|
PHẦN THỨ
2C
THÂN QUYẾN CỦA ÐẠI ÐỨC
SÀRÌPUTTA
Như chúng ta đã biết,
Ðại Ðức Sàrìputta sinh trưởng trong một gia đình Bà-la-môn giáo
(Brahmin) thuộc làng Upatissa (còn gọi là Nàlaka) gần thành Ràjagaha
(Vương Xá). Thân sinh Ngài là ông Vaganta và thân mẫu Ngài là bà
Sàrì. Ngài còn ba người em trai tên là Cunda, Upasena, Revata và ba
chị em gái là các nàng Càlà, Upacàlà và Sìsupacàlà.
Cả sáu người này đều
lần lượt xuất gia và đắc quả A-la-hán.
Ông Cunda sau này có
tên là Samanuddesa có nghĩa là "Môn đồ non nớt" trong hàng chư Tăng,
mặc dù đã thụ Tỳ-khưu giới. Lúc ấy Tăng chúng gọi như thế là để phân
biệt ông với đức Trưởng lão Mahà Cunda.
Khi Ðại Ðức Sàrìputta
tịch diệt, Cunda là vị làm chủ táng, và cũng là người đi thông báo
cho đức Phật biết, đồng thời dâng cốt thể đến Phật vì đó là Thánh
tích của một vị Ðại tôn đồ.
Câu chuyện được ghi
lại trong kinh Cunda. Phần tóm lược của nó sẽ được trình bày thêm
trong cuốn sách này.
Ông Upasena sau được
gọi là Vagantaputta, hay "Con trai nhà Vaganta" (cũng như Ðại Ðức
Sàrìputta có nghĩa là con trai của bà Sàrì) đã được đức Phật khen
ngợi như là một trong những Tỳ-khưu gương mẫu, luôn luôn giữ một
thói sống thanh tịnh bằng pháp Tri túc (Samantap Pàsàdika). Theo bộ
Salàyatana SAMYUTTA, chương 7, kinh số 7 thuật lại thì ông ta đã
tịch vì bị rắn cắn.
Revata là người em
trai nhỏ tuổi nhất, và chính mẹ ông đã muốn ngăn cản việc xuất gia
bằng cách cưới vợ cho ông khi ông còn là một thiếu niên. Nhưng ngay
vào ngày đám cưới, ông đã trông thấy bà nội của người vợ tương lai,
một cụ già một trăm hai mươi tuổi, tàn tạ với nét già yếu. Ông lập
tức trở nên ghê sợ cuộc sống ở đời, bèn lìa khỏi hôn lễ và trốn vào
một ngôi chùa để xin xuất gia.
Vào những năm sau,
trên đường đến thăm đức Phật, ông đã dừng chân tạm ngụ tại một khu
rừng đầy cây xiêm gai (Khadìvà vana) và trong thời gian nhập hạ ở đó,
ông đắc quả A-la-hán. Sau đó, người ta gọi ông là Ðại Ðức Revata
Khàdìravaniya (Ngài Revata trong rừng Xiêm gai). Ðức Phật đã xem
Ngài như là người đứng đầu những vị cư ngụ trong rừng ấy.
Còn ba người chị em
gái của Ðại Ðức Sàrìputta là Càlà, Upacàlà và Sisupacàlà, vì muốn
noi gương những người anh, cũng đã trở thành những Tỳ-khưu Ni sau
khi họ đã lập gia đình. Trong thời gian sống với chồng mỗi người đều
có một đứa con trai, và chúng được đặt tên có nghĩa là "theo chân
người mẹ". Các cậu ấy cũng lần lượt "theo chân" như thế. Ba người
này lại được Ðại Ðức Revata Khàdìravaniya cho xuất gia làm Sa Di.
Hạnh kiểm tốt của họ đã được Ðại Ðức Sàrìputta khen ngợi khi Ngài
đến thăm thầy họ bị bệnh. Ðiều này có ghi trong đoạn chú giải của
kinh Theragàthà (Phần V, kệ 42).
Riêng ba nàng Càlà,
Upacàlà và Sìsupacàlà là những Tỳ-khưu Ni được người đời tán tụng
rằng họ đã từng bị Ma vương (Màra) đến gần cám dỗ rồi không thành
thì chất vấn sỉ vả. Nhưng cả ba Tỳ-khưu Ni đã đối phó một cách rất
tuyệt diệu. Những chuyện này được ghi lại trong kệ ngôn Therìgàthà
và kinh Bhikhùnì SAMYUTTA.
