lạnh được, còn anh ta thì không thể
chịu nổi. Làm thế nào tôi chịu đựng được? Việc này liên hệ với lời
phát nguyện không mặc vải ấm, nên tôi không cảm thấy lạnh lắm.
Ngoài ra, tuy không
ăn nhiều, nhưng tôi vẫn không cảm thấy đói. Trước kia, vào mỗi buổi
ăn, tôi thường dùng khoảng năm chén cơm, tức mười lăm chén mỗi ngày.
Tuy nhiên, vừa phát nguyện ăn mỗi ngày một buổi, tôi chỉ dùng ba
chén cơm là nhiều. Nếu là chén lớn thì tôi dùng hai chén, còn chén
nhỏ thì dùng ba chén. Không phải tôi muốn kiêng cử ăn uống, mà là
cảm thấy chột dạ khi ăn quá nhiều. Dầu ăn ít, tôi vẫn không thấy đói.
Từ đây, tôi nhận rõ lực tác dụng mạnh mẽ của lời phát nguyện, vì
chúng giúp cho mình hành những việc khó hành.
Hầu hết đệ tử của
tôi, xuất gia lẫn tại gia, đều ăn mỗi ngày một buổi. Họ muốn học và
hành theo phương pháp tu hành ngu ngốc của tôi. Có thể cho rằng họ
không biết tu hành. Tuy nhiên, nhìn về khía cạnh khác thì họ tính
toán rất kỸ. Những thức ăn không dùng đến, họ dành để cứu người. Đây
là cách thức gieo duyên ăn uống với người khác. Vì vậy, tôi tin
tưởng rằng mãi mãi họ sẽ không đói khát. Vì sợ đói khát nên phải để
dành thức ăn lại cho mai sau. Người xưa bảo:
- Giảm y phục, tăng phước báo
- Giảm ăn uống, tăng tuổi thọ.
Vì nghĩ rằng mình
sẽ không thể sống lâu nên tôi giảm phần ăn của mình hầu mong tăng
tuổi thọ. Thật ra, việc này không đúng cho lắm. Tôi chỉ nói đùa với
quý vị thôi.
Chúng ta phải hành
theo lời dạy của đức Phật. Phật bảo: Chư tỳ kheo chỉ được ăn mỗi
ngày một buổi, và ngủ dưới một gốc cây vào mỗi đêm.
Các thầy tỳ kheo
không được ngủ dưới một gốc cây trong ba đêm liền, bằng không sẽ có
người tìm đến, dâng đồ cúng dường. Tại sao họ không nhận đồ cúng
dường? Tuy được phép thọ nhận, nhưng không phải do lòng tham kích
động. Sống một nơi trong thời gian dài, duyên pháp sẽ phát khởi. Do
đó có câu:
- Ngồi lâu sẽ nhập thiền định.
- Trụ lâu sẽ phát khởi duyên.
Do đó, ngoại trừ có
những việc quan trọng, tỳ kheo nên đi du phương. Do đó, ở nước Tàu
chư tăng thường đi vân du khắp nơi để lễ bái các tự viện nổi tiếng.
Hạnh này được gọi là ẩn tích che quang. Dầu ở bất cứ nơi nào, chư
tăng không trú quá ba đêm, và không được quảng cáo sự tu hành của
mình.
Khi tôi thủ hiếu
cạnh ngôi mộ người mẹ, có rất nhiều người xôn xao bàn tán. Một số
người nghĩ rằng đó là hành động tốt, phải nên làm. Một số người lại
nghĩ rằng hành động này là ngu xuẩn. Tuy nhiên, trong làng dân chúng
thường đem đồ đến cúng dường cho tôi. Đương thời, một vị thầy nọ có
thần thông ăn uống. Tuy ăn mỗi ngày một buổi, nhưng thầy lại dùng cả
một thúng bánh bao khoảng mười cân. Thầy ăn rất nhanh, giống như ngạ
quỶ! Nghĩ rằng tôi ở tại nghĩa trang không có đủ thức ăn, thầy gởi
cho tôi một thúng bánh bao. Những bánh bao này có tên là trong hai
ngoài tám.
Có một câu chuyện
liên quan đến bánh bao trong hai ngoài tám. Thuở xưa, có một vị tăng
hỏi ngài Triệu Châu:
- Ngài có biết
trong hai ngoài tám là gì không?
Tuy biết đó là một
loại bánh, nhưng Ngài không biết đó là nghĩa gì, nên bảo:
- Hãy đem đến để Ta
ăn.
Vị tăng kia nghĩ
rằng Ngài biết nghĩa này, nhưng thật ra Ngài nào có hiểu đâu. Do đó,
Ngài cảm thấy xấu hổ, thầm nghĩ: Tu hành trong bao năm mà chẳng biết
nghĩa lý của câu hỏi này. Đường tu mù mờ, nên phải đi tham phương
hành cước.
Dầu Ngài muốn đi
tham phương hành cước, nhưng mắt mờ, răng rụng, chân run. Ngài gọi
thị giả trẻ tuổi ra hỏi:
- Con cho Thầy mượn
một vật được không?
Thị giả suy nghĩ:
Nếu thầy mình cần vật gì, sao lại không giúp?
Do đó, thị giả đáp:
- Bạch Thầy! Bất cứ
vật gì Thầy muốn, con đều cho mượn.
- Miễn con đồng ý
là được rồi mà không cần phải hỏi Thầy cần mượn vật gì. Bây giờ con
hãy trở về phòng ngủ đi.
Thị giả cảm thấy
lời yêu cầu này thật lạ lùng, nhưng vẫn nghe lời Ngài, trở vào phòng
ngủ. Hôm sau, vừa thức dậy, thị giả dùng kiến soi mặt, thấy thân
mình thật giống như ngài Triệu Châu, râu dài tóc bạc răng rụng, nên
run sợ tự bảo:
- Quái lạ! Tại sao
mình lại nhập vào thân của lão hòa thượng?
Người thị giả bèn
chạy đi tìm Ngài. Bước vào, thị giả thấy thân mình đứng nơi đó. Sửng
sốt, người thị giả lại càng sợ hãi, la lên:
- Sao lạ lùng vậy!
Ngài an ủi người
thị giả, bảo:
- Hãy bình tĩnh và
đừng làm náo động. Từ từ thầy sẽ trả lại thân cho con. Bây giờ, con
hãy thay thế chức vụ trụ trì vì Thầy cần đi tham phương hành cước
một thời gian.
Sau đó, từ miền nam,
ngài Triệu Châu đi tham phương lên miền bắc. Nơi ấy, Ngài thấy dân
chúng làm bánh bao. Đang lúc làm bánh, họ dùng hai ngón tay để nhồi
bên trong, còn tám ngón tay thì nắn bên ngoài. Ngài liền hỏi họ:
- Bánh này gọi là
gì?
Họ đáp:
- Thầy không biết
bánh này gọi là gì sao? Bánh này được gọi là bánh bao trong hai
ngoài tám.
