Thiền Sư Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch
Tổ thứ hai tông qui ngưỡng
(804 - 899)
(Việt dịch,
Thích Hằng Đạt)
Thiền Sư Huệ
Tịch quê ở Hoài Hóa, Thiều Châu, con nhà họ Diệp. Năm chín tuổi,
đến chùa Hòa An xuất gia theo thiền sư Bất Ngữ Thông. Năm mười bốn
tuổi, cha mẹ dẫn trở về nhà, muốn Ngài cưới vợ, nhưng Ngài chẳng
chịu, nên dùng dao chặt hai ngón tay, đến trước cha mẹ quỳ xuống,
thệ cầu chánh pháp để báo ân sanh thành dưỡng dục. Cha mẹ mới cho
xuất gia.
Sau đó, Ngài
trở lại chùa Hòa An xuống tóc tu tập tiếp. Tuy chưa thọ giới Cụ
Túc, Ngài đã đi du phương cầu pháp. Trước hết, Ngài đến yết kiến
Đam Nguyên, nhơn đây được huyền chỉ. Lần nọ, ngài Đam Nguyên bảo:
-Quốc Sư lúc
đương thời được sáu đời Tổ Sư truyền cho 97 viên tướng (tướng tròn),
Ngài trao cho lão Tăng dặn rằng:' Sau khi ta tịch diệt 30 năm, có
ông Sa Di từ phuơng Nam đến, sẽ làm hưng thạnh giáo này. Ngươi nên
thứ lớp truyền trao chớ để đoạn dứt. Nay ta trao cho ngươi, ngươi
phải giữ gìn.
Nói xong, ngài
Đam Nguyên trao bản đó cho Ngài. Vừa nhận được và xem qua một lượt,
Ngài bèn đem đốt.
Hôm khác, ngài
Đam Nguyên nói với Ngài:
-Những tướng Ta
trao hôm trước, cần phải giữ gìn.
Ngài thưa:
-Lúc đó, vừa
xem xong, con đã đốt rối.
-Pháp môn này của ta, không người hội đựơc, chỉ có thầy ta và các
bậc Tổ Sư Đại Thánh mới hiểu hết , sao con lại đem đốt ?
-Huệ Tịch một
phen xem qua đã biết ý chỉ trong đó, ứng dụng đựơc chẳng cần cầm
bổn.
-Tuy như thế,
nơi con thì đựơc, người sau làm sao tin được ?
-Hoà Thượng nếu
cần, con chép lại chẳng khó .
Ngài liền chép
hết lại thành một tập chẳng sót một điều, rồi trình lên. Ngài Đam
Nguyên khen là đúng.
Lúc thiền sư
Đam Nguyên lên chánh điện, Ngài bước ra khỏi đại chúng mà vòng tay
làm hình chữ o, khoanh tay lại mà đứng trình. Ngài Đam Nguyên co
hai núm tay lại thành núm quyền, chỉ thẳng tới Ngài để khai thị ý.
Ngài bước tới ba bước, ra dáng lễ lạy như người nữ. Ngài Đam
Nguyên gật đầu. Ngài lại lễ bái.
Khi khác, Ngài
đang giặt y, ngài Đam Nguyên hỏi :
-Chính bây giờ
làm gì ?
Ngài đáp :
-Chính bây giờ
nhằm chỗ nào thấy ?
Sau này, Ngài
đến tham vấn Qui Sơn Linh Hựu. Ngài Qui Sơn hỏi:
-Ngươi là Sa Di
có chủ hay Sa Di không chủ ?
Ngài thưa :
-Có chủ.
-Chủ ở chỗ nào
?
Ngài đi từ bên Đông sang bên Tây đứng. Ngài Qui Sơn biết con
người kỳ lạ nên hết lòng chỉ dạy.
Ngài hỏi :
-Thế nào là chỗ
trụ chân thật của Phật ?
Ngài Qui Sơn
đáp:
-Nơi vi diệu
của suy tư và chẳng suy tư, xoay sự suy tư linh ứng sáng suốt vô
cùng, suy tư suốt trở về nguồn, tánh và tướng thừơng trụ, sự và lý
không hai, chơn Phật như như.
Ngay câu nói ấy,
Ngài đốn ngộ, nên dừng lại đây hầu hạ ngài Qui Sơn suốt mười lăm
năm.
Chẳng bao lâu,
Ngài sang Hồ Bắc thọ giới, rồi ở lại kiết hạ an cư, nghiên cứu
tạng Luật.
Lần nọ, Ngài đến tham vấn Nham Đầu. Nham Đầu dựng cây chổi lên.
Ngài bèn trãi tọa cụ dưới đất. Nham Đầu để cây chổi đằng sau lưng.
Ngài bèn xếp lấy tọa cụ, rồi đặt trên vai, bước ra ngoài. Nham Đầu
nói:
-Ta chẳng cho
ông bỏ, chỉ cho ông thu nhận.
Ngài đến tham
vấn Thạch Thất, hỏi:
-Phật và Đạo khác nhau chỗ nào?
Thạch Thất đáp:
-Đạo như mở
lồng bàn tay. Phật như co nắm tay.
Ngài nghe lời
này bèn từ biệt Thạch Thất, và được vị này tiễn ra trước cổng.
Thạch Thất nói:
-Ông chớ đi rồi
mà không trở lại. Về sau xin hãy đến chỗ ta.
Lần nọ, Ngài
đang quét dọn, thì ngài Quy Sơn đến, hỏi:
-Không thể quét
bụi được! Hư không chẳng tự phát sanh. Làm sao quét bụi?
Ngài liền quét
một chổi.
Ngài Quy Sơn
lại hỏi:
-Tại sao hư
không chẳng thể phát sanh?
Ngài dùng tay
chỉ thân mình, rồi chỉ đến ngài Quy Sơn. Ngài Quy Sơn bảo:
-Không thể quét
bụi. Hư không không thể phát sanh. Rời hai đường đó, còn đường nào
chăng?
Ngài lại cầm
chỗi quét đất, rồi dùng tay chỉ thân mình và chỉ đến Ngài Quy Sơn.
Hôm nọ, ngài
Quy Sơn dùng tay chỉ ra ngoài thửa ruộng, hỏi:
-Đầu nào thấp,
và đầu nào cao?
