|
Biên Niên Tự Thuật
của
Thiền Sư Hư Vân
(Việt dịch, Thích
Hằng Ðạt)
Dân Quốc năm thứ 14, 86 tuổi. (1925/26)
Mùa xuân, sau kỳ truyền giới, tôi ở lại
chùa giảng kinh. Giảng xong, nơi thiền đường, khai mở một tuần thiền thất.
Vùng núi của chùa, rất rộng lớn, cây cối um tùm, cần phải đốn bớt. Tôi
nhờ người trong thôn đến cùng với đại chúng đốn củi, rồi phân làm nhiều
loại, chia cho họ nửa phần. Họ đều vui vẻ.
Năm đó, tỉnh Vân Nam cải đổi, bỏ chức
đề đốc tỉnh trưởng. Họ Đường từ chức, trở về ở ẩn, thường lui tới núi
đàm đạo.
(Đại sự trong năm: Tiên sinh Tôn Trung
Sơn qua đời tại Bắc Kinh. Tháng sáu, thành lập chánh phủ Dân Qụốc tại
Quảng Châu.)
Dân Quốc năm thứ 15, 87 tuổi. (1926/27)
Nhiều biến cố xảy ra trong năm. Binh lính
trú tại nhà dân. Dân chúng không ai sống được an ổn, lại không dám ra
ngoài đồng gặt hái trong mùa lúa chín vì sợ binh lính. Tôi đến doanh trại
lính, bàn thảo với các tướng chỉ huy. Sau đó, họ ra lịnh cho quân lính là
không được cản trở khi có tăng chúng cùng nông dân ra đồng gặt lúa. Vì
thế, vài ngàn nông dân cùng đến chùa ở. Lúc đầu, cùng đồng ăn cơm. Kế
đến, phải ăn cháo. Cuối cùng, hết gạo, chỉ uống nước thôi. Dân chúng thấy
tăng chúng đồng cam cộng khổ như thế, nên rất cảm động. Khi hiện tình quân
binh được an ổn thì dân chúng đồng trở về nhà. Kể từ đó, dân chúng hết
lòng giúp đỡ, bảo hộ chùa chiền, thật rất thành tâm.
Từ lúc tôi trụ trì chùa Vân Lâu, mỗi
năm đều mở kỳ truyền giới, giảng kinh, khai thiền thất. Năm nay, trong kỳ
truyền giới, trước chánh điện, có những cây mai khô đột nhiên nở trăm
chùm hoa, dạng trạng như hoa sen. Tất cả cây cỏ trong vườn trước và sau
chùa, tự nhiên nở hoa sen màu xanh. Trong mỗi hoa sen, có nhụy hoa giống như
một tượng Phật đứng. Trương Chuyết Tiên có ghi khắc lại việc lạ lùng,
hiếm có này trên đá, bằng một bài thơ.
(Đại sự trong năm: Tháng bảy, tiên sinh
Tưởng Trung Chánh nhận chức tổng tư lệnh đảng Cách Mạng Dân Quốc, dẫn binh
ra bắc chinh phạt. Tháng chín, chiếm Võ Xương. Tháng mười một, chiếm Cửu
Giang. Tháng chạp, chánh phủ Dân Quốc dời về Vũ Hán.)
Dân Quốc năm thứ 16, 88 tuổi. (1927/28)
Trong năm, tôi vẫn truyền giới, giảng
kinh, khai thiền thất. Đồng thời, tôi cho xây cất thêm các điện, mái ngói,
phòng ốc, cùng đúc đại hồng chung U Minh.
(Đại sụ trong năm: Tháng tư, chính phủ
Dân Quốc kiến lập thủ đô tại Nam Kinh. Tháng sáu, Trương Tác Lâm xưng Đại
Nguyên Soái tại Bắc Kinh. Tháng chạp, chính phủ Dân Quốc cùng quân Cộng Sản
tuyệt giao.)
Dân Quốc năm thứ 17, 89 tuổi. (1928/29)
Vì muốn đúc thêm tượng Phật, nên tôi
cùng với cư sĩ Vương Cửu Linh đi Hồng Kông để quyên góp tịnh tài. Khi ấy,
tướng Trần Chân Như phái tùy viên đến Hồng Kông đón chúng tôi về Quảng
Châu. Chúng tôi trú tại viện Gi Dưỡng, rồi cùng đến chùa Năng Nhân, núi
Bạch Vân. Họ Trần thỉnh tôi trụ trì chùa Nam Hoa, Tào Khê, nhưng tôi khước
từ. Tôi đến Hạ Môn, qua Phước Châu, rồi trở về núi Cổ Sơn giảng kinh.
Xong, tôi tới chùa A Dục Vương, lạy xá lợi Phật, rồi trở lại núi Phổ Đà.
Hòa thượng Văn Chất đưa tôi đi Thượng Hải, trú tại am Hương Sơn, chùa
Long Quang. Cuối thu, hòa thượng Đạt Công tại Cổ Sơn viên tịch. Đại chúng
cử người đến Thượng Hải gặp tôi. Vì gần cuối năm, nên tôi ở lại Thượng
Hải qua năm mới.
(Đại sự trong năm: Trương Tác Lâm trở
về Phụng Sơn, nhưng trên đường đi, bị phục kích chết. Tháng chạp, ba tỉnh
miền đông khởi cờ hiệu. Chính phủ Dân Quốc thống nhất Trung Quốc.)
Dân Quốc năm thứ 18, 90 tuổi. (1929/30)
Tháng giêng, tôi từ Thượng Hải trở về
Cổ Sơn. Đô đốc hải quân Dương Huyền Kinh, chủ tịch và cựu chủ tịch tỉnh
Phước Kiến đồng dẫn quan dân sĩ thứ đến thỉnh mời tôi ở lại trụ trì
chùa Cổ Sơn. Nghĩ lại, đây là nơi tôi xuống tóc xuất gia, thừa thọ ân
Thầy Tổ, khó mà từ chối, nên tôi phải chấp nhận chức trụ trì.
Dân Quốc năm thứ 19, 91 tuổi. (1930/31)
Qua một năm ở tại Cổ Sơn, những việc
khó khăn rắc rối từ từ được giải quyết. Mùa xuân, trong kỳ truyền giới,
tôi thỉnh hòa thượng Văn Chất làm Yết Ma Giới Sư. Tháng giêng, tôi giảng
kinh Phạm Võng. Trong vườn Phương Trượng, có hai cây phượng vĩ lớn. Theo
lời kể của các vị cổ đức thì một cây do chính tay thái tử Mân Vương
trồng, còn một cây thì do tổ sư Thánh Triết trồng, vào đời Đường, đã
hơn một ngàn năm. Hai cây phượng vĩ này mọc rất chậm. Mỗi năm chỉ sanh ra
một hoặc hai lá thôi. Cả hai cây cao khoảng mười thước, chưa từng nở hoa.
Tương truyền, một ngàn năm mới nở hoa một lần. Trong kỳ truyền giới, hai cây
phượng vĩ này đột nhiên nở hoa rộ khắp. Dân chúng xa gần đến xem, lưu
luyến đạo tình. Hòa thượng Văn Chất có viết một bài kệ ngắn về việc kỳ
lạ này. Tôi cũng có đề một bài kệ như sau:
"Ưu đàm bát la phi phàm phẩm,
Tùy Phật thị hiện kim hoa,
Thế gian thải phượng xưng dương thụy,
Hiện đáo kiết tường hỷ khả gia,
Huyền sơn trượng thất lưỡng thiết thọ,
Nhân ngôn thử hủy hướng vô ba,
Định thị chủ lâm thần ủng hộ,
Cố tương nhân thọ phóng lưu hà.
Dịch:
Hoa Ưu Đàm Bát, vật phi phàm,
Y theo Phật thị hiện hoa vàng,
Chiếu soi điềm lành khắp thế gian,
Hiện việc tốt lành vui vẻ thay,
Hai cây phượng nơi thất núi huyền,
Người bảo cây chưa từng nỏ hoa,
Chắc là do thần cây ủng hộ,
Cố phóng ánh quang vì nhân thọ."
Dân Quốc năm thứ 20, 92 tuổi. (1931/32)
Tôi vẫn ở Cổ Sơn tu sửa chùa viện,
truyền giới giảng kinh, lập Phật học viện giới luật, xây am Bình Sở, am Vân
Ngọa và các tự viện.
Dân Quốc năm thứ 21, 93 tuổi. (1932/33)
Mùa xuân năm ấy, trong kỳ truyền giới
tại Cổ Sơn, đột nhiên có một ông lão, tóc trắng như tuyết, dung mạo thanh
cao, kỳ dị, đi thẳng vào thất phương trượng, quỳ xuống cầu giới. Tôi hỏi
ông tên gì. Ông đáp rằng họ Dương, người Mân Nam, Đài Kiều. Có một vị
mới vừa thọ giới, tên Diệu Tông, cũng là người Đài Kiều, nói rằng chưa
từng gặp qua ông lão đó. Sau khi truyền giới Bồ Tát, lúc cấp giới điệp
xong, thì không thấy tông tích ông lão đâu cả. Lúc Diệu Tông trở về Đài
Kiều, đến am Long Vương, thấy một bức tượng ngồi nghiễm nhiên, giống như
ông lão, lại thấy giới điệp trong tay của tượng thần. Nam Đài chấn động,
truyền nhau rằng Long Vương cầu thọ giới. Cũng trong kỳ truyền giới đó, có
lão cư sĩ người Quảng Đông, là học giả triều Thanh, tên Trương Ngọc Đào,
sáu mươi sáu tuổi, đến núi cầu giới. Tôi mời ông quản lý trông coi kinh
tạng ở Cổ Sơn. Kỳ truyền giới chấm dứt, tôi thỉnh lão pháp sư Từ Chu tại
pháp đường giảng giới Căn Bản của Bốn Phần Luật, cùng thỉnh hai vị pháp
sư Tâm Đạo, Ần Thuận làm giáo thọ.
(Đại sụ trong năm: Tháng giêng, quân
Nhật chiếm Cẩm Châu, tấn công Ầp Bắc nơi Thượng Hải. Quốc dân kháng
chiến. Tháng ba, Đoàn Nghị tại Trường Xuân tức nước Mãn Châu, chính thức
lên cầm quyền.)
Dân Quốc năm thứ 22, 94 tuổi. (1933/34)
Trong kỳ truyền giới, vào mùa xuân, tôi
thỉnh lão pháp sư Ứng Từ giảng kinh Phạm Võng. Tháng giêng, quân Nhật chiếm
cửa ải Sơn Hải, làm nhân tâm lo sọ, kinh hãi. Đạo quân thứ mười chín tại
Phước Kiến đặt trong tình trạng báo động. Các chùa miếu tự viện trong toàn
tỉnh, đình chỉ việc cho khách tăng tạm trú tại chùa, chỉ có Cổ Sơn là nơi
vẫn còn tiếp đãi khách tăng. Khoảng năm sáu trăm tăng chúng cư ngụ tại
núi. Việc phân phát lương thực thật khó khăn, nhưng mỗi người vẫn được
một phần cháo vào buổi sáng và một phần cơm vào buổi trưa.
Tháng sáu, xây xong công viên phóng sanh.
Trong các con ngỗng do cư sĩ Trịnh Cầm Tiều mang tới phóng sanh, có một con
rất kỳ lạ. Nó nặng hơn mười sáu ký. Khi nghe tiếng mõ khánh đánh, nó
trương hai đôi cánh và ngưỡng cổ ra. Khi vào chánh điện, nó giương mắt
nhìn tượng Phật suốt cả ngày. Một tháng sau, nơi chánh điện, trước tượng
Phật, nó đứng thẳng mà chết, nhưng không ngã xuống đất. Trịnh cư sĩ rất
kinh ngạc, liền thỉnh chư tăng đem nó đi thiêu đốt. Tháng bảy, khi thiêu
thì xác nó không bốc ra mùi gì hết. Một ngôi mộ được đào để chứa tro
cốt của các động vật.
(Đại sự trong năm: Tháng giêng, quân
Nhật xâm nhập cửa ải Sơn Hải. Tháng ba, chúng chiếm Nhiệt Hà, tấn công Hoa
Bắc.)
Dân Quốc năm thứ 23, 95 tuổi. (1934/35)
Mùa xuân, một bước tiến nữa để hoàn
hảo chương trình giáo dục nơi Phật học viện tại Cổ Sơn là thỉnh lão pháp
sư Từ Chu làm viện chủ. Tháng hai, vào đêm nọ, trong lúc tọa thiền, tâm tôi
dường như đang mộng mà cũng chẳng phải mộng, thấy Lục Tổ đại sư đến
bảo: "Đã đến lúc rồi, Thầy hãy trở về!"
Hôm sau, tôi bảo đệ tử là Quán Tâm:
"Duyên đời của Thầy chắc không còn lâu đâu. Hôm qua Lục Tổ đại sư
gọi Thầy trở về!"
Thấy Quán Tâm buồn bả, tôi an ủi. Đến
giữa tháng tư, đêm nọ, mộng ba lần, thấy Lục Tổ thúc giục tôi trở về.
Thật là việc lạ kỳ. Chẳng bao lâu, tôi nhận điện tín từ chính quyền tỉnh
Quảng Đông. Họ muốn thỉnh tôi về sửa chữa đạo tràng Lục Tổ. Tôi nghĩ
đến thánh địa đó, hiện tại rất cần tu bổ sửa sang. Trước kia, lần sửa
chữa cuối cùng là do ngài Hám Sơn (1546-1623) đảm trách. Thế nên, tôi mang
hành lý đi về Lĩnh Nam.
Khi xưa, tướng quân Lý Hán Hồn lúc
đóng quân tại vùng phía bắc tỉnh Quảng Đông, tận mắt thấy chùa Nam Hoa bị
hư hoại nặng nề, nên tự sửa sang đôi chút, từ tháng chín năm 1933 đến
tháng tám năm 1934. Mùa đông, tại chùa Nam Hoa, chư hộ pháp cố thỉnh tôi
truyền giới. Vì phòng ốc, điện đường bị hư hoại, sụp đổ, nên chúng tôi
tạm cất những mái chòi tre để cho cả trăm tăng chúng cư ngụ. Quan thân sĩ
thứ vùng Quảng Châu và Triều Châu cùng quyến thuộc đến thọ giới quy y.
Mười bảy tháng chạp, kết đàn tràng tại chánh điện. Tối đến, đang khi
truyền giới Bồ Tát, có một con hổ đến, như thể muốn thọ giới quy y, khiến
toàn thể đại chúng đều hoảng sợ. Tôi truyền tam quy y và thuyết giới cho
hổ. Nó có vẻ như hiểu biết mà thọ nhận, rất thuần thục. Thọ giới xong, nó
liền bỏ đi.
