Thiền Sư Linh Hựu, núi Qui Sơn
(771-853)
(Việt dịch, Thích
Hằng Ðạt)
Thiền
Sư họ
Triệu, quê ở Trường Khê, Phước Châu. Năm mười lăm tuổi, Ngài từ
thân xuất gia theo Luật sư Pháp Thường ở chùa Kiến Thiện tại bổn
quận thế phát. Sau, Ngài dến chùa Long Hưng
ª
Hàng Châu thọ giới. Sư học Kinh, Luật
ñại
Thừa, Tiểu Thừa rất uyên thâm.
Năm
hai mươi ba tuổi, Ngài dến Giang Tây tham học với Tổ Bá Trượng
Hoài Hải. Tổ Bá Trượng vừa thấy Ngài liền nhận làm đệ tử nhập
thất. Trong số thiền sinh học đạo tham thiền, Ngài là vị đứng đầu.
Một
hôm, Ngài đứng hầu, Tổ Bá Trượng hỏi:
-Ai vậy?
Ngài thưa:
-Con, Linh Hựu !
-Ngươi vạch trong lò xem
có lửa than chăng ?
Ngài vạch một hồi rồi
thưa:
-Không còn lửa than.
Tổ Bá Trượng đứng dậy,
đến vạch sâu trong lò được chút lửa than, đưa lên chỉ Ngài, bảo:
-Ngươi bảo không, cái
này là cái gì ?
Ngài do đây phát ngộ, lễ
tạ trình bày chỗ giải ngộ của mình.
Tổ Bá Trượng bảo:
-Ðây là con đường rẽ tạm
thời. Kinh nói: “Muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết
nhân duyên, thời tiết nếu đến thì như mê chợt ngộ, như quên được
nhớ, mới tỉnh biết vật của mình không từ bên ngoài được”. Cho nên
chư Tổ Sư bảo: “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cùng không pháp”.
Vô tâm tức là tâm không
hư vọng, tâm không phân biệt phàm thánh, bình đẳng không hai đối
đãi. Xưa nay tâm và pháp vốn tự đầy đủ, viên dung vô ngại. Nay
ngươi đã vậy, hãy tự khéo gìn giữ hộ trì.
Ngày
nọ, Ngài theo Tổ Bá Trượng làm việc trong núi. Tổ Bá Trượng hỏi:
-Ðem được lửa đến chăng
?
Ngài thưa:
-Ðem được.
-Ở chỗ nào ?
Ngài cầm một cành cây
thổi hai hơi rồi đưa cho Tổ Bá Trượng. Tổ hỏi:
-Như mọt đục cây.
Lần nọ, lúc Ngài đang
làm Ðiển Tọa, Tư Mã Ðầu Ðà đến, hỏi lời thô tháo:
-Ðang làm gì vậy?
Ngài liền dùng tay luồn qua cánh cửa
ba lần. Tư Mã Ðầu Ðà nói:
-Sao thô quá vậy!
Ngài nói:
-Phật pháp nói gì là thô
hay vi tế.
Ngày
nọ, Tư Mã Ðầu Ðà từ Hồ Nam đến yết kiến Tổ Bá Trượng, thưa:
-Ở Hồ Nam có một ngọn
núi được gọi là Ðại Sơn. Ðây là trú xứ của một ngàn năm trăm vị
thiện tri thức.
Tổ Bá Trượng hỏi:
-Lão Tăng đến ở được
chăng ?
-Chẳng phải là chỗ của
Hòa Thượng.
-Sao vậy ?
-Hòa Thượng là người
xương, núi kia là núi thịt. Dù Ngài có ở, đồ đệ chẳng đầy một ngàn.
-Trong đại chúng ở đây,
chẳng lẽ không có người nào sao?
-Ðợi xem qua mới biết.
Tổ Bá Trượng sai thị giả
gọi đệ nhất tọa đến, tức Thiền sư Hoa Lâm, hỏi:
-Người này thế nào ?
Tư Mã Ðầu Ðà bảo Hoa Lâm
tằng hắng một tiếng, đi vài bước, rồi thưa:
-Người này không được.
Tổ Bá Trượng sai thị giả
gọi Ðiển Tọa đến, tức ngài Linh Hựu.
Ðầu Ðà thưa:
-Ðây chính là chủ Qui
Sơn.
Tối
hôm đó, Tổ Bá Trượng gọi Ngài vào thất dặn dò:
-Ta hóa duyên tại đây,
còn ngươi sẽ ở thắng cảnh Qui Sơn để nối tiếp tông môn của ta và
rộng độ kẻ hậu học.
Hôm sau, Hoa Lâm nghe tin này đến
thưa:
-Con là thượng thủ, tại
sao Linh Hựu được trụ trì ?
Tổ Bá Trượng bảo:
-Nếu ai ngay trong chúng
hội này nói được một câu xuất chúng, thì Ta sẽ cho trụ trì.
Nói xong, Tổ Bá Trượng
liền chỉ tịnh bình hỏi:
-Không được kêu là tịnh
bình, ngươi kêu là gì?
