|
Trên
thế gian, không
ai có thể tránh
khỏi lẽ vô
thường của sanh,
già, bịnh, chết.
Để biết thêm về
những nỗi khổ
của người mẹ
cũng như thai
nhi, chúng ta
hãy cùng nhau
đọc qua lời Phật
dạy về sự xuất
sanh trong kinh
Đại Bảo Tích,
pháp hội Phật
Thuyết Nhơn Xử
Thai, quyển 4.
Đức Phật dạy
rằng nếu duyên
chưa đủ thì
chúng sanh không
thể thọ thân.
Nghĩa là, dù lúc
cha mẹ phát khởi
tâm ái nhiễm và
trung ấm ngay
lúc đó muốn tìm
chỗ thọ sanh,
nhưng tinh cha
huyết mẹ không
cùng hòa hiệp
đúng lúc, và
trong thân cha
hay mẹ có các
thứ bịnh hoạn.
Ví dụ, nếu thai
tạng của
người mẹ,
hoặc có bịnh
phong hoàn khí
huyết bế tắc,
hoặc mỡ bế
tắc, hoặc
thịt tăng kết,
hoặc bịnh
chất mặn,
bịnh bụng lúa
mạch, bịnh
lưng eo kiến,
hoặc như miệng
lạc đà, như gỗ
cong càng xe,
như trục bánh
xe, như miệng
cốt bánh xe,
như lá cây,
hoặc cong vòng
như măng tre
cong, hoặc
phía trong thai
tạng như tua
hột lúa mạch,
hoặc tinh
huyết rỉ chảy
nhiều chẳng
dứt, hoặc
bịnh đái hạ
chảy nước,
hoặc đường
thai tạng quá
rít, hoặc trên
nhọn dưới
nhọn, hoặc
cong, hoặc cạn,
hoặc lủng lọt,
hoặc cao, hoặc
thấp, hoặc
ngắn nhỏ, và
các tạp bịnh,
thì thân trung
ấm không nhập
bào thai được.
Cũng vậy, theo y
khoa, người phụ
nữ bị sẩy thai
vì nhiều nguyên
nhân như hội
chứng đa u nang
buồng trứng, hệ
miễn dịch rối
loạn, tử cung có
vấn đề, chất nội
tiết tố mất quân
bình, nhiễm sắc
thể bất bình
thường, bịnh
tiểu đường, đau
tuyến giáp, đau
tim, đau gan,
đau thận, nhiễm
trùng vì bịnh u
sơ tử cung, v.v…
Ngoài ra, đức
Phật dạy rằng
thân trung ấm
ấy lúc muốn
thọ thai trước
phát khởi hai
quan niệm điên
đảo. Lúc cha
mẹ hòa hiệp,
nếu trung ấm
nam thì đối
với mẹ sanh
lòng yêu, với
cha sanh lòng
giận; lúc cha
chảy tinh thì
cho là của
mình. Nếu
trung ấm nữ
thì đối với
mẹ sanh lòng
giận, với cha
sanh lòng yêu;
lúc mẹ chảy
nhớt thì cho
là của mình.
Nếu trung ấm
không khởi
lòng yêu giận
ấy thì không
thọ sanh.
Chúng sanh trôi
lăn trong vòng
sanh tử luân hồi
chỉ vì hai niệm
thương và ghét,
hay yêu và giận.
Vì thế, chỉ có
ai không còn tâm
niệm thương hay
ghét thì mới
thong dong tự
tại, không bị
nghiệp sanh tử
cuốn trôi. Thiền
sư Trì Bát
(1047-1117) ở
Việt Nam có làm
bài kệ:
“Có chết ắt có
sanh. Có sanh ắt
có chết. Chết
thì người đời
buồn. Sanh là
người đời vui.
Buồn, vui hai
không cùng, chợt
vậy thành kia
đây, đối sống
chết không để
lòng. Án Tô Rô
Tô Rô Tất Rị”.