(Phụ chú: Mùa đông năm Dân Quốc thứ
hai mươi ba, kiến lập đạo tràng xong. Tối nọ, khi bốn chúng cùng quan dân sĩ
thứ đồng tụ hội tại chánh điện, thì Giang Khổng Ấn, lúc đang đứng trên
lầu các, phát hiện ra trước cửa chùa Nam Hoa có hai luồng ánh sáng chói lòa.
Đến gần, thấy rõ đó là hổ, nên ông ta liền la lên. Quân lính cầm súng
định bắn thì kịp lúc Vân Công bước ra cản lại. Hổ liền quỳ xuống. Vân
Công thuyết tam quy y, cùng dạy nó rằng hãy nên ẩn trong núi thẩm rừng sâu,
chớ có ra ngoài hại người. Hổ cúi đầu ba lần rồi đứng dậy, đi trở vào
rừng, nhưng với điệu dạng rất quyến luyến. Kể từ đó, mỗi năm hổ đều
xuất hiện một hai lần. Vài lúc, núi rừng tuyệt không dấu tích các loài cầm
thú khác vì nghe tiếng rống của hổ. Vân Công đôi khi đi ra gặp nó, vỗ về
an ủi lời lành thiện. Việc hổ già quy y Tam Bảo thật rất kỳ lạ. Được nghe
Vân Công trong lúc thuyết giới có nói bài kệ:
"Hổ biết quy y Phật,
Tánh chánh không hai,
Tâm người, tâm thú,
Đồng tạng quang minh."
(Đại sự trong năm: Phổ Nghị tại Trường
Xuân, Mãn Châu xưng đế, cải hiệu là Đại Đồng.)
Dân Quốc năm thứ 24, 96 tuổi. (1935/36)
Mùa xuân, tướng Lý Hán Hồn được
thuyên chuyển về vùng phía đông tỉnh Quảng Đông. Thế nên chúng tôi mất đi
một vị đại hộ pháp. Việc kiến lập tự viện ngày một khó khăn. Sau kỳ
truyền giới, theo lời thỉnh mời của Đông Hoa Tam Viện, tôi qua Hồng Kông,
kiến lập đàn tràng Thủy Lục Không tại vườn Đông Liên Giác Uyển. Phật sự
xong, tôi trở về Cổ Sơn, từ chức trụ trì. Tôi thỉnh lão hòa thượng Thạnh
Huệ kế nhậm chức trụ trì. Sau đó, tôi liền trở lại chùa Nam Hoa. Việc đầu
tiên là tôi cho tu bổ lại chánh điện thờ chư Tổ Sư, xây điện thờ Bồ Tát
Quán Ấm, và cất phòng xá. Tháng chạp, nơi phía bắc đình Phục Hổ, thuộc
phía nam suối Trác Tích, có ba cây tùng cổ xưa, trồng từ đời Tống
(960-1279), đã khô héo trong vài trăm năm, nay đột nhiên ra lá. Thủ tọa Quán
Bổn có ghi lại việc lạ kỳ này. Bài ký sự được cư sĩ Sầm Học Lữ khắc
trên đá tại chùa.
Dân Quốc năm thứ 25, 97 tuổi. (1936/37)
Mùa xuân, việc tu sửa điện đường
phòng xá từ từ được hoàn tất. Tổng thống Dân Quốc, ông Lâm Tử Siêu, bộ
trưởng, ông Cư Chánh, tướng Tưởng Trung Chánh v.v..., lần lượt đến chùa
Nam Hoa. Hai ông, Lâm Tử Siêu và Cư Chánh, hộ trợ việc xây cất trùng tu đại
điện. Tướng Tưởng Trung Chánh cúng dường tiền để mướn nhân công đào
sửa lại con suối chạy ngang qua chùa. Tuy nhiên, vào lúc cuối, không cần nhân
lực, nhưng vẫn hoàn thành. Thật biết ơn chư long thần hộ pháp đã gia hộ.
(Phụ chú: Con suối chảy ngang chùa Nam
Hoa, xưa vốn cách xa khoảng một trăm bốn mươi thước. Vì lâu năm không đào
vét, nên cát đá lấp đi, khiến nước chảy về hướng bắc, thẳng đến cửa
chùa. Để đưa con suối trở lại hướng cũ, phải cần mướn khoảng ba ngàn
nhân công, tốn kém rất nhiều. Ngày hai mươi tháng bảy, chuẩn bị khởi công
thì tối hôm đó, trời đổ mưa to, rơi xuống như muôn ngàn con ngựa đang
chạy đua. Sáng hôm sau, dứt mưa, nước tràn ra bờ suối, chảy dài theo hướng
mà chúng tôi ước muốn. Đất đá của con suối trước, đắp thành bờ đê cho
con suối sau này, cao cả vài thước. Dường như long thần hộ pháp đã giúp
đỡ chúng tôi sửa lại hướng của con suối này.)
Dân Quốc năm thứ 26, 98 tuổi. (1937/38)
Sau kỳ truyền giới vào mùa xuân, thể
theo lời thỉnh cầu của hội cư sĩ Tuệ Viên, tôi đi giảng kinh tại Quảng
Châu. Khi ấy, có các vị Lạt Ma người Tây Tạng cùng vài mươi người đến
gặp tôi. Tăng chúng ở vùng Phật Sơn, thỉnh tôi đến đó làm lễ khai quang
cho bảo tháp tại chùa Nhân Thọ. Kế đến, tôi lại trở về chùa Nam Hoa lo coi
sóc công trình xây dựng các tự viện.
(Đại sự trong năm: Ngày bảy tháng bảy,
quân Nhật vây cầu Lô Giang. Quân dân thối lui về Bắc Bình. Chiến tranh
Trung-Nhật lan tràn khắp nơi. Tháng chạp, Nam Kinh bị vây hãm. Chánh phủ Dân
Quốc tuyên bố dời đô về Trùng Khánh.)
Dân Quốc năm thứ 27, 99 tuổi. (1938/39)
Kỳ truyền giới vào mùa xuân xong, tôi
đến Tuệ Viên giảng kinh. Giảng xong, tôi đi Hồng Kông, đến vườn Đông Liên
Giác Uyển, kiến lập pháp hội Đại Bi Sám Pháp. Qua mùa thu, tôi trở lại chùa
Nam Hoa.
Dân Quốc năm thứ 28, 100 tuổi. (1939/40)
Vào mùa xuân, trong kỳ truyền giới, các
tỉnh đều bị binh đao loạn lạc. Tăng chúng đến chùa cầu thọ giới rất
đông. Tôi đề nghị là trong tình cảnh loạn ly, chiến tranh tàn khốc, binh sĩ
cùng dân chúng bị thương vong rất nhiều, phàm là người Phật tử, mỗi người
phải phát tâm, thiết lễ đàn tràng, mỗi ngày sám hối hai giờ, cầu siêu độ
cho các vong linh vất vưởng, cùng cầu nguyện tiêu tai giải nạn. Tôi cũng đề
nghị là toàn thể đại chúng nên giảm bớt khẩu phần ăn của mình để dùng
vào việc cứu giúp dân chúng. Lời đề nghị của tôi được chấp thuận và thi
hành.
(Đại sự trong năm: Ngày mồng một tháng
chín, thế chiến thứ hai tại Châu Ấu phát khởi.)
Dân Quốc năm thứ 29, 101 tuổi. (1940/41)
Sau kỳ truyền giới vào mùa xuân, Quảng
Châu bị vây hãm. Quân dân hai chánh phủ thối lui, trở về Triết Giang. Tăng
chúng các nơi đổ dồn về chùa đông đúc. Tôi vẫn trùng tu chùa Đại Giám
tại Triết Giang, làm hạ viện của chùa Nam Hoa, để tiện việc tới lui. Lại
trùng tu chùa Nguyệt Hoa để tiếp đón tăng chúng.
(Đại sự trong năm: Tháng giêng, Uông
Tinh Vệ cùng Nhật Bổn ký mật ước bán nước, cũng gọi là chánh phủ Dân
Quốc, đóng đô tại Nam Kinh.)
Dân Quốc năm thứ 30, 102 tuổi. (1941/42)
Mùa xuân, sau khi truyền giới, tôi cấp
tốc công trình xây dựng các điện đường mái ngói. Khoảng tám chín mươi
người ra công sức xây cất chùa. Trong hai năm, có các đệ tử cùng chư thiện
tín đến cúng dường được khoảng hơn hai trăm ngàn đồng. Tôi giao cho chính
quyền địa phương dùng vào việc cứu giúp dân nghèo. Tôi không muốn giữ
chút nào hết, vì dân chúng tỉnh Triết Giang đang bị chịu cảnh thiếu ăn,
đói khổ khắp nơi. Năm nay, Triết Giang thành lập hội Phật Giáo Quảng Đông,
đề cử tôi làm chủ tịch và cư sĩ Trương Tử Kiêm làm phó chủ tịch.
(Đại sự trong năm: Tháng chạp, chiến
tranh tại Thái Bình Dương bộc phát. Quân Nhật công hãm Hồng Kông, Tân Gia
Ba, Phi Luật Tân, Ngưỡng Quang, cùng các nước khác.)
Dân Quốc năm thứ 31, 103 tuổi. (1942/43)
Trong kỳ truyền giới, có thọ thần đến
cầu thọ giới, rất là kỳ lạ. Giám viện Quán Bổn có ghi lại như sau:
"Vào lúc truyền giới, chợt có một
hành giả đến, cầu thọ giới tỳ kheo. Khi được hỏi danh tánh là gì, người
ở đâu, bao nhiêu tuổi, thầy thế độ là ai, có mang đủ ba y ca sa, một bình
bát không, thì trả lời rằng Thầy vốn họ Trương, người Triết Giang, ba mươi
bốn tuổi, không có thầy thế độ, cũng không có ba y ca sa và một bình bát.
Vì lòng chân thành, nên Thầy được ban cho tất cả vật dụng cần thiết để
thọ giới xuất gia, cùng với pháp danh là Thường Nhục. Trước khi được thọ
giới, Thầy làm rất nhiều công việc nặng nhọc trong chùa như quét dọn lau
chùi trong ngoài tự viện. Tính tình trầm mặc, không nói chuyện chi với ai. Khi
được cho lên đàn thọ giới thì nhất nhất đều theo giới luật. Đến khi tam
đàn đại giới sắp kết thúc, tức sau đàn truyền giới Bồ Tát, thì không ai
tìm thấy Thầy đâu hết, mà y ca sa, giới cụ vẫn còn để lại giới đường.
Việc này, từ từ mọi người cũng quên hẳn. Trước kỳ truyền giới năm sau,
Vân Công mộng thấy vị thầy kia đến xin lại giới điệp. Được hỏi rằng Thầy
đi đâu sau khi lễ truyền giới chấm dứt thì trả lời rằng Thầy ở chung với
thần đất nơi đó chứ không đi đâu hết. Tỉnh dậy, Vân Công biết đó là
thọ thần khi trước đến cầu thọ giới, nên bảo tăng chúng đem giới điệp
đó đến dưới gốc cây cổ thụ bên cạnh chùa, nơi miếu thổ địa, mà đốt
để trả lại cho thọ thần."
Trong mùa hạ và mùa thu, tôi sửa lại am
Vô Tận cho ni chúng trú ngụ. Chùa Đại Giám vừa được xây xong, nhưng công
trình trùng tu chùa Nam Hoa vẫn chưa hoàn tất. Đồng thời, tôi luôn phải lo
lắng những việc thế gian lẫn xuất thế gian tại Cổ Sơn. Không lúc nào được
rảnh rỗi. Lại có máy bay Nhật cứ mãi quấy nhiễu không yên.
(Phụ chú: Từ lúc Nhật chiếm Quảng Châu,
tỉnh phủ của chính phủ Dân Quốc dời về Triết Giang. Các tướng tá cao cấp
thường lui tới chùa Nam Hoa. Tình báo Nhật biết được rằng chùa thường là
nơi hội họp của chính phủ Dân Quốc. Ngày nọ, vào tháng bảy, quả nhiên có
rất nhiều vị cao cấp trong chính phủ Dân Quốc đến chùa. Máy bay Nhật vì thế
cứ lượn vòng quanh chùa mãi. Vân Công biết nguy hiểm sắp đến, nên bảo tăng
chúng cùng mọi người nên trở về phòng xá, còn Ngài thì vào Tổ đường,
một mình đốt hương, ngồi xếp bằng, tọa thiền. Lát sau, máy bay thả bom
xuống vào một lùm cây bên bờ suối ngoài chùa, nhưng không nổ. Sau đó, một
đoàn máy bay lại cứ lượn vòng quanh chùa mãi. Đột nhiên, có hai chiếc trong
đoàn máy bay, tự đâm vào nhau, rồi rớt xuống, cách chùa khoảng bốn mươi
dặm tại vùng Mã Bá. Cả người và máy bay đều tan xác. Từ đó, máy bay Nhật
không còn dám bay ngang chùa trong những chuyến vào Nam ra Bắc nữa.)
Tháng mười một, tổng thống chính phủ
Dân Quốc, họ Lâm, cùng các bộ trưởng, phái hai vị cư sĩ Chuyết Ánh Quang
và Trương Tử Khiêm đến chùa thỉnh tôi qua Trùng Khánh, kiến lập pháp hội
tiêu tai giải nạn. Ngày sáu tháng mười một, tôi khởi hành đến Hành Ngạc,
dâng hương. Tướng Lý Tể Thâm cùng Quế Lâm phái Kế Quốc Trụ đến tiếp
đón. Khi đến núi Nguyệt Nha nơi tướng Lý Tể Thâm đóng binh thì bốn chúng
tại gia lẫn xuất gia đến tiếp đón tôi. Lúc đến Quý Châu, qua chùa Kiểm
Minh, hòa thượng Quảng Diệu thỉnh tôi thượng đường khai thị. Đến Trùng
Khánh, gặp các đại diện chính quyền cùng các tự viện đến nghinh tiếp. Sau
khi gặp tổng thống họ Lâm và trưởng ban tổ chức họ Đái, chúng tôi cùng
bàn thảo việc tổ chức pháp hội tại hai chùa Từ Vân và Hoa Nam.