Hoa Lâm thưa:
-Không thể kêu là cây
lủng vậy.
Lúc Tổ Bá Trượng xoay
lại hỏi, Ngài đạp đổ tịnh bình rồi đi ra. Tổ Bá Trượng cười bảo:
-Ðệ nhất tọa nộp cho núi
này rồi.
Tổ Bá Trượng bèn sai
Ngài đến Qui Sơn.
Non Qui Sơn cao vót không
có bóng người lai vãng, là hang ổ của cọp sói. Ngài đến đây cất
một am tranh, hằng ngày luợm trái lật, trái dẻ làm thức ăn sinh
sống.
Năm bảy năm trôi qua, chẳng có ai
lui tới. Một hôm Ngài tự nghĩ: “Ta trụ trì núi này cốt làm lợi ích
cho người, nhưng chẳng ai tới lui. Chỉ được riêng cho mình thì làm
sao cứu giúp người được!”
Ngài bèn rời am tranh, đi lần đến
cửa núi, thấy cọp sói, rắn rít thú hoang nằm ngay giữa đường, Ngài
bảo chúng:
-Loài cầm thú các ngươi,
chớ nên cản đường Ta đi. Nếu Ta có duyên với ngọn núi này, thì các
ngươi nên đi chỗ khác. Nếu Ta chẳng có duyên với ngọn núi này, các
ngươi chẳng cần động đậy, Ta sẽ tiến bước để cho các ngươi ăn thịt.
Ngài vừa nói xong thì
loài cọp sói rắn rít đều bỏ đi tứ tán. Ngài trở về am yên ở như
trước. Chẳng bao lâu, thượng tọa Lại An cùng một số chư tăng từ
chỗ Tổ Bá Trượng đến phụ tá Ngài. Thượng tọa Lại An thưa:
-Con sẽ làm Ðiển Tọa cho Hòa
Thượng.
Thời
gian sau, đợi số chư tăng lên đến năm trăm vị, Ngài mới bắt đầu
dạy dỗ, phân chia trách nhiệm. Từ đó, dân chúng dưới chân núi dần
dần hay biết. Họ rủ nhau lên núi cùng xây cất chùa chiền. Về sau,
Liên Soái Lý Cảnh Nhượng dâng sớ tâu vua, xin ban hiệu. Vua ban
hiệu là chùa Ðồng Khánh. Tướng quốc Bùi Hưu cũng thường tới lui
thưa hỏi chỗ huyền ảo. Các thiền sinh ở khắp nơi từ từ kéo đến. Ðệ
tử đắc pháp của Ngài là thiền sư Huệ Tịch ở Ngưỡng Sơn. Vì vậy,
người vào thời đó gọi tông môn của Ngài là Quy Ngưỡng.
Ngài thượng đường dạy đại chúng:
-Phàm tâm của người học
đạo phải ngay thẳng chơn thật không giả dối, không tâm hạnh sau
lưng trước mặt, lừa phỉnh; trong tất cả giờ thấy nghe bình thường;
không có chiều uốn, siểm khúc, cũng chẳng phải nhắm mắt bịt tai,
chỉ lòng chẳng chạy theo vật là được. Từ trước chư Thánh chỉ nói,
bên nhơ bợn là lỗi lầm họa hoạn. Nếu không như thế, huân tập tâm
tình kiến chấp vọng tưởng nhiều sự xấu ác. Ví như nước mùa thu,
tâm tư lóng đọng, trong trẻo lặng lẽ không động không ngại; ta gọi
người này là đạo nhơn, cũng gọi là người vô sự.
Khi ấy, có vị Tăng hỏi:
-Người được đốn ngộ có
tu chăng ?
Ngài bảo:
-Nếu người khi thật ngộ
được gốc thì họ tự biết; tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như
nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chơn lý nơi
mình, nhưng vẫn còn tập khí (thói quen) nhiều kiếp từ vô thủy chưa
có thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện
tại, tức là tu vậy. Không nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành
thú hướng. Nhờ nghe mà thể nhập được lý; nghe lý sâu mầu, tâm tự
tròn sáng không ở chỗ mê lầm; hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa
thăng trầm, hắn vẫn ngồi yên măc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm
lại: “Nơi lý chơn thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh
chẳng bỏ một pháp” (Thật tế lý địa bất thọ nhứt trần, vạn hạnh môn
trung bất xả nhứt pháp). Nếu được như vậy, một mình mang đao đi
thẳng vào, tâm phàm hay thánh đều dứt, hiện bày lẽ chân thường, lý
sự không hai, tức là giống như chư Phật.
Thiền
sư Ðặng Ẩn Phong lên núi Quy Sơn, vào chánh điện, đánh bản, rồi mở
y bát. Ngài nghe tin sư thúc (thiền sư Ðặng Ẩn Phong là huynh đệ
của tổ Bá Trượng) đến, bèn giữ đầy đủ oai nghi, đi vào chánh điện
để gặp. Thiền sư Ðặng Ẩn Phong vừa thấy Ngài đến, bèn ra dáng nằm
ngủ. Ngài liền trở vào phòng phương trượng. Thiền sư Ðặng Ẩn Phong
liền ra về. Chốc lát sau, Ngài hỏi thị giả:
-Sư Thúc đang ở đâu?