Ngài đáp:
-Đầu này cao,
còn đầu kia thấp.
-Nếu không tin
thì đến chính giữa mà xem hai đầu.
-Chẳng cần đứng
chính giữa, cũng chẳng cần đứng hai bên đầu.
-Nếu như vậy,
hãy đổ nước xuống thì biết chỗ nào cao và chỗ nào thấp.
-Nước cũng
không có tánh định. Chỗ nào cao thì chỗ đó là nơi cao và bằng, còn
chỗ nào thấp thì chỗ đó là nơi thấp mà bằng.
Nghe lời này,
ngài Quy Sơn trở vào liêu thất nghỉ ngơi.
Thấy một vị thí
chủ dâng lụa cúng dường ngài Quy Sơn, Ngài hỏi:
-Bạch Hòa
Thượng! Thí chủ dâng vật cúng dường như thế thì Hòa Thượng báo đáp
như thế nào?
Ngài Quy Sơn liền dùng tích gõ giường thiền ba lần, rồi nói:
-Ta dùng vật này để báo đáp.
-Nó có tác dụng
gì?
-Ông còn ngờ
vực tác dụng đó sao?
-Con tuy không
còn ngờ vực, nhưng vì đại chúng mà hỏi đó thôi!
-Nếu biết đó là
chuyện của đại chúng, thì sao còn hỏi ta tìm vật gì để trả ơn?
-Chỉ sợ Hòa
Thượng khiến đại chúng làm những chuyện như người đời.
-Ông chẳng thấy
đại sư Đạt Ma từ Tây Thiên đến, và cũng đem theo vật đó, mà các
ông đều thọ nhận đây.
Ngài ở chỗ ngài
Quy Sơn, làm Trực Tuế (1). Lần nọ, Ngài vừa từ đồng ruộng trở về
chùa, ngài Quy Sơn hỏi:
-Ông từ đâu trở
về?
Ngài đáp:
-Con từ ngoài
đồng trở về.
-Ngoài đồng có
nhiều ít người?
Ngài liền cắm
xẻng thẳng xuống đất, và chắp tay lại. Ngài Quy Sơn bảo:
-Hôm nay trên
núi Nam Sơn có nhiều người cắt cỏ.
Ngài liền lấy
cây cuốc rồi bỏ đi.
Lúc Ngài đang
chăn trâu ở chỗ ngài Quy Sơn, thượng tọa Tích Thiên Thái đến hỏi:
-Trên một đầu ngọn lông có một con sư tử hiện thì không đáng hỏi
đến. Trên trăm ức sợi lông có trăm ức sư tử hiện. Đó là nghĩa gì?
Ngài liền cỡi
trâu quay trở về chùa, trình lại câu hỏi đó lên ngài Quy Sơn. Bấy
giờ, Tích Thiên Thái cũng vừa đến. Ngài thưa với ngài Quy Sơn:
-Thượng Tọa này
hỏi như thế đó.
Ngài Quy Sơn quay sang hỏi Tích Thiên Thái:
-Trên trăm ức
đàu sợi long có trăm ức sư tử hiện. Có phải là lời của Thượng Tọa?
Tích Thiên Thái
thưa:
-Vâng!
Ngài hỏi:
-Ngay lúc đó,
sư tử hiện đằng trước hay đằng sau các sợi lông?
Tích Thiên Thái
đáp:
-Lúc hiện đó,
không thể nói rằng hiện trước hay hiện sau.
Ngài Quy Sơn
nghe lời đó liền cười to.
Ngài bảo:
-Lưng sư tử bị
gãy rồi.
Nói xong, Ngài
liền bỏ đi.
Lần nọ, Ngài
cùng ngài Quy Sơn du hành trên núi. Ngài Quy Sơn đến ngồi trên
tảng đá lớn, còn Ngài thì đứng hầu một bên. Bỗng nhiên, có chim
tha quả hồng chín đánh rơi trước mặt. Ngài Qui Sơn vội lựơm quả
hồng đưa cho Ngài. Ngài nhận quả hồng rồi đi tìm nước rửa. Rửa
xong, Ngài dâng cho ngài Qui Sơn. Ngài Qui Sơn bảo :
-Ở chỗ nào con
đựơc quả này?
Ngài thưa :
-Đây là đạo đức
của Hòa Thượng cảm nên mà có.
-Con đâu phải
không có!
Ngài Quy Sơn
vừa nói xong, bèn bẻ nửa quả hồng cho Ngài.
Lần khác, ngài
Quy Sơn hỏi Ngài:
-Nếu có ai chợt
hỏi, thì con đối đáp như thế nào?
Ngài thưa:
-Nếu có sư thúc
chùa Đông ở đây, con sẽ không đến chỗ tịch mịch.
-Tha cho ngươi
mà không bắt tội này.
-Sống hay chết,
cũng nơi một lời này.
-Chẳng khinh
chỗ thấy của ngươi, mà chẳng hứa cho kẻ khác.
-Ai?
Ngài Quy Sơn
chỉ một cây quế trên đường, nói:
-Là cái đó.
Ngài hỏi:
-Nghĩa là gì?
-Nghĩa là gì?
-Chuột trắng
thay đổi. Đài bạc chẳng đổi.
Lần nọ, Ngài
hỏi ngài Quy Sơn:
-Nếu đại dụng
hiện tiền, thỉnh Ngài dạy rõ?
Ngài Quy Sơn
bước xuống tòa ngồi, trở vào phòng phương trượng. Ngài cũng đi
theo sau.
Ngài Quy Sơn hỏi:
-Con vừa hỏi
điều gì?
Ngài liền hỏi
lại câu hỏi trên. Ngài Quy Sơn hỏi:
-Có nhớ câu trả
lời của ta chăng?
-Nhớ.
-Nếu như vậy,
hãy nói lại xem sao?
Ngài liền trân
trọng bước ra. Ngài Quy Sơn nói:
-Sai rồi!
Ngài quay đầu
lại, nói:
-Nếu Nhàn sư đệ
đến đây, xin chớ nói rằng lời của con không hay.