Dân Quốc năm thứ 32, 104 tuổi. (1943/44)
Tháng giêng, tôi làm lễ sám, pháp hội
cầu tiêu tai giải nạn. Đến ngày hai mươi sáu mới chấm dứt. Tổng thống họ
Lâm, tướng họ Tưởng, bộ trưởng họ Đái, tướng họ Hà, v.v..., lần lượt
mời tôi dự cơm chay. Tướng họ Tưởng vấn hỏi Phật pháp rất thâm sâu, từ
luận duy vật duy tâm đến các tôn giáo hũu thần như Cơ Đốc giáo, Thiên
Chúa giáo v.v... Mọi chi tiết, tôi đều trả lời bằng thơ từ (có phần phụ
chú, sẽ bàn sau). Tại chùa Từ Vân, chùa Hoa Nham, tôi lên tòa thuyết pháp.
Thị giả là Duy Nhân có ghi lại chi tiết. Tháng ba, tôi trở về Nam Hoa sửa
chữa tháp Hải Hội của bảy chúng. Khi đào đất lên thì thấy bốn cái hòm
trống, không có hài cốt. Mỗi cái dài một thước sáu tấc, cùng một thẻ màu
đen, hình vuông, khoảng tám tấc, trên hòm có khắc hình chim, động vật, biểu
tượng thiên văn học, nhưng không ghi rõ ngày tháng. Tháng sáu, khai mở học
viện giới luật để giáo hóa thanh niên tăng. Lại thành lập trường tiểu học
tại làng Bảo Lâm cho các con em thuộc gia đình nghèo khó trong làng. Mùa
đông, hoàn thành xây cất tháp Hải Hội.
(Đại sự trong năm: Tổng thống họ Lâm
từ trần. Tưởng Trung Chánh lên nhậm chức tổng thống.)
Dân Quốc năm thứ 33, 105 tuổi. (1944/45)
Trong năm 1940, sau khi trùng tu lại chùa
Tào Khê, đạo tràng Lục Tổ Huệ Năng xong, tôi cùng thầy Phước Quả đi Triết
Giang, Khổng Nguyên để tìm đạo tràng Long Thọ, nhưng không thấy. Khi đến
núi Vân Môn, giữa các bụi cây cỏ lác, gai góc, chúng tôi tìm được di tích
một ngôi chùa cổ xưa và nhục thân của vị tổ sáng lập ra đạo tràng Vân
Môn. Hai lần thấy tổ đình bị hư hoại đến mức thậm tệ, tôi không thể cầm
được nước mắt. Xót thương thay, một vị tăng tên là Minh Không đã ở đó
từ năm 1938. Thầy đơn độc chịu dựng gian nan, rét buốt để lo hương khói
cho Tổ Sư. Chùa nếu không được sửa sang thì tương lai sẽ bị hư hoại hoàn
toàn, chìm vào trong quên lãng. Lúc trở lại chùa Nam Hoa, tôi có thương
lượng với chủ tịch Lý Tể Thâm, tướng Lý Hán Hồn, v.v... Sau này, tướng Lý
Hán Hồn khi đi kinh lý qua vùng Khổng Nguyên đến núi Vân Môn, thấy chùa
Đại Giác thiền tự bị hư hoại sụp nát như chùa Nam Hoa thuở trước, nên ông
mới bàn với chư tăng và các thân hào địa phương, thỉnh mời tôi lo việc
trùng tu ngôi tổ đình. Tôi chấp nhận, giao chức trụ trì chùa Nam Hoa cho đệ
tử là Phục Nhân. Tôi được các ngài Lý Tể Thâm, Lý Hán Hồn, Châu Hồng
giao tích trượng Vân Môn cùng một số tiền lớn để trùng hưng lại chùa. Dự
đoán là chiến tranh sẽ lan tràn đến chùa Nam Hoa, nên tôi bí mật thỉnh
chuyển nhục thân của Lục Tổ Huệ Năng và ngài Hám Sơn cùng các pháp bảo
khác trở về núi Vân Môn. Lúc mới đến Vân Môn, tôi thấy hầu hết các chùa
viện đều bị hư hoại hoang tàn, ngoại trừ chánh điện thờ tổ Vân Môn, nhưng
cũng sắp tàn hoại. Tôi trú sau chánh điện Quán Ấm, định việc trùng tu lại
các ngôi tự viện trên núi. Tháng mười, chùa Nam Hoa tổ chức đàn tràng Thủy
Lục Không, thỉnh tôi về làm Pháp Chủ.
Dân Quốc năm thứ 34, 106 tuổi. (1945/46)
Giữa mùa xuân và hạ, quân Nhật chiếm
đóng vùng phía bắc tỉnh Quảng Châu. Các huyện luôn bị vây hãm. Thành Khổng
Nguyên cũng bị bao vây. Dân chạy nạn chiến tranh đến Vân Môn rất nhiều.
Không đủ thức ăn. Đại chúng đồng cam cộng khổ. Mới đầu thì còn được
ăn cơm, ăn cháo, sau lại đến uống bột gạo. Trong những người chạy nạn, có
thợ mộc, thợ đào ống cống, thợ đun ngói gạch, gần cả trăm người. Họ cùng
làm việc sửa chữa lại tự viện phòng xá mà không lấy tiền công. Thế nên,
công lao của họ rất lớn trong việc trùng tu chùa viện trên núi.
Mùa hè, khi dân quân di chuyển qua căn
cứ phòng vệ nơi khác, thì một nhóm cướp địa phương chặn đường, đánh
phục kích. Quân lương bị tổn thất nặng nề. Đại quân tiếp viện đến, định
đánh quân cướp trong vùng, bao bọc khoảng hơn bốn mươi làng. Thế nên, cả
ngàn người, già trẻ, gái trai cùng mang đồ chạy nạn lên núi. Các bô lão
trong vùng đến chùa cầu tôi giúp đỡ, thương lượng với quân binh. Vì thế,
tôi đi thẳng đến doanh trại các vị tướng tá, bàn luận cả ba ngày. Tôi
cũng kêu gọi nhóm cướp địa phương trả lại những quân nhu đã lấy được.
Nhóm cướp này đồng ý, trả lại tất cả đồ vật cho quân binh. Do đó, cuộc
sống dân lành trở lại bình thường. Từ đó, dân chúng kính thương chư tăng
như mẹ hiền.
Quân Nhật tuy bao vây huyện thành, mà
không dám quấy phá núi Vân Môn, nên dân trong vùng tránh được nạn chiến
tranh.
(Đại sự trong năm: Tháng sáu, Mỹ thả
bom nguyên tử tại Quảng Đảo, Nhật Bổn. Tháng chín, quân Nhật tuyên bố đầu
hàng vô điều kiện, trao thơ đầu hàng tại Nam Kinh. Tháng mười, chánh phủ
Dân Quốc chiếm lại Đài Loan.)
Dân Quốc năm thứ 35, 107 tuổi. (1946/47)
Thế chiến thứ hai chấm dứt. Mọi người
trở về quê quán làm ăn sinh sống bình thường. Tại chùa Nam Hoa, tôi vẫn
truyền giới giảng kinh vào mùa xuân. Mùa thu, chính phủ ra lệnh các tự viện
trong toàn nước phải tụng kinh, truy điệu, cầu siêu cho các vong linh tử sĩ.
Quan dân sĩ thứ ở Tuệ Viên thỉnh tôi đến làm Pháp Chủ. Ngày mười bảy
tháng chín, tại chùa Tịnh Huệ, tôi thiết lập đàn tràng tràng cầu siêu.
Trong chùa có một cây đào, đột nhiên nở hoa, nhụy đài tinh khiết như lưu
ly, thực chưa từng có. Trên trăm ngàn người đến xem, rất thích thú. Cư sĩ
Tăng Bích Sơn hái hoa đào làm tượng Cổ Phật. Cư sĩ Hồ Nghị Sanh vẽ một
bức tranh về hoa đào kỳ diệu này. Pháp hội xong, quan dân sĩ thứ ở Hồ Sán
thỉnh tôi đến chùa Khai Nguyên tại Hồ Châu hoằng dương Phật pháp. Người
thọ giới quy y rất đông. Mùa đông, đệ tử lớn của tôi là Quán Bổn thị
tịch.
(Đại sự trong năm: Chánh phủ Dân Quốc
trở về đóng đô tại Nam Kinh.)
Dân Quốc năm thứ 36, 108 tuổi. (1947/48)
Mùa xuân, tôi vẫn đến chùa Nam Hoa
truyền giới giảng kinh. Mùa hạ, Đông Hoa Tam Viện thỉnh tôi qua Hồng Kông lập
pháp hội cầu an. Đến Hồng Kông, tôi trú tại trường Sùng Lan do cư sĩ Tăng
Bích Sơn tiếp đãi. Ông cũng trợ giúp tôi làm Phật sự. Người thọ giới quy
y vài ngàn người. Cư sĩ Khoan Vinh, Lý Dân Hân thỉnh tôi qua Ma Cao giảng
kinh, khai thiền thất. Người đến quy y cũng vài ngàn người. Cư sĩ Mã Thi
Truyền thỉnh tôi đến Thạch Kỳ, huyện Trung Sơn, lập pháp hội Đại Bi Sám
Pháp. Người quy y cũng vài ngàn người. Phật sự xong, tôi trở về Vân Môn
đốc thúc công trình xây dựng lại các tự viện.
Dân Quốc năm thứ 37, 109 tuổi. (1948/49)
Mùa xuân, truyền giới xong, tôi đi Tuệ
Viên để khai sáng nhà thương Phật giáo Chí Đức. Tôi lại đến Hồng Kông
giảng kinh tại Từ Hàn Tịnh Uyển nơi Sa Điện. Giám viện Trí Lâm thỉnh tôi
khai mở tuần niệm Phật thất, thuyết ba quy y, năm giới cấm, lại qua Đông Liên
Giác Uyển làm lễ bái sám, rồi trở về Vân Môn. Tháng năm, pháp sư Giới
Trần thị tịch tại Vân Nam. Một bà người Mỹ tên là Ananda Jenning đến chùa
cầu giới, học thiền đả thất, rất hoan hỷ.
(Phụ chú: Trong năm, có bà người Mỹ
tên là Ananda Jenning, mến mộ thiền đức của Vân Công, từ ngàn dặm xa xôi,
đáp máy bay qua Hoa Lục để cầu Vân Công chỉ dạy. Bộ ngoại giao Hoa-Mỹ báo
tin. Vân Công chấp thuận. Đầu tiên, bà gặp Vân Công tại Hồng Kông. Bà
lược thuật lý do muốn gặp Vân Công là vì thích nghiên cứu Phật pháp. Cha
bà vốn là bác sĩ người Thiên Chúa giáo. Bà đã từng nghiên cứu về Thần
giáo hơn hai mươi năm, nhưng không hiểu rõ cho lắm, nên mới đi khắp nơi
học hỏi nghĩa lý Phật pháp. Sau đó bà qua Ần Độ tu hành, nhập thất bốn
năm, được chút sở đắc, nhưng vẫn còn chỗ nghi, nên nay không quản muôn
dặm đường, tìm thầy học đạo. Sau đó, bà được đưa về chùa Nam Hoa, thọ
giới quy y, pháp danh là Khoan Hoằng. Vân Công khai mở thiền thất. Bốn chúng
đến chiêm lễ, tham gia rất đông. Ngày đầu khai mở thiền thất, Vân Công
thượng đường khai thị:
"Nói về việc này, gốc vốn đã viên
thành. Nơi thánh không tăng, nơi phàm không giảm. Như Lai bị luân hồi trong
sáu đường. Nơi nào cũng nghe đến. Quán Ấm lưu chuyển trong mười loài.
Loài nào cũng đều như thế. Nếu vậy thì cần cầu chi, tìm ở nơi nào? Tổ Sư
nói: 'Nếu có thị phi thì tự tâm rối rít. Khi thuyền chưa chạy thì đã bị
ăn gậy rồi.'
Thật đáng thương thay! Của báu trong
nhà mà không tự mở ra. Đến chòi tranh tìm tranh. Đó chỉ vì một niệm vô
minh, tâm cuồng không dứt, ôm đầu chạy đi tìm đầu, nước để trước mặt
mà kêu khát.
Chư đại đức! Tại sao phải khổ công
đến đây? Vì chư vị không thích phí tiền cho đôi dép rách, nên tôi cũng
không sợ mở miệng xấu ra mà nói!"
Lúc ấy, Vân Công hô to: "Ông già
Thích Ca đã đến! Tham quán."
Chư vị trưởng lão cũng ban pháp nhủ,
khai thị đại chúng. Môn hạ, đệ tử Vân Công là Độ Luân, pháp danh Tuyên
Hóa, đối đáp cùng với bà Ananda Jenning.
Thầy Tuyên Hóa hỏi: "Bà từ phương
xa, trải qua bao cực khổ, nay đến đây, với mục đích gì?"
Đáp: "Vì tôi muốn học Phật
pháp."
Hỏi: "Học Phật pháp thì phải biết
cách chấm dứt dòng sanh tử luân hồi. Vậy ý bà đối với sanh tử như thế
nào?"
Đáp: "Gốc vốn không sanh tử, thì
cần gì phải thoát ra."
Hỏi: "Nếu không sanh tử, thì cần gì
phải học Phật pháp?"
Đáp: "Xưa nay không có Phật. Người
học là Phật."
Hỏi: "Phật có đủ ba mươi hai
tướng tốt. Khi Ngài đặt ngón chân lên đất, thì dấu ấn phát quang. Vậy bà
được gì?"
Đáp: "Được cùng không được, chỉ
là lời nói nhảm thôi."
Hỏi: "Diệu giải của bà, lời lời
đều hợp cả. Tuy thế, nói ăn mà bụng vẫn đói. Vậy một câu cứu cánh, bà
thử nói xem?"
Đáp: "Cứu cánh vốn không câu. Lời
nói, gốc cũng không có. Nếu không dẹp bỏ lời nói tạp, làm sao biết được
tánh giác vốn là mẹ của muôn vật!"
Hỏi: "Những lời của bà, đều hợp
với ý Tổ, nhưng nếu còn biết một chữ, tức là cửa ngỏ của tai họa. Bà đã
giải nhập được rồi. Vậy dám hỏi chứ rời ngôn ngữ, tuyệt không câu cú,
bản lai diện mục của bà là gì?"
Đáp: "Kinh Kim Cang nói rằng a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề tức không phải a nậu đa la tam miệu tam bồ
đề."
Thầy Tuyên Hóa bảo: "Tuy thế, mạng
căn không thể cắt đứt bằng tri kiến. Hy vọng bà hãy nhìn rõ vào."
