|
Theo
luật tuần hoàn và lẽ vô thường
của trời đất, sau đông giá, tiết
xuân lại đến. Hoa lá khoát mình
trên những cành cây trơ trọi. Ðó
là ngoại cảnh thiên nhiên thay
đổi theo năm tháng bốn mùa xuân
hạ thu đông mà ai ai cũng có thể
chiêm nghiệm. Tuy nhiên, dùng
kính hiển vi, chúng ta cũng có
thể thấy được bốn mùa xuân hạ
thu đông thay đổi, tương đương
với lý thành trụ hoại không, qua
từng giây phút của hàng tỷ tế
bào trong cơ thể; nghĩa là chúng
sanh ra (thành, tương đương với
mùa xuân), sống một thời gian (trụ,
tương đương với mùa hạ), bại
hoại (hoại, tương đương với mùa
thu), rồi bị diệt mất (không,
tương đương với mùa đông).
Ngoại cảnh và cơ thể là như thế,
còn tâm tư của chúng ta cũng
không khác gì cho lắm. Hàng hàng
lớp lớp gợn sóng vọng tưởng thay
nhau trào dâng trong từng sát na,
khiến tâm tư chúng ta không lúc
nào được lắng yên; hết vui đến
buồn; hết thương đến giận; hết
phấn khởi lại trầm cảm. Tâm thức
chúng ta cứ theo vòng tuần hoàn
vọng tưởng lo âu, buồn phiền,
căng thẳng, sợ hãi như thế mà
không lúc nào ngừng, có khác chi
sự tuần hoàn của thời tiết xuân
hạ thu đông. Chúng ta cứ chạy
theo chúng mà tạo phiền não cho
chính mình và những người xung
quanh qua hành vi, cử chỉ, lời
nói. Do đó, dù mùa xuân có đến
với trăm hoa nở rộ, chúng ta
cũng không còn tâm tư nào để
thưởng xuân, vì đầu óc chứa đầy
những sự lo lắng về tiền bills,
tiền mortgage, nghề nghiệp, gia
đình, vợ chồng, con cái. Hoặc
giả chúng ta có đời sống vật
chất tương đối đầy đủ hay gia
đình hạnh phúc đi nữa, nhưng tâm
thức chưa chắc gì được an lạc để
thưởng xuân hoàn toàn.
Ðức Phật biết tâm bịnh của chúng
sanh như thế, nên Ngài khuyên
nhủ chúng ta cố gắng dành thời
gian hành thiền quán, gạn lọc
tâm tư phiền não để tìm niềm vui
hạnh phúc an lạc thật sự cho
chính mình. Nói đến việc hành
thiền quán, đa số Phật tử Việt
Nam chúng ta sợ “Tẩu Hỏa Nhập
Ma”, hay cho rằng việc đó chỉ
dành riêng các vị xuất gia mà
thôi. Thật ra, bất cứ ai, trai
gái, già trẻ lớn bé, cũng hành
thiền được vì ai ai cũng hít thở.
Ngày nay, ở xứ Mỹ và Âu Châu,
việc hành thiền trở nên phổ cập
trong mọi giới, mọi ngành và gần
như là sự cần thiết cho con
người; hàng triệu người hành
thiền mỗi ngày tùy theo sở thích
và phương pháp trong các trường
học, nhà thương, cơ quan chánh
phủ, nhà tù. Nếu đến các phi
trường quốc tế lớn như Newark ở
tiểu bang New Jersey chẳng hạn,
chắc hẳn quý vị thấy có phòng
hành thiền dành cho du khách bên
cạnh những phòng cầu nguyện hay
dịch vụ Internet. Hành thiền giờ
đây là một môn học ở West Point,
trường đại học quân sự nổi tiếng
thế giới. Những khách sạn
Catskill ở NewYork trở thành
những trung tâm hành thiền nhanh
chóng đến nỗi vùng Borscht Belt
được gọi là Vòng Ðai Phật Giáo
“Buddhist Belt”. Nhân vật nổi
tiếng trên chính trường như cựu
phó tổng thống Al Gore nói: “Vợ
chồng chúng tôi tin tưởng vào sự
cầu nguyện và chúng tôi thường
cầu nguyện chung. Nhưng tôi ủng
hộ việc hành thiền vì nó rất đặc
biệt, khác với sự cầu nguyện”.