Bất chợt, ngài
Triệu Châu liền liễu ngộ, nên trở về chùa, trả lại thân cho người
thị giả, và trở lại với thân hình già nua. Do đó có câu: Triệu Châu
tham phương hành cước lúc tám mươi tuổi.
Tuy nhiên, Ngài
không dùng chính thân mình mà mượn thể xác của người thị giả, vì già
nua không thể đi xa. Đó là câu chuyện trong hai, ngoài tám.
Trở lại câu chuyện
về vị thầy có thần thông ăn uống. Thầy gởi khoảng năm sáu chục bánh
bao vì sợ tôi bị chết đói. Số bánh này, thầy ta có thể ăn hết trong
một hai ngày. Tuy nhiên, tôi ăn từ từ, cho đến ba tuần mới hết. Tôi
không phơi khô hay ướp lạnh chúng, vì rất làm biếng. Thường ngày,
sau khi thọ trai xong, tôi bèn ngồi thiền mà chẳng màng đến chi. Kết
quả, bánh bao bị mốc meo vì nhiệt độ nóng bên ngoài. Ngày cuối cùng,
bánh bao bị mốc meo, mọc khoảng một tấc rưỡi. Khi đó, tôi gạt bỏ
những phần bị mốc meo, rồi lại ăn nhưng rất khó nuốt, vì mùi hôi còn
hơn phẩn. Giờ đây, nhớ đến chúng, khiến tôi phải buồn nôn. Tuy nhiên,
tôi không liệng bỏ chúng được, vì đó là vật của người xuất gia cúng
dường cho mình, một sa di trẻ. Thấy tôi ăn những bánh bao này, người
khác liền khuyên là chớ dùng, vì sợ sẽ bị bịnh. Tôi hỏi:
- Nếu bịnh thì có
sao đâu?
Họ đáp:
- Có bịnh thì không
thể tu hành.
- Tôi sẵn sàng chết,
còn nói gì đến việc bịnh hoạn.
Tôi đã xả bỏ thân
tâm, nên ăn bất cứ vật hôi thúi gì cũng được. Tôi ăn những bánh bao
này, nhưng không bị bịnh hoạn chi hết.
Năm mười chín tuổi,
Ngài cắt tóc xuất gia, kết am thủ hiếu. Ngày mười chín tháng sáu,
mùa hạ năm đó, trước chánh điện, Ngài phát đại nguyện:
Kính lạy mười
phương chư Phật, ba tạng giáo điển chánh pháp, chư Hiền Thánh Tăng
trong quá khứ hiện tại và vị lai, xin nguyện chứng minh cho đệ tử Độ
Luân, Thích An Từ. Con nay phát tâm, không cầu phước báo trời người,
Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến chư vị Bồ Tát Quyền Thừa, chỉ y theo
tối thượng thừa, phát tâm Bồ Đề, nguyện cùng pháp giới chúng sanh,
một thời đồng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
1/ Nguyện tận hư
không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Bồ Tát, nếu
còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
2/ Nguyện tận hư
không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Duyên Giác,
nếu còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
3/ Nguyện tận hư
không, khắp pháp giới, mười phương ba đời, tất cả chư Thanh Văn, nếu
còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
4/ Nguyện các loài
trời trong ba cõi, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không
thủ chánh giác.
5/ Nguyện mười
phương, tất cả loài người trong ba cõi, nếu còn một vị nào chưa
thành Phật, con thề không thủ chánh giác.
6/ Nguyện tất cả
loài A Tu La trong cõi trời người, nếu còn một vị nào chưa thành
Phật, con thề không thủ chánh giác.
7/ Nguyện tất cả
loài súc sanh trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật,
con thề không thủ chánh giác.
8/ Nguyện tất cả
loài ngạ quỶ trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật,
con thề không thủ chánh giác.
9/ Nguyện tất cả
loài địa ngục trong pháp giới, nếu còn một vị nào chưa thành Phật,
con thề không thủ chánh giác.
10/ Nguyện tất cả
các vị trời người, tiên thiên, A Tu La, loài vật trên không dưới
nước, loài rồng trong các cõi linh, cùng chúng quỶ thần, đã từng quy
y với con, nếu còn một vị nào chưa thành Phật, con thề không thủ
chánh giác.
11/ Nguyện tất cả
các phước lạc mà con được thọ hưởng, đều đem hồi hướng, bố thí cho
tất cả chúng sanh trong pháp giới.
12/ Nguyện con sẽ
thay thế cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, chịu lãnh thọ hết
tất cả khổ nạn.
13/ Nguyện phân
thân vô số, khắp nhập vào tâm của tất cả chúng sanh không tin Phật
pháp, khiến họ đổi ác hướng thiện, ăn năn hối cải, quy y Tam Bảo, tu
hành rốt ráo thành Phật.
14/ Nguyện tất cả
chúng sanh, nếu thấy mặt cho đến nghe tên con, liền phát tâm Bồ Đề,
sớm thành Phật đạo.
15/ Nguyện tôn kính
giới pháp do Phật chế, thực hành ăn một ngày một buổi.
16/ Nguyện giác ngộ
chư hữu tình, nhiếp thọ hết mọi loài.
17/ Nguyện đời này
đắc được ngũ nhãn lục thông, phi hành tự tại.
18/ Nguyện tất cả
lời phát nguyện đều được thành tựu trọn vẹn.
Văn kết:
- Chúng sanh vô biên, thệ nguyện
độ.
- Phiền não vô tận, thệ nguyện
đoạn.
- Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học.
- Phật đạo vô thương thệ nguyện
thành.
Trong thời kỳ kết
am thủ hiếu, Ngài tôn thủ giới luật Phật chế, ăn mỗi ngày một buổi.
Khi ấy, có một cư sĩ lớn tuổi, tên là Đường Ngọc Minh, mỗi ngày tự
phát tâm đều đem thức ăn đến cúng dường Ngài. Lúc đó, vào đầu mùa hè,
nên ngày ngày trời mưa tầm tả, khiến người bộ hành, đi đứng rất khó
khăn. Vì thương ông cư sĩ tuổi cao sức yếu, Ngài bảo:
- Ngày nào trời
cũng mưa không dứt, đi đứng bất tiện. Thầy vẫn còn lương khô. Cụ hãy
đợi khi nào trời tạnh mưa rồi hãy mang thức ăn trở lại. Lương khô ở
đây, Thầy có thể dùng đến hơn hai mươi ngày.
(Phụ chú:
- Nguyện nhất thiết chúng sanh
- Kiến ngã diện, nãi chí văn ngã
danh.
- Tất phát Bồ Đề Tâm
- Tốc đắc thành Phật đạo.
Dịch:
- Nguyện tất cả chúng sanh
- Nếu thấy mặt hoặc nghe tên tôi
- Sẽ phát tâm Bồ Đề
- Chóng đắc thành Phật đạo.)