Đáp: "Tôi ít xem kinh Phật. Sau bốn
năm nhập thất, ra ngoài bàn luận cùng người, ai ai cũng nói rằng lời tôi
luôn hợp với Phật pháp, nhưng lời tôi không phải dựa vào kinh điển, cũng
không dựa vào tri kiến."
Thầy Tuyên Hóa bảo: "Tuy không từ
kinh điển, mà được lúc tĩnh tọa ngồi thiền. Đó là do trí tuệ tiềm ẩn
phát ra. Nó cũng chính là tri kiến vậy."
Bà hỏi: "Phật pháp trọng thật
chứng, không trọng tri kiến. Như thế nghĩa là gì?"
Thầy Tuyên Hóa nói: "Không câu nệ
kinh luận, không chấp trước tánh tướng, đầu đầu là đạo, nơi nơi là chân
lý. Chỉ miễn cưỡng nói 'Như Thị' đó thôi!"
Sau đó bà theo Vân Công đến Vân Môn
lễ tổ, rồi ở lại khoảng nửa tháng, mới trở về Mỹ. Bà nói rằng khi trở về
nước sẽ xiển dương Phật pháp.
Bà là người Mỹ đầu tiên qua Hoa Lục
cầu học giáo nghĩa thâm sâu trong Phật pháp. Bà tuy có chỗ chứng đắc, nhưng
vì ngôn ngữ không thông, nên khi đến Hồng Kông và chùa Nam Hoa, tham gia
thiền thất, được cư sĩ họ Nhan phiên dịch trong các buổi đối thoại. Những
bài khai thị của Vân Công, cũng được cư sĩ họ Nhan phiên dịch. Vân Công
thuyết pháp, nghĩa lý tinh thâm, khiến bà có thể lãnh hội viên thông. Thật
là một thắng duyên hy hữu.)
Dân Quốc năm thứ 38, 110 tuổi. (1949/50)
Sau khi truyền giới trong mùa xuân, tôi
liền trở về Vân Môn, trùng tu toàn thể điện đường. Sơn phết mạ vàng, làm
bàn tọa cho hơn bốn mươi thánh tượng lớn nhỏ. Công trình sửa sang chánh
điện, mái ngói, phòng xá, đến nay đã hoàn tất được chín mươi phần
trăm. Cư sĩ Phương Dưỡng Thu thỉnh tôi qua Hồng Kông để làm lễ khai quang
Phật đường. Tôi cũng đến tịnh xá Bát Nhã giảng kinh, rồi lưu lại Hồng
Kông một tháng. Sau đó trở về núi Vân Môn, nhờ cư sĩ Sầm Học Lữ viết
biên sử của núi Vân Môn.
(Phụ chú: Khi Vân Công đến Hồng Kông do
sự thỉnh cầu của cư sĩ Phương Dưỡng Thu. Ngày nọ, tôi thưa Vân Công:
"Bạch Thầy! Thế giới thay đổi quá mau chóng. Con phải đi đâu để giũ
gìn sự tu tập của mình?"
(Cộng sản Trung Quốc nắm chính quyền
trong toàn quốc)
Vân Công đáp: "Người học đạo,
chỗ ở là khắp mọi nơi. Nếu con xả bỏ hết tất cả, thì chỗ ở lại chính là
đạo tràng tu tập. Con hãy an tâm."
Tôi hỏi: "Bạch Thầy! Các tự viện
trong đất liền đều sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ vì thời cuộc biến chuyển. Sao
Thầy không ở lại đây tạm thời để thuyết pháp, làm lợi ích chúng
sanh?"
Vân Công đáp: "Ở đây, các vị
tăng khác, có thể thuyết pháp độ sanh được. Thầy còn trọng trách chăm lo
các tự viện trong đất liền. Đó là lời nguyện của Thầy. Đối với Thầy, tâm
vượt ngoài chỗ đến đi, nhưng trong đất liền, tất cả chùa chiền tự viện
hiện giờ đang nằm trong tình trạng hỗn loạn. Nếu Thầy ở lại đây thì ai sẽ
lo lắng cho hàng chục ngàn tăng ni đang chạy lánh nạn? Làm sao tâm Thầy an
được? Vì vậy, Thầy phải trở về đất liền.")
Nơi Vân Môn, Ngài lo lắng hoàn tất công
trình trùng tu tự viện. Ngài luôn dạy đồ chúng giữ gìn giới luật cho tinh
nghiêm. Lúc ấy, trên núi, tăng chúng có cả ngàn vị, nương tựa học đạo
nơi Ngài. Họ tự trồng lúa để sinh sống và tu hành.)
Dân Quốc năm thứ 39, 111 tuổi. (1950/51)
Trong mùa xuân, Ngài cũng vẫn đến chùa
Nam Hoa để truyền giới, khai kỳ thiền thất dài hạn. Trong những người tham gia
thiền thất, có vị được khai ngộ.
Ngài trở về Vân Môn thâu nhặt hết tất
cả những bản văn sao, thảo kinh để được hiệu đính biên tập. Đây là việc
làm không dễ dàng vì hầu hết các bản văn thảo kinh sao đó, được Ngài
viết trong vài thập niên trước.
Dân Quốc năm thứ 40, 112 tuổi. (1951/52)
Mùa xuân, kỳ truyền giới, bốn chúng
đồng vân tập. Trong chùa có hơn một trăm hai mươi người. Tại Vân Môn xảy
ra biến cố quan trọng. Ngày hai mươi tháng hai, đột nhiên, hơn một trăm
người, không biết từ đâu đến, bao vây chùa. Chúng cấm không ai được ra
vào. Đầu tiên, chúng nhốt Vân Công trong phòng phương trượng, do vài tên
canh chừng. Sau đó, chúng bắt chư tăng vào hết trong pháp đường, thiền
đường. Kế đến, chúng lục soát tất cả đồ đạc trong chùa, từ trên mái
ngói, dưới xuống sàn chùa, cùng các tôn tượng Phật Tổ, pháp khí kinh tạng,
đều lục lọi kỹ lưỡng. Dầu cả hơn một trăm tên, trong hai ngày liền, mà
chúng vẫn không tìm được chi là vật phi pháp. Cuối cùng, chúng bắt giám
viện Minh Không, tăng thức sự Duy Tâm, Ngộ Huệ, Chân Không, Tánh Cảnh, v.v...
Chúng cũng lấy đi tất cả giấy tờ, biên nhận, chú giải văn sao, pháp ngữ
của Vân Công trong cả trăm năm, rồi bỏ vào bao lớn. Chúng tố cáo chư tăng
phạm bao điều tội lỗi. Kỳ thật vì chúng nghe lời gièm pha bảo là trong chùa
có chứa vũ khí, quân dụng, súng đạn, vàng bạc, máy phát điện v.v... Đó
là những vật mà chúng muốn tìm. Vài hôm sau, tổng cộng là hai mươi sáu vị
tăng bị hành hạ đánh đập tàn nhẫn, bức bách hỏi cung về việc cất giấu
quân cơ, khí giới, vàng bạc. Mọi người đều bảo không biết. Thầy Diệu Vân
bị đánh đến chết. Thầy Ngộ Vân, Thể Trí v.v..., bị tra khảo dã man, đánh
gãy tay chân. Bên ngoài, vài vị tăng bị mất tích. Sau mười ngày lục lọi
mệt nhọc, chúng chẳng tìm được chi hết, nên cuối cùng, dồn mọi sự tức
giận đến Vân Công.
(Thầy Diệu Vân, tên tục là Trương,
người Hồ Nam, tốt nghiệp đại học, đã từng giữ chức quan trọng trong ngành
kế hoạch thuộc bộ tài chánh. Đến năm ba mươi tuổi mà vẫn chưa vợ. Năm ba
mươi tám, theo Vân Công xuất gia, pháp danh Diệu Vân, hiệu Thiệu Môn. Lúc
xưa, đối với mạch pháp Vân Môn, vì không biết ai thừa kế, nên Vân Công
rất buồn bả. Trong thời gian trùng tu các tự viện ở Vân Môn, Vân Công độ
hơn bốn mươi vị xuất gia, muốn họ nối mạch pháp Vân Môn. Vân Công đặt
rất nhiều hy vọng vào thầy Diệu Vân trong việc xiển hưng, nối tiếp mạch pháp
Vân Môn. Thầy cần mẫn, tu hành khổ hạnh, không phụ lòng mong mỏi của Vân
Công. Khi tai biến đến Vân Môn, thầy bị đánh trọng thương mà chết.)
Mồng một tháng ba, chúng bắt Vân Công
qua một căn phòng khác, rồi đóng kín cửa cái, cửa sổ, không cho ăn uống hay
ra ngoài tiểu tiện. Ngày đêm chỉ đốt một ngọn đèn nhỏ, mờ mờ ảo ảo như
địa ngục. Đến ngày thứ ba, khoảng mười tên thân hình to lớn, đi vào
phòng, bức bách tra hỏi Vân Công chỗ cất giấu vàng bạc, tiền tài, vũ khí,
quân nhu. Vân Công đáp rằng Ngài không có cất giấu chi hết. Chúng liền tra
tấn, đánh đập Ngài. Mới đầu, chúng còn dùng cây, kế đến lại dùng côn
sắt đánh đập trao khảo Ngài. Mặt mũi, đầu cổ đều tuôn máu. Gân cốt tay
chân thân mình đều bầm dập. Chúng vừa đánh vừa tra hỏi. Lúc ấy, Ngài cố
ngồi dậy, xếp bằng nhập định. Cây gỗ, cây sắt bủa xuống thân Ngài tới
tấp. Ngài nhắm mắt, không nói năng, kêu la, than vãn lời nào, trạng như nhập
định. Hôm đó, chúng đánh Ngài bốn lần như thế. Cuối cùng, chúng quăng
Ngài xuống đất. Thấy Ngài bị trọng thương, nghĩ chắc chắn là phải chết,
nên chúng kéo nhau bỏ đi. Tối đến, thị giả vào phòng, đỡ Ngài lên giường
ngồi thiền.
Ngày thứ năm, nghe Vân Công chưa chết,
chúng lại kéo nhau vào phòng, thấy Ngài vẫn đang ngồi thiền nhập định như
ngày trước, liền nổi xung, tức tối, lấy cây to đập, kéo lôi xuống đất,
mang giày đinh đá đạp. Ngài nằm sóng soài trên đất. Mắt tai mũi miệng
đều tuôn máu. Chúng nghĩ rằng kỳ này chắc Ngài phải chết hẳn, nên kéo nhau
bỏ đi. Tối đến, thị giả cũng vẫn vào phòng, đỡ Ngài lên giường, ngồi
xếp bằng như trước.
Ngày thứ mười, Ngài từ từ nằm xuống,
theo thế kiết tường, như tượng đức Phật nằm lúc nhập Niết Bàn. Suốt cả
ngày đêm, thân Ngài không động đậy. Thị giả đốt một cọng rơm, để hơ
trước mũi, nhưng không thấy hơi, nên nghĩ rằng Ngài đã viên tịch. Tuy
nhiên, thân mình vẫn còn ấm, sắc mặt vẫn tươi tỉnh. Hai thị giả là Pháp
Vân và Khoan Thống thay phiên nhau hầu Ngài. Đến ngày mười một, Ngài mở
miệng nói đôi lời. Thị giả đỡ Ngài ngồi dậy và thuật lại rằng Ngài đã
ngồi nhập định và nằm bao nhiêu ngày rồi. Vân Công bảo rằng: "Thầy
tưởng những tai biến này xảy ra chỉ mới vài phút thôi. Thầy nghiệm biết
phần số mình sắp hết rồi."
Sau đó, bảo thị giả lấy giấy viết ra
biên chép lại những việc gì hiện ra trong lúc Ngài nhập thâm định, và còn
căn dặn rằng đừng nói cho ai biết, để phòng sự nghi ngờ, phỉ báng.
Kế tiếp, Ngài cố gằn giọng mà kể:
"Thầy vừa mộng thấy mình đến nội
viện cung trời Đâu Suất. Nơi đó, thật rất trang nghiêm kỳ diệu. Trên thế
gian này không có nơi nào giống như thế. Gặp Bồ Tát Di Lặc đang ngồi trên
tòa cao thuyết pháp. Trong chúng hội có vài mươi vị, vốn là pháp hữu thuở
xưa của Thầy, như hòa thượng Chí Thiện chùa Hải Hội ở Giang Tây, pháp sư
Dung Cảnh ở núi Thiên Thai, ngài Hằng Chí ở Kỳ Sơn, hòa thượng Bảo Ngộ ở
cung Bá Tuế, hòa thượng Thánh Tâm ở núi Bảo Hoa, luật sư Độc Thể, hòa
thượng Quán Tâm ở Kim Sơn, tôn giả Tử Bách v.v...Thầy cung kính chắp tay,
rồi được chư vị chỉ tay ra hiệu bảo ngồi bên phía đông, nơi một tòa ngồi
trống trải thứ ba. Tôn giả A Nan làm duy na, cùng ngồi kế cận Thầy. Đại
chúng cùng nghe Bồ Tát Di Lặc thuyết 'Duy Thức Định'. Đang giảng, đột nhiên
Ngài Di Lặc dừng lại, chỉ tay về hướng Thầy và nói: "Con hãy trở về
đi!"
Thầy đáp: "Đệ tử nghiệp chướng
nặng nề. Không dám trở về."
Ngài Di Lặc bảo: "Nghiệp duyên của
con chưa dứt. Nay hãy đi về, rồi sau này trở lại."
Kế đến, Ngài Di Lặc nói kệ:
"Thức cùng tri khác ra sao?
Sóng cùng nước đồng nhau
Chớ phân biệt bình bồn
Chất vàng không phân chia
Lượng tánh ba nhân ba
Một sợi gai nhỏ, một sừng ốc tí ti
Nghi thành ảnh tượng
Tánh bệnh hết khi tư hoặc dứt,
Như thân phàm phu trong nhà ảo mộng
Huyễn không chấp trước
Biết huyễn liền rời xa
Rời huyễn tức giác
Đại giác viên minh
Kính soi muôn vật
Phàm Thánh không hai
An nghiệp lành xấu
Bi nguyện độ sanh
Làm trong cảnh mộng
Đương đầu nghiệp lực trong bao kiếp
Nên tỉnh giác việc xảy ra
Thuyền từ bơi trong biển khổ
Chớ sanh tâm thối thất
Sen nở từ bùn lầy
Có Phật đà ngồi trong đó...
Còn rất nhiều câu kệ, nhưng Thầy quên
rồi. Ngài còn dặn bảo Thầy vài điều mà nay không tiện nói ra."