Đức Phật lại dạy
thêm rằng hoặc
cha mẹ tôn quí
có phước đức
lớn mà trung
ấm ti tiện,
hoặc trung ấm
tôn quí có
phước đức lớn
mà cha mẹ ti
tiện, hoặc
đều có phước
đức mà không
nghiệp tương
cảm, nếu như
vậy thì thân
trung ấm cũng
chẳng nhập
thai.
Nghĩa là đa phần
thân trung ấm
chỉ thọ thai vào
gia đình có
nghiệp lực và
phước báo tương
đương. Ví như
lúc muốn mua nhà
hay xe, chúng ta
phải chọn căn
nhà hay chiếc xe
đó vừa với túi
tiền hay đồng
lương của mình.
Nếu quá nghèo
thì không thể
mua chúng theo ý
thích của mình,
còn nếu quá giàu
thì không muốn ở
những căn nhà
lụp xụp hay chạy
xe cũ kỹ. Căn
nhà hay chiếc xe
tựa như bào thai
mà thân trung ấm
gá vào.
Ðức Phật cũng
dạy rằng thân
trung ấm chỉ thọ
thai khi cha mẹ
khởi lòng ái
nhiễm, nguyệt
kỳ đều thuận,
không có các
căn bịnh và
những lỗi như
trên, nghiệp
duyên đầy đủ.
Trung ấm ấy
lúc muốn nhập
thai còn có
hai thứ: Một
là không phước
đức, hai là
có phước đức
lớn. Trung ấm
không phước
đức, tâm giác
quán khởi lên
thấy cảnh
giới liền nghĩ
rằng: Nay tôi
gặp gió lạnh
mưa tối, người
đông ồn ào,
nhiều oai dữ
đến bức hại;
do đó trung ấm
sợ hãi mà
nghĩ rằng: Nay
tôi phải chạy
vào nhà cỏ,
nhà lá, hoặc
ẩn trốn chưn
tường, hoặc
chạy vào núi,
chằm, rừng
rậm, hang động,
lại còn phát
sanh nhiều thứ
thấy khác nữa.
Tùy theo chỗ
nghĩ thấy bèn
nhập vào thai
mẹ.
Trung ấm lúc
vừa vào thai mẹ,
nương chất bất
tịnh của cha
mẹ và nghiệp
quá khứ của
nó mà được
thọ thân.
Nghiệp ấy và
trong các duyên
cha mẹ đều
riêng chẳng tự
sanh, do sức
hòa hiệp mà
thọ thân. Ví
như nương nơi
cỏ xanh, phân
bò, táo và
sữa mà đều
riêng sanh côn
trùng. Trong
mỗi thứ không
có côn trùng,
chỉ do nhờ nhân
duyên mà chúng
sanh trưởng.
Lúc sanh trưởng,
mỗi côn trùng
đều riêng theo
chỗ nó nương
mà có màu chỗ
đó, hoặc xanh
hoặc vàng đỏ
trắng. Do đó,
chúng ta biết
rằng do chất
bất tịnh của
cha mẹ mà sanh
thân ấy, tìm
trong các duyên
đều chẳng có
thân, cũng
chẳng rời
ngoài các duyên
hòa hợp mà
thọ thai. Bốn
đại của thân ấy
và cha mẹ không
khác nhau. Chất
đất (xương, da,
v.v…) làm chất
cứng; chất nước
(đàm, dãi, v.v…)
làm chất ướt;
chất lửa (trong
thân) làm chất
nóng; chất gió
(hơi thở ra vào)
làm chất động.
Thân đó nếu
chỉ có chất
đất mà không có
chất nước thì
như người bốc
bột hay tro khô
trọn chẳng
hòa hiệp được.
Nếu chỉ có
chất nước mà
không có chất
đất thì như
dầu hay nước
tánh nó lỏng
ướt bèn chảy
tan. Nếu chỉ
có chất đất và
chất nước mà
không chất lửa
thì như mùa
hạ khối thịt
tươi để chỗ
râm không nắng
chiếu nó sẽ
thúi rã. Nếu
chỉ có chất
đất, chất nước,
chất lửa mà
không có chất
gió thì chẳng
tăng trưởng như
có người thợ
và đệ tử
giỏi nghề
thổi đường
làm thành
nhiều món
trong ruột
trống bọng,
nếu không sức
gió thổi thì
chẳng nên được.
