|
Thưở
ấu thơ, khi vui
đùa, chúng ta
luôn nở những nụ
cười hồn nhiên
ngây thơ trong
trắng, không hàm
chứa bất cự sụ
tính toán mưu
toan. Tuy nhiên,
đến khi lớn khôn,
chập chững bước
vào đời, chúng
ta bắt đầu huân
tập những nụ
cười mất vẻ :hồnnhiê”
thưở nào, như nụ
cười chan hòa
với nước mắt, nụ
cười chế giễu,
nụ cười khinh
khi, nụ cười
đắtc thắng, nụ
cười đầy bí hiểm,
v.v… Đặc biệt,
vào những dịp lễ
Tết, tiệc tùng,
hội đàm, v.v…,
chúng ta trao
cho nhau những
nụ cười chân
thật hay giả dối
tùy theo tâm
niệm của mỗi cá
nhân. Đường
nhiên, vào lúc
đó, người đối
diện sẽ cảm nhận
và đánh giá phần
nào về tâm tư
của chúng ta tùy
theo nụ cười
trên môi. Nếu
chúng ta chỉ nở
nụ cười gượng
gạo như đeo mặt
nạ thì dĩ nhiên
người khác chỉ
hỏi chuyện qua
loa rồi lặng lẽ
bỏ đi chỗ khác.
Ngược lại, nếu
nụ cười chân
thật hồn nhiên
đầy sự hiểu biết
cám thong thì
người khác có
thể sẽ cảm nhận
được tâm tư hiền
từ chân thật của
mình mà đứng lại
trao đổi lời xã
giao lâu hơn.
Thật vậy, từ
châu Mỹ đến châu
Phi, từ châu Á
đến châu Âu, từ
các đảo quốc
châu Đại Dương
đến các vùng cực
lạnh giá, nụ
cười chân thật
hồn nhiên vẫn
luôn là hanh vi
năng động cải
thiện sức khỏe
và thể lực con
người, là một
hành vi hỷ xả,
là chất keo sơn
hàn gắn những
rạn nứt ưu phiền
trong gia đình,
ngoài xã hội và
đem con ngươờ
gần lại với nhau.
Bàn về nụ cười
vui vẻ hồn nhiên
giúp tăng cường
sức khỏe, nhà
khoa học Lennart
Levi thuộc viện
nghiên cứu
Karolinska tại
Stockholm (Thụy
Điển) công bố
kết quả nghiên
cứu của mình
rằng việc xem
hài kịch khiến
cho hệ miễn
nhiễm trong cơ
thể hoạt động
mạnh.
Chuyên gia James
Rotton của
trường đại học
Harward cho biết
rằng những bệnh
nhân phẫu thuật
chỉnh hình nếu
thường xem phim
tình cảm thì
dung nhiều thuốc
an thần hơn là
những bệnh nhân
xem phim hài
hước.
Giáo sư tâm lý
học Rosemary
Cogan trường đại
học Công Nghệ
Texas đã nhận
thấy rằng những
đối tượng thử
nghiệm luôn cười
khi xem phim qua
các phim hoài
hước hoặc trải
qua những lúc
thư thả an lạc
thì coóthả năng
chịu đựng hơn
những đối tượng
khác.
Tựu chung, nhờ
có những phút
giây thênh thang
tự tại cùng với
những nụ cươi
hồn nhiên mà tự
trị được than
bệnh cũng như
tâm bệnh.
Một câu chuyện
thật nới về tình
người được nung
nấu lại qua
những nụ cưiờ hỷ
xả, chân thật,
cảm thông. Trong
quyển Hoàng Tử
Bé (Antointe de
Saint Exupéry)
một cựu phi công
ở Tây Ban Nha kể
lại rằng: “Khị
bị địch bắt, tôi
tin mình sẽ bị
giết chết qua
cách đổi xử của
tên cai ngục.