Thị giả thưa:
-Ðã ra về rồi.
-Lúc ra về, vị này có
nói điều gì chăng?
-Chẳng nói gì cả.
-Chớ cho rằng vị này
chẳng nói điều gì! Âm thanh của vị này như tiếng sấm sét.
Thấy thiền sư Vân Nham
đến Quy Sơn, Ngài hỏi:
-Nghe rằng Trưởng Lão ở
Dược Sơn đùa bỡn với sư tử có phải chăng?
Thiền sư Vân Nham đáp:
-Phải!
-Múa nhiều có sắp đặt
thời gian không?
-Muốn múa thì múa, còn
muốn sắp đặt thì sắp đặt.
-Lúc sắp đặt, sư tử ở
chỗ nào?
-Sắp đặt là sắp đặt!
(Pháp Xướng bàn: “Một
bầy sư tử tốt, nhưng chỉ có đầu mà không đuôi. Nếu lúc đó gặp Quy
Sơn hỏi rằng lúc an bài đó, sư tử ở chỗ nào, thì tôi sẽ cùng Quy
Sơn ra đường lộ tim lông vàng ròng, để dạy Quy Sơn rằng tạng thân
không có lối đi”).
-Bồ Ðề lấy gì làm tòa
ngồi?
-Lấy vô vi làm tòa ngồi.
Thiền sư Vân Nham liền
hỏi lại Ngài:
-Bồ Ðề lấy gì làm tòa
ngồi?
Ngài đáp:
-Lấy các pháp không, làm
tòa ngồi.
Ngài lại hỏi Ðạo Ngô câu này. Ðạo Ngô đáp:
-Ngồi tức là nghe y ngồi.
Nằm cũng nghe y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm. Nói mau,
nói mau.
Ngài nghe lời này bèn
trở vào trong nghỉ ngơi.
Ngài hỏi Vân Nham:
-Nghe ông ở Dược Sơn rất
lâu, phải không?
Vân Nham thưa:
-Vâng.
-Tướng người lớn của
Dược Sơn ra sao?
-Sau Niết Bàn rồi mới có.
-Nghĩa đó thế nào?
-Rải nước chẳng chấp.
Thiền sư Vân Nham hỏi
lại:
-Tướng người lớn của Bá
Trượng ra sao?
Ngài đáp:
-Ðường đường uy nghi.
Hồng hồng sáng sủa. Âm thanh trước chẳng phải âm thanh. Hình sắc
sau, chẳng phải hình sắc. Con muỗi đậu trên trâu sắt. Chẳng phải
là nơi ông chỏm mồm xuống.
Ngài hỏi Ðạo Ngô:
-Ðến đây làm gì?
Ðạo Ngô thưa:
-Ðến để khám bịnh.
-Có bao nhiêu người bịnh.
-Có vài người bịnh, và
có vài người chẳng bị bịnh.
-Những ai không bị bịnh,
chẳng phải là Trí Ðầu Ðà sao?
-Có bịnh hay không, nói
chung chẳng liên quan gì đến việc của hắn cả. Nói mau, nói mau.
-Ðắc được đạo cũng chẳng
liên hệ gì đến hắn.
Thiền sư Ðức Sơn đến
tham vấn, nách kẹp áo đi vào pháp đường, bước từ tây sang đông, và
từ đông sang tây, rồi ngoái lại nhìn Phương Trượng (Linh Hựu), nói:
-Có gì không, có gì
không?
Ngài lại ngồi xuống,
chẳng thèm xoay đầu nhìn.
Thiền sư Ðức Sơn nói:
-Không! Không!
(Tuyết Ðậu bàn: “Khám
phá ra rồi!”)
Nói xong Ðức Sơn liền bỏ
ra ngoài, đến đầu cửa, tự nói:
-Tuy nhiên như thế,
không thể ngông cuồng.
Nói xong, thiền sư Ðức
Sơn bèn đủ oai nghi, đi vào gặp Ngài. Vừa bước chân vào cửa, bèn
trải tọa cụ, thưa:
-Bạch Hòa Thượng!
Ngài vừa định cầm cây
chổi, Ðức Sơn liền la lên, rồi phủi áo đi ra.
(Tuyết Ðậu bàn: “Khám
phá ra rồi!”)
Ðến chiều Ngài hỏi Thủ Tọa:
-Ông tăng vừa đến chùa hôm nay, có ở lại không?
Thủ Tọa thưa:
-Lúc ấy, vị này vừa ra
khỏi pháp đường liền mang giày cỏ mà đi.
-Kẻ này về sau sẽ đơn
độc lên trên đỉnh núi, kết am tranh, chửi mắng Phật và Tổ.