Lúc đang chăn
trâu dưới sườn núi, thấy một vị Tăng lên núi không bao lâu lại
xuống, Ngài bèn hỏi:
-Thựơng Tọa sao
không lưu lại trong núi?
Tăng nói:
-Vì nhơn duyên
chẳng hợp.
-Có nhân duyên
gì thử nói xem.
-Hòa Thượng hỏi
tôi tên gì ? Tôi đáp Qui Chơn. Hoà Thựơng hỏi Qui Chơn ở đâu ? Tôi
đáp không đựơc.
-Thượng Tọa trở
lên thưa với Hòa Thựơng rằng con nói được. Hòa Thượng hỏi nói thế
nào thì chỉ đáp 'Trong mắt, trong tai, trong mũi’.
Vị tăng trở lại
nói đúng như lời Ngài dạy. Ngài Qui Sơn quở :
-Kẻ nói suông
vô ích, đây là lời thiện tri thức của năm trăm người.
Ngài nằm mộng
thấy vào nội viện của đức Di Lặc, trong nhà Tăng các toà đều có
người ngồi, chỉ có tòa thứ hai trống, Ngài liền lên tòa ngồi. Có
một vị Tôn Giả bạch chùy (khai kiểng) rằng:
-Hôm nay tòa
thứ hai nói pháp.
Ngài đứng dậy
đánh kiểng, rồi nói rằng :
-Pháp Đại Thừa
rời bốn câu, tuyệt bách phi, lắng nghe, lắng nghe!
Khi đó, đại chúng giải tán đi. Sau khi thức giấc Ngài đem việc ấy
thuật lại cho ngài Qui Sơn nghe. Ngài Qui Sơn bảo :
-Con đã lên
Thánh vị.
Ngài lễ tạ.
Lần khác, Ngài
đang cùng với ngài Quy Sơn đi kinh hành quanh núi, thì có bụi thổi
trước mặt. Ngài Quy Sơn hỏi:
-Trước mặt là
gì đó?
Ngài đến bên
trước mà xem cho kỹ, rồi làm tướng vòng tay. Ngài Quy Sơn gật đầu.
Ngài Quy Sơn
dạy đại chúng rằng tất cả chúng sanh chẳng có Phật tánh. Thiền sư
Giám Quan dạy đại chúng rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Có hai vị tăng ở nơi thiền sư Giám Quan đến chỗ ngài Quy Sơn để
hỏi nghĩa ‘Tất cả chúng sanh chẳng có Phật tánh’. Lúc đến, cả hai
nghe ngài Quy Sơn lập lại lời đó mà không dám suy tư hay khởi tâm
khinh mạn. Ngày nọ, lúc đàm luận Phật pháp với hai vị này, Ngài
khuyên:
-Này các huynh
đệ! Hãy chuyên cần tu học. Khó lòng mà gặp được Phật pháp.
Nói xong, Ngài
làm tướng vòng tròn. Dùng tay trình xong, Ngài xoay lại đằng sau,
rồi tréo hai tay. Hai vị tăng kia vừa định bắt tay, Ngài bảo:
-Các huynh đệ
nên chuyên cần tu học. Khó lòng gặp được Phật pháp.
Nói xong, Ngài
liền đứng dậy bỏ đi.
Hai vị tăng kia
trở về chỗ của thiền sư Giám Quan. Đi khoảng ba mươi dặm, một vị
tăng đột nhiên tỉnh ngộ, hiểu rõ, và tin rằng lời dạy của ngài Quy
Sơn ‘Tất cả chúng sanh chẳng có Phật tánh’ là không sai lầm, nên
trở về chỗ ngài Quy Sơn. Vị tăng còn lại đi vài dặm, vừa bước qua
dòng nước, thì đột nhiên tỉnh ngộ, mà ta thán rằng ‘Ngài Quy Sơn
nói đúng rằng tất cả chúng sanh chẳng có Phật’. Nói xong, vị này
cũng trở lại chỗ ngài Quy Sơn, và chẳng bao lâu nhập vào dòng pháp.
Lúc Ngài ở
trong chúng hội của Giám Quan, có một số tăng chúng đến chỗ của
ngài Quy Sơn tu học mà không tin phục. Ngày nọ, Ngài mời tất cả
chư tăng ở Tây Trang ra đồng gánh lúa. Ngài vác lúa lên đỉnh đồi
rồi bỏ xuống. Vài mươi vị tăng khác cũng bỏ gánh lúa xuống. Ngài
lại vác bó lúa lên, đi một vòng, rồi nói rằng:
-Có gì, có gì?Tất cả tăng chúng ở đó không lời đối đáp. Ngài nói:
-Lừa kẻ giết
người!
Nói xong, Ngài
liền gánh lúa bỏ đi.
Lần nọ, Ngài
cùng với ngài Quy Sơn ra đồng chăn trâu. Ngài Quy Sơn hỏi:
-Trong đây có
Bồ Tát chăng?
Ngài đáp:
-Có.
-Nếu thấy ai,
hãy chỉ xem coi!
-Nếu Hòa Thượng
nghi là ai không phải, xin chỉ xem.
Ngài Quy Sơn
liền trở về chùa.
Lần khác, Ngài
dâng trái cây cho ngài Quy Sơn. Sau khi nhận, ngài Quy Sơn hỏi:
-Ông lấy ở đâu?
Ngài đáp:
-Ngoài vườn!
-Ông nếm chưa?
-Chưa dám thử.
Dâng lên Hòa Thượng trước.
-Là A Nan!
-Là Huệ Tịch!
-Chính là ông.
Vậy sao bảo ta thử trước?
-Hòa Thượng
thưởng thức hàng ngàn và hàng chục ngàn trái.
Ngài Quy Sơn
vừa cắn, vừa nói:
-Giống như me
chua.
Ngài nói:
-Me chua sao tự
biết!
Ngài Quy Sơn
không trả lời.
Sau mùa an cư
kiết hạ nọ, Ngài thỉnh hỏi ngài Quy Sơn nhiều điều. Ngài Quy Sơn
bảo:
-Suốt trong
những tháng hạ, chẳng thấy con đến. Vậy, con bận làm những việc gì?
Ngài thưa:
-Con ở bên dưới
cày bừa một thửa ruộng tốt, và được một thúng lúa.