Trái ngược với những
nàng này, bà mẹ của Ðại Ðức Sàrìputta lại là một người rất đố kỵ
Phật giáo, chỉ trung thành với đạo Bà-la-môn. Do đó bà đã thường
xuyên phỉ báng Tăng chúng. Trong chú giải kinh Dhammapàda, có một
đoạn thuật lại rằng:
"Một lần nọ, khi Ðại
Ðức Sàrìputta còn ở trong làng cũ Nàlaka của Ngài với một số lớn chư
Tỳ-khưu theo tu học. Ngài bèn về nhà mẹ trong một dịp đi khất thực.
Với Ngài bà đã không thể từ chối, nên mời vào để lo dâng vật thực,
nhưng trong lúc làm như vậy, bà không ngớt tuôn ra những lời quá
khích. Bà nói:
- Ai lại đi ăn những
đồ người ta bố thí. Nhỡ khi ông không được những thứ cháo chua mà
người ta cho, chắc ông phải đi từ nhà này qua nhà khác mà kiếm những
đồ còn lại trên vá trên chén chứ!
Ði xin được chỉ có vậy
mà ông dám bỏ cả gia tài hàng tám chín trăm triệu để làm một ông
thầy tu. Ông đã làm cho tôi mắc cỡ với hàng xóm. Thôi, bây giờ ông
hãy ăn đi.
Và khi bà cho những
vật thực đến các vị Tỳ-khưu khác cùng đến với con bà, bà cũng làm
như thế, bà liền bảo:
Lại mấy ông nữa. Mấy
ông là những kẻ đã theo cái nhóm bắt thằng con trai của tôi đi làm
mọi. Thôi, ăn đi các ông ơi.
Cứ như vậy, bà tiếp
tục lăng nhục chư Tăng. Nhưng Ðại Ðức Sàrìputta chẳng nói một lời
Ngài nhận vật thực rồi dùng và im lặng trở lại tịnh xá.
Ðức Phật biết được
chuyện này do Ðại Ðức Ràhula, người trước đó là một trong những vị
Tỳ-khưu bị bà lăng nhục, thuật lại. Còn tất cả Tăng Chúng khi được
nghe chuyện đó đều ngạc nhiên về sự nhẫn nại không tưởng tượng nổi
của đức Trưởng lão. Sau đó, đức Phật đã khen ngợi Ngài giữa Tăng
chúng bằng cách ngâm bài kệ:
"Kẻ đã trừ bỏ được sự
nóng giận là người có thể làm tròn phận sự của mình một cách chính
đáng. Kẻ biết giữ gìn những lời giáo huấn là người thoát khỏi dục
vọng. Kẻ biết tự chỉ huy lấy mình là biết tạo cho mình một kiếp sinh
sau cùng. Trong Pháp bảo giải thoát, Như Lai gọi kẻ ấy là một vị
Phạm Thiên (Brahma) vậy".
Nhưng đến khi cuộc đời
của Ðại Ðức Sàrìputta gần chấm dứt, chuyện lăng nhục ấy không còn
nữa. Ngài đã cảm hóa được người mẹ. Câu chuyện sẽ được kể sau này.
Và mục đích thuật lại chuyện ấy là cốt đưa chúng ta đến một sự suy
gẫm về những đặc tính tự thắng của một Trưởng lão vĩ đại. Ấy là ba
đức tính khiêm tốn, nhẫn nại và hỷ xả của Ngài.
LỬA SÂN HẬN ÐÃ HOÀN
TOÀN DẬP TẮT
Nhắc lại vùng xung
quanh Kỳ Viên tịnh xá nơi đức Phật đang cư ngụ, có một nhóm rất
nhiều người bàn tán với nhau về những phẩm tính cao thượng của Ðại
Ðức Sàrìputta. Họ nói rằng:
- Với một đức nhẫn nại
như thế, Sa-môn Sàrìputta đã trở nên bậc Vô Ngại. Dù khi có ai lừa
dối hay đánh đập Ngài. Ngài cũng không cảm thấy một ý nghĩ oán hận.
Có một ông Bà-la-môn
là người cố chấp cái thiện kiến sai lạc của mình, đã hỏi:
- Ai là người không
nóng giận đâu?
- Ðó là Ðại Ðức
Sàrìputta.