Ông lão tin là thật,
nên đợi hơn hai mươi ngày sau, lúc trời tạnh mưa thời tiết trong
lành, mới đem thức ăn trở lại cúng dường Ngài. Lúc đến am tranh, ông
lão mới biết rằng trong suốt hai mươi ngày liền, Ngài ngồi thiền
dụng công, không ăn uống chi cả. Việc này, khiến cho ông lão càng
thêm khâm phục thâm sâu về công hạnh tu hành của Ngài.
Trong mười tám đại
nguyện, có nguyện thứ mười hai: Nguyện con sẽ thay thế, chịu thọ hết
tất cả khổ nạn của chúng sanh trong pháp giới.
Vì vậy, mỗi khi có
người bị bịnh nan y, thành tâm đến cầu xin cứu giúp, Ngài luôn tìm
mọi cách để chữa trị. Ngài biết được rằng tất cả bịnh tật đều phát
xuất từ thân. Thân thể có được là do bốn đại hợp thành. Nếu xả sự
chấp trước vào thân thì bịnh tình tự nhiên thuyên giảm. Xả thân tức
là xả bỏ thân tâm, phá trừ chấp ngã, một lòng niệm Phật. Do lòng
thành, Ngài đã cứu sống rất nhiều người. Vì thế, danh tiếng của Ngài,
ngày một vang xa. Sau đây là vài câu chuyện của những người được
Ngài cứu trị.
*Trong thôn làng,
có một phu nhân tên là Trương Lý Thị, tuổi ngoài bốn mươi, bị bịnh
ói mửa kinh niên trong bốn năm trường mà các bác sĩ đông tây đều bó
tay. Nghe Ngài là người con chí hiếu và cũng thường cứu giúp dân
làng cùng nhiều người khác, nên bà đến cầu xin cứu độ. Quán sát căn
duyên sanh bịnh, Ngài liền giảng giải cho bà nghe đạo lý làm người,
khuyên phải thành tâm sám hối những tội lỗi xưa trước Tam Bảo. Từ đó,
bà chuyên tâm thành ý sám hối, mỗi ngày đến trước tượng Ngài lễ ba
lạy. Qua hai mươi mốt ngày, bịnh tình của bà tự nhiên thuyên giảm mà
không cần uống thuốc.
*Ngoài làng có một
bà họ Đường, do đường sanh sản khó khăn, nên đã trong bốn ngày liền
mà chưa sanh con được. Bác sĩ vô phương cứu chữa, nên sản phụ chỉ
còn nằm thở ngoi ngóp. Người nhà dọ hỏi khắp nơi mới biết đến Ngài,
nên họ vội chạy đến cầu cứu. Ngài bảo họ hãy trở về nhà, và toàn gia
đình phải đồng dâng hương, chí thành niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ
Tát, cùng phát tâm ăn chay trong một trăm ngày thì sản phụ mới có
thể sanh con được bình an vô sự. Họ trở về nhà, làm đúng theo lời
Ngài dạy. Chẳng bao lâu, bà hạ sanh một hài nhi, được mẹ tròn con
vuông. Qua việc này, càng ngày càng có nhiều người tín phục Ngài.
*Trương phu nhân
tại làng Bình Phòng, toàn thân tê liệt đã ba năm, chạy chữa biết bao
bác sĩ cùng các thuật sĩ mà bịnh vẫn không bớt. Nghe những câu
chuyện cứu người của Ngài, gia đình mướn xe chở bà đến am tranh, cầu
xin cứu giúp. Ngài bảo:
- Tôi không biết về
y dược, nhưng có vài người, vì lòng tin nên được cứu giúp. Chẳng qua
tâm tôi chân thành mới cảm hóa được người. Bà phải nên thành tâm sám
hối tội lỗi trong quá khứ, bỏ ác làm lành, cùng thường trì trai niệm
Phật thì nhất định sẽ được cảm ứng.
Trở về nhà, mỗi
ngày bà xá lạy tượng Ngài ba lần. Qua một trăm ngày, bịnh tê liệt
hoàn toàn thuyên giảm, đi đứng như người bình thường. Toàn gia đình
rất đỗi ngạc nhiên. Từ đó, họ đến thọ giới quy y với Ngài, cùng phát
nguyện cúng dường Tam Bảo.
*Cách làng khoảng
bốn mươi dặm, ông Đới Quốc Đường bị bịnh nặng nghiêm trọng; bịnh
tình đã đến thời kỳ cuối cùng, nên tuyệt vọng hoàn toàn; ông ta tìm
đến quỳ lạy khẩn cầu Ngài cứu giúp. Thấy ông thực rất chân thành,
Ngài bảo ông ta phải nhất tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát,
cùng phát nguyện ăn chay trường, chấm dứt nghiệp sát sanh hoàn toàn.
Ông vui vẻ chấp
thuận nghe theo. Ngài cũng gia trì cho ông ta bằng cách niệm Phật,
tụng đọc kinh chú. Khi ấy, toàn thân ông cảm giác thanh tịnh trong
mát, tinh thần sảng khoái. Từ đó, ông quy y Tam Bảo, kiên tâm trì
chú Đại Bi cùng thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Thật lạ kỳ, chẳng bao
lâu sau bịnh tình dần dần thuyên giảm.
*Gia đình của Vương
Phong Nghị cư trú ở làng Đông Bình Tử có hơn ba mươi người; tất cả
đều quy y Ngài. Em của Vương Phong Nghị là Vương Phong Cửu, có một
đứa con trai, đột nhiên bị cảm nặng. Trước chánh điện, Vương Phong
Cửu cầu xin Ngài cứu con ông. Suốt một tuần, ngày nào ông cũng lên
chánh điện khẩn cầu như thế. Vào đêm nọ, ông mơ thấy Ngài đến nhà,
cho con ông uống một viên thuốc. Khi thức dậy, ông phát hiện bịnh
tình của người con đã được thuyên giảm. Từ đó, Vương Phong Cửu càng
sanh tâm cung kính Ngài, lại khuyên bảo thân bằng quyến thuộc, bạn
bè quy y Tam Bảo.
*Cao Đức Phúc tại
thành phố Hợp Nhĩ Tân, Đại Nam Câu, thiên tánh hiếu thảo. Khi mẹ ông
bị bịnh hiểm nghèo, ông phát nguyện đến chùa Tam Duyên, chặt cánh
tay cúng dường, cầu mong chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ cho bà mẹ sớm
được bình phục. Khi đến chùa, lễ Phật xong, ông lấy đao ra, định
chặt cánh tay, nhưng người trong chùa phát giác được, nên chạy ra
ngăn cản. Hỏi ra nguyên nhân rành rẽ, mới biết ông là người con chí
hiếu, xả thân vì mẹ. Cư sĩ Lý Cảnh Hoa dẫn ông đến gặp đại lão hòa
thượng Thường Nhân. Hòa Thượng dạy rằng hãy dẫn ông ta đến gặp Ngài.