-Như vậy, mùa
hạ này, con không lãng phí thời gian.
Ngài liền hỏi
lại:
-Không biết
trong mùa hạ vừa rồi Hòa Thượng làm việc gì?
Ngài Quy Sơn
đáp:
-Mỗi ngày ăn
một lần. Mỗi tối ngủ một giấc.
-Trong mùa hạ
này, Hòa Thượng chẳng lãng phí thời giờ.
Nói xong, Ngài
liền le lưỡi. Ngài Quy Sơn nói:
-Huệ Tịch, sao
con lại tự hại mình!
Lần nọ, ngài
Quy Sơn thấy Ngài đến, bèn chéo hai tay lại, rồi đập xuống ba lần.
Ngài cũng chéo hai tay, đập ba lần, ưởn ngực, một bàn tay úp, và
một bàn tay lật, rồi giương mắt ngắm xem. Ngài Quy Sơn liền đi
nghỉ.
Lần nọ, ngài
Quy Sơn đang cho quạ ăn cơm, quay lại thấy Ngài bèn hỏi:
-Hôm nay hãy vì
kẻ đó mà lên chánh điện.
Ngài thưa:
-Con tùy theo
lệ mà nghe.
-Nghe rồi thì
làm gì?
-Quạ làm quạ.
Chim bồ cắt làm chim bồ cắt.
-Sao lại tranh
với âm thanh sắc tướng?
-Vậy Hòa Thượng
dạy như thế nào?
-Ta chỉ dạy
rằng hãy vì kẻ đó mà lên chánh điện.
-Sao bảo rằng
âm thanh sắc tướng?
-Tuy là vậy,
nhưng nếu không thử thì chắng có cách nào để biết.
-Đại sự nhân
duyên thì làm sao thử được?
Ngài Quy Sơn
liền nắm hai bàn tay lại làm quyền.
Ngài nói:
-Rốt cuộc là
chỉ về hướng đông, nhưng lại vẽ hướng tây.
Ngài Quy Sơn
hỏi:
-Con vừa hỏi
điều gì?
Ngài đáp:
-Hỏi Hòa Thượng
về đại sự nhân duyên.
-Vì sao mà nói
rằng chỉ hướng đông, nhưng lại vẽ hướng tây?
-Vì chấp vào âm
thanh sắc tướng, nên con mới hỏi về lỗi đó.
-Lại chưa hiểu
rõ việc đó.
-Làm sao để
hiểu rõ?
-Huệ Tịch con!
Âm thanh sắc tướng. Lão tăng đông tây.
-Suốt tháng,
thể của ngàn con sông chẳng tách nguồn nước.
-Nên tu thì mới
được!
-Như vàng với
vàng, rốt ráo chẳng khác nhau. Sắc tướng sao lại có danh từ khác?
-Sao cho rằng
chẳng có danh từ khác nhau?
-Nghĩa đó như
thế nào?
-Bình bàn vòng
xuyến nằm trong bồn chén.
-Huệ Tịch, con
thuyết pháp thiền như tiếng rống của sư tử, khiến loài chồn cáo,
dã can đều chạy tứ tán.
Lần nọ, lúc
Ngài theo hầu ngài Quy Sơn, nghe tiếng chim hót. Ngài Quy Sơn hỏi:
-Y nói gì rồi
bay đi?
Ngài đáp:
-Không thể nói
cho người khác nghe được.
-Sao nói như
thế?
-Vì hắn nói quá
ngay thẳng.
-Tất cả pháp
môn dù nhiều hay ít, Huệ Tịch con ngay trong chốc lát đều buông bỏ
hết.
-Buông bỏ hết
rồi làm gì?
Ngài Quy Sơn
liền gõ giường thiền ba lần.
Lần khác, từ
núi Vương Mãng, Ngài trở về tỉnh để hầu ngài Quy Sơn. Ngài Quy Sơn
hỏi:
-Con đã xưng là
thiện tri thức, có tranh biện được với những người các nơi đến;
biết có chẳng biết có, đã kế thừa thầy hay không kế thừa thầy, là
nghĩa học là huyền học, con thử nói xem.
Ngài thưa :
-Con có kinh
nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến liền dựng phất tử dây, hỏi y
rằng ‘Các nơi lại nói cái này hay chẳng nói ? Lại bảo, ý lão túc
các nơi thế nào ?’
-Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trứơc ! Chúng sanh trên quả
đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết
họ có cùng chẳng có?
-Con có chỗ
kinh nghiệm.
Vừa lúc ấy có
vị Tăng đi qua trước mặt, Ngài gọi : 'Xà Lê !'. Vị Tăng xoay đầu
lại,
Ngài thưa:
-Bạch Hoà
Thượng! Đây là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.
Ngài Quy Sơn
bảo:
-Đây là một
giọt sữa sư tử, làm tan sáu đấu sữa lừa.
Lần nọ, Ngài
hỏi Song Phong:
-Gần đây sở
kiến của Sư Đệ như thế nào?
Song Phong đáp:
-Theo chỗ thấy
của sư đệ thì thật không có một pháp nào vương vấn.
-Sư Đệ sao
chẳng biết không có một pháp nào vương vấn!
Ngài Quy Sơn
nghe lời này bèn nói:
-Một câu của
Huệ Tịch con làm nghi chết người trong thiên hạ.
Ngày nọ, thấy
trời mưa to, thượng tọa Thiên Tánh nói với Ngài:
-Mưa lớn thiệt!
Ngài hỏi:
-Mưa lớn ở chỗ
nào?
Thấy thượng tọa
Thiên Tánh không lời đối đáp, Ngài bảo:
-Tôi nói được.
Thượng tọa
Thiên Tánh hỏi:
-Mưa lớn ở chỗ
nào?
Ngài chỉ nước
mưa, còn Thiên Tánh thì không có lời đối đáp. Ngài bảo:
-Được trí huệ
nhiều, nhưng sao im lặng?
Ngày nọ, vị đệ
nhất tọa cầm cây chỗi lên rồi nói:
-Ai hiểu được
lý này thì sẽ cho cây chỗi.
Ngài bảo:
-Nếu tôi nói
được thì Thầy có cho không?
-Chỉ cần nói
được là tôi sẽ cho.