Tánh của bốn
chất đó y trì
lẫn nhau mà
được kiến lập.
Vì vậy, thân
thai nhi nhờ bốn
chất đất, nước,
gió, lửa của cha
mẹ và gió
nghiệp mà
được sanh.
Trong mỗi duyên
tự không có bào
thai, chỉ do
sức hòa hiệp
mà được thọ
thân. Ví như
hột giống mới
sạch khéo cất
chứa chẳng cho
trùng ăn, không
hư mục cháy
khô lủng lỗ.
Có người chọn
ruộng tốt chỗ
nhuần ẩm mà
gieo hột giống
ấy rồi muốn
trong một ngày
mầm cây nhánh
lá tậm rợp
bông trái sum
suê thảy đều
đầy đủ thì
không thể được.
Cũng vậy, các
căn (mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân,
ý) của thân thai
nhi đều từ
nhơn duyên thứ
lớp sanh trưởng
mà chúng không
thể sanh trưởng
đầy đủ cùng một
lúc. Thế nên
phải biết dầu
từ cha mẹ mà
có thân ấy,
nhưng tìm trong
các duyên đều
không có, do
sức hòa hiệp
mà có thọ
sanh.
Ở đây, đức Phật
cho chúng ta
biết về nhân
duyên tương ưng,
tâm niệm cũng
như có phước báo
hay không có
phước báo của
thân trung ấm
vừa khi nhập bào
thai mà nền y
khoa chưa đề cập
hay chưa biết
đến. Ngoài ra,
đức Phật còn
nhắc cho chúng
ta nhớ về lý
duyên hợp giả có
của sắc thân bốn
đại (chất đất,
chất nước, chất
gió, chất lửa)
này; nghĩa là
thân trung ấm
nhờ gá vào tinh
cha huyết mẹ (sẽ
phát triển thành
sắc thân bốn đại)
mà thành thai
nhi.
Ðức Phật lại dạy
tiếp về sự hình
thành của thai
nhi trong suốt
38 tuần. Tuần
thứ nhất, thai
nhi vừa hiện ra
như giọt sữa,
trong bảy ngày
hơi nóng nấu
nung bốn chất
đất nước gió lửa
từ từ được hình
thành.
Tuần thứ hai,
lúc ở thai
mẹ, có gió
nghiệp rất nhỏ
nhẹ thổi hông
phải và hông
trái của mẹ
khiến thân
tướng thai nhi
từ từ hiện ra,
dạng như sữa
đặc, hoặc như
sữa đọng; hơi
nóng nấu nung
khiến bốn chất
đất nước gió lửa
trong thân từ từ
hình thành.
Tuần thứ ba,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
thai nhi dần dà
ngưng kết,
chuyển làm bế
thủ dạng như
chầy đâm thuốc
mà ngắn nhỏ.
Ở trong thai
hơi nóng nấu
nung bốn chất
ấy lần tăng
trưởng.
Tuần thứ tư,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
bế thủ chuyển
dạng như đá
ấm, hơi nóng
nấu nung bốn
chất đó lần lần
tăng.
Tuần thứ năm,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
các mụt vỡ ra
xuất hiện hai
vai hai vế và
thân đầu; như
tháng mùa cây
cối cành lộc
phát sanh, sức
gió nhơn duyên
các bóng mụt
xuất hiện
cũng vậy.
Tuần thứ sáu,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
bốn tướng
xuất hiện, đó
là hai gối và
hai cánh.
Tuần thứ bảy,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
có bốn tướng
xuất hiện, đó
là hai bàn
chưn và hai bàn
tay; bốn tướng
này mềm dịu
như khối bọt.
Tuần thứ tám,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
có hai mươi
tướng xuất
hiện; đó là
tướng hai mươi
ngón chưn tay;
như mưa xuống
nhánh chồi
lần được tăng
trưởng, do sức
gió nghiệp
các căn hiện
ra cũng vậy.