Ngài rất cảm động lòng hiếu thảo của ông, nên liền nhận lời đến nhà
cứu bà mẹ. Ngài bảo Cao Đức Phúc hãy chạy xe đạp về nhà trước, còn
Ngài sẽ tự đến sau. Khi Cao Đức Phúc vừa về đến nhà thì thấy Ngài đã
đến trước rồi. Bước vào nhà họ, Ngài thấy bà mẹ đã bị hôn mê trong
bảy tám ngày, tình trạng rất nguy kịch. Lúc ấy, bịnh nhân môi thâm,
lưỡi đen, hơi thở từ từ muốn đứt đoạn. Ngài bắt đầu viết văn sao,
rồi khép mắt trì chú cho đến ba giờ khuya mới nghỉ ngơi. Sáng sớm
hôm sau, bịnh nhân chợt ngồi dậy, kêu tên con bà. Cao Đức Phúc vừa
kinh hãi, vừa vui mừng vô hạn. Bà mẹ bảo:
- Mẹ đi lạc đường
đã mấy ngày liền, không biết cách nào trở về nhà. Chiều hôm qua, mẹ
gặp một vị hòa thượng, được Ngài dẫn về nhà. Hiện tại, mẹ cảm thấy
rất đói bụng. Con mau ra sau bếp, nấu cháo cho mẹ dùng.
Cao Đức Phúc nghe
thế, vui vẻ chỉ tay đến Ngài và hỏi bà mẹ:
- Vị Hòa Thượng mà
mẹ nói đó, vậy có phải là Ngài này không?
Mẹ ông nhìn Ngài
một chập rồi nói:
- Đúng rồi! Chính
là Ngài đã dẫn mẹ trở về nhà.
Qua việc này, toàn
gia đình Cao Đức Phúc bèn thọ giới quy y.
*Mùa thu, năm Dân
Quốc thứ ba mươi bốn, sau khi quân Nhật đầu hàng, vùng đông bắc hỗn
loạn, dân chúng bị bịnh truyền nhiễm, nên chết đầy dẫy nhiều vô số
kể. Tại làng Du Phường, phía nam thành phố Hợp Nhĩ Tân, có gia đình
họ Mai, chỉ trong ba ngày tất cả mười một người trong nhà đều chết
vì bịnh truyền nhiễm. Ngoài ra, một người làm công và người con rễ
cũng đang trong tình trạng nguy kịch. Ngài nghe chuyện thảm thương
như thế, nên vừa đi rẩy nước và vừa trì chú Đại Bi vòng khắp làng xã,
thị trấn. Kỳ lạ thay, Ngài rẩy nước đến nơi nào thì chỗ đó không còn
nghe việc người chết vì bịnh truyền nhiễm nữa.
Ngài tự thuật: Lúc
quân Nhật xâm chiếm vùng Mãn Châu vào ngày mười tám tháng chín năm
1931, tôi vẫn còn nhỏ dại, không biết gì về tổ quốc, gia đình. Sau
này, quân Nhật xâm chiếm nước Tàu và đốt phá bắn giết người Tàu,
khiến tôi cảm thấy thật bất công. Họ có quyền gì mà muốn xóa bỏ nước
Tàu? Tôi muốn tham gia quân cách mạng để đánh đuổi quân Nhật ra khỏi
nước, hầu mang lại ấm no hạnh phúc cho người Tàu. Tuy nhiên, vào lúc
cuối, tôi không thể thực hiện được ước muốn này, vì không thể xoay
ngược ý trời. Tôi không hận người Nhật vì biết rằng giữ tâm sân hận
là vô ích. Tôi chỉ tìm cách chống lại họ bằng lửa vì họ thuộc về
chất lửa, tức lấy độc trị độc, nghĩa là đốt nơi trú ở của họ. Tôi
cũng muốn viết báo để cổ võ cuộc cách mạng, nhưng không thành công.
Sau này, tôi chọn con đường làm tu sĩ, quyết tâm lập chí, vượt ngoài
thế sự, hoằng dương Phật pháp. Suốt đời, tôi hối tiếc là mình chưa
có thể hoàn thành trách nhiệm của một công dân, dùng xương máu để
báo đền ân nước. Dựa trên ngũ hành, tôi tiên đoán là quân Nhật sẽ
suy yếu dần và sẽ ra khỏi nước Tàu trong vòng năm năm. Thời quân
Nhật vừa đầu hàng, chánh phủ trung ương chưa tiếp thu vùng Mãn Châu;
quân cộng sản chưa nắm chính quyền; quốc gia vô chánh phủ nên có rất
nhiều quỶ ma và quái vật hiện hình trên các đường phố. Những người
đi trên đường phố thật ra là ma quỶ, nhưng không ai nhận ra hay
khống chế được chúng. Phù thủy đồng bóng đầy dẫy khắp nơi, mà chúng
cũng là ma quỶ hiện ra quấy phá. May mắn thay, vẫn còn có người tụng
thần chú Lăng Nghiêm. Vì vậy, dầu ma quỶ hiện hình nhưng chúng không
dám làm náo loạn. Hầu hết mọi người không biết đến điều này, nhưng
tôi thấy rõ ràng những việc gì xảy ra.
*Lần nọ, một em bé
đang chơi ngoài sân, vô ý bị sâu độc cắn vào vành tai. Bé thở hổn
hển, đầu nhức dữ dội, sắc mặt xanh xao trắng bệt. Vì bị sâu độc cắn,
nên không có cách gì để chữa trị. Lúc người nhà mang em đến cầu cứu,
Ngài bèn trì tụng thần chú Bồ Tát Quân Trà Lợi. Vài tiếng sau, bé tự
nhiên tỉnh dậy như thường. Do đây mới biết công dụng của thần chú
thật không thể nghĩ bàn. Tuy nhiên, người trì tụng chú nhất định
phải chuyên tâm thành ý, trì giới thanh tịnh, chân chánh tu hành,
thì tự nhiên sẽ được chư Phật chư Bồ Tát, cùng tám bộ trời rồng thầm
gia hộ. Dầu tụng chú mỏi hơi rát cổ mà không nghiêm trì giới luật
thì sẽ bị đọa lạc vào đường ma.
*Từ khi Ngài kết am
thủ hiếu, có hơn hai ngàn người xa gần đến quy y. Lúc ấy, một vị tú
tài triều Thanh tên là Cốc Giới Tam, học rộng hiểu nhiều, thâm hiểu
tiếng Tàu. Trong thời loạn ly, ông thuộc loại người không cần ra cửa
mà vẫn biết chuyện thiên hạ, như phượng hoàng lân giác. Thế nên, mọi
người đều rất kính trọng những người như ông ta. Công việc thường
ngày của ông là dạy học. Ông cũng nghiên cứu Phật pháp thâm sâu,
nhưng chỉ tiếc là chưa có thể lãnh hội được hết những lời dạy cao
siêu của Phật. Nghe hạnh tu trì của Ngài, ông đến cầu xin chỉ dạy.