Khổ vui rành mạch. Khi xưa tổ Hám Sơn
trong lúc thọ cực hình cũng nhập định như thế. Đối với người chưa chứng
ngộ, không thể thấy và thuật lại được những cảnh giới cao siêu như thế.
Qua vài ngày sau, bọn người dã man kia,
mắt thấy hạnh nhẫn nhục kỳ đặc của Ngài, nên từ từ sanh tâm khiếp sợ. Tên
đầu đảng hỏi một vị tăng: "Tại sao ông thầy già kia bị đánh nhừ tử
như thế mà không chết?"
Tăng đáp: "Lão Hòa Thượng vì
chúng sanh chịu khổ, lại vì muốn tiêu trừ tai nạn cho chư vị, nên tuy bị
đánh đập tàn nhẫn mà không chết. Đợi đến sau này rồi chư vị sẽ
hiểu."
Kể từ đó, chúng không còn dám tra tấn
đánh đập Ngài nữa. Vì gây ra việc hung bạo này, và vì sợ rằng nếu tin này
lọt ra ngoài thì chư Phật tử trong và ngoài nước sẽ phẩn nộ căm tức, nên
chúng bao vây xung quanh chùa, kiểm soát gắt gao. Đối với chư tăng, chúng
không cho nói chuyện với nhau, hay bước ra khỏi chùa. Ắn uống cũng bị kiểm
soát, hạn chế. Cứ thế, kéo dài hơn cả tháng. Vì bị đánh đập tàn nhẫn,
Vân Công nhuốm bịnh nặng, ngày một trầm trọng. Mắt không thể thấy, tai không
thể nghe. Chư đệ tử sợ Ngài có thể viên tịch nên thỉnh cầu Ngài lược
thuật lại cuộc đời tu hành của Ngài. Bản thảo 'Biên Niên Tự Thuật' bắt
nguồn từ đây.
Tháng tư, biến cố Vân Môn từ từ lan
truyền đến Triều Châu. Đầu tiên, do chư tăng chùa Đại Giác tỉnh Triết
Giang thông báo cho chư lão hòa thượng, chư đệ tử xuất gia và tại gia, chư
huynh đệ đồng môn của Vân Công, trong và ngoài nước, để cùng nhau tìm
cách giải nạn cho Ngài. Về phía Bắc Kinh, họ đánh điện, yêu cầu chính phủ
phải điều tra sự vụ kỹ càng.
Nơi Vân Môn, bọn dã man kia từ từ nới
lỏng vòng kiềm chế. Chúng lấy đi tất cả đồ vật, lương thực, y phục của
chư tăng. Vân Công bị đánh trọng thương, không thể ăn cháo được, mà chỉ
uống nước thôi. Khi nghe lương thực trong chùa đều bị lấy đi hết, Ngài than
với đại chúng: "Lão già này nghiệp nặng, làm liên lụy đến chư vị. Nay
việc đã đến nước này, chư vị hãy phân tán đi phương khác, tìm nơi lánh
nạn để tu hành."
Thế nhưng, tăng chúng không muốn bỏ
Ngài đi đâu hết. Vì vậy, Ngài bảo đại chúng ra sau núi đốn củi, rồi mang
ra chợ, cách chùa hơn hai mươi dặm, bán lấy tiền mua gạo ăn. Đại chúng y
theo lời dạy của Ngài, bán củi mua gạo. Từ đó, đại chúng có đủ sức khỏe
để đọc kinh, tọa thiền.
Tuần đầu tháng năm, chính quyền Bắc
Kinh phái viên chức cùng các nhân viên tỉnh Quảng Đông, đến huyện Khổng
Nguyên để điều tra sự vụ. Hôm sau, họ đến núi Vân Môn, dẫn theo các
chuyên viên kỹ thuật, đem máy chụp ảnh, máy ghi âm, để điều tra sự việc
tại chỗ. Đầu tiên, họ đến Vân Môn thăm hỏi Vân Công: "Bạch Hòa
Thượng! Ngài có được khỏe không?"
Lúc ấy, Ngài đang nằm trên giường
bệnh. Tai không nghe rõ. Mắt không thấy kỹ. Lại không biết họ là những viên
chức cao cấp từ Bắc Kinh xuống. Khi thấy các viên chức và công an địa
phương, Ngài im lặng không nói lời nào. Khi họ hỏi rằng Ngài có bị ngược
đãi, đồ vật trong chùa có bị mất mát không thì Vân Công cũng không đáp.
Sau khi biết rõ lai lịch của họ, Vân Công mới nói họ rằng hãy tự điều tra
sự việc thiết thực để báo cáo lên chính phủ Bắc Kinh. Các viên chức an ủi
Ngài đôi ba lần, rồi ra lịnh cho chính quyền địa phương thả các vị tăng
đang bị nhốt trong tù.
Thế là biến cố Vân Môn xảy ra từ ngày
hai mươi bốn tháng hai đến ngày hai mươi ba tháng năm thì chấm dứt, thoát
được cảnh khổ đau tang tóc. Trong hai mùa đông, Vân Công vì trọng thương,
bịnh nặng nên an dưỡng tại núi. Tăng chúng hơn trăm vị, chặt cây đốn củi,
cùng làm đồ thủ công để đem ra chợ bán, lấy tiền mua gạo, sinh sống qua
ngày. Dân chúng trong trăm làng ấp vùng lân cận, khi nghe Vân Môn được giải
nạn liền kéo đến viếng thăm Vân Công. Chư đệ tử của Vân Công tại Bắc
Kinh, trong và ngoài nước, viết thư vấn an và khuyên Ngài nên rời khỏi Vân
Môn. Lúc ấy, có điện tín từ Bắc Kinh gởi đến Quảng Đông, ra lịnh cho
chính quyền địa phương phải ân cần bảo hộ núi Vân Môn.
Dân Quốc năm thứ 41, 113 tuổi. (1952/53)
Mùa xuân, bịnh tình Vân Công thuyên
giảm đôi chút. Ngài hướng dẫn tăng chúng ngồi thiền hành đạo, quên đi
thế sự đảo điên. Lúc đó, chính phủ bốn lần gởi điện tín mời Ngài lên
Bắc Kinh. Khi các phái viên đến Vân Môn, đại chúng khuyên Ngài nên hoãn
lại. Vân Công đáp: "Nay đã đến lúc phải đi. Hiện tại, toàn thể tăng
già trong nước, mỗi mỗi tự thủ thân, thiếu người lãnh đạo, như bãi cát
vụn, nếu không đoàn kết, thành một lực lượng cơ cấu vững mạnh thì tai
biến sẽ đến mọi nơi chứ không phải chỉ ở Vân Môn. Thầy vì Phật pháp, nên
phải ra Bắc."
Sau đó, Ngài giao phó công việc cho chư
tăng lão thành ở lại hộ trì tự viện, rồi an ủi đại chúng, chuẩn bị lên
đường. Trước khi đi, Ngài có viết kệ:
"Ngồi xem năm vua bốn đời,
Thời thế đổi thay đột ngột
Nếm đủ chín gian nan, mười tai nạn
Hiểu rõ thế sự vốn vô thường."
Mồng bốn tháng tư, Ngài cùng chư thị
giả Phật Nguyên, Giác Dân, Khoan Độ, Pháp Vân, và các nhân viên hộ tống,
khởi hành đi Bắc Kinh. Hàng trăm dân chúng trong các làng xã lân cận, tiển
Ngài rời khỏi Vân Môn.
Nhớ lại ba mươi năm về trước, vào
tháng chạp, sau khi trùng tu xong chùa Nam Hoa, Ngài chống tích trượng qua Vân
Môn. Lúc mới đến thì tự viện hoang tàn, tường vách điện đường, mái ngói
đều hư nát. Trong ngôi pháp đường, cỏ lên cả vài thước. Duy chỉ có một
vị tăng, lo phần hương khói cho chư Tổ Sư. Sau khi Ngài đến trụ trì, bốn
chúng khắp nơi đều vân tập, cả ngàn tăng ni vây quanh. Ngài vừa lo trùng tu
tự viện, vừa lo nuôi nấng dạy dỗ đồ chúng. Lúc quân Nhật xâm chiếm Trung
Quốc, giao thông bị cắt đứt, những biến cố, tai nạn xảy ra dồn dập hơn gấp
mười lần thời Ngài còn ở tại chùa Nam Hoa. Do tinh thần tự túc, Ngài dạy
đồ chúng tự nung ngói gạch, làm hồ, cưa gỗ, kiến tạo tự viện, đúc vẽ
tượng Phật v.v... Mười năm trước, kiến thiết điện đường hậu liêu phòng
xá, lầu các, tháp thờ, cả thảy hơn một trăm tám mươi cái. Mái ngói điện
đường rộng rãi đẹp đẽ, trang nghiêm.
Bàn về mạch phái, tông Vân Môn truyền
được mười đời, cho đến triều Thanh đời Quang Hiếu thì ngưng, nên bị thất
truyền, không người kế tục. Vân Công điều tra hệ phái, tiếp độ tăng nhân,
kế thừa mạch pháp Vân Môn, chấn chỉnh tông phong, nối mạch Phật pháp.
Khi đến Triều Châu, bốn chúng đệ tử
quy y, xa gần lần lượt tới viếng thăm Ngài cả hàng ngàn người. Tại chùa
Đại Giám, người đến tham vấn Ngài, càng ngày càng đông, chứng minh rằng
tín tâm quần chúng Phật Tử không vì thời thế biến chuyển mà thay dạ đổi
lòng. Mồng mười, Vân Công lên xe lửa Quảng Đông-Hán Khẩu để ra bắc. Ngày
mười một, đến Võ Xương, Ngài trú tại chùa Tam Phật. Vì đi đường xa, nên
các vết thương bị chấn động, khiến toàn thân Ngài đau nhức dữ dội. Cư sĩ
Trần Chân Như ân cần chẩn mạch hốt thuốc cho Ngài uống. Hòa thượng trụ trì
chùa Tam Phật là Đại Hàm cũng tận tâm lo lắng. Lúc bịnh tình thuyên giảm
đôi chút, thể theo lời thỉnh cầu của hòa thượng Đại Hàm, Vân Công chủ
trì pháp hội Quán Ấm thất trong bảy ngày. Người quy y hơn hai ngàn người.
Pháp sự xong, Ngài lại tiếp tục đi ra
bắc, dầu thân vẫn còn bịnh nặng. Trước khi khởi hành, đại chúng tại chùa
Tam Phật thỉnh Ngài cùng chụp ảnh lưu niệm. Lúc ấy, Ngài có làm bài kệ:
"Gió nghiệp thổi đến Võ Xương,
Bịnh già làm lụy đại chúng,
Ba tháng trụ chùa Tam Phật
Một tràng tai nạn, một tràng tủi hổ kinh
hoàng,
Vô tâm đi lên đỉnh thế giới,
Có nguyện đồng lên trường tuyển Phật.
Nhớ lại Ngọc Tuyền Quan Trạng Sam.
Nghe một lời, ngộ chân thường."
Ngày hai mươi tháng bảy, theo các nhân
viên hộ tống, cùng chư vị thị giả. Vân Công đáp chuyến xe lửa Hán
Khẩu-Bắc Kinh. Lúc đến Bắc Kinh, chư sơn trưởng lão, thiện nam tín nữ, cùng
các đoàn thể, đến trạm xe lửa, nghinh tiếp Ngài. Chư cư sĩ, Lý Nhâm Hồ,
Diệp Hà Am, Trần Chân Như v.v..., thỉnh Ngài đến chùa Quảng Hóa nghỉ ngơi.
Vì có rất nhiều người đến tham bái, nên Ngài phải qua chùa Quảng Tế của
người Tây Tạng, để an dưỡng sức khỏe. Sau khi đến Bắc Kinh, Ngài gặp
được các vị quan chức, pháp hữu quen thuộc, và chư vị đồng hương ở Hồ
Nam, đều hết lòng hộ pháp. Lúc chưa đến Bắc Kinh, Ngài được điện báo cho
biết rằng tại Bắc Kinh, nơi chùa Quảng Tế, đại sư Viên Anh cùng các cư sĩ
như Triệu Nghiệp Sơ v.v..., thành lập Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc. Hơn một
trăm đại biểu toàn quốc định thỉnh Vân Công làm hội trưởng, nhưng Ngài
từ chối, viện lý do vì bịnh. Do đó, họ đồng thỉnh đại sư Viên Anh làm
chánh hội trưởng, cư sĩ Hi Nhiêu Gia Thố và Triệu Nghiệp Sơ làm phó hội
trưởng. Lại thêm, đức Phật sống Đạt Lai Lạt Ma, đức Ban Thiền Lạt Ma, Ngài
(đại sư Hư Vân), Tra Cán Cát Căn, bốn vị được đề cử làm hội trưởng
danh dự. Các đoàn thể đại biểu Phật Giáo bao gồm các sắc tộc như người
Hoa, Tây Tạng, Thái, Tán, v.v...
Sau khi hiệp hội Phật giáo Trung Quốc
được thành lập, Vân Công gởi thơ đến chánh phủ trung ương, thỉnh cầu ban
bố cương lĩnh cộng đồng, quy định tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho nhân
dân. Đối với các chùa chiền Phật giáo, hãy có biện pháp bảo tồn quản lý.
Trước mắt, hãy cấp bách thi hành những điều sau:
"Thứ nhất, vô luận là vùng nào, xin
hãy ngưng ngay việc đập phá, hủy đốt chùa chiền, tượng Phật, kinh điển.
Thứ hai, hãy ngưng việc cưỡng bức chư
tăng ni hoàn tục.
Thứ ba, tài sản tự viện, sau khi thuộc
về công hữu, xin hãy cấp cho tăng ni đủ đất đai để tự trồng trọt sinh
sống. Nếu được như thế thì các tự viện danh lam thắng cảnh, ngày một phát
triển."
Mười ba tháng tám, Vân Công đại diện
toàn thể Phật tử trong nước, nhận ba bảo vật do nước Tích Lan tặng. Vị
trưởng đoàn đại biểu Tích Lan là pháp sư Đạt Mã Lạp Tháp Nạp cùng vài
mươi người đến Trung Quốc trao tặng ba bảo vật là xá lợi Phật, bộ tạng
kinh chữ Pa Li khắc trên lá Cụ Diệp, và cây Bồ Đề cho hội Phật Giáo Trung
Quốc. Mồng một tháng mười, tổ chức cuộc tiếp lễ. Đầu tiên do các thầy
Thích Cụ Tán, Thích Thắng Tuyền cùng các cư sĩ Triệu Nghiệp Sơ v.v..., dâng
lễ, hương hoa, đến đón tiếp phái đoàn Tích Lan. Tại chùa Quảng Tế, hơn
hai ngàn người đến dự lễ. Chuông trống Bát Nhã nổi lên. Pháp sư Đạt Mã
Lạp Tháp Nạp tiến vào chùa và dâng ba bảo vật cho Vân Công, người đại
diện hội Phật Giáo Trung Quốc. Sau đó pháp sư Đạt Mã Lạp Tháp Nạp nói:
"Vì tình thân mật của Phật tử hai nước trong dòng lịch sử bấy lâu nay,
nguyện đoàn kết trong ngôi nhà Tam Bảo từ bi trí huệ. Vì hòa bình thế giới,
nay xin dâng tặng ba bảo vật này."