Ngài bèn giựt
lấy cây chổi rồi bỏ đi.
Ông Bàng cư sĩ
hỏi Ngài:
-Lâu nay nghe
tiếng Ngưỡng Sơn. Nhưng khi đến đây sao lại che mất?
Ngài liền dựng
cây chổi lên. Thấy vậy, Bàng cư sĩ nói:
-Thật vừa lắm.
Ngài nói:
-Vừa ngữa vừa
úp.
Bàng cư sĩ liền
đá cây cuốc rồi nói:
-Tuy vậy mà
chẳng có ai. Phải đưa cuốc để chứng minh.
Ngài liền quăng
cây chổi xuống, rồi nói:
-Nếu đến nơi
khác, mà đảm nhận thì phải làm tương tự.
Thấy Tam Thánh
đến, Ngài hỏi:
-Pháp danh của
Ngài là gì?
Ngài Tam Thánh
đáp:
-Huệ Tịch.
-Huệ Tịch là
pháp danh của tôi.
-Tôi tên là Huệ
Nhiên.
Ngài chỉ cười
to.
Khi một ông
quan đến hỏi pháp, Ngài hỏi ông ta:
-Ngài đang giữ
chức vị gì?
Ông đáp:
-Tôi đã từ chức.
Ngài dựng cây
chổi lên, rồi nói:
-Có thể bỏ được
cái này chăng?
Ông quan không
lời đối đáp. Ngài bảo đại chúng rằng hãy nói xem sao, nhưng không
ai khế hội. Lúc đó, Tam Thánh vì bất an nên vào điện Niết Bàn nghỉ
ngơi. Ngài bảo thị giả mời vị này đến để nói thử xem sao. Tam
Thánh nói:
-Hôm nay Hòa
Thượng có việc gì?
Ngài bảo thị
giả nói rằng ‘Chưa quyết đoán có việc gì’. Tam Thánh nói:
-Tái phạm chẳng
dung tha.
Thiền sư Nam
Tháp Quang Dũng đã từng lên miền bắc yết kiến học đạo với ngài Lâm
Tế, rồi sau này trở lại hầu Ngài. Ngài hỏi:
-Ông đến đây để
làm gì?
Nam Tháp đáp:
-Thân cận, lễ
bái Hòa Thượng.
-Thấy Hòa
Thượng chăng?
-Thấy.
-Hòa Thượng
giống như con lừa?
-Con thấy Hòa
Thượng cũng chẳng giống Phật.
-Nếu chẳng
giống Phật thì giống cái gì?
-Nếu có giống
Phật thì nào khác với lừa?
Ngài cười to
rồi nói:
-Phàm và Thánh
cả hai đều mất. Tình hết, thể tánh hiển lộ. Ta dùng cách này để
thử người khác suốt hai mươi năm, mà chưa chọn ai cả. Con hãy bảo
trọng.
Ngài lại nói
với đại chúng:
-Người này là
nhục thân Phật.
Hoăc Sơn đến
tham bái. Ngài nhắm mắt ngồi thiền. Hoăc Sơn lấy lông gà ngoái
chân phải, nói:
-Như thế, như thế! Hai mươi tám vị tổ ở Tây Thiên cũng như thế.
Sáu vị tổ ở Trung Hoa cũng như thế. Hòa Thượng cũng như thế. Cảnh
Thông cũng như thế.
Ngài liền đứng
dậy, gõ ghế mây bốn chân. Do đó, Hoăc Sơn tự xưng là Tập Vân Phong
hạ Tứ Đằng Thục, đại Thiền Sư trong thiên hạ.
Hành giả Xích
Can nghe tiếng chuông vang liền hỏi:
-Có tai nghe
tiếng hay không có tai nghe tiếng?
Ngài đáp:
-Ông chớ ưu sầu.
Ta trả lời không được.
-Sớm mai đã hỏi
rồi.
-Hãy đi đi!
Lưu Thị Ngự hỏi:
-Làm sao được
nghe về tông chỉ tỏ ngộ tâm tánh?
Ngài bảo:
-Nếu muốn liễu
ngộ tâm tánh, thì nên biết chẳng có tâm nào để liễu ngộ, chẳng
liễu ngộ được tâm nào, thì mới gọi là chân thật liễu ngộ.
Tướng Trịnh Ngu
hỏi Ngài:
-Lúc chẳng đoạn
trừ phiền não mà nhập Niết Bàn thì ra sao?
Ngài liền dựng cây chổi lên. Tướng Trịnh Ngu nói:
-Chữ ‘Nhập’ này
cũng không được.
Ngài bảo:
-Chữ ‘Nhập’ này
chẳng đáp lời tướng công.
Tướng Lục Hy
Thanh muốn yết kiến Ngài, nên trước hết gởi một lá thơ vẽ vòng
tròn để trình. Ngài mở lá thơ ra, viết bài kệ bên dưới vòng tròn
đó: ‘Chẳng suy nghĩ mà biết thì rơi vào đầu thứ hai. Suy nghĩ mà
biết thì rơi vào đầu thứ ba’, rồi gởi lại cho ông ta. Ông ta vừa
nhận được thơ liền lên núi. Ngài ra tận cổng núi để đón ông ta.
Vừa vào cổng, ông ta hỏi:
-Ba cổng đều mở,
như vậy phải vào cổng nào?
Ngài nói:
-Phải vào cổng
tín tâm.
Lục Hy Thanh
đến pháp đường, rồi hỏi:
-Lúc chẳng rời
cõi ma mà vào cõi Phật thì ra sao?
Ngài liền đảo
ngược đầu cây chổi rồi gõ ba lần. Lục Hy Thanh liền lễ bái rồi hỏi:
-Hòa Thượng có
trì giới chăng?
Ngài đáp:
-Không trì giới.
-Ngài có ngồi
thiền chăng?
-Chẳng ngồi
thiền.
Lục Hy Thanh im
lặng rất lâu. Thấy vậy, Ngài hỏi:
-Hiểu chăng?
Lục Hy Thanh
thưa:
-Không hiểu.
-Hãy nghe bài
kệ của lão tăng:
‘Cuồn cuộn chẳng trì giới
Thường thường
chẳng ngồi thiền
Rượu trà hai ba
chén
Ý nằm trên đầu
cuốc’.