Ngài dạy ông những điểm trọng yếu trong sự tu hành cùng pháp môn tâm
địa, không lập văn tự. Vừa nghe xong, ông rất vui mừng, cảm phục và
cầu xin thọ giới quy y Ngài. Dân Quốc năm thứ ba mươi hai, ông ngồi
xếp bằng mà tịch, gương mặt vẫn hồng hào như lúc sống.
*Một gã ăn mày tên
là KỶ Đại Phúc, thường đến am thủ hiếu để đảnh lễ Ngài. Ngày nọ, sau
khi lạy xong, ông hỏi:
- Xin Ngài giải
thích cho biết tại sao con phải lâm vào tình cảnh nghèo khổ như vầy?
Ngài giảng giải cho
ông ta nghe về đạo lý nhân quả trong ba đời. Ngài nhắc rằng kinh có
dạy:
- Tại sao được
hưởng vinh hoa phú quý trong hiện đời? Vì đời trước đã từng cúng
dường Tam Bảo, bố thí cho người nghèo. Tại sao đời này lại nghèo hèn?
Vì đời trước chưa từng cứu giúp người nghèo.
Nghe xong, KỶ Đại
Phúc liền hiểu rõ đạo lý nhân quả, nên nói:
- Con thường tự hỏi
rằng trong đời, mình chưa làm gì sai trái, mà sao bị khốn khổ nghèo
cùng, đến nỗi phải đi ăn xin nơi nhà người? Ngày nay mới biết là đời
trước thường bỏn xẻn keo kiệt, không hiểu quả báo của sự bố thí. Vậy
thì đời này, có cách gì để cứu vãn hoàn cảnh hiện tại không?
Người quân tử học
cách tạo mạng. Kể từ bây giờ trở đi, Ông phải nên bắt đầu nỗ lực tạo
nghiệp lành, tích tụ công đức cho nhiều, tự mình thay đổi vận mạng,
thì phước gì lại không đến! Xưa kia, Chu KỶ là kẻ ăn xin, nhưng nhờ
hiểu rõ lý nhân quả báo ứng, nên nỗ lực tạo công đức, sửa chữa cầu
đò. Đời sau, ông được sanh vào nhà Đế Vương, hưởng thọ phước báo tôn
vinh của một vì hoàng tử. Đấy có phải là biện pháp cải đổi vận mạng
không?
KỶ Đại Phúc nghe
thế rất vui mừng, lòng tràn trề niềm hy vọng vào cuộc sống tương lai,
nên thỉnh cầu quy y Tam Bảo làm đệ tử Ngài. Trong lúc xin ăn, ông
luôn niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Xin được bao gạo nào, ông liền
dành dụm, bố thí lại cho những người nghèo cùng khác. Ngày thường,
nếu có cơ hội, ông đều vui vẻ tùy duyên làm việc lành. Cứ như thế,
ông tích tụ công đức được vài năm. Mùa đông, năm Dân Quốc thứ hai
mươi chín, ông dự biết ngày vãng sanh. Đến ngày đó, quả nhiên ông
vãng sanh trong lúc niệm Phật.
*Trong thôn có bà
tên là Viên Mộ Hàng, nổi danh hung tợn ngang ngược. Thường ngày,
không biết kính nể chồng, lại thêm chửi mắng vô lễ với cha mẹ chồng,
không thuận hòa với chị em dâu, cùng họ hàng thân thuộc và bà con
lối xóm. Bà chẳng cung kính quỶ thần, không tin nhân quả, lại còn
hủy báng. Nói chung, bà không làm việc lành gì cả, còn bao việc xấu
thì đều có phần. Thế nên, người trong thôn đều gọi bà là Hổ Cái.
Ngày nọ, bà cùng những người khác đến am thủ hiếu, và thấy Ngài ngồi
xếp bằng, xoay mặt về hướng tây, âm thầm niệm Phật. Vì không biết
Ngài làm thế với mục đích gì, nên bà hỏi:
- Thầy đang làm gì
vậy?
Ngài đáp:
- Tôi đang niệm
Phật để cầu siêu độ cho người mẹ. Hy vọng mẹ tôi sớm được vãng sanh
qua cõi Cực Lạc ở phương tây, hầu mong đáp đền ân đức sanh thành
dưỡng dục. Đó là đạo làm người căn bản.
Do không tin có quỶ
thần, nên khi nghe Ngài nói như thế, bà ta lại càng thêm nghi mà hỏi:
- Có phải sau khi
chết, con người liền biến thành ma không?
- Tại sao chỉ nói
chết rồi mới biến thành ma! Có người, lúc sống tâm chứa toàn tâm ma,
nói lời ma, làm việc ma, vậy có khác biệt gì với ma? Kẻ thường sân
hận tức là quỶ mặt đỏ. Kẻ thường oán giận, tức là quỶ mặt vàng. Kẻ
thường quấy nhiễu người, tức là quỶ mặt trắng. Người dễ nóng giận,
tức là quỶ mặt xanh. Kẻ thường chọc giận người, tức là quỶ mặt đen.
Nếu dùng tâm sân hận, oán giận, buồn bực, phiền muộn mà đối đãi với
người thì làm năm loài quỶ trên. Khi ấy, gia đình chắc chắn không
bình an, hay bị tổn khí hao tài và thiên tai hoạn nạn thường đến
liên tục. Tâm người là thần; thần cũng là tâm. Nếu bà khởi tâm lương
thiện, tức là tánh thần. Nếu bội ngược tâm lương thiện thì tức là
khi dể thánh thần. Sau khi chết, chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục, chịu
bao khổ đau. Lúc đó, muốn thoát ra địa ngục, e rằng đã quá muộn.
Chúng sanh bỏ tánh giác mà hợp với trần lao, bỏ chân theo vọng, xa
rời tự tánh sẳn có, chạy tìm cầu vật chất hão huyền ở thế gian. Nếu
biết xoay chuyển, bỏ trần lao để hợp với tánh giác, xả vọng về chân
thì đồng như Phật không khác, mãi mãi thoát khỏi sáu đường luân hồi,
chấm dứt sanh tử.
Vừa nghe những lời
như thế, rồi nhớ lại bao tội lỗi của mình lúc trước, bà ta hốt hoảng
run sợ mà khóc lóc, thưa:
- Lúc trước, con
nào biết đạo lý làm người, lại không tin nhân quả báo ứng, nên gây
bao tội lỗi. Hôm nay nhờ Pháp Sư từ bi chỉ dạy mới biết tội mình quá
nặng nề nên rất ăn năn hối hận, nhưng không biết phải làm gì để
chuyển nghiệp xấu?