Tuần thứ chín,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
hiện ra chín
tướng, đó là
hai mắt, hai
tai, hai lỗ
mũi, miệng và
chỗ đại tiện
tiểu tiện.
Tuần thứ mười,
lúc ở thai mẹ
lại cảm gió
nghiệp, khiến
thân thai nhi
cứng chắc.
Lại có gió
nghiệp thổi
thân trong thai
khiến đều nổi
phồng như trái
ổi.
Tuần thứ mười
một, lúc ở
thai mẹ lại
có cảm gió
nghiệp ở tại
trong thai hoặc
lên hoặc xuống
khiến các lỗ
trên thân đều
được thông
suốt, cũng do
sức gió khiến
người mang thai
hoặc buồn
hoặc vui đi
đứng ngồi nằm
tánh nết đổi
khác; tay chân
vận động
khiến các lỗ
thân thai lần
tăng trưởng; ở
trong lỗ miệng
chảy ra máu
đen; trong lỗ
mũi chảy ra
nước dơ; gió
nghiệp đó thổi
chuyển rồi
dứt.
Tuần thứ mười
hai, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến trong thân
thai giữa hai
hông sanh đại
trường tiểu
trường như tơ
sen hoặc như
nhợ sen để
trên đất, cuộn
mười tám vòng
ở trong thân.
Lại có gió
nghiệp khiến
phát sanh ba
trăm hai mươi
chi tiết và
trăm lẻ một
huyệt trong
thân thai.
Tuần thứ mười
ba, lúc ở thai
mẹ lại cảm
gió nghiệp,
khiến thân thai
trống gầy sanh
ý tưởng đói
khát; bà mẹ
ăn uống có
chất bổ dưỡng
liền thấm nuôi
thân thai từ lỗ
rốn và các
huyệt.
Tuần thứ mười
bốn, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến sanh chín
trăm gân giao
kết trước sau
và hai bên thân.
Tuần thứ mười
lăm, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến sanh hai
mươi mạch chất
bổ uống ăn
chảy vào các
mạch ấy nhuần
ích nơi thân.
Phía trước,
phía sau, bên
trái, và bên
phải của thân
đều riêng có
năm mạch. Mỗi
mạch ấy đều
riêng có bốn
mươi mạch nhỏ.
Mỗi mạch nhỏ
ấy lại đều
riêng có một
trăm chi nhỏ.
Phía trước,
phía sau, bên
phải, bên trái
của thân đều có
hai mươi ngàn
chi mạch nhỏ.
Tám mươi ngàn
chi mạch lớn
nhỏ như vậy
sanh nơi thân
ấy, và nó
còn có nhiều
màu sắc, đó
là xanh vàng
đỏ trắng màu
sữa đặc, màu
sữa lỏng, màu
dầu. Mỗi chi
mạch có rễ
riêng; trên mỗi
rễ sanh một lỗ
hoặc hai lỗ
cho đến bảy lỗ;
mỗi lỗ đều
liền nhau với
lỗ lông, như rễ
sen có các lỗ.
Tuần thứ mười
sáu, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến làm cho
mắt tai mũi
miệng ngực ức,
bốn bên ba
tạng, chỗ
chín lỗ đều
khai phát hơi
thở ra vào
trên dưới thông
suốt không
chướng ngại.
Do người mẹ có
uống ăn nên
tươi nhuận thân
ấy; có chỗ
ngừng chứa
lại hay tiêu
hóa theo phía
dưới chảy ra.
Như thợ gốm và
đệ tử giỏi
nhồi bùn bố
trí vòng dây
dưới trên xoay
chuyển tạo
thành đồ vật.
Cũng vậy, do
sức gió và
nghiệp thiện
ác khiến mắt
tai v.v... lần
lần đầy đủ.
Tuần thứ mười
bảy, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến hai mắt
được sáng
sạch, các căn
tai mũi thành
tựu, ví như
có mặt gương
bị bụi đóng,
hoặc dùng bột
gạch và dầu
tro chùi lau
cho sạch.