Ngài lại hỏi:
-Nghe Tướng
Công xem kinh mà được ngộ đạo, có phải chăng?
Lục Hy Thanh
thưa:
-Đệ tử nhờ xem
kinh Niết Bàn đến đoạn ‘Chẳng đoạn phiền não, mà nhập Niết Bàn’,
liền được nơi an lạc.
Ngài bèn dựng cây chổi lên rồi nói:
-Nếu là như vầy
thì làm sao nhập vào?
Lục Hy Thanh
thưa:
-Nhập vào nơi
một chữ cũng chẳng tiêu được.
-Nhập vào một
chữ, thì chẳng phải là Tướng Công.
Lục Hy Thanh
bèn đứng dậy bỏ đi.
Lúc còn làm sa
di, Ngài có đến học đạo với Hòa An. Ngày nọ, do ngài Hòa An bảo
mang chiếc giường đến, nên Ngài mang đến. Khi ngài Hòa An lại bảo
mang trở về chỗ cũ, Ngài cũng y theo. Ngài Hòa An gọi:
-Huệ Tịch!
Ngài liền xưng:
-Dạ.
-Cạnh chiếc
giường là vật gì?
-Chiếc gối.
Ngài Hòa An lại
nói:
-Cạnh chiếc gối
là vật gì?
Ngài thưa:
-Chẳng có vật
gì cả.
-Huệ Tịch!
-Dạ.
-Là vật gì?
Vi Trụ đến tham
vấn và thỉnh ngài Quy Sơn thuyết một bài kệ. Ngài Quy Sơn nói:
-Phật ở trước
mặt ông. Ông chỉ là kẻ độn căn. Hà huống dùng giấy mực để vẽ hình,
thì lại càng xa Phật thêm.
Vi Trụ sang cầu
pháp với Ngài. Ngài liền vẽ lên tấm giấy một vòng tròn, rồi chú
thích bên dưới: ‘Suy nghĩ mà biết thì lạc vào đầu thứ hai. Chẳng
suy nghĩ mà biết thì lạc vào đầu thứ ba’.
Khi Ngài còn
làm sa di, có một vị tăng hỏi ngài Thạch Sương rằng ‘Ý của Tổ Sư
từ Ấn Độ sang là gí?’ thì ngài Thạch Sương đáp rằng ‘Như người
trong giếng sâu ngàn xích, chẳng dùng dây để leo lên. Người đó có
thể trả lời cho ông câu hỏi đó’. Tăng nói rằng ‘Gần đây có Sướng
Hòa Thượng ở Hồ Nam xuất thế, cũng nói đông thuyết tây cho người
khác nghe’. Ngài Thạch Sương kêu lên ‘Sa Di! Kéo thây chết ra đây’.
Về sau, lúc
Ngài đưa câu hỏi này ra, ngài Đạm Nguyên quát:
-Đồ ngu! Ai ở
trong giếng đó!
Lúc Ngài hỏi
câu này, ngài Quy Sơn kêu:
-Huệ Tịch!
Ngài thưa:
-Dạ!
-Ra rồi!
Sau này, lúc ra
làm trụ trì, Ngài thường đem câu này hỏi đại chúng và nói:
-Lúc ở chỗ ngài
Đam Nguyên, ta được danh. Lúc ở chỗ ngài Quy Sơn, ta được địa.
Khi còn làm Sa
Di, Ngài thường tụng kinh lớn tiếng. Hòa thượng Nhũ Nguyên quở:
-Chú Sa Di này
tụng kinh như khóc lóc.
Ngài thưa:
-Huệ Tịch là
như thế, còn Hòa Thượng thì thế nào?
Thấy hòa thượng
Nhũ Nguyên trừng mắt ngó, Ngài nói:
-Như thế đâu có
khác gì với khóc lóc!
Hòa thượng Nhũ
Nguyên bèn trở vào hậu liêu nghỉ ngơi.
Lần khác, lúc
đến tham vấn Đông Tự, vị này hỏi Ngài:
-Ông là người
xứ nào?
Ngài đáp:
-Là người xứ
Quảng Nam.
-Nghe nói Quảng
Nam có hạt minh châu giữ biển, phải chăng?
-Phải.
-Hạt minh châu
đó như thế nào?
-Trăng khuyết
thì ẩn. Trăng rằm thì hiện.
-Có đem ra xem
được không?
-Được.
-Sao không
trình như lão tăng?
Ngài chéo tay
lại, bước tới trước, nói:
-Hôm qua đến
Quy Sơn cũng bị bảo trình hạt châu này. Lúc đắc được thì chẳng còn
câu gì để đối đáp, hay chẳng còn lý gì để bày tỏ.
Ngài Đông Tự
nói:
-Thật là sư tử
con, giỏi rầm hống!
Sau khi lễ bái
xong, Ngài liền ngồi trên ghế khách, đầy đủ oai nghi, làm việc của
bậc thượng nhân. Ngài Đông Tự thấy như thế, bèn nói:
-Đã gặp nhau
rồi!
Ngài nói:
-Gặp nhau như
vầy, thì tương hợp chăng?
Ngài Đông Tự
trở về phòng phương trượng, đóng cửa liền. Ngài thì trở về chỗ
ngài Quy Sơn. Ngài Quy Sơn hỏi:
-Huệ Tịch con!
Tâm hạnh đó là gì?
Ngài thưa:
-Nếu không như
thế, phải tranh với kẻ kia.
Lần khác, Ngài
hỏi ngài Đông Tự:
-Mượn một con
đường để qua bên kia, thì còn được gì nữa không?
Ngài Đông Tự
nói:
-Là bậc Sa Môn
chẳng nên mượn một con đường nào. Nếu có tức là còn dính mắc.
Thấy Ngài lưỡng
lự hồi lâu, ngài Đông Tự hỏi:
-Mượn một con
đường để qua bên kia được không?
Ngài đáp:
-Là bậc Sa Môn
chẳng nên mượn một con đường nào. Nếu có tức là còn dính mắc.
-Còn dính mắc ở
đây.
-Thiên tử nước
Đại Đường quyết định có tên là Vàng.