Nói xong, bà khóc
nức nở, thỉnh cầu Ngài cứu giúp. Ngài bảo:
- Bà đã nhận rõ
những việc quấy ngày trước, tức là tánh lương thiện phát khởi, căn
lành đâm chồi nẩy sinh. Bà chỉ nên sửa đổi tâm tánh, chớ quá bi
thương sầu lụy. Làm người chứ đâu phải thánh hiền, ai mà không có
tội lỗi? Bà chỉ nên thành tâm sám hối thì những nghiệp tội thâm
trọng kia đều sẽ tiêu trừ. Bà hãy coi mình như đã chết vào hôm qua.
Sau khi thành tâm sám hối, bà phải nên phát nguyện làm tròn bổn phận
của người tại gia, gắng sức hộ trì, hoằng dương Phật pháp, khuyên
người làm việc lành, quy y Tam Bảo. Khi công đức của bà được đầy đủ,
thì những tội lỗi xưa đều tiêu tan hết. Tại sao? Kẻ đại gian ác nếu
biết xoay đầu cải đổi, thì là người đại thiện. Người đại thiện tạo
tội, lần lần cũng thành kẻ đại gian ác.
Nghe như thế, tâm
bà vui mừng hớn hở, đứng dậy lễ ba lạy, cầu xin thọ giới quy y,
chính thức làm đệ tử Ngài. Sau khi quy y Tam Bảo, không những bà sửa
đổi tâm tánh mà còn tự đi khắp nơi hoằng pháp, chỉ dạy người đời. Về
sau, có hơn tám trăm người được bà dẫn đến quy y Ngài. Khi ấy, thân
bằng quyến thuộc trong thôn làng thấy tâm tánh bà thay đổi nên rất
đỗi kinh ngạc và xem như hai con người. Biệt hiệu Hổ Cái nay không
được dùng nữa, mà mọi người lại gọi bà là Quán Âm Tiếp Dẫn. Bà ăn
chay niệm Phật, hoằng dương Phật pháp, khuyến hóa người đời, cứ như
thế trong mười năm mà vẫn như một ngày. Hạ tuần tháng tám năm Dân
Quốc thứ ba mươi ba, bà dự biết được ngày vãng sanh của mình, nên
bảo người nhà:
- Xưa kia, tôi vốn
tạo bao tội trọng, nhưng sau khi quy y Tam Bảo rồi thì sửa đổi tâm
tánh, hướng về việc lành, cùng khuyến hóa người. Do những công đức
đó, nay biết được rằng mười chín tháng chín sẽ là ngày vãng sanh.
Lúc đó, quý vị chớ buồn rầu, xin hãy niệm Phật trợ niệm cho tôi!
Đến ngày mười chín
tháng chín, quả nhiên trong khi niệm Phật, bà được vãng sanh, thọ
sáu mươi chín tuổi.
*Vùng cạnh thôn của
Ngài có một cậu học sinh họ Đường, tuy đã mười bốn tuổi nhưng thân
thể yếu ớt bịnh hoạn, lại rất ngu si, đọc chi rồi cũng quên hết. Tuy
cha mẹ tìm bao cách dạy dỗ đốc thúc, nhưng đều không hiệu quả. Khi
ấy, do có lần cậu ta nghe người trong thôn kể về sự tích của Ngài,
nên có ý định là sẽ đến cầu xin chỉ dạy. Ngày nọ, cậu ta cùng với
mười lăm bạn đồng học, đến quỳ lạy, chắp tay khẩn cầu Ngài từ bi chỉ
bảo cách khai mở trí huệ để học thuộc bài dễ dàng. Ngài bảo:
- Phương pháp học
bài có ba vào ba trên. Ba cách vào tức là vào tâm, vào miệng, vào
mắt. Dùng mắt xem bài; dùng miệng đọc bài; dùng tâm suy nghĩ. Ba
trên nghĩa là trên đường, trên gối, trên sàn cầu. Lúc đi trên đường
nên suy nghĩ, nhớ lại bài học mà thầy cô vừa dạy trong trường. Trước
khi đi ngủ, phải đọc qua một lần những bài học đó. Lúc ngồi trên sàn
cầu, đừng để uổng phí thời gian vì vọng tưởng mà nên gắng tâm, nhớ
lại những gì mình đã học vừa qua. Khi học bài, nếu có ai mở nhạc
cũng không nghe, hay có sắc tướng gì kỳ lạ cũng không nhìn. Các con
nếu cứ thế mà chuyên tâm nhất ý thì chẳng việc chi lại không hiểu,
còn nói gì đến việc học thuộc bài!
Bọn học sinh nghe
như thế liền hiểu rõ. Sau khi trở về nhà, chúng y theo lời Ngài dạy,
nên quả nhiên trí huệ được khai sáng. Từ học sinh bình thường, nay
trở thành thông minh, khiến cha mẹ và thầy cô giáo của chúng đều
ngạc nhiên. Từ đó, học sinh khắp nơi tìm đến xin quy y và cầu Ngài
chỉ dạy.
*Tại tỉnh Kiết Lâm,
huyện Ngũ Thường, có một em bé tên là Trịnh Hiếu Đức. Lúc năm sáu
tuổi, em bắt đầu lễ lạy cha mẹ, rất mực hiếu thảo. Danh hiếu thảo
của em vang đồn khắp nơi. Có nhiều đạo sĩ bàng môn tả đạo chuyên bày
chuyện dị đoan, gạt gẫm, hà hiếp người đời, muốn em làm đệ tử của họ.
Tuy nhỏ, nhưng em rất mực ngay thẳng. Nghe hiếu hạnh của em, Ngài
tìm đến xem coi hư thật.
Trịnh Hiếu Đức lúc
đó được mười một tuổi. Từ trong song cửa, thấy Ngài đang bước vào
sân nhà, em liền thưa với mẹ:
- Thưa mẹ! Thầy của
con đang đến kìa!
Mẹ em hỏi:
- Ai là thầy của
con?
Trịnh Hiếu Đức chưa
kịp trả lời, vội chạy ra ngoài sân nghinh tiếp, cúi đầu đảnh lễ Ngài.
Sau khi bước vào nhà và ngồi xuống ghế xong, Ngài hỏi:
- Ai dạy con lễ lạy
cha mẹ vậy?
- Con nghe ở huyện
Song Thành có mười bốn người chí hiếu, nên nay bắt chước họ.
Cha của Trịnh Hiếu
Đức vui vẻ xen vào, thưa:
- Thực là nhờ phước
đức tổ tiên ông bà, nên chúng con mới có đứa bé hiếu thảo này. Mong
cầu chư Phật gia hộ, che chở cho nó.
Đàm đạo một hồi,
Ngài từ trên giường bước xuống, tìm đôi dép mãi mà không được, chỉ
thấy Trịnh Hiếu Đức quỳ dưới đất, khẩn cầu:
- Kính bạch Thầy!
Thầy đã đến đây! Vậy kính thỉnh Thầy ở lại dùng cơm trưa.
Ngài chấp thuận. Ăn
cơm xong, Ngài dạy Trịnh Hiếu Đức:
- Con đã quy y, gọi
Ta bằng Thầy. Thế thì, con phải nghe lời Thầy, hay Thầy phải nghe
lời con?
- Bạch Thầy! Đương
nhiên là đệ tử phải nghe lời Thầy. Nay con xin sám hối.
Trịnh Hiếu Đức thật
rất thông minh lanh lợi, tự biết lỗi lầm.
Ngài dạy:
- Lúc tu đạo, tâm
phải thẳng thắn chánh trực. Như con vừa dấu đôi dép của Thầy, đó là
dùng thủ đoạn của người đời, tức không tôn kính thầy trọng đạo chút
nào.
Trịnh Hiếu Đức nghe
như thế, xấu hổ mà khóc. Ngài dạy thêm:
- Niệm Phật phải thường không
dứt đoạn.
- Miệng niệm Di Đà mãi thành
khối
- Không khởi tạp niệm đắc tam
muội
- Vãng sanh Tịnh Độ chắc có phần
- Ngày cuối chán khổ cõi Ta Bà
- Tâm niệm vừa rồi nhàm bụi trần
- Cầu sanh Cực Lạc ý niệm trọng
- Xả bỏ niệm nhơ, quy niệm tịnh.
Thông thường, đối
với các đệ tử lớn tuổi, Ngài dạy họ ngồi thiền, tập định. Tuy nhiên,
về phần Trịnh Hiếu Đức, Ngài dạy em chuyên tu pháp môn niệm Phật, y
chiếu theo các câu kệ trên mà hành, và nhắc nhở lý nhân trước quả
sau. Thật ra, nếu không phải là người sáng mắt thì không thể hiểu
được.
Nơi thủ hiếu là
vùng nghĩa địa hoang vu, không người lui tới, vậy mà cũng có dân
chúng đến vì muốn cầu kiến Ngài. Có người bịnh nặng, được Ngài cứu
chữa lành, nên thường tới lui lễ bái. Lại có người thấy đức hạnh thủ
hiếu bên ngôi mộ người mẹ và oai nghi đạo hạnh của Ngài, mà đến quy
y Tam Bảo. Am tranh nhỏ, được dân làng tôn sùng, nên trở thành ngôi
miếu tự. Sau khi mãn hạn thủ hiếu ba năm, Ngài đến ẩn cư tại động Di
Đà, nơi phần núi Đông Bộ, thuộc rặng núi Trường Bạch. Tại đó, cây
cối rậm rạp um tùm, nhiều chim chóc thú rừng hoang dã, không dấu
chân người. Thật là nơi lý tưởng cho những ai muốn tu hành khổ hạnh.
Lúc ẩn cư tu hành, đói thì ăn rau dại, khát uống nước suối. Thỉnh
thoảng, Ngài xuống núi mua nhang dầu.
Ngài tự thuật: Lúc
mười chín tuổi, tuy là sa di, nhưng có rất nhiều người ở vùng Mãn
Châu đến cầu xin quy y với tôi. Tại sao? Vì họ thấy tôi khác lạ hơn
những người khác. Mùa đông, tôi đi chân không trên tuyết mà không bị
lạnh cóng, và chỉ mặc ba lớp áo cả năm này tháng nọ, dầu nhiệt độ có
xuống dưới không độ khoảng 33 hoặc 34 độ C. Họ thấy tôi hành được
những hạnh này, nên muốn quy y với tôi.
Tuy không muốn thâu
nhận đệ tử, nhưng họ quá thành tâm cầu khẩn. Tôi nhớ đến một đạo sĩ
ngoại đạo, tên là Quan Trung HỶ (có lẽ là con cháu của Quan Đế Công)
sống cạnh sông Bối Nhân, Mãn Châu. Vì là người miền núi, đầu gối của
ông rất to. Ông tự lập một đạo, được gọi là Thu Nguyên, và thu nhận
trên ba ngàn đệ tử. Ai muốn nhập đạo thì phải trả một số tiền rất
lớn. Tại sao? Vì ông ta có những bảo bối quý giá. Mỗi bảo bối trị
giá khoảng một ngàn đồng. Thật ra, ông ta chỉ có bảo bối trên ngôn
từ, chứ không có thực thể. Ông ta giải thích:
Vì chưa đúng lúc,
Ta không thể giao bảo bối cho quý vị được. Đúng thời điểm, Ta sẽ đưa
bảo bối, thì quý vị mới có thể dùng được.
Nghe như thế, ba
bốn ngàn đệ tử tin tưởng những lời này. Lúc ấy, tuổi của ông ta trên
bốn mươi. Về sau, tự biết không thể tiếp tục lừa phỉnh người, không
có gì để hộ vệ sanh mạng, và không biết đạo lý tu hành, nên ông ta
đi tham phương học đạo khắp nơi. Thời đó, tại vùng Mãn Châu, bàng
môn tả đạo xuất hiện rất nhiều như Ngọc Hư Môn, Như Ý Môn, v.v...
Mỗi khi nghe có người tu hành đạt đạo, dẫu xa cách mấy, ông ta vẫn
tìm đến thỉnh cầu chỉ dạy phương pháp tu hành. Dẫn theo người cháu
là Quan Chiêm Hải, ông ta đi khắp nơi trong ba năm. Sau ba năm tầm
cầu, ông không tầm được đạo, nên rất lo lắng. Mỗi ngày, ông thầm lo
nghĩ: Cái chết gần kề mà mình chưa biết cách tu đạo.
Người cháu của ông
ta không muốn lập gia đình, nên cả hai chú cháu trở thành người mê
đạo. Ngày nọ, tôi đến nhà của họ. Lạ lùng thay! Trước khi tôi đến,
Quan Chiêm Hải có mộng thấy một giấc mơ. Trong giấc mơ, lúc thấy tôi
đến nhà rồi ngồi trên giường, ông ta bèn quỳ xuống và cầu xin chỉ
dạy cách tu đạo. Ông lại thấy tôi dùng hai tay lột da của ông ta
trông giống da heo, rồi liệng xuống đất. Ông nghĩ thầm: Tại sao mình
có da heo trên thân?Trong giấc mơ ông nghe tôi bảo:
- Ngươi chưa ăn
chay trường, vẫn còn ăn thịt heo, nên trong tương lai trên lưng
ngươi sẽ có da heo.
Ông ta hoảng sợ, la
lên:
- Ô! Làm thân heo
thật dơ bẩn, không có ý nghĩa gì.
Lúc đó, ông ta liền
thức dậy. Hôm sau, tôi đến nhà họ. Người cháu thưa với ông chú:
- Chú có nhận ra vị
thầy này không?
Ông chú đáp:
- Chú biết vị thầy
này lúc trước có hành hạnh thủ hiếu bên phần mộ người mẹ.
- Đêm qua cháu mơ
thấy vị này đến nhà mình, mà hôm nay Ngài đến thật sự.
- Thật à! Cháu mơ
thấy những gì?
Người cháu kể lại
giấc mơ xong, ông chú bảo:
- Đây chắc hẳn là
một vị đạo nhân đến nhà mình truyền đạo hôm nay. Hai chú cháu mình
phải thành tâm cầu pháp.
Bàn xong, họ bước
vào căn phòng tôi đang ngồi, rồi đóng cửa lại và quỳ xuống cầu đạo.
Tôi bảo:
- Quý vị bị bịnh
thần kinh mới đi cầu đạo nơi tôi. Ngoài việc ăn ngủ ra, tôi không
biết gì cả. So với quý vị, tôi không khác chút nào, vì chưa hề biết
gì là đạo.
Họ thưa:
- Chúng con biết
Ngài hành hạnh thủ hiếu.
Ông chú tuy biết
tôi đã từng hành hạnh thủ hiếu nơi phần mộ người mẹ, và muốn tìm gặp
tôi, nhưng chưa có dịp. Ông chú lại nói:
- Con biết là Ngài
sẽ đến đây giáo hóa vì đêm qua người cháu mơ thấy Ngài lột da heo
cho nó.
Tôi bảo:
- Ông nói lời thật
quá hàm hồ. Người cháu của ông không phải là heo, làm sao tôi lột da
heo cho hắn được?
- Tuy nhiên, đây là
sự thật! Dầu gì đi nữa, xin Ngài hãy dạy chúng con cách thức tu hành.
- Tôi không biết
cách dạy quý vị tu hành. Quý vị nên đi tầm sư học đạo. Tôi có thể
giúp đỡ quý vị bằng cách giới thiệu một vị thiện tri thức.
- Chúng con đã đi
khắp nơi tầm cầu trong ba năm trường mà không tìm được ai. Đến đâu
cũng nghe toàn là tiếng hay mà công phu tu hành chân chánh lại không
có.
- Tôi có thể giúp
quý vị đi tìm.
Họ vốn muốn lễ lạy
tôi làm thầy, nhưng tôi không biết rằng họ là chân hay giả, có thật
tin, hoặc thử thách mình! Tôi không bao giờ làm việc một cách cẩu
thả, nên dẫn họ đến gặp đại sư Thường Nhân và các vị cao nhân tu
hành. Tuy gặp được các ngài, nhưng họ vẫn không chịu quy y, lễ bái,
mà chỉ nằng nặc muốn lễ tôi làm thầy. Lúc ấy, tôi chỉ là sa di, nên
không muốn nhận đệ tử, nhưng họ cứ quỳ mãi trước mặt tôi mà không
đứng dậy. Sau này, tôi dạy Quan Trung HỶ xếp bằng ngồi thiền, bảo:
- Ông chớ cho rằng
tôi có đạo đức. Trong buổi đầu, vì chưa gặp được thiện tri thức, tôi
sẽ chỉ ông phương pháp tu hành. Ông phải nên tập xếp bằng ngồi thiền.
Nếu ngồi xếp bằng được, tôi sẽ trở lại chỉ dạy tiếp tục.
Đối với người cháu,
việc ngồi thiền như thế rất dễ dàng. Ngược lại, Quan Trung HỶ tuy
nghe theo và quyết chí thực hành ngồi xếp bằng thẳng lưng, nhưng vì
lớn tuổi và đầu gối to, nên khi ngồi thì bắp đùi lại hổng lên. Ông
ta cố gắng ngồi, bằng cách đè đầu gối xuống. Trở lại nhà họ trong
một tuần sau, tôi thấy đầu gối ông ta bị sưng vù, không thể đi đứng.
Tôi bảo:
- Thôi, ông đừng cố
gượng ngồi xếp bằng nữa!
Ông chú đáp:
- Con vẫn ngồi xếp
bằng dầu cho đầu gối có bị sưng.
- Chớ nên cưỡng ép,
ông không thể chịu nổi đâu.
- Như thế là nghĩa
gì? Gần chết mà con không tu, thì đợi đến bao giờ mới chịu hành! Dầu
gì đi nữa, con nhất quyết ngồi thiền. Nếu có chết, đó là việc thường
tình. Nếu vẫn còn sống thì con phải tu hành.
- Cứ việc làm theo
ý của ông.
Nói xong, tôi bỏ ra
về. Một trăm ngày sau, tôi trở lại, thấy đầu gối của ông ta không
còn bị sưng nữa. Tôi hỏi:
- Ông không còn xếp
bằng, ngồi thiền nữa à?
Ông ta cười, nói:
- Con xếp bằng ngồi
thiền được rồi. Dầu ngồi bao lâu đi nữa, chân con vẫn không bị đau
hay sưng.
Kế đến, tôi chỉ dẫn
ông ta cách thức dụng công ngồi thiền và tham thiền. Ông chú rất vui
mừng và tu thiền mỗi ngày trong ba năm liền. Ba tháng trước khi qua
đời, ông ta nhóm họp thân quyến lại, bảo:
- Vào giờ đó, ngày
đó, tôi sẽ qua đời. Ước muốn của tôi hiện nay là được thấy thầy mình.
Tuy nhiên, tôi không biết Ngài đang ở tại đâu, nên không thể tìm
được.
Đến ngày ra đi, ông
ta ngồi xếp bằng, không bịnh mà qua đời. Đêm hôm đó, có rất nhiều
dân làng mơ thấy ông ta được hai đồng tử mặc áo sòng màu đen, hướng
dẫn bay về hướng tây.
Ông chú vốn là
ngoại đạo, nhưng sau này học chánh pháp và tu hành không sợ khổ nhọc,
bịnh tật, nên mới đạt chút ít thành tựu. Nếu ngừng tu hành lúc đầu
gối bị sưng, thì tôi nghĩ rằng ông ta không thể thành tựu được như
thế. Người tu hành phải chịu khổ đau trước khi đạt được niềm an lạc
vĩnh cửu. Nếu không chịu nổi những khổ đau tạm thời thì không thể
đạt đến nơi thường lạc. Quan Trung HỶ là gương sáng tu hành cho
chúng ta. Nếu muốn đạt chân định, chân huệ, thường lạc, thì đầu tiên
nhất định phải chịu đựng sự đau khổ.
Bàn về người cháu,
vào lúc đó, nó vẫn theo tôi. Ngày nọ, đang cùng tôi đi trên đường,
nó chợt quỳ xuống nắm vạt áo của tôi, cầu xin làm đệ tử. Tôi bảo:
- Tôi không tu hành
gì cả. Ông quy y tôi có lợi ích gì?
Nó thưa:
- Con nhất quyết
muốn quy y Ngài.
Tôi vùng tay ra và
bỏ đi. Đi khoảng một dặm, rồi xoay đầu lại, tôi thấy nó vẫn còn đang
quỳ. Trở lại, tôi thấy nó khóc nức nở. Vì vậy, bắt buộc tôi phải
nhận nó làm đệ tử đầu tiên của tôi. Nó thật có hiếu, vì luôn lo lắng
cho thầy mình.
Sau này, vì biết
mình không có đạo đức và không đáng làm thầy người khác, nên tôi
|