(Tuyết Ðậu bàn: “Trên
tuyết lại thêm sương”)
(Ngũ Tổ Giới bàn: “Ông Ðức Sơn làm
ra vẻ như kẻ tặc để tâm hư vô. Quy Sơn cũng là kẻ giặc đứng giương
cung đằng sau”)
Thạch Sương đến Quy Sơn
làm Mễ Ðầu (lo gạo thóc). Ngày nọ, vào dịp sàng gạo, Ngài bảo:
-Vật của thí chủ, chớ
vứt bỏ, làm tiêu tán.
Thạch Sương thưa:
-Chẳng vứt bỏ, làm tiêu tán.
Ngài cúi xuống đất nhặt
một hạt thóc, nói:
-Ông nói rằng chẳng vứt
bỏ, làm tiêu tán. Vậy thì đây là cái gì?
Thạch Sương chẳng có lời
đối đáp. Ngài nói thêm:
-Chớ khinh một hạt thóc.
Trăm ngàn hạt thóc cũng từ một hạt mà phát sanh ra.
Thạch Sương thưa:
- Trăm ngàn hạt lúa từ
một hạt này sanh ra. Vậy, chưa biết một hạt này từ đâu sanh ra?
Ngài cười to, rồi trở về
phòng phương trượng.
Lai Sơn làm Ðiển Tọa ở
Quy Sơn. Ngài hỏi:
-Hôm nay ăn rau gì?
Lai Sơn thưa:
-Hai ngàn năm đồng một
mùa xuân.
-Hãy khéo sửa soạn đồ ăn.
-Long Túc Phấn Tấn.
Ngưỡng Sơn hỏi:
-Ý của Tổ Sư từ phương
Tây đến là gì?
Ngài đáp:
-Chiếc lồng đèn lớn rất
đẹp!
-Sao nói về cái đó?
-Cái đó là cái gì?
-Chiếc lồng đèn lớn đẹp.
-Quả nhiên là chẳng thấy.
Ngài bảo đại chúng:
-Cho phép nhiều người
được đại cơ, nhưng không được đại dụng.
Sau này, Ngưỡng Sơn lập
lại lời này để hỏi am chủ dưới núi:
-Ý chỉ của Hòa Thượng
Quy Sơn dạy những gì?
Am Chủ đáp:
-Hãy hỏi lại xem sao?
Ngưỡng Sơn vừa định nói
lại lời đó, liền bị Am Chủ đạp té nhào. Ngưỡng Sơn trở về thưa
Ngài. Ngài cười to.
Lúc đi hái trà, Ngài
bảo Ngưỡng Sơn:
-Suốt ngày đi hái trà, nghe tiếng
con mà chẳng thấy hình hài của con.
Ngưỡng Sơn liền lung
lay cây trà.
Ngài bảo:
-Con được cái dụng, chứ chưa được cái thể.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Chưa biết Hòa Thượng
như thế nào?
Ngài im lặng một chút.
Ngưỡng Sơn nói:
-Hòa Thượng được cái thể,
chứ chưa được cái dụng.
Ngài nói:
-Tha cho ngươi ba mươi
gậy.
-Gậy của Hòa Thượng, con
xin nhận. Con có gậy, vậy ai nhận?
-Tha cho ngươi ba mươi
gậy.
Lúc Ngài đang ngồi,
thấy Ngưỡng Sơn vừa bước vào, liền bảo:
-Huệ Tịch con! Hãy nói
mau, chớ nhập vào ấm giới.
Huệ Tịch thưa:
-Huệ Tịch tín căn chưa
lập.
-Con tin rồi chẳng lập,
hay chẳng tin mà chẳng lập?
-Ðó là Huệ Tịch, thì còn
tin ai nữa?
-Nếu là vậy, tức là định
tánh Thanh Văn.
-Ðối với Huệ Tịch, Phật
cũng chẳng lập.
Lần nọ, Ngài hỏi Ngưỡng
Sơn:
-Kinh Niết Bàn có bốn
mươi chương. Phần nào là phần do Phật thuyết, còn phần nào là do
ma thuyết?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Tất cả đều do ma thuyết.
-Chỉ ngại về sau chẳng
có ai hiểu con.
-Lúc Huệ Tịch đi, không
biết sẽ đến chỗ nào tu hành, hoằng hóa?
-Ta chỉ quan tâm về pháp
nhãn của con có chân chánh hay không, chứ chẳng màng con đến đâu
tu hành, hoằng hóa.
Lần nọ, đang giặt y,
Ngưỡng Sơn hỏi Ngài:
-Hòa Thượng đang làm gì?
Ngài nói:
-Chính ngay lúc này, ta
chẳng làm gì cả.
-Hòa Thượng có thân mà
vô dụng.
Ngài im lặng một chút
rồi hỏi:
-Chính lúc này đang làm
gì?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Chính lúc này, Hòa
Thượng có thấy y chăng?
-Ngươi có dụng mà chẳng
có thân.
Ngài lập tức hỏi lại
Ngưỡng Sơn:
-Trong mùa xuân, lời của
ngươi chưa được hoàn hảo. Nay hãy nói lại xem sao?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Chính lúc ấy, tự nhiên
bị cáo oan.
-Ðình làng nhốt bậc
trưởng lão trí huệ.