Ngài đến lễ tạ
ngài Trung Ấp. Ngài Trung Ấp vỗ miệng vang tiếng ‘Hòa, hòa’. Ngài
đi từ tây sang đông. Ngài Trung Ấp cũng vỗ miệng vang tiếng ‘Hòa,
hòa’. Ngài lại đi từ đông sang tây. Ngài Trung Ấp cũng vỗ miệng
vang tiếng như thế. Ngay lúc đó, Ngài đứng lại, rồi sau mới lễ tạ.
Ngài Trung Ấp hỏi:
-Làm sao đắc
được tam muội như thế?
Ngài thưa:
-Tại Tào Khê
nói lời ấn chứng cho con.
-Hãy nói xem
sao Tào Khê dùng tam muội này để tiếp độ ai?
-Tiếp độ Nhất
Túc Giác. Hòa Thượng làm sao đắc được tam muội này?
-Ta ở chỗ Mã
Đại Sư đắc được tam muội này.
-Nghĩa ‘Thấy
Phật Tánh’ là gì?
-Ta sẽ nói ví
dụ cho ông hiểu rõ. Ví như một căn nhà có sáu cửa sổ. Trong nhà có
một con khỉ. Bên ngoài cũng có một con khỉ. Nếu đứng phía đông mà
gọi ‘Tinh tinh’, thì con khỉ sẽ ứng đáp. Nếu đứng nơi sáu cửa sổ
mà gọi thì chúng đều ứng đáp.
Ngài nghe lời
này bèn lễ bái, rồi hỏi tiếp:
-Nay nhờ Hòa
Thượng cho ví dụ nên chẳng có gì mà không biết, nhưng con còn một
điều muốn hỏi. Nếu con khỉ bên trong mê ngủ, thì con khỉ bên ngoài
nếu muốn gặp mặt thì làm sao được?
Ngài Trung Ấp
hạ dây sàng thiền xuống, nắm tay Ngài vũ múa, rồi nói:
-Tinh tinh! Ông
đã gặp con khỉ rồi. Ví như có một con sâu cắn trên lông mi con
muỗi thành những chữ ‘Đất rộng người thưa. Gặp nhau rất ít’.
Khi Ngài đến
tham vấn ngài Nham Đầu, vị này dựng cây chổi lên. Ngài bèn trải
tọa cụ. Ngài Nham Đầu chống cây chổi đằng sau lưng. Ngài bèn đặt
tọa cụ trên vai rồi đi ra. Ngài Nham Đầu bảo:
-Ta chẳng cho
ông bỏ, nhưng cho ông lấy.
Lần nọ, lúc
cùng ngài Trường Sa ngắm trăng, Ngài nói:
-Người người
đều có vật này, nhưng sao không dùng được?
Ngài Trường Sa
nói:
-Nhờ ông dùng
dùm.
Ngài làm sao
dùng được?
gài Trường Sa
tóm ngực Ngài rồi đạp một đạp. Ngài nói:
Thật như con
trùng lớn.
Khi thấy Ngài
đến tham vấn, hòa thượng Cổ Đê nói:
Đi chỗ khác!
Ngươi không có Phật tánh.
gài bèn chéo
tay tiến gần tới ba bước rồi xưng ‘Dạ’. Hòa thượng Cổ Đê thấy vậy,
cười bảo:
Ông đắc tam
muội đó ở nơi đâu?
gài thưa:
Ở chỗ ngài Đam
Nguyên, con được danh. Ở chỗ ngài Quy Sơn, con được địa.
Như vậy, có
phải là con của Quy Sơn chăng?
Thế đế chẳng
không có. Phật pháp chẳng thủ trước. Hòa Thượng đắc tam muội này ở
đâu?
Ta đắc tam muội
này ở Chương Kính.
Ngài ta thán:
-Thật không thể
nghĩ bàn! Người sau thật khó thấu lường.
Ngài đến tham
vấn Xứ Chưng ở Kiền Châu. Ngài Xứ Chưng hỏi:
-Ông tên gì?
Ngài thưa:
-Huệ Tịch.
-Sao là Huệ?
Sao là Tịch?
-Ngay nơi trước
mắt.
-Vẫn còn trước
sau.
-Trước hay sau
đã an bày rồi. Hòa Thượng còn thấy cái gì?
-Đi uống trà đi!
Về sau, Ngài
bắt đầu giảng pháp ở núi Vương Mãng. Lần nọ, Ngài hỏi một vị Tăng:
-Từ đâu đến?
Tăng đáp:
-Lô Sơn.
-Đã từng đến
Ngũ Lão Phong chưa?
-Chưa.
-Xà Lê chưa
từng biết đi du ngoạn trên núi.
Ngài thượng
đừơng dạy chúng :
-Hết thảy các
ngươi! Mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta.
Các ngươi từ kiếp vô thủy đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng
tưởng quá sâu khó nhổ mau được. Do đó, giả lập phương tiện dẹp
thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có cái gì
là phải. Như người đem các thứ hàng hóa cùng vàng lập phố bán.
Bán hàng hóa chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói: 'Thạch
Đầu là phố chơn kim, chỗ ta là phố tạp hóa'. Có người đến tìm
phẩn chuột ta cũng bết cho, kẻ khác đến cầu chơn kim ta cũng trao
cho.
Tăng hỏi:
-Chẳng cần phẩn
chuột, xin Hoà Thượng cho chơn kim?
Ngài bảo:
-Răng nhọn nghỉ
mở miệng, năm lừa cũng chẳng hội.
Tăng không đáp
được.
Ngài nói tiếp:
-Còn kêu thì
còn dễ trao đổi, chẳng còn kêu thì không trao đổi. Nếu nói về
Thiền tông cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy
trăm chúng? Nếu ta nói Đông nói Tây, ắt tranh đầu hướng phía trước
lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật.
Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên cạnh chư thánh, chớ đem tâm
nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như
thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc cuối
cùng của chư Thánh. Hiện nay cần tâm tỉnh thức để đạt được cội gốc,
cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này, khi khác sẽ tự đầy
đủ. Nếu chưa đựơc gốc dầu cho đem tâm học y cũng chẳng đựơc. Các
ngươi đâu chẳng nghe Hòa Thượng Qui Sơn nói: 'Tình phàm thánh hết,
bày hiện chơn thường, sự lý chẳng hai tức là giống như chư Phật.'