Tuần thứ mười
tám, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến cho các
căn lần hoàn
thành mà còn
sáng sạch, ví
như lúc mặt trời
mặt trăng bị
mây mù che
khuất, gió
mạnh bỗng nổi
lên, khiến thổi
tan mây mù và
ánh sáng mặt
trời mặt trăng
liền tỏa sáng.
Tuần thứ mười
chín, lúc ở
thai mẹ do sức
gió nghiệp
trước mà hình
thành bốn căn
mắt, tai, mũi,
lưỡi. Lúc vừa
nhập thai đã
có ba căn là
thân căn mạng
căn và ý căn.
Như vậy đến
đây các căn
đều đầy đủ.
Tuần thứ hai
mươi, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến trong
thân sanh các
thứ xương.
Trong mỗi chân
sanh hai mươi
xương, gót có
bốn, mắt cá
có hai, gối
có hai, vế có
hai, eo lưng có
ba, xương sống
có mười tám,
sườn có hai
mươi bốn, ngực
có mười ba,
mỗi tay có hai
mươi, cánh có
bốn, vai có
hai, hàm có
hai, sọ có
bốn và gốc
răng có ba mươi
hai. Ví như thợ
điêu khắc và
đệ tử trước
dùng gỗ cứng
sau dùng dây
mực tạo thành
hình tượng,
đầu chưa đắp
bùn mà bấy
giờ gọi là
cốt tượng, do
sức gió
nghiệp lúc
sanh các xương
cũng vậy.
Trong bảy ngày
nầy, trừ các
xương nhỏ còn
các xương lớn
được sanh số
có hai trăm
cái.
Tuần thứ hai
mươi mốt, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến sanh thịt
trên thân. Ví
như thợ hồ và
đệ tử đem hồ
tô tường vách,
do sức gió
nghiệp hay sanh
thịt trên thân
cũng vậy.
Tuần thứ hai
mươi hai, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến sanh máu
huyết.
Tuần thứ hai
mươi ba, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến sanh da
nơi thân.
Tuần thứ hai
mươi bốn, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến làm cho
da thứa được
điều hòa bằng
phẳng sắc
sáng nhuần
bóng.
Tuần thứ hai
mươi lăm, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiếǹ máu
thịt tăng
trưởng.
Tuần thứ hai
mươi sáu, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến sanh lông
tóc móng, mỗi
thứ đều liền
với các mạch.
Tuần thứ hai
mươi bảy, lúc
ở thai mẹ lại
có gió nghiệp,
khiến làm cho
thân tướng lần
lần hình thành.
Hoặc đời
trước tạo
nghiệp ác bỏn
sẻn chẳng bố
thí, hoặc
chẳng nghe lời
dạy bảo của
cha mẹ sư
trưởng, do
nghiệp ác ấy
nên thân tướng
xấu; nếu thân
cao lớn mập
trắng mềm mại
mà cho là đẹp
thì lại thọ
lấy thân lùn
ốm đen cứng;
hoặc thọ lấy
thân phần
chẳng đầy đủ;
hoặc thọ lấy
thân đui điếc
câm ngọng các
căn chẳng đủ,
giọng nói
người chẳng
muốn nghe, thân
thể xấu xí
như ngạ quỉ;
do nghiệp ác
mà thọ lấy
thân chẳng vừa
ý như vậy; cha
mẹ quyến
thuộc thấy
còn chẳng vui
huống là
người khác.
Nếu đời trước
tạo mười
nghiệp lành ưa
bố thí, không
có lòng gian
tham bỏn xẻn
dua dối phỉnh
gạt, biết nghe
lời cha mẹ sư
trưởng dạy
bảo, thì nhờ đó
mà thọ được
thân không có
các tướng xấu
xí tàn tật,
nhưng đoan trang
xinh đẹp đủ
các tướng tốt,
giọng nói
người thích
nghe, ai thấy
cũng mến ưa;
do nghiệp
thiện mà thọ
được thân
thắng diệu như
vậy.
Thân thai ấy ở
dưới sanh tạng
trên thục tạng,
hơi nóng nấu
nung, nằm chỗ
trói cột như
ở trong túi da.