Ngài đưa bình nước
trong cho Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn định lấy, nhưng Ngài co tay lại,
bảo:
-Ðó là gì?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Hòa Thượng còn thấy cái
đó nữa à?
-Nếu được như thế, sao
còn tìm Ta làm gì?
-Tuy là như thế, nhưng
nhân nghĩa trong đạo, phải cầm bình thiếu nước của Hòa Thượng, vì
cũng là phận sự chính.
Nghe lời này, Ngài liền
đưa bình nước cho Ngưỡng Sơn.
Lần nọ, đang đi với
Ngưỡng Sơn, Ngài chỉ cây bách, hỏi:
-Trước mặt là cái gì?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Cây bách.
Ngài hỏi ông Vân Ðiền,
thì ông này cũng đáp là cây bách. Ngài bảo ông Vân Ðiền:
-Cái ông Vân Ðiền này!
Ðằng sau cũng có năm trăm tăng chúng.
Lần khác, Ngài hỏi
Ngưỡng Sơn:
-Con từ đâu về?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Từ đồng ruộng về.
-Lúa gặt được chưa?
Ngưỡng Sơn ra dạng cắt
lúa. Ngài nói:
-Con vừa đến, thấy lúa
màu xanh, hay thấy lúa màu vàng, hay thấy lúa chẳng phải xanh cũng
chẳng phải vàng?
-Ðằng sau lưng Hòa
Thượng là cái gì?
-Con thấy cái gì?
Ngưỡng Sơn dựng đứng
nhánh lúa, nói:
-Hòa Thượng hỏi cái gì?
-Ðây là nga vương chọn
sữa.
Ngài hỏi Ngưỡng Sơn:
-Trời lạnh hay người
lạnh.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Tất cả đều trong đó.
-Sau không nói thẳng.
-Vừa đến lại chẳng cong.
Hòa Thượng thì sao?
-Ði thẳng theo dòng.
Ngài thượng đường nói:
-Giữa đông lạnh giá,
việc mọi năm. Bóng xoay vần sự thế nào?
Ngưỡng Sơn bước tới
trước, đứng vòng tay lại. Ngài bảo:
-Ta cảm biết lời của ông
chưa được.
Hương Nghiêm thưa:
-Con có thể đáp được
chút ít.
Ngài bước nhè nhẹ tới
trước, hỏi câu đó. Hương Nghiêm cũng tiến tới trước, dứng khoanh
tay. Ngài bảo:
-Lại gặp Tịch Tử ngu si
chẳng hiểu.
Lần nọ, Ngài đang ngồi
thì Ngưỡng Sơn từ phòng phương trượng đi ngang qua. Ngài bảo:
-Nếu tiên sư Bá Trượng
thấy như thế, chắc ngươi phải ăn gậy từ đầu rồi.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Như vậy, hôm nay làm
việc gì?
-Nối hai mảnh da lại.
-Ân này khó báo đền.
-Chẳng phải là con thì
khó có tài qua mặt lão tăng già nua.
-Hôm nay thấy tận mặt sư
ông Bá Trượng đến.
-Con thấy nơi nào?
-Không thể nói thấy, vì
chẳng phân biệt.
-Trước sau đều là kẻ làm
nhà.
Ngài hỏi Ngưỡng Sơn:
-Sự việc hôm nay xếp đặt
như thế. Sự việc xưa và mai sau như thế nào?
Ngưỡng Sơn khoanh tay
tiến đến gần. Ngài bảo:
-Ðó là việc hôm nay, còn
việc xưa kia và mai sau như thế nào?
Ngưỡng Sơn lùi rồi đứng
lại.
-Ngươi thua Ta, hay Ta
thua ngươi?
Ngưỡng Sơn liền lễ bái.
Lúc Ngưỡng Sơn và Hương
Nghiêm đang đứng hầu, Ngài bảo:
-Hôm nay chỉ ít, chứ
chẳng phải nhiều.
Hương Nghiêm đi từ phía
đông sang phía tây rồi đứng lại. Ngưỡng Sơn đi từ phía
tây sang phía đông rồi đứng lại.
Ngài bảo:
-Nhân duyên này, ba mươi
năm sau, như liệng vàng xuống đất.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Cũng do Hòa Thượng khởi
xướng.
Hương Nghiêm thưa:
-Hôm nau cũng chẳng ít.
Ngài bảo:
-Hãy giữ kín miệng.
Khi khác, Ngài đang
ngồi thì Ngưỡng Sơn bước vào. Ngài nắm hai tay lại. Ngưỡng Sơn ra
dạng lễ bái như người nữ. Ngài bảo:
-Ðúng như thế! Ðúng như
thế!
Lúc Ngài ở trong phòng
phương trượng, Ngưỡng Sơn bước vào. Ngài bảo:
-Huệ Tịch con! Gần đây
con cháu trong tông môn làm những gì?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Ða phần có người nghi
việc này.
-Huệ Tịch, con làm gì?
-Huệ Tịch mỏi mệt thì
nhắm mắt, khỏe thì ngồi thiền. Thế nên, chưa từng nói chấp trước
chỗ nào.
-Ruộng đất đó thật khó
được.