Lần nọ, vừa tìm
được điếu thốc
lá còn lại trong
túi áo, tôi hỏi
tên cai ngục
châm điếu thuốc
giùm vì đã bị
tịch thu diêm
quẹt. Tuy tránh
cái nhìn của tôi,
hắn nhún vai và
đi tới mồi điếu
thuốc cho tôi.
Lúc đó, tự nhiên
tôi lại mỉm cười
khi hắn vừa bật
diêm quẹt, mà
không biết có lẽ
bị khích thích
qúa chăng, hay
là chúng tôi qúa
gần gũi đến độ
chẳng nín cười
được. Ngay khi
ấy một tia sáng
của tình người
tỏa rực lên bên
trong của chúng
tôi, khiến anh
ta vừa tiếp tục
châm điếu thuốc,
vừa nhìn thẳng
vào mắt tôi mỉm
cười. Lúc đó,
tôi không còn
xem anh ta là
tên cai ngục nữa,
mà là một người
bạn than thiết.
Sau khi trao đổi
với nhau về
truyện gia đình,
anh ta mở cửa
phòng giam, dẫn
tôi ra khỏi
thành phố, mở
trói phóng thích
tôi, rồi lặng lẽ
trở về. Lạ thay,
chỉ với một nụ
cười mà cứu mạng
tôi.”
Cảnh thanh tịnh
cũng giúp chúng
ta giải toả
những phiễn não
và phát triển
tâm hỷ xả. Bước
vào chánh điện ở
các Chùa, lòng
chúng ta thanh
thản an lạc bỏ
lại những phiền
muộn ngoài đồi
khi vừa thấy
tượng Bồ Tát Di
Lặc miệng nở một
nụ cười bao dung
hỷ xả với sáu
chú bé leo trèo
trên mình; đúa
thì quậy lỗ tai,
đứa thì ngoáy lỗ
mữ, đứa thì
ngoáy miệng. Sáu
chú bé tượng
trưng cho sáu
căn mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân,
khấu, ý. Sáu săn
đó chính là sáu
tên giạc thường
trộm cướp công
đúc lành của
chúng ta. Trong
kinh Lăng Nghiêm,
đức Phật dạy
rằng chính sáu
căn này dẫn dắt
chúng sanh trôi
lăn trông sanh
tử luân hồi. Tại
sao? Mắt vừa
thấy hình sắc
nam nữ đẹp đẽ
đoan trang, liền
tham lam đắm
trước, vừa thấy
những hnìh tướng
xấu xa liền khởi
niệm nhàm chán
ghét bỏ. Tai vừa
nghe lời khen
liền khởi tâm
cống cao ngã mạn;
vừa nghe tiếng
chê liền khởi
tâm bực dọc tức
tối. Mũu ngửi
mùi thôm ngon
liền đắm vào,
còn mũi ngửi mùi
hôi liền tránh
xa. Do bị lưỡi
sai khiến nên
suốt ngày lòng
đong vất vả để
mua món ngon vật
lạ. Thân đám
đuối trong nhung
lụa êm ấm. Ý
thường nghĩ
những chuyện
tham lam, sân
hận, cống cao
ngã mạn.
Dù bị sáu tên
giạc đó quấy phá,
nhưng Bồ Tát Di
Lặc vẫn tự tại
mỉm cười. Dù mắt
có nhìn hình sắc
xấu đẹp gì, tai
có nghe lời khen
tiếng chê gì,
mũi có ngửi mùi
gì, lưỡi có nếm
vị gì, thân có
xúc chạm vật gì,
ý có tác khởi
điều gì, tâm
ngài vẫn an
nhiên tự tại
giải thoát ngay
nơi sáu căn. Như
trong kinh Lăng
Nghiêm đức Phật
dậy rằng muốn
được giải thoát
hay không, cũng
tu ngay nơi sáu
căn; tức là
không để sáu căn
đó dính với sáu
trần, thì lúc
nào tâm tưởng
cũng an nhiên tự
tại, dù gặp
thuận cánh hay
nghịch cảnh cũng
dẽ dàng nở nụ
cười thanh thản
hồn nhiên.