Trong đại lễ, có các đại diện Phật
Giáo của các nước như Việt Nam, Miến Điện, Ần Độ, Nhật Bổn, Thổ Nhĩ
Kỳ, Gia Nã Đại.
Tháng chín, chư sơn trưởng lão cùng
các đoàn thể Phật giáo thỉnh Vân Công trụ trì chùa Quảng Tế. Ngài từ
chối, viện lý do sức khỏe yếu kém. Tháng mười, nhân sĩ tại vùng đông nam
Thượng Hải tổ chức pháp hội cầu nguyện thế giới hòa bình. Đại chúng đồng
thỉnh Vân Công làm pháp chủ, nên phái cư sĩ Phương Tử Phiên lên Bắc Kinh
nghinh đón Ngài. Ngày mười một tháng chạp, lúc ra trạm xe lửa Bắc
Kinh-Thượng Hải, có hơn trăm người mang hoa đến cúng dường Ngài và đồng
niệm Phật. Đến Thượng Hải, Vân Công trú tại chùa Ngọc Phật. Ngài cùng vị
tri sự thương lượng, tổ chức pháp hội trong bốn mươi chín ngày đêm. Ngày
hai mươi sáu tháng mười, kiến lập đàn tràng Thủy Lục Không, do Ngài làm
pháp chủ, cùng thỉnh mười đại pháp sư như Viên Anh, Ứng Từ, Tịnh Quyền,
Thị Tùng, Diệu Chân, Đại Bi, Như Sơn, Thủ Bồi, Thanh Định, Vi Phảng, làm
pháp chủ các đàn tràng chính. Tổng cộng có bảy mươi hai vị đại pháp sư
tham gia đàn sám. Đến ngày mười bốn tháng chạp thì pháp hội hoàn mãn.
Trong kỳ đàn tràng này, trừ các pháp chủ nhập tràng, sáng trưa chiều tối,
người đến tham dự đông như nước thủy triều. Họ đến từ các vùng lân cận
và xa xôi như Hồ Nam, Hồ Bắc v.v... Người thọ giới quy y hơn bốn mươi ngàn
người. Tịnh tài thu được trong pháp hội hơn bảy mươi sáu ngàn đồng. Cá
nhân, được cúng dường hơn ba ngàn đồng, nhưng Ngài không nhận. Ngài cùng
các đại pháp sư và cư sĩ quyết định dùng tất cả số tiền trên để cúng
dường cho các danh sơn tự viện toàn quốc, gồm có bốn núi lớn như núi Phổ
Đà ở tỉnh Triết Giang, núi Nga Mi ở tỉnh Tây Xuyên, núi Cửu Hoa ở tỉnh An
Huy, núi Ngũ Đài ở tỉnh Sơn Tây, cùng tám ngôi chùa cổ xưa lớn như chùa
Thiên Đồng ở Ninh Ba, chùa Cao Mân ở Dương Châu, chùa Linh Nhan ở Tô Châu,
chùa Cổ Sơn ở Phước Châu, chùa Quán Tông, chùa Thất Tháp ở Ninh Ba, chùa
Địa Tạng ở Phước Châu, cùng hai trăm năm mươi sáu ngôi chùa viện lớn
nhỏ. Đây chỉ nói sơ lược về pháp hội Thủy Lục Không ở Thượng Hải, do
Vân Công làm pháp chủ.
(Dưới đây là bài khai thị của đại sư
Hư Vân trong kỳ pháp hội Thủy Lục Không tại Thượng Hải:
Pháp hội cầu nguyện thế giới hòa bình
đã được cử hành qua vài ngày. Thật là một pháp duyên hy hữu. Hôm nay,
pháp sư Vi Phảng, hòa thượng Diệu Chân, cư sĩ Triệu Nghiệp Sơ, Lý Tư Hoạt,
Phương Tử Phiên v.v..., đồng thỉnh tôi ra thuyết pháp. Sẳn dịp này, tôi
muốn nói về sự quan hệ giữa Thiền tông và Tịnh Độ tông, để cho những vị
mới phát tâm học Phật pháp tiện việc tham khảo.
Hôm nay là ngày đầu tiên khai mở đàn
tràng niệm Phật. Đúng ra là phải do hòa thượng Diệu Chân đến giảng, nhưng
Ngài lại nhượng thỉnh tôi ra cùng chư vị đàm luận.
Chúng ta sống trong thế giới Ta Bà, tức
đang bơi trong biển khổ. Thế nên, không một ai lại không muốn thoát khỏi
biển khổ này. Nhưng muốn thoát ra được thì chúng ta phải nương theo Phật
pháp. Chân đế của Phật pháp, nói nghiêm túc thì không pháp nào có thể
thuyết được, vì chỉ là hình tướng trên lời nói, ngôn ngữ thôi. Kinh Lăng
Nghiêm nói: "Nếu dùng lời mà nói thì không phải là lời chân thật."
Tuy nhiên, vì chúng sanh căn tánh không
đồng, nên muốn tiếp dẫn thì phải dùng vô số pháp môn. Phật pháp tại Trung
Quốc, có phân rõ ra năm tông phái là Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông,
Giáo tông, và Luật tông. Đối với người đã từng nghiên cứu học hỏi tu tập
thì đã quá đủ rồi, vì họ biết rằng chân lý Phật pháp vốn không sai biệt.
Người mới học Phật pháp, lại phát sanh ra nhiều ý kiến, mỗi mỗi phân rõ
tông này phái nọ v.v..., rồi khen mình chê người, làm tổn hại giá trị giáo
hóa vi diệu của Phật pháp. Phải biết rằng một câu thoại đầu hay một câu
niệm Phật chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh. Đối với người chân
thật dụng công thì những phương tiện này thật không cần thiết. Tại sao? Vì
động tịnh vốn nhất như; bóng trăng soi khắp ngàn sông, nơi nơi đều rõ
ràng, không bị chướng ngại. Người bị chướng ngại như mây che trời xanh,
nước trong bị vẫn đục. Nếu có chướng ngại, tuy trăng sáng mà không hiển
bày. Nước tuy trong mà trăng không hiện rõ. Chúng ta, những người tu hành,
nếu muốn hiểu rõ lý đạo, phải biết tự tâm như trăng sáng mùa thu, không
nên hướng ngoại tìm cầu, mà phải xoay lại ánh sáng trong tâm mình. Một niệm
nếu không sanh thì hiểu rõ nơi không chỗ chứng đắc. Khi ấy, làm gì lại có
danh tướng sai biệt?
Nhân vì chúng ta từ vô lượng kiếp đến
nay, vọng tưởng chấp trước, tập khí nặng nề, nên đấng Thế Tôn, trong bốn
mươi chín năm trường, thuyết pháp giảng kinh hơn ba trăm hội. Nhưng mục
đích quan trọng nhất trong việc thuyết giảng kinh điển hay dạy những pháp môn
tu hành của đức Thế Tôn là không ngoài việc chữa trị các bịnh tật tham lam,
sân hận, si mê, ngã mạn, ác kiến của chúng sanh. Nếu chúng ta xa rời tất cả
bịnh tật đó thì liền thành Phật. Chúng ta và chư Phật, nào có khác biệt
chi đâu. Người xưa nói: "Dùng phương tiện thì có nhiều pháp môn,
nhưng khi trở về cội gốc thì đồng nhau không khác."
Lý đạo là thế. Hiện tại, trong Phật
pháp, có hai tông phái rất thịnh hành là Thiền tông và Tịnh Độ tông. Nhưng
có một số tăng chúng, coi thường giới luật. Thật không hợp lý đạo. Yếu
nghĩa căn bản của Phật pháp là dựa trên ba chữ: Giới, Định, Huệ. Giống như
tòa trầm hương có ba chân, nếu thiếu mất một chân thì không thể đứng
được. Vì vậy, chúng ta, người học Phật pháp, mỗi mỗi phải đặc biệt chú
ý điều này!
Thiền tông do đức Thế Tôn tại hội Linh
Sơn, đưa cành hoa lên, dạy đại chúng, chỉ có tôn giả Ma Ha Ca Diếp là mỉm
cười chúm chím, còn mọi người đều không hiểu gì. Đó là tâm tâm tương
ưng, truyền ngoài giáo lý, tức mạch nguồn của Phật pháp. Đối với câu niệm
Phật của pháp môn Tịnh Độ cùng các pháp môn khác, như đọc kinh trì chú
v.v..., đều là pháp liễu sanh thoát tử. Có người nói, Thiền tông là pháp
đốn ngộ nhanh chóng, còn tông Tịnh Độ chỉ là pháp tiệm thứ, chậm chạp.
Vâng, bất quá chỉ là sụ sai biệt trên danh tướng. Thực tế thì không sai
khác. Lục Tổ Huệ Năng nói: "Pháp không có đốn ngộ hay tiệm thứ, nhưng
người thấy đạo thì có nhanh có chậm."
Chúng ta nên biết rằng mỗi mỗi pháp môn
trong Phật pháp, đều có thể tu trì được cả. Chư vị nếu hợp với pháp môn
nào thì nên tu pháp môn đó, chứ đừng khen mình chê người, sanh khởi vọng
tưởng chấp trước. Nhưng việc quan trọng nhất là phải tôn trọng giữ gìn
giới luật. Người xuất gia gần đây, không tự giữ giới luật nghiêm ngặt, lại
còn nói rằng giữ gìn giới luật cẩn mật là chấp trước, cùng bao lời cao
ngạo. Thật rất nguy hiểm cho Phật pháp!
Thiền tông chính là pháp môn tâm địa.
Sau Tổ Ma Ha Ca Diếp, Thiền tông được triển chuyển, truyền từ Ần Độ qua
Trung Quốc. Đến đại sư Huệ Năng, là tổ thứ sáu ở Đông Độ, được trao y
bát, lưu truyền chánh pháp, một thời hưng thịnh.
Luật tông có tôn giả Ưu Ba Ly, là vị
đứng đầu. Ngài thừa thọ lời chúc lụy của đức Thế Tôn mà tuyên thuyết
lại giới luật cho chúng sanh trong đời mạt pháp, nương vào đó mà tu hành,
lấy giới luật làm thầy chỉ đạo. Sau đến đời tôn giả Ưu Ba Cúc Đa, tổ
thứ tư của thiền tông, phân giới ra làm năm bộ luật. Nước ta có lão nhân
Nam Sơn là luật sư Đạo Tuyên, y theo bộ Đàm Vô Đức, viết sớ sao mà phụng
hành, được xưng là sơ tổ của luật tông ở Trung Hoa.
Lão nhân Bắc Tề ở núi Thiên Thai, xem
bộ Trung Quán Luận của ngài Long Thọ, liền phát minh tâm địa. Lão nhân Đỗ
Thuận, lấy kinh Hoa Nghiêm làm chủ, kiến lập tông Hiền Thủ.
Ngài Huệ Viễn đề xướng tông Tịnh Độ.
Chín tổ sư kế tục nhau tương truyền. Sau ngài Vĩnh Minh, chư tổ sư bao thời
đại, đều dùng Thiền tông mà hoằng dương tông Tịnh Độ, như tương dung
nước với sữa. Tuy tông phái có phân khác, nhưng cốt yếu không ngoài ý
nghĩa của cành hoa mà đức Phật đưa lên. Thật vậy, Thiền tông cùng tông
Tịnh Độ xưa nay vốn có mối quan hệ mật thiết. Thế nên, chúng ta phải biết
sự uyển chuyển của người xưa trong việc hoằng dương Phật pháp.
Mật tông do tôn giả Bất Không, trí giả
Kim Cang v.v..., truyền vào Trung Quốc. Đến đời thiền sư Nhất Hạnh, do công
nỗ lực của Ngài, Mật tông được phát dương rộng rãi. Tông này cùng các
tông phái khác hỗ tương hoằng hóa Phật pháp. Vì vậy, không nên phân biệt,
bằng ngược lại thì tự làm tổn thương đạo pháp. Nếu cứ công kích nhau mãi
thì thật không hiểu rõ được tâm ý của Phật Tổ. Người xưa thuyết pháp
như lấy lá vàng vỗ con nít khóc. Lão nhân Triệu Châu nói: "Chữ Phật
tôi không muốn nghe. Niệm một chữ Phật, phải xúc miệng cả ba lần."
Vì thế, có một số người không hiểu
được sự khổ tâm của người xưa, cho rằng niệm Phật chỉ là việc của các
ông già bà cả, hoặc nói tham thiền là vọng không như ngoại đạo.
Tổng quát, nếu tôi nói đúng như vầy,
kẻ nọ có lỗi kia, cứ thế tranh luận mãi, không chịu tu, thì thật là bội bạc
bổn hoài của Phật Tổ, khiến cho người ngoài có cơ hội công kích, hủy phá
tiền đồ Phật giáo. Kết quả thật rất tai hại. Do đó, Hư Vân tôi đặc biệt
nêu lên vấn đề này. Hy vọng chư vị lão tham học cùng các bạn mới phát tâm
học Phật pháp, đừng nên phạm vào lỗi này. Nếu cứ làm mãi như thế thì
đưa Phật giáo vào con đường cùng. Người học Phật phải nên đọc qua nhiều
lần bài 'Tông Cảnh Lục' và tập 'Muôn Thiện Đồng Quy' của lão nhân Vĩnh
Minh. Người niệm Phật, phải hiểu rõ chương 'Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm Phật
Viên Thông', và cũng phải hiểu rõ Tịnh Độ là xuất phát từ tự tánh, xả bỏ
vọng tưởng, quay về nguồn chân, chớ hướng ngoại tìm cầu. Như nếu chúng ta
có thể hiểu rõ những chân lý này, tùy theo ý thích của người mà bàn về
Thiền cũng được, nói về Tịnh Độ cũng hay. Hoặc muốn vãng sanh về cõi
đông phương hay cõi tây phương cũng tốt. Cho đến nói có, nói không đều
đúng cả.