-Theo cái thấy của Huệ
Tịch thì một câu cú cũng không thể chấp vào được.
-Con chấp vào một người
cũng không được.
-Từ xưa chư Thánh nhân
đều như thế.
-Nếu có người cười con,
thì con đối đáp thế nào?
-Người cười chê, đó là
pháp lữ đồng tham học của Huệ Tịch.
-Ló đầu ra thì phải làm
gì?
Ngưỡng Sơn bèn đi nhiễu
giường thiền một vòng. Ngài bảo:
-Phá lệ xưa nay!
Lần nọ, Ngưỡng Sơn và
Hương Nghiêm đang đứng hầu, Ngài bảo:
-Quá khứ, hiện tại, vị
lai, đạo của chư Phật đều đồng nhau; người người đều đến được con
đường giải thoát.
Ngưỡng Sơn hỏi:
-Người người đều đến
được con đường giải thoát là như thế nào?
Ngài xoay đầu lại nhìn
Hương Nghiêm, nói:
-Huệ Tịch mượn câu hỏi
đó, sao chẳng đáp lời y?
Hương Nghiêm thưa:
-Nếu bảo quá khứ, hiện
tại, vị lai, thì con có chỗ đối đáp.
Ngài hỏi:
-Con đối đáp như thế nào?
Hương Nghiêm trịnh trọng
bước ra. Ngài liền hỏi Ngưỡng Sơn:
-Trí Nhàn đối đáp như
thế, có khế hợp Huệ Tịch con không?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Chẳng khế hợp.
-Vậy thì con đối đáp thế
nào?
Ngưỡng Sơn cũng trịnh
trọng bước ra. Ngài cười to, nói:
-Như nước với sữa hòa hợp.
Ngày nọ, Ngài vừa cất
bước chân, vừa bảo Ngưỡng Sơn:
-Ngày ngày ta được hắn trợ giúp, mà
hắn chẳng thông suốt.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Lúc ấy, trong vườn Cấp Cô Ðộc chẳng
khác biệt với nơi này.
-Vừa nói điều đó.
-Lúc trời lạnh, cùng hắn mang vớ mà
chẳng phân biệt.
-Chẳng phụ buổi đầu, con nay đã
thông suốt.
-Nghĩ như thế nào thì đáp như thế đó.
-Nói thử xem.
-Chân thật nói lời như thế.
-Ðúng như thế! Ðúng như thế!
Ngài hỏi lại Ngưỡng Sơn:
-Con hiểu nghĩa “Sanh, trụ, dị, diệt”
như thế nào?
Ngưỡng Sơn đáp:
-Một niệm vừa khởi lên, chẳng thấy
có sanh, trụ, dị, diệt.
-Làm sao con đắc được di pháp?
-Hòa Thượng vừa đến và hỏi điều gì?
-Sanh, trụ, dị, diệt.
-Ðó gọi là để lại di pháp.
Ngài lại hỏi Ngưỡng Sơn:
-Con hiểu nghĩa tâm thanh tịnh vi
diệu sáng suốt như thế nào?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Núi sông, đất đai, mặt trăng mặt
trời, tinh sao.
-Con đã được rồi.
-Hòa Thượng vừa tới lại hỏi điều gì?
-Tâm thanh tịnh vi diệu sáng suốt.
-Gọi là làm, đúng chăng?
-Ðúng như thế! Ðúng như thế!
Dưới hội của Thạch Sương có hai
thiền khách, vừa đến liền nói:
-Ở đây chẳng có ai biết Thiền.
Nói xong, cả hai mời đại
chúng đi dọn củi. Thấy hai vị thiền khách này đang nghỉ mệt,
Ngưỡng Sơn cầm một khúc củi đến hỏi:
-Lại nói được không?
Cả hai đều không lời đối đáp. Ngưỡng
Sơn nói:
-Chớ bảo rằng chẳng có ai hiểu Thiền
nhé!
Lúc trở về gặp Ngài, Ngưỡng Sơn thưa:
-Hôm nay hai vị thiền khách bị Huệ
Tịch khám phá.
Ngài hỏi:
-Họ bị con khám phá chỗ nào?
Ngưỡng Sơn thuật lại lời đối đáp ở
trên. Ngài bảo:
-Huệ Tịch con bị Ta khám phá.
Lần nọ, Ngài đang ngủ,
Ngưỡng Sơn đến hỏi han. Ngài bèn quay mặt vào vách. Ngưỡng Sơn
thưa:
-Hòa Thượng làm sao được như thế?
Ngài trổi dậy, nói:
-Ta vừa nằm mộng. Con hãy kể lại cho
ta xem?
Ngưỡng Sơn bèn mang một chậu nước
đến để Ngài rửa mặt. Chốt lát sau, Hương Nghiêm cũng đến hỏi han.
Ngài lại bảo:
-Ta vừa nằm mộng. Huệ Tịch đã đem
cho Ta xem rồi. Ngươi hãy cho Ta xem coi?
Hương Nghiêm cũng mang một cốc trà
đến. Ngài bảo:
-Kiến giải của hai con thật hơn Xá
Lợi Phất.