Tăng hỏi:
-Ý của Tổ Sư
như thế nào?
Ngài dùng tay
vẽ chữ ‘Phật’ trong hư không để chỉ bày. Tăng chẳng còn lời để nói.
Ngài hỏi Đệ
Nhất Tọa:
-Lúc chẳng nghĩ
lành hay chẳng nghĩ xấu thì làm gì?
Đệ Nhất Tọa đáp:
-Đó là nơi con
xả bỏ thân mạng.
-Sao không hỏi
lão tăng?
-Lúc đó đâu còn
thấy Hòa Thượng.
-Phụ ta dạy
cũng không được.
Ngài hỏi một vị
tăng:
-Từ đâu đến?
Tăng đáp:
-Từ U Châu đến.
-Ta muốn biết
tin ở U Châu, gạo giá bao nhiêu?
-Con không có
đi ngang qua chợ, mà vừa đến thì đạp cầu gãy.
Ngài bèn trở
vào trong nghỉ ngơi.
Thấy có một vị
tăng đi đến, Ngài liền dựng đứng cây chổi. Tăng la lên. Ngài bảo:
-La thì chẳng
không có. Lão tăng qua chỗ nào?
Tăng đáp:
-Hòa Thượng
không nên dùng cảnh dạy người.
Ngài liền đánh.
Có vị Tăng
ngừơi Ấn từ hư không đến, Ngài hỏi :
-Vừa rồi ở đâu
đến?
Tăng thưa:
-Ở Tây Thiên
đến.
-Rời Tây Thiên
lúc nào ?
-Sớm mai.
-Sao mà chậm
lắm vậy?
-Vì còn dạo núi
xem nước.
-Thần không du
hý thì Xà Lê chẳng phải không có, Phật pháp của Xà Lê cần trao lại
cho lão Tăng mới được.
-Định sang Đông
Độ lễ Văn Thù, lại gặp Tiểu Thích Ca.
Nói xong, vị
này bèn đem sách chữ Phạn bằng lá Bối trao cho Ngài, làm lễ rồi
nương hư không mà đi.
Từ đây Ngài có
hiệu là Tiểu Thích Ca.
Lúc Ngài ở Đông
Bình, ngài Quy Sơn bảo tăng đem thơ và gương trao cho Ngài. Ngài
thượng đường, giơ gương lên dạy đại chúng:
-Hãy nói xem
sao? Là gương của Quy Sơn, hay là gương của Đông Bình? Nếu bảo là
gương của Đông Bình thì cũng là gương do Quy Sơn tặng cho. Nếu bảo
là gương của Quy Sơn thì gương này đang nằm trong tay Đông Bình.
Nói được thì giữ lại, còn nếu không nói được thì đập nát.
Thấy đại chúng không ai trả lời được, Ngài bèn đập nát gương đó
rồi xuống tòa.
Lần nọ, có
khách tăng đến tham vấn, hỏi:
-Hòa Thượng
biết chữ không?
Ngài đáp:
-Tùy phần.
Tăng dùng tay
làm tướng vòng tròn mà trình. Ngài lấy y phất đi. Tăng lại làm
tướng vòng tròn. Ngài dùng hai tay làm thế chưởng. Tăng giương mắt
xem. Ngài đưa đầu. Tăng đi nhiễu Ngài một vòng. Ngài lại đánh.
Tăng liền đi ra.
Lần nọ, lúc
đang ngồi, có một vị tăng đến lễ bái mà Ngài chẳng thèm ngó. Tăng
vẫn hỏi:
-Ngài biết chữ
chăng?
Ngài đáp:
-Tùy phần.
Tăng đi một
vòng sang bên phải, rồi hỏi:
-Đây là chữ gì?
Ngài liền viết
trên mặt đất mười chữ để đáp. Tăng lại đi một vòng sang bên trái,
rồi hỏi:
-Đây là chữ gì?
Ngài liền đổi mười đó thành chữ ‘Vạn’ trên mặt đất. Tăng vẽ tướng
vòng tròn, rồi nâng hai tay, như tướng A Tu La cầm mặt trời mặt
trăng, rồi hỏi:
-Đây là chữ gì?
Ngài lại viết
chữ ‘Vạn’ để đáp. Vị tăng đó lại làm thế Lâu Chí Đức.
Ngài khen:
-Đúng như thế!
Đúng như thế! Đó là nơi mà chư Phật hộ niệm. Ngươi được như thế,
và Ta cũng được như thế. Phải khéo hộ trì.
Vị tăng đó lễ tạ, rồi thăng lên hư không mà bay đi. Lúc ấy, có một
vị đạo giả thấy, nhưng đợi đến năm ngày sau mới hỏi Ngài. Ngài hỏi
lại:
-Ông có thấy à?
Vị đạo giả đó
thưa:
-Con thấy người
kia ra khỏi cổng rồi thăng lên hư không mà bay đi.
-Đó là A La Hán
ở Tây Thiên, đến đây tìm pháp của ta.
Đạo Giả thưa:
-Tuy con thấy
những tam muội đó, nhưng chưa biết lý như thế nào?
Ngài bảo:
-Ta sẽ dùng
nghĩa để giải thích cho ông rõ. Đó là tám loại tam muội. Đó là
giác hải biến thành nghĩa hải. Thể tắc đồng nhau. Nghĩa này hợp có
nhân, có quả. Thời này và thời khác, tổng quát thì chẳng rời tam
muội ẩn thân.
Lần nọ, nhân có
một vị Phạm Tăng đến, Ngài liền vẽ trên mặt đất hình nửa mặt trăng.
Một vị tăng tiến đến gần vẽ hình vòng tròn tựa như bàn chân. Ngài
tréo hai tay. Vị tăng đó phất tay áo rồi bỏ đi ra.
Ngài hỏi một vị tăng:
-Từ đâu đến đây?
Tăng đáp:
-Từ miền nam
đến.
Ngài đưa cây
tích trượng lên, rồi hỏi:
-Trong đó, lão
túc cái gì không?
Tăng đáp:
-Chẳng nói.
-Nếu không nói
cái đó, thì nói cái gì?