Thực sự, mỗi sắc, mỗi hương đều không
ngoài sụ liễu nghĩa của trung đạo; tự tánh là Di Đà, duy tâm tức Tịnh Độ,
xả bỏ liền đến bờ giác. Tại sao có nhiều dây trói buộc chúng ta? Kinh Lăng
Nghiêm nói: "Nếu dẹp hết tâm phàm thì thật không có sự giải thoát của
chư thánh."
Nếu hiểu rõ như thế thì sẽ đoạn trừ
được vọng tưởng, kiến chấp, tập khí, tức làm Bồ Tát, làm Phật Tổ. Ngược
lại, sẽ mãi làm chúng sanh.
Người niệm Phật, cũng đừng có kiến
chấp thái quá. Nếu không, sẽ như uống thuốc độc. Hiện tại, chúng ta niệm
danh hiệu A Di Đà Phật để dẹp trừ vọng tưởng chấp trước bao đời. Thế
nên, dùng một câu niệm Phật, như cầm chổi, quét sạch vọng tưởng. Niệm mãi
không quên, khiến vọng niệm tự tiêu trừ, của tịnh liền hiện, tìm cầu bên
ngoài chỉ nhọc sức.)
Đại sư Hư Vân giảng 'Phải hiểu rõ sự
niệm Phật' nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ần Quang, năm 1952:
"Hôm nay là ngày giỗ kỷ niệm lão
pháp sư Ần Quang vãng sanh về cõi Tây Phương lần thứ mười hai. Các vị
đều là đệ tử của Ngài. Uống nước phải nhớ nguồn, nên chư vị tụ hội tại
giảng đường này, làm lễ giỗ truy niệm thầy mình. Trong đạo lý nhà Phật,
thầy tức là cha mẹ pháp thân của mình. Kỷ niệm thầy, tức là nhắc lại bổn
phận hiếu hạnh của mình đối với cha mẹ pháp thân. So sánh về sự hiếu thảo
nhỏ nhặt ở thế gian thì việc này có rất nhiều ý nghĩa thâm trầm hơn.
Nhớ thuở xưa, lần đầu gặp lão pháp sư
Ần Quang tại núi Phổ Đà vào năm Quang Tự thứ hai mươi. Lúc bấy giờ lão
hòa thượng Hóa Văn thỉnh Ngài lên tòa giảng kinh A Di Đà tại chùa Quảng
Tế. Giảng xong, Ngài ở lại chùa, đọc hết bộ Tam Tạng kinh điển. Qua hơn hai
mươi năm, Ngài chưa từng rời núi một bước, đóng cửa ẩn tu. Tuy Ngài hiểu
rõ giáo nghĩa rất thâm sâu, nhưng chỉ lấy một câu A Di Đà Phật làm sự tu
trì hằng ngày. Tuyệt đối không cho mình thông hiểu kinh giáo thâm sâu mà coi
nhẹ pháp môn niệm Phật. Lời dạy của Phật là thuốc dùng để trị bịnh khổ
cho chúng sanh. Pháp môn niệm Phật, được gọi là thuốc A Già Đà, trị hết
tất cả bịnh.
Nhưng, vô luận tu pháp môn nào, cần
phải có niềm tin kiên cố, giữ gìn mãi mãi, thực hành ngày một thâm sâu,
thì mới mong đạt được lợi ích đầy đủ. Nếu có niềm tin kiên cố thì trì
chú, tham thiền, niệm Phật đều thành tụu. Nếu tín căn không thâm sâu, chỉ
cậy nhờ chút ít thiện căn, học thức cạn cợt, hoặc nhớ được vài ba danh
tướng, công án, đi nói chuyện vô ích, tạp nhạp, bàn việc đúng sai, thì
chỉ tăng trưởng nghiệp chướng và tập khí xấu xa. Bàn về việc sống chết,
cũng vẫn bị nghiệp thức dẫn dắt. Có thật đáng thương lắm không!
Chư vị là đệ tử của pháp sư Ần
Quang. Hôm nay làm giỗ lễ kỷ niệm, thì cũng phải kỷ niệm sự hành trì chân
thật của Ngài. Ngài là một vị chân tu thực thụ, bước trên đường các bậc
cổ đức đã đi. Ngài hiểu rõ thâm ý của chương Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm
Phật Viên Thông. Y theo đó mà khởi tu, đạt được niệm Phật Tam Muội. Từ
đó, Ngài hoằng dương tông Tịnh Độ, lợi ích chúng sanh, trải qua bao thập
niên mà cũng vẫn như một ngày, chưa từng từ nan thối bước, dầu cho bịnh
tật ốm đau. Hiện tại, thật hiếm có ai như Ngài, chân thật tu hành, không
khởi kiến chấp, phân biệt mình người, chỉ nghe một danh hiệu Phật, rồi y theo
đó mà tu trì. Sáng niệm Phật. Tối niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi, trong hai
mươi sáu thời niệm niệm không quên mất. Thầm thầm lặng lặng, công phu thuần
thục chín mùi, cảnh tịnh Tây Phương Cực Lạc hiện trước mặt, được lợi
ích vô biên. Tự mình quán thấy. Chỉ quan trọng là tín tâm phải kiên cố.
Tín tâm nếu không kiên cố, thì muôn sự
không thể thành. Hôm nay tăng, ngày mai giảm. Nghe người nói tham thiền hay
thì bỏ ngay công phu niệm Phật, chạy qua tu thiền. Nghe người nói học kinh
điển rất tốt, thì lại bỏ thiền, qua học kinh giáo. Học kinh giáo không thành
lại chạy đến trì chú, nhưng chẳng hiểu chi hết. Tâm bị chướng ngại vì
không thanh tịnh. Không tự trách mình tín tâm không định, lại cho rằng Phật
Tổ dối gạt chúng sanh. Chửi Phật báng Pháp, tạo nghiệp vô gián. Vì thế, tôi
khuyên đại chúng, phải nên tin tưởng kiên cố sự lợi ích của pháp môn niệm
Phật, học theo hạnh 'Chân Thật Niệm Phật' của lão pháp sư Ần Quang, lập
chí vững chắc, phát tâm dũng mãnh, lấy việc vãng sanh cõi Tây Phương làm
việc lớn trong đời.
Tham thiền cùng niệm Phật, đối với
người mới phát tâm tu học thì thấy có khác, nhưng đối với người tu hành
lâu năm thì chỉ là một mà thôi. Tham thiền đề cử thoại đầu, chặt đứt
dòng sanh tử, cũng từ tín tâm kiên cố mà được. Nếu thoại đầu giữ mãi
không được, thì tham thiền không thể thành phiến. Nếu tín tâm kiên cố, thì
đến chết cũng phải tham khán câu thoại đầu. Uống trà không biết đang uống
trà. Ắn cơm không biết đang ăn cơm. Như thế, công phu mới thuần thục, thoát
khỏi căn trần, đại dụng hiện tiền, cùng cảnh tịnh của công phu niệm Phật,
giống nhau không khác. Đạt đến cảnh giới đó, sự lý viên dung, tâm cùng
Phật không hai. Phật như như bất động. Chúng sanh cũng như như bất động.
Một như như bất động mà không có hai như như bất động, thì sai biệt chỗ
nào? Chư vị là những người tu pháp môn niệm Phật. Tôi hy vọng tất cả hãy
lấy một câu niệm Phật làm chỗ y tựa cho đời mình. Hãy chân thật mà
niệm!"
Dân Quốc năm thứ 42, 114 tuổi. (1953/54)
Sau đàn tràng Thủy Lục Không, Vân Công
định rời Thượng Hải, nhưng vì đại chúng cùng các nhân sĩ, nghĩ rằng
những pháp hội thù thắng do bậc cao tăng hướng dẫn, khó mà gặp được, nên
đồng thỉnh Ngài ở lại, tiếp tục cử hành thiền thất. Chùa Ngọc Phật có
thiền đường. Vào dịp này, xiển hưng, chấn chỉnh lại quy chế thiền đường.
Dẫn đầu là hòa thượng Vi Phảng, cùng các cư sĩ Giản Ngọc Giai, Lý Tư
Hoạt, Triệu Nghiệp Sơ, Lý Khất Tôn, Phương Tử Phiên, Hồ Hậu Phủ, Trương
Tử Khâm, Chung Huệ Thành, Lý Kinh Vĩ, Chúc Hoa Bình v.v..., đồng thỉnh Ngài
cử hành thiền thất. Vân Công vì lòng từ bi, hứa khả, ban bố pháp thí, mãn
nguyện đại chúng. Thiền thất bắt đầu vào mồng chín cho đến ngày mười lăm
tháng chạp thì chấm dứt. Đại chúng vì chưa nếm đủ mùi pháp vị, nên thỉnh
Ngài cử hành thêm một tuần thiền thất nữa. Ngày thứ mười sáu, khai mở
thất, cho đến ngày hai mươi ba thì giải thất. Trong hai tuần thiền thất, Ngài
có ban những bài pháp ngữ, khai thị đại chúng.
Thiền thất khai thị lần thứ nhất:
Ngày thứ nhất, trong tuần đầu tại chùa
Ngọc Phật, Thượng Hải, 1953.
"Đại hòa thượng Vi Phảng thật rất
từ bi. Chư vị ban thủ cũng có tâm tha thiết muốn hoằng dương Phật pháp,
cùng các vị đại cư sĩ có đạo tình, đồng phát tâm đả thiền thất, lại
yêu cầu Hư Vân tôi ra làm chủ thất. Thật tình mà nói, đây là một nhân
duyên rất thù thắng. Ngặt vì tuổi già sức yếu, lại thêm bịnh hoạn, nên tôi
không thể giảng nhiều được.
Đấng Thế Tôn thuyết pháp hơn bốn mươi
năm, lời hiển lời mật, ngôn giáo đầy đủ trong ba tạng mười hai bộ. Nay
đại chúng yêu cầu tôi ra thuyết pháp, thì chỉ bất quá lập lại lời thừa
của Phật Tổ. Nói đến tông môn, lúc Phật còn tại thế, lần nọ đang ngồi
trên pháp tòa, có vua trời Đại Phạm bay xuống dâng hoa Kim Đàn cúng dường.
Đức Phật liền đưa cành hoa Kim Đàn lên để dạy đại chúng. Lúc ấy, dưới
tòa, đại chúng trời người, đều không hiểu chi hết, duy chỉ có tôn giả Ma
Ha Ca Diếp túm tím mỉm cười. Đức Thế Tôn bảo: "Ta có chánh pháp nhãn
tạng, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay đem phó chúc cho
ông."
Đó là truyền ngoài giáo lý, không lập
văn tự, đi thẳng đến pháp môn vô thượng. Người sau mù mờ, cho đó là
thiền. Nên biết rằng trong kinh Đại Bát Nhã, có kể đến hơn hai mươi loại
thiền, mà tất cả đều không phải là cứu cánh. Duy thiền trong tông môn là
không lập giai cấp, chỉ thẳng vào đất tâm, thấy tánh thành Phật. Do đó,
không có quan hệ với việc đả thất hay không đả thất. Chỉ vì căn tánh
chúng sanh ngày càng ngu mê, vọng tưởng đầy dẫy, nên chư tổ mới đặt ra
phương tiện để nhiếp thọ. Tông môn này, kể từ tổ Ma Ha Ca Diếp truyền cho
đến ngày nay, trãi qua sáu bảy mươi đời. Triều đại Đường và Tống
(619-1278), gió thiền lan khắp thiên hạ, hưng thịnh một thời. Hiện tại, thiền
tông đến thời kỳ suy vi tột bậc, chỉ có vài nơi như Kim Sơn, Cao Mân, Bảo
Quang còn giữ được chút tông phong. Thế nên, nhân tài trong tông môn thật
hiếm hoi. Cũng đả thất tham thiền, nhưng đa số chỉ vì danh, mà không có
thực thể.
Khi xưa, thất tổ Hành Tư hỏi Lục Tổ
Huệ Năng: "Làm thế nào để khỏi lạc vào giai cấp?"
Lục Tổ bảo: "Ông đã từng làm
những gì?"
Ngài Hành Tư đáp: "Thánh đế còn
chẳng làm, thì có gì là giai cấp?"
Lục Tổ thầm chấp nhận, hứa khả.
Hiện tại, căn khí chúng ta rất cứng
cỏi, nên chư đại tổ sư mới giả lập phương tiện, dạy tham quán câu thoại
đầu. Sau đời Tống, người niệm Phật rất nhiều, nên chư đại tổ sư lại dạy
tham quán câu 'Ai là người đang niệm Phật?'
Ngày nay, mọi nơi đều theo pháp này mà
dụng công, nhưng có rất nhiều người không hiểu rõ ràng, cứ để câu 'Ai là
người đang niệm Phật' nơi cổ họng, niệm đến niệm lui không dừng, thành ra
tụng niệm, chứ không phải tham quán câu thoại đầu. Tham thoại đầu tức là
tham khán. Thế nên, trong mọi thiền đường đều có treo bốn chữ 'Chiếu cố
thoại đầu'. Chiếu tức là phản chiếu. Cố tức là xoay trở lại. Nghĩa là phải
tự phản chiếu, nhìn vào tự tâm. Gọi đó là quán thoại đầu.
'Ai là người niệm Phật', khi chưa khởi
lên thì gọi là thoại đầu, còn khi đã khởi lên thì gọi là thoại đuôi.
Chúng ta tham khán thoại đầu thì phải nên xem khán chữ 'Ai'. Lúc tâm chưa
khởi lên chữ 'Ai' này thì như thế nào? Giống như lúc đang niệm Phật, có
người đến hỏi: "Bạch Thầy! 'Ai' đang niệm Phật vậy?"
Nếu đáp: "Tôi là người đang niệm
Phật."
Người kia có thể hỏi thêm: "Thầy
là người niệm Phật. Vậy miệng niệm hay ý niệm? Nếu nói miệng niệm thì lúc
ngủ, sao không niệm? Nếu nói tâm niệm thì lúc thân này chết đi, sao không
tiếp tục niệm?"
Do đó, chúng ta có một nghi vấn, phải
nên truy cứu: "Câu thoại đầu đây từ đâu mà đề khởi? Tôi là ai?"
Vi vi tế tế, phản chiếu xoay lại, xem xét
kỹ càng. Đó gọi là nghe lại tự tánh của mình.