Người mẹ ăn
nhiều hay ăn
ít, ăn ngon ăn
dở, ăn khô ăn
ướt, ăn đắng
cay mặn chua
nóng lạnh,
hoặc dâm dục,
đi gấp nhảy
nhót, nằm lâu
ngồi lâu, thân
thai điều cảm
thọ khổ não.
Lúc ở thai mẹ
chịu nhiều khổ
bức bách,
loài người
còn vậy huống
là loài địa
ngục khó có
gì để ví dụ
được.
Tuần thứ hai
mươi tám, lúc
ở thai mẹ
phát sanh tám
ý tưởng điên
đảo: Một là
tưởng ngồi xe
cỡi ngựa, hai
là tưởng lầu
gác, ba là
tưởng giường
chõng, bốn là
tưởng suối
chảy, năm là
tưởng ao hồ,
sáu là tưởng
sông rạch, bảy
là tưởng vườn
tược, tám là
tưởng vườn
rộng lớn.
Tuần thứ hai
mươi chín, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến thân thai
sắc sáng
nhuần bóng
các tướng rõ
ràng; tất cả
đều do quá khứ
đã tạo các
nghiệp sai
biệt chẳng
đồng, tùy
hình loại
riêng mà có
các thứ màu
sắc, hoặc màu
trắng, màu đen,
hoặc màu
chẳng trắng
chẳng đen,
hoặc màu xanh,
màu khô khốc,
màu nhuần
bóng.
Tuần thứ ba
mươi, lúc ở
thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiếǹ tóc lông
móng đều tăng
trưởng, và
hiện các ánh
sáng trắng đen,
tùy theo nghiệp
duyên phát
khởi mà sanh
tướng ấy.
Tuần thứ ba
mươi mốt đến
tuần thứ ba
mươi lăm, lúc
ở thai mẹ thân
tướng lớn dần,
lần lần đầy đủ
tướng người.
Tuần thứ ba
mươi sáu, lúc
ở thai mẹ sanh
tâm chán ghét
chẳng vui
thích.
Tuần thứ ba
mươi bảy, lúc
ở thai mẹ
phát khởi năm
ý tưởng điên
đảo: Một là
tưởng bất
tịnh, hai là
tưởng hôi dơ,
ba là tưởng
ngục tù, bốn
là tưởng tối
tăm, năm là
tưởng nhàm
gớm. Đứa con
ở thai sanh
các tâm nhàm
lìa ấy.
Tuần thứ ba
mươi tám, lúc
ở thai mẹ lại
cảm gió nghiệp,
khiến thân liền
xoay chuyển.
Lại có gió
nghiệp làm cho
đầu hướng
xuống, hai tay
duỗi dài làm
muốn sanh ra.
Nếu đứa con
ấy đời trước
từng chứa họp
các nghiệp
đọa lạc làm
cho thân ấy tay
chưn tung hoành
chẳng chuyển
trở được, do
nghiệp ác nên
chết trong
bụng mẹ. Lúc
ấy người mẹ
chịu nhiều đau
khổ hoặc phải
chết. Nếu đứa
con ấy đời
trước tu
nghiệp thiện
tạo nhơn
trường thọ,
lúc sắp sanh
ra mẹ con an
ổn không có
các nạn khổ
như trên.
Qua tuần thứ ba
mươi tám rồi,
lúc sắp sanh
ra chịu các sự
đau khổ mới
sanh được. Do
đó nên biết
rằng thọ lấy
thân ấy thiệt
là khổ lớn.
Ðó là lời Phật
dạy, miêu tả sự
hình thành thai
nhi trong bào
thai qua suốt 38
tuần.
Theo y khoa,
thai nhi hình
thành trong bốn
mươi tuần như
sau: Hai tuần
đầu: Tinh trùng
vừa nhập vào
trứng thì hình
thành sự thọ
thai cho đến khi
nó đến buồng
trứng khoảng 3-4
ngày sau.
Tuần thứ 4: Phôi
thai trôi nổi tự
do trong tử cung
khoảng 48 giờ
trước khi cấy
thai. Sau đó, sự
liên hệ phức tạp
giữa người mẹ và
thai nhi tạo
thành rau thai.
Tuần |