Ông bèn xuyên tạc: "Ông
ấy không nóng giận bởi vì chẳng có ai khiêu thích ông ta. Và chính
tôi rất rành cách làm cho kẻ khác giận mình".
Một hôm, khi đi khất
thực, Ðại Ðức Sàrìputta đã vào trong thành phố, nơi ông Bà-la-môn có
mặt. Lão Bà-la-môn ác ý này liền tiến gần phía sau Ngài và bất thần
đánh lên lưng Ngài một cái như trời giáng. Ðại Ðức Sàrìputta vẫn
tiếp tục chầm chậm bước đi, mặt cũng không quay lại. Ngài chỉ thản
nhiên nói: "Cái gì vậy kìa?".
Ông Bà-la-môn vừa hổ
thẹn vừa hối hận, ông bèn quì mọp người xuống dưới chân đức Trưởng
lão để tạ tội. Ðại Ðức Sàrìputta tỏ vẻ ngạc nhiên, hiền từ hỏi: "Ông
làm như thế để chi vậy?".
Người Bà-la-môn ngượng
ngập trả lời:
"Thưa Ngài! Vì muốn
thử lòng nhẫn nhục của Ngài nên tôi đã đánh lén Ngài một cái rất tàn
nhẫn. Bây giờ tôi hiểu ra sự thật, xin Ngài tha lỗi cho tôi.
Rồi ông Bà-la-môn tiếp:
"Bạch Ngài. Nếu Ngài sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của tôi, tôi xin thỉnh
Ngài từ nay về sau chỉ đến khất thực trước nhà tôi để tôi được chuộc
tội bằng cách dâng cúng".
Trong khi yêu cầu như
vậy, ông đã cung kính nâng lấy bình bát của đức Trưởng lão. Ngài đã
dịu dàng trao bát lại cho ông và ra dấu bảo ông ta hãy đưa mình về
nhà để dâng hiến vật thực.
Nhưng những người khác
khi thấy ông ta xúc phạm một vị Ðại Sa-môn như vậy, họ trở nên tức
giận, tay cầm gậy gộc tập trung trước nhà ông Bà-la-môn với mục đích
trừng phạt lão già hung ác này.
Khi Ðại Ðức Sàrìputta
nhận vật thực xong bước ra và ông Bà-la-môn theo sau, hai tay bưng
bình bát của Ngài. Thấy vậy họ đồng la lên:
- Bạch Ngài! Xin Ngài
hãy bảo ông Bà-la-môn này quay lại.
Ðức Trưởng lão hỏi: "Này
các đạo hữu tại gia! Tại sao các người làm như vậy?".
Họ đồng trả lời: "Người
này đã vô lý đánh lén Ngài. Và chúng tôi đến đây cốt để trả lại cho
ông cái hành động bất nhân đó".
Ðức Trưởng lão mỉm
cười nói: "Cám ơn các đạo hữu đã có lòng che chở cho bần đạo, và
những kẻ bất bình trước mọi hành động bất thiện là những người tốt.
Nhưng này quí vị thiện tâm! Ông ấy đã đánh quí vị hay đánh bần đạo?".
Tất cả đều trả lời: "Bạch
Ngài! Chính Ngài bị đánh".
Nghe thế đức Trưởng
lão bèn tuyên bố: "Ðược rồi! Nếu chuyện đó xảy ra đến bần đạo thì
ông ta đã sám hối với bần đạo rồi. Bây giờ quí đạo hữu hãy vui vẻ
giải tán".
Sau khi đức Trưởng lão
đã khuyên nhủ đám người trở về xong, Ngài bèn cho phép ông Bà-la-môn
quay vào, rồi im lặng tìm đường trở về tịnh xá. Chuyện này xảy ra
đúng vào lúc đức Phật đang thuyết những câu Pháp Cú Kinh số 389 và
390 (Theo chú giải Dhammapada). Những câu ấy đã nói lên sự giảng
nghĩa của đức Phật về bản chất của ông Bà-la-môn, tức là chỉ rõ tính
thực thà hơn là nghiệp thức do tái sinh. Ngoài ra, Phật cũng gián
tiếp dạy rằng: "Chính tư tưởng phân chia giai cấp đã khiến cho một
số người có hành động ngông cuồng như vậy".
Ðức Phật còn dạy tiếp:
- Ðừng để ai đánh đập
kẻ lầm lỗi ấy. Người có sự hổ thẹn là người sẽ nhận sự