Ngoài ra, còn rất nhiều chính
khách, giám đốc, nhân sĩ, diễn
viên, thường hành thiền như bà
Hillary Clinton, cựu đệ nhất phu
nhân và nay là thượng nghị sĩ
tiểu bang New York, ông Bill
Ford, giám đốc hãng Ford Motors,
ông Phi Jackson, huấn luyện viên
đội bóng rổ Lacker, v.v…
Sự hành thiền bây giờ không còn
nằm trong phạm vi tôn giáo của
Phật giáo hay Ấn Ðộ giáo, mà lan
rộng trong khắp lãnh vực như y
tế, tâm lý học chẳng hạn. Ngày
càng có nhiều bác sĩ khuyến
khích bịnh nhân nên hành thiền
để tránh, giảm bớt hay ít nhất
chế ngự những cơn đau kinh niên
như đau tim, ung thư, Si Da.
Thiền quán được áp dụng để quân
bình tâm tình trầm cảm, quá hiếu
động, hay bịnh lãng trí. Ông
Daniel Goleman, cộng tác viên
với ngài Ðạt Lai Lạt Ma trong
quyển “Cảm Xúc Phá Hoại
(Destructive Emotion)” nói rằng:
“Suốt ba mươi năm nghiên cứu,
thiền quán cho chúng ta thấy
rằng nó là phương pháp trị liệu
sự căng thẳng, nhưng điều rất
phấn khởi trong các lần nghiên
cứu mới nhất là thiền quán thế
nào để có thể luyện tập tâm trí
và uốn nắn lại bộ não”. Mỗi ngày
chỉ cần từ mười phút đến bốn
mươi phút linh hoạt chú tâm đếm
hơi thở hay tập trung tâm vào
một đối tượng nào đó thì quý vị
có thể tự luyện tập sống với
thực tại, buông xả những việc đã
xảy ra hay chưa xảy ra trong quá
khứ và tương lai, chuyển hóa
hiện thực bằng cách hoàn toàn
chấp nhận chúng. Năm tới, ông
Victor Davich sẽ phát hành quyển
“Tám Phút Thay Ðổi Cuộc Sống Quý
Vị (Eight Minutes That Will
Change Your Life)”, nhằm đề
xướng cách hành thiền kiểu Mỹ:
Hành thiền tám phút; đây là
khoảng thời gian giữa các chương
trình quảng cáo trên tivi.
Các nhà tâm lý học đang cố gắng
xem coi thiền quán có thể lập
trình lại tâm thức của những
thành phần tiêu cực xã hội hay
không. Họ yêu cầu một số tù nhân
trong trại tù Kings County North
Rehabilitation ở gần thành phố
Seattle, tiểu bang Washington,
hành thiền Minh Sát suốt 11
tiếng trong 10 ngày. Khoảng 56%
tù nhân hành thiền quán trở lại
nhà tù trong vòng hai năm so với
75% tù nhân không hành thiền
quán. Giáo sư John Teasdale của
trường đại học Cambridge nhận
thấy thiền quán chánh niệm giúp
ích rất nhiều cho các bịnh nhân
bị bịnh trầm cảm kinh niên. Bà
Wendy Weisel, con gái của cặp vợ
chồng sống sót từ lò thiêu Ðức
Quốc Xã, và là tác giả của quyển
“Những Cô Con Gái Vắng Bóng
(Daughters of Absence)” dùng
thuốc an thần gần suốt cuộc đời
cho đến khi bà bắt đầu hành
thiền hai năm về trước. Bà nói
rằng: “Quý vị không cần thuốc
thang gì để trị bịnh trầm cảm
hay căng thẳng. Lần đầu tiên
trong cuộc đời, tôi không còn
dùng thuốc gì nữa”. Hơn một thập
niên về trước, bác sĩ Dean
Ormish lập luận rằng việc hành
thiền cùng với tập Yoga và ăn
uống kiêng cử sẽ thay đổi sự
tăng trưởng của dịch thể trong
các động mạch. Tháng tư năm
ngoái, trong cuộc họp của Hội
Niệu Học Mỹ, ông ta tuyên bố
khám phá gần nhất rằng thiền
quán có thể giảm thiểu ung thư
tuyến tiền liệt. Ông Kabat-Zinn,
một Phật tử người Mỹ từ thập
niên 60, đã thành lập phòng khám
bịnh Giảm Căng Thẳng ở trung tâm
y tế của trường đại học
Massachuset. Trãi qua nhiều năm,
ông ta đã giúp hơn 14,000 người
ứng dụng thiền quán để tự khắc
chế bịnh tình mà không cần dùng
thuốc. Trong khi đó, những
nghiên cứu về sự lợi lạc của
thiền quán ngày càng tăng. Ðiển
hình, theo một cuộc nghiên cứu
cho thấy các phụ nữ thường hành
thiền quán và quán chiếu theo
những hình ảnh được chỉ dẫn có
cường độ cao về các tế bào miễn
dịch chống lại bịnh ung thư ngực.
Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy
thiền quán giúp giảm bớt tăng
xông máu, hay giảm 40% đi khám
bác sĩ về những căn bịnh liên
quan đến sự căng thẳng. Bà
Goldie Hawn hành thiền trong 31
năm, phát biểu rằng: “Làm sao
quý vị nhận thấy việc giảm thiểu
các cảm xúc? Quý vị có thể làm
được bằng cách ngồi im lặng,
lắng đọng tâm tư”. Bà Eileen
Harrington điều hành cơ quan
chống Lừa Ðảo Người Tiêu Thụ
“Khó Bỏng” của Federal Trade
Commission ở Washington mời một
giảng sư diễn giảng về thiền
quán sau sự kiện 9/11. Gần phân
nửa nhân viên của bà ta vẫn còn
thích thú và thực tập thiền quán
sau đó.
Hàng Phật tử chúng ta, thật có
nhân duyên phước báu lớn lao bao
đời, nên sớm gặp được Phật pháp
và đâu có lạ gì với những phương
pháp thiền quán. Ngoài ra, có
những phương pháp rèn luyện tâm
thức chuyên nhất vào một đề mục
và cầu nguyện sự gia trì của chư
Phật và chư Bồ Tát như trì chú
Ðại Bi hay niệm Phật. Thế nên,
ai quen đếm hơi thở thì cứ đếm
hơi thở; ai quen niệm Phật hay
trì chú Ðại Bi, thì cứ tiếp tục
niệm Phật hoặc trì chú Ðại Bi.
Tuy nhiên, đa số chúng ta xưa
nay thường cho rằng việc hành
thiền, trì chú, niệm Phật chỉ
nghiêng về mặt tâm linh, mà chưa
nhận rõ tầm ảnh hưởng tích cực
của chúng về sức khỏe, tâm tánh,
hay trong việc giao tế với nhau,
nên hành trì rất dè dặt.
Giờ đây việc hành thiền được phổ
cập hóa trong mọi giới, mọi
ngành, chứ không hạn cuộc dành
cho hàng Phật tử hay những người
thích tu thiền vì những sự lợi
lạc thiết thực cho sức khỏe và
tâm tư mà khoa học hiện đại đã
chứng minh cụ thể. Ðiều này cũng
giúp hàng Phật tử chúng ta ngày
càng phấn khởi tinh tấn tu tập
và tăng trưởng niềm tin kiên cố
vào Phật pháp lành thiện và
thiết thực vượt thời gian và
không gian, vì khoa học ngày
càng làm sáng tỏ lời dạy của đức
Phật. Chứ không như đa số các
tôn giáo lớn trên thế giới hiện
nay, đa phần đang đi ngược lại
với trào lưu văn minh và nền
khoa học hiện thời vì chỉ dựa
vào đức tin mà không chú trọng
đến phần chuyển hóa tâm tánh nên
cứ cổ vũ những cuộc “thánh chiến”
với nhau, gây biết bao đau
thương tang tóc cho con người
mãi đến nay vẫn còn tiếp diễn
hằng ngày trên thế giới. Thế nên,
chúng ta không lấy gì làm lạ lắm
khi nhớ lại lời của nhà khoa học
nổi tiếng nhất thế kỷ thứ 20,
ông Albert Einstein, rằng: “Nếu
có một tôn giáo nào đương đầu
được với những nhu cầu khoa học
tân tiến thì đó là Phật giáo (If
there is any religion that would
cope with modern scientific
needs, it would be Buddhism)”.
Tóm lại, mỗi khi gặp những
chuyện phiền toái trong công sở
hay gia đình, hoặc bị những hình
ảnh quảng cáo thức ăn vật dụng
trên tivi kích thích lòng ham
muốn, hay bị tám gió lợi, suy,
chê, khen, ca ngợi, chế riễu,
khổ, vui thổi ào ạt, chúng ta
hãy điềm tĩnh ứng dụng những
pháp môn mà mình thường tu tập:
Quán chiếu hơi thở ra vào, niệm
thần chú Ðại Bi, hay trì danh
niệm Phật, để chế ngự và giảm
thiểu vòng quay của tâm tình
vọng động, ngỏ hầu từ từ tìm lại
sự định tĩnh an lạc thường hằng,
cũng chính là sống lại với mùa
xuân bất diệt của tánh giác sáng
suốt sẵn có, mà các vị thiền sư
thuở xưa đã từng thể nghiệm như
bài thơ tả xuân của vua Trần
Nhân Tông:
“Thuở bé chưa từng rõ sắc, không
Xuân về hoa nở rộn trong lòng
Chúa xuân nay bị Ta khám phá
Chiếu trải giường thiền ngắm ánh
hồng”.
____________________________________________________________________ |