Trong cuộc sống
hang ngày lúc
gặp nhau, con
người chưa có
thể trao cho
nhau những nụ
cuời chân thật
hồn nhiên là vì
chúng ta còn làm
nô lệ cho sáu
căn đó, điển
hình nhất là qua
những gút mắc
trong cách nhìn,
cách nghe, cách
nói năng ăn mặc.
Ví dụ, chúng ta
thường đeo những
cặp mắt kính đủ
loại màu sắc.
Khi nhìn với cặp
mắt kính đen thì
chúng ta nhìn
tất cả cảnh vật
với màu đen;
nghĩa là khi
buồn bực vì bất
cứ chuyện gì,
chúng ta dường
như cảm thấy cả
bầu trời đều đen
xám tối om. Lúc
nhìn qua mắt
kính mầu hồng,
lại thấy muôn
vật đều mầu hồng;
nghĩa là khi tâm
vui vẻ thì con
người và cảnh
vật chung quanh
đều vui tươi nếu
mở những cặp mắt
kính mầu đó ra,
chúng ta sẽ thấy
rõ chân tướng
của sự vật hơn.
Nghĩa là khi
buông bỏ những
thành kiến chấp
trước, trong
lòng sẽ tràn đầy
niềm vui hỷ xả,
sãn sang tha thứ
lỗi lầm cho mình
và người.
Gần đây ở Việt
Nam có vở kịch
“Biến” (tác giả
Lê Duy Hạnh và
đạo diễn Trần
Ngọc Châu, nhà
hát kịch T.P Sài
Gòn dàn dựng)
diễn đạt lòng hỷ
xả giữa con
người của hai
chế độ. Ông Thân,
người theo chế
độ Cộng Hòa đã
từng truy bắt
một cánh binh
Cộng Sản nằm
vùng trưóc 1975.
Sau này ông vượt
biên tỵ nạn Cộng
Sản. Do vẫn còn
nặng tình tự dân
tộc, nên ông làm
một trang
website về nghệ
thuật hát bội
của người Việt
để giới thiệu
cho khắp thế
giới biết đến.
Cô Thu, con của
ông Thân, nhờ
viết luận án
tiến sĩ về nghệ
thuật hát bội mà
tìm đến học tập
với hai vợ chồng
nghệ sĩ lão
thành. Vợ chồng
nghệ sĩ đó đâu
ngờ cô Thu chinh
là con của kẻ đã
từng là kẻ thù
không đội trời
chung của cha
mình. Về sau,
mọi sự oán thù
xương máu cũng
như lý tưởng
chính trị giữa
họ, những người
ở hai chiến
tuyến khi xưa,
nay được giải
tỏa nhờ có chung
niền vui say mê
nghệ thuật hát
bội, cộng với
tình yêu quê
hương dân tộc
qua những nụ
cười hỷ xả và
thông cảm.
Ngoài ra, cũng
nhờ có cùng niềm
tin tôn giáo,
nhất là đã quy y
Tam Bảo, biết
bao Phật tứ đã
nối lại tình
người nồng ấm
bằng cách trao
cho nhau những
nụ cười và tấm
lòng hỷ xả tha
thứ như ngài Di
Lặc mỗi khi đến
chùa lễ Phật,
sau bao năm mê
mờ tạo tác oán
thù chồng chất
với nhau vì khác
ý thức hệ.
Tóm lại, nhân
dịp đầu năm, để
giữ mãi một nụ
cười hồn nhiên
trọn vẹn hầu
mong giúp cho
thân tâm được
lành mạnh trong
sang, chúng ta
hãy buông bỏ mọi
chấp trước, tha
thứ những lỗi
lầm của kẻ khác,
và vui vẻ chấp
nhận tất cả hoàn
cảnh thuận
nghịch.
Xuân Qúy Mùi –
2003
|