Lần nọ, do có một vị tăng hỏi rằng
“Ý của Tổ Sư từ phương Tây sang như thế nào?” Ngài liền dựng đứng
cây chỗi. Sau này, khi gặp vị tăng đó, Vương Thường Thị hỏi:
-Gần đây Quy Sơn có nói điều gì
chăng?
Vị tăng đó liền kể lại điều trên.
Vương Thường Thị hỏi:
-Trong huynh đệ của họ, thường
thương lượng như thế nào?
Tăng đáp:
-Mượn sắc để làm sáng tâm. Nương vật
để hiển bày lý.
-Chẳng phải là đạo lý. Thượng Tọa
nên mau kíp trở về. Tôi có một lá thơ nhờ Ngài trình lên cho Hòa
Thượng.
Vị tăng này mang thơ của Vương
Thường Thị trình lên cho Ngài. Ngài mở xem, thấy trong đó có vẽ
một vòng tròn, và trong vòng tròn lại có viết chữ “Nhật (mặt trời)”.
Ngài bảo:
-Ai biết được rằng ngoài ngàn dặm đường lại có bạn tri
âm.
Lúc ấy, Ngưỡng Sơn đang hầu Ngài,
nói rằng:
-Tuy là vậy, nhưng kẻ này chỉ là gã
tục hán.
Ngài bảo:
-Con làm thế nào?
Ngưỡng Sơn liền vẽ một vòng tròn,
viết chữ “Nhật” trong đó rồi dùng bàn chân xóa đi. Ngài thấy vậy,
cười to.
Lần nọ, Ngài đang ngồi, Ngưỡng Sơn
đến hỏi:
-Một trăm năm sau khi Hòa Thượng
tịch, nếu có người hỏi đạo pháp của tiên sư, thì phải đối đáp như
thế nào?
Ngài bảo:
-Một cháo, một cơm.
-Nếu người trước mặt chẳng chịu thì
phải làm sao?
-Làm nhà Sư Tăng.
Ngưỡng Sơn liền lễ bái. Ngài bảo:
-Gặp người chớ lầm lẫn đưa việc này
ra.
Ngài lại hỏi Ngưỡng Sơn:
-Suốt ngày thương lượng với con,
biện luận được việc gì?
Ngưỡng Sơn ra dáng vẽ trong hư không.
Ngài bảo:
-Nếu chẳng phải là Ta thì chắc bị
con làm mê hoặc rồi.
Ngưỡng Sơn hỏi:
-Trăm ngàn muôn cảnh đến cùng một
lúc thì phải làm sao?
Ngài đáp:
-Màu xanh chẳng phải màu vàng. Dài
chẳng phải ngắn. Mỗi mỗi các pháp đều có chỗ đứng, mà chúng chẳng
liên can gì với Ta.
Ngưỡng Sơn liền lễ bái.
Lần nọ, đang làm tương, Ngài hỏi
Ngưỡng Sơn:
-Dùng ít nhiều nước muối?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Con không biết, nên không muốn trả
lời.
-Ðiều này lão tăng biết rõ.
-Chẳng biết dùng ít nhiều nước muối?
-Con không biết thì ta cũng không
trả lời.
Ðến chiều tối, Ngài hỏi lại Ngưỡng
Sơn:
-Nhân duyên hôm nay, con phải làm
sao để chủ trì?
Ngưỡng Sơn thưa:
-Ðợi hỏi thì đáp.
-Bây giờ đang hỏi lại đây.
-Bịt tai, che mắt. Thấy nghe chẳng
hiểu.
-Nếu có hỏi và đáp, ngoài con chẳng
có ai nói được như thế.
Ngưỡng Sơn bèn lễ tạ. Ngài bảo:
-Huệ Tịch con, hôm nay quên trước
mất sau, chẳng phải là chuyện nhỏ.
Ngài lại bảo Ngưỡng Sơn:
-Con đơn độc tự xoay ánh sáng lại
chính mình mà người khác chẳng biết chỗ liễu giải của con. Nay con
hãy thử đem chỗ liễu giải chân thật trình cho lão tăng xem.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Nếu dạy con tự xem, thì đến chỗ đó
cũng chẳng có ngôi vị hoàn hảo, cũng chẳng có một vật hay một sự
liễu giải nào để trình cho Hòa Thượng xem.
-Chẳng có ngôi vị hoàn hảo vốn là
nơi trình sự liễu giải của con, mà chẳng rời tâm và cảnh.
-Chẳng có ngôi vị hoàn hảo thì nơi
nào có pháp, dùng vật gì để làm cảnh?
-Có phải con đã trình kiến giải rồi
chăng?
-Vâng.
-Nếu như thế, thì là đầy đủ tâm,
cảnh, pháp. Chưa thoát khỏi tâm chấp ngã sở, vì còn có sự liễu
giải. Hãy mau trình chỗ chẳng liễu giải cho lão tăng xem. Tín vị
của con hiển, còn nhân vị thì ẩn.
Lần nọ, thấy Ngưỡng Sơn đến, Ngài
liền dùng năm ngón tay vẽ xuống đất. Ngưỡng Sơn dùng cổ tay vẽ
xuống đất, rồi lấy tay che lỗ tai, rồi kêu to tiếng phấn chấn ba
năm lần. Ngài thấy thế liền đi nghỉ.
Thấy Ngưỡng Sơn và Hương Nghiêm đang
làm bánh, Ngài bảo:
-Bấy giờ, tiên sư Bá Trượng tự thân
đắc đạo lý.
Ngưỡng Sơn và Hương Nghiêm đồng quay
đầu lại nói:
-Ai đáp được lời đó?
-Có một người đáp được.
Ngưỡng Sơn thưa:
-Là A Nan?
Ngài chỉ con trâu đực, nói:
-Nói, nói!
Ngưỡng Sơn đem bó cỏ
đến, và Hương Nghiêm đem thùng nước tới, rồi bỏ trước mặt con trâu;
trâu liền ăn. Ngài bảo:
-Cùng cái gì, cùng cái
gì? Chẳng cùng cái gì, chẳng cùng cái gì?
Ngưỡng Sơn và Hương Nghiêm cả hai
đều lễ bái. Ngài bảo:
-Có lúc sáng, có lúc tối.
Ngày nọ, thấy đệ tử họ
Tác trình kệ, Ngài bảo:
-Ngoài âm thanh sắc
tướng cùng Ta gặp nhau.
Bấy giờ có thượng tọa
Giám Hoằng ở U Châu tới, trình kệ, nói:
-Không thể nói ra người
đó chẳng có mắt.
Ngài chẳng chịu. Ngưỡng
Sơn nói:
-Có ba bước trình kệ. Kệ
thứ nhất nói rằng “Kiến thủ, bất kiến thủ”.
Ngài bảo:
-Vi tế như đầu lông.
Lạnh như sương tuyết.
-Câu kệ thứ hai nói rằng
“Ngoài âm thanh sắc tướng ai mong gặp gỡ”.
-Lại vướng ngoài giường
Thanh Văn.
-Câu kệ thứ ba “Như hai
tấm kiếng chiếu lẫn nhau, mà trong đó không có hình tượng.
-Ðây mới là lời chính.
Ngưỡng Sơn lại hỏi:
-Ở nơi sư ông Bá Trượng,
Hòa Thượng trình kệ thế nào?
Ngài bảo:
-Ta ở chỗ tiên sư Bá
Trượng trình kệ như vầy: “Như trăm ngàn tấm gương phản chiếu ảnh
tượng với nhau, ánh sáng phản chiếu, biết bao cảnh giới, mỗi mỗi
chẳng vay mượn nhau.
Ngưỡng Sơn liền lễ bái.
Ngày nọ, Ngài hỏi Hương
Nghiêm:
-Ta nghe nói rằng lúc ở
chỗ tiên sư Bá Trượng, nghe hỏi một thì ông đáp mười. Hỏi mười thì
ông đáp một trăm. Ðây là ông thông minh lanh lợi, giải thích theo
ý thức vọng tưởng. Bàn về cội gốc sanh tử, lúc chưa được cha mẹ
sanh ra, hãy nói một câu thử xem?
Hương Nghiêm bị hỏi như
thế, lúng túng hoang mang, trở về phòng đem tất cả văn tự ngữ ngôn
ghi chép hằng ngày để tìm kiếm nghĩa lý đối đáp. Tuy nhiên, suy
nghĩ mãi cũng chẳng được, nên tự than rằng “Bánh vẽ không thể làm
no lòng”. Vì vậy, Hương Nghiêm đến cầu Ngài giải thích cho. Ngài
bảo:
-Nếu Ta nói giùm ông,
thì sau này ông sẽ mắng ta. Ta nói là chuyện của Ta, chứ chẳng
liên can gì đến ông.
Hương Nghiêm bèn đem hết
sách vở hằng ngày đốt quách cả, và tự nói rằng từ nay về sau không
học Phật pháp nữa, chỉ lo việc nấu cơm cháo cho chư tăng để giữ
tâm thần thanh tịnh. Về sau, Hương Nghiêm xin cáo từ Ngài, đi
thẳng đến Nam Dương nơi di tích của quốc sư Huệ Trung, rồi trụ lại
đó. Một hôm, do cuốc cỏ trên núi, Hương Nghiêm lượm hòn gạch, rồi
ném trúng cây tre nghe tiếng vang, nên chợt tỉnh ngộ cười giòn.
Hương Nghiêm trở về tắm gội, thắp hương nhắm hướng Quy Sơn, đảnh
lễ, tán than rằng: "Hòa Thượng thật từ bi, ơn như cha mẹ. Lúc
trước, nếu trả lời giùm con thì đâu có ngày hôm nay!”
Nói xong, Hương Nghiêm bèn thuyết
bài kệ:
“Một tiếng quên sở tri
Chẳng cần giả tu trì
Ðổi sắc bày đường xưa
Chẳng rơi cơ lặng yên
Nơi nơi không dấu vết
Oai nghi ngoài sắc,
thanh