Lúc đi bộ, hành hương, phải ngưỡng
đầu lên, chạm đến cổ áo. Chân phải bước theo dấu chân người trước. Tâm
phải bình bình tịnh tịnh. Không nên ngó sang đông sang tây. Nhất tâm xoay
lại, phản chiếu câu thoại đầu. Lúc ngồi, không nên ưỡn ngực về phía
trước. Đừng đề hơi thở quá cao, hay quá thấp. Để tự nhiên, tùy theo hơi
thở. Lại phải thu nhiếp sáu căn, mắt tay mũi lưỡi thân ý. Phải buông bỏ
muôn niệm. Luôn luôn, xoay chiếu lại thoại đầu, chớ bỏ quên mất. Đừng xem
khán quá vi tế, nếu quá vi tế thì bị hôn trầm (tức buồn ngủ), lạc vào
không vọng, không thể thọ dụng chi được. Đừng xem khán quá thô, nếu quá
thô thì phù trầm (tức vọng tưởng) nổi lên, không thể khởi thoại đầu
được. Nếu xem khán được thoại đầu thì công phu tự nhiên từ từ thuần
thục, tập khí dần dần giảm bớt. Người mới bắt đầu dụng công thì khó lòng
mà xem khán được thoại đầu. Nói vậy, chư vị đừng sợ hãi, lại cũng đừng
có vọng tưởng là muốn khai ngộ, hay cầu được trí huệ v.v... Nên biết, đả
thất tức là vì việc khai ngộ tâm tánh, vì cầu trí huệ. Nếu lại khởi tâm
cầu nữa thì ví như lấy đầu đặt lên đầu. Nay chúng ta đã hiểu rõ rồi
thì chỉ lo đề khởi câu thoại đầu thôi. Nếu trong lúc dụng công, không thể
đề khởi thoại đầu lên, thì chớ có gấp rút, chỉ việc xả bỏ muôn niệm
tình không, rằng rằng mịt mịt, xoay chiếu trở lại. Khi vọng tưởng khởi lên,
hãy để chúng khởi, đừng màng đến, chúng sẽ tự nhiên lặng mất. Vì vậy
bảo: "Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm."
Vọng niệm khởi lên, mình chỉ dùng định
lực xoay lại xem khán thoại đầu. Nếu mất thoại đầu, mình phải mau đề khởi
lại. Mới ngồi thiền thì dường như là chỉ lo dẹp vọng tưởng, nhưng lâu dần
thì thoại đầu từ từ khởi lên được. Khi ấy, chư vị có thể ngồi hết cả
một cây nhang. Nếu không để mất thoại đầu thì kết quả sẽ rất tốt.
Ngôn ngữ chỉ là lời nói suông. Chư vị
hãy nên chân thật dụng công.
Ngày thứ hai:
Đả thất là pháp khắc kỳ thủ chứng.
Người xưa căn khí lanh lợi, nên không thường dùng pháp này, nhưng qua đời
Tống thì từ từ được áp dụng. Đến đời Thanh, triều vua Ung Chánh, pháp này
lan rộng khắp nơi. Vua Ung Chánh tại hoàng cung cũng thường đả thất. Ông rất
tôn trọng thiền tông. Đồng thời, công phu thiền định của ông ta rất phi
thường. Dưới tay ông có hơn mười người ngộ đạo. Tổ Thiên Huệ ở chùa Cao
Mân tỉnh Dương Châu cũng ngộ đạo dưới pháp hội của ông ta. Tất cả quy củ
pháp chế thiền môn, đều do ông chấn chỉnh. Do đó, tông phong đại chấn,
nhân tài xuất hiện rất nhiều.
Vì vậy, quy củ tông phong thật rất quan
trọng. Pháp thức khắc kỳ thủ chứng, giống như thí sinh nhà nho lúc vào
trường khảo hạch, theo đề mục mà làm thơ, theo thơ mà được khảo thí,
trong một thời gian hạn định. Đề mục đả thất của chúng ta, gọi là 'Tham
Thiền', nên điện đường đều gọi là 'Thiền Đường'. Chữ Thiền vốn là
tiếng Phạn, dịch là thiền na, nghĩa là tỉnh lự. Trong thiền lại có thiền
đại thừa, thiền tiểu thừa, thiền cõi hữu sắc, thiền cõi vô sắc, thiền Thanh
Văn, thiền ngoại đạo v.v...
Thiền trong tông môn, gọi là 'Vô Thượng
Thiền'. Nếu như trong thiền đường có người tham thấu nghi tình, ngồi tòa
thiền cắt đứt mệnh căn, tức đồng Như Lai không khác. Thế nên, thiền
đường cũng gọi là 'Tuyển Phật Trường', tức là trường tuyển làm Phật, hay
'Bát Nhã Đường'. Sở học nơi các thiền đường đều là pháp vô vi. Vô vi
tức là không có hành động tạo tác, không pháp để chứng đắc, không pháp
để làm. Nếu là hữu vi thì đều nằm trong sanh diệt. Nếu chứng đắc được
thì phải bị mất. Kinh nói: "Nếu có lời nói, đều là không thật
nghĩa."
Như tụng kinh, lễ sám v.v..., tất cả
đều là pháp hữu vi, ngôn giáo phương tiện quyền xảo. Còn tông môn, dạy
chư vị trực nhận thẳng vào nguồn tâm, không có chỗ để dùng ngôn ngữ. Xưa
kia, có một học nhân, tham vấn lão nhân Nam Tuyền: "Bạch Hòa Thượng!
Đạo là gì?"
Ngài Nam Tuyền đáp: "Tâm bình
thường là đạo."
Thường ngày, chúng ta ăn cơm mặc áo, ra
vào làm lụng, nghỉ ngơi, đều không hợp với đạo. Vì chúng ta tùy theo cảnh
mà đắm nhiễm, chấp trước, không nhận ra tự tâm mình vốn là Phật. Thuở
trước, thiền sư Pháp Đường ở núi Đại Mai, lúc mới gặp Mã Tổ, liền hỏi:
"Bạch Hòa Thượng! Phật là gì?"
Mã Tổ đáp: "Tâm tức là Phật."
Ngài liền đại ngộ, lễ bái rồi từ biệt
Mã Tổ, đến núi Mai Tử ở huyện Tây Minh, kết am ẩn tu. Đời Đường, niên
hiệu Trinh Quán (785-804) dưới hội của thiền sư Giám Quan có một vị tăng, đi
hái quế, bị lạc đường, đến am Ngài, liền hỏi: "Bạch Hòa Thượng! Ngài
ẩn tu nơi đây đã bao lâu rồi?"
Ngài đáp: "Chỉ thấy núi bên phía
tây xanh rồi lại vàng."
Tăng hỏi tiếp: "Bạch Hòa Thượng!
Vậy đường nào dẫn ra khỏi núi nầy?"
Ngài đáp: "Ông cứ men theo con suối
này mà ra."
Vị tăng trở về thuật lại cho thiền sư
Giám Quan nghe. Giám Quan bảo: "Tại Giang Tây, Thầy từng gặp một vị tăng,
nhưng bấy lâu nay không nghe tin tức, vậy chắc là Ngài rồi."
Sau đó thiền sư Giám Quan liền bảo tăng
đi thỉnh ngài Pháp Đường về chùa. Ngài Pháp Đường làm kệ:
"Cây khô trong rừng lạnh,
Mấy độ xuân về, tâm nào chuyển,
Lão tiều phu không thèm ngó,
Dinh nhân truy tìm chi mệt nhọc,
Trong hồ sen nở vô số y,
Hoa tùng ăn mãi vẫn còn dư
Nay bị thế nhân biết nơi ở
Lại phải dời am vào tận núi sâu!"
Mã Tổ nghe Ngài đang trú trong núi, nên
bảo tăng đến chỗ đó mà hỏi: "Bạch Hòa Thượng! Ngài gặp Mã Đại Sư,
được sở đắc gì mà trụ nơi đây?"
Ngài đáp: "Mã Đại Sư dạy rằng
tức tâm tức Phật, nên tôi mới đến đây."
Tăng nói: "Gần đây Mã Đại Sư
giảng thuyết Phật Pháp có khác."
Ngài hỏi: "Khác như thế nào?"
Tăng đáp: "Mã Đại Sư dạy rằng phi
tâm phi Phật."
Ngài đáp: "Lão già làm mê loạn
người chưa có ngày nào thôi. Mặc lão phi tâm phi Phật, còn tôi chỉ biết
tức tâm tức Phật."
Vị tăng trở về, thuật lại sự việc này
cho Mã Tổ nghe. Mã Tổ liền dạy: "Trái mai đã chín."
Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rõ tín
tâm của người xưa thật là kiên cố.
Vì căn cơ chúng ta quá kém cỏi, nên
chư đại tổ sư mới dạy tham quán câu thoại đầu. Thật là một việc làm miễn
cưỡng. Tổ Vĩnh Gia nói:
"Chứng thật tướng,
Không người không pháp,
Sát na diệt,
Hết nghiệp nơi ngục A Tỳ
Nếu lấy lời giả, dối chúng sanh,
Tự chiêu địa ngục cắt lưỡi hằng sa
kiếp!"
Tổ Cao Phong bảo: "Người học đạo
như lấy một viên đá, liệng xuống đáy hồ, rồi lặn xuống mà nhặt nó
lên."
Chúng ta tham khán thoại đầu cũng như
liệng câu thoại đầu này xuống đáy hồ, rồi phải nhìn thẳng xuống đáy hồ
mà tìm cho ra nó.
Tổ Cao Phong lại phát nguyện: "Nếu
người học đạo, khi khởi câu thoại đầu, mà không có hai niệm, thì trong bảy
ngày, nếu không ngộ đạo, tôi nguyện sẽ mãi bị đọa trong địa ngục cắt
lưỡi!"
Lòng tin của chúng ta không kiên cố, tu
hành không chân thật, vọng tưởng không xả bỏ. Nếu có tâm thiết tha vì sự
sanh tử, thì một câu thoại đầu quyết không để quên mất. Tổ Quy Sơn bảo:
"Đời đời nếu không thối chuyển, quả vị Phật quyết định sẽ đạt
được."
Người mới phát tâm học đạo, nói chung
vọng tưởng rất nhiều. Chân cẳng thường bị đau nhức, không biết phải dụng
công như thế nào. Thật ra, chỉ quan trọng nơi tâm tha thiết vì sự sanh tử,
bám chặt vào câu thoại đầu, không phân biệt đi đứng nằm ngồi. Từ sáng
đến tối, xoay chiếu lại nó mãi như ánh trăng thu vằng vặc, rõ rõ ràng
ràng, không lạc vào hôn mê, không lạc vào trạo củ, quả vị Phật sao lo không
có phần! Nếu hôn trầm nổi lên, chư vị phải mở mắt thật to, nới rộng dây
lưng, thì tinh thần sẽ tự phấn chấn trở lại. Khi ấy, đừng khởi câu thoại
đầu quá vi tế, vì dễ lạc vào hôn trầm và không vọng. Nếu để tâm tự
nhiên, thì chỉ còn một mảnh thanh tịnh tràn khắp. Lúc đó, chớ để mất câu
thoại đầu, mới tiến bộ được. Nhưng, nếu lạc vào không vọng thì không
phải là cứu cánh. Nếu khởi thoại đầu quá thô thiển, vọng tưởng dễ dàng
sinh lên. Lúc đó, khó mà điều phục được trạo cử. Thế nên, khi ấy phải
dung hòa là trong thô thiển có vi tế, trong vi tế có thô thiển, thì công phu
mới đắc lực, đạt đến cảnh giới động tịnh nhất như.
Xưa kia, những khi chạy hương ở chùa Kim
Sơn và các chùa khác, thầy Duy Na dâng hương xong, liền cùng đại chúng chạy
như bay. Khi nghe tiếng mõ đánh, liền đứng khựng lại như người chết. Như
thế, còn đâu vọng tưởng, hôn trầm? Vậy lúc chạy có khác gì lúc ngồi
thiền đâu?
Khi ngồi thiền, chư vị đừng đề câu
thoại đầu quá cao, vì dễ bị phù trầm. Lại không nên giữ câu thoại đầu
trước ngực vì sẽ sanh bịnh. Cộng thêm, cũng đừng đè nén xuống. Nếu đè
nén xuống đan điền, bụng sẽ phình to, dễ lạc vào cảnh năm ấm ma, phát sanh
nhiều bịnh tật. Chỉ thiết yếu là bình tâm tỉnh khí, tham khán chữ 'Ai' mãi
như gà ấp trứng, mèo rình chuột. Lúc xoay lại phản chiếu được rồi, mạng
căn tự nhiên cắt đứt.
Đương nhiên, người mới học pháp này,
làm sao sánh bằng với những vị đã từng tham học lâu năm, nhưng chư vị cũng
nên cố gắng dụng công trong mọi thời khắc.
Tôi sẽ kể thêm một ví dụ. Tu hành
giống như mài đá lấy lửa. Phải có phương pháp rõ ràng. Nếu không, cho dầu
đập nát đá ra, vẫn không có lửa. Cách thức là phải có một thanh sắt và
mồi lửa. Nên để mồi lửa ngay dưới cục đá. Lấy thanh sắt cọ vào đá. Khi
lửa từ viên đá cháy nháng lên, mồi lửa liền bắt được ngọn lửa. Đó là
phương pháp lấy lửa duy nhất. Hiện tại, chúng ta biết rằng tự tâm là Phật,
nhưng lại không chịu thừa nhận, nên phải dùng câu thoại đầu làm mồi lửa.
Lý dùng mồi lửa là như thế. Hiện tại đối với cách lấy lửa, chúng ta không
biết đến. Thế nên, không thể nhận ra tự tánh. Tự tánh của chúng ta đồng
với chư Phật không khác. Vì vọng tưởng chấp trước nên không thể giải
thoát. Do đó, Phật vẫn là Phật. Mình vẫn là mình. Chúng ta hôm nay biết
mình là con của bậc Pháp Vương. Hãy nên tự tham cứu. Như thế có hay lắm
không! Hy vọng mọi người hãy cố gắng nỗ lực. Trên đỉnh trụ cây trăm
thước, hãy bước thêm một bước nữa, để được trúng tuyển trong đạo tràng
này, mới mong rằng trên đáp đền ơn chư Phật, dưới làm lợi ích cho loài
hũu tình. Trong Phật pháp, không có nhân tài xuất hiện vì mọi người không
dám nỗ lực tinh tấn tu hành. Nói ra thật đau lòng! Giá như tin sâu vào lời
dạy của tổ Vĩnh Gia và Cao Phong, quyết định rằng ai ai cũng sẽ ngộ đạo.
Mọi người hãy nên dụng công tham thiền!
Ngày thứ ba:
Thời gian trôi qua mau chóng. Vùa nói đả
thiền thất thì đã qua ba ngày rồi. Người biết dụng công, xoay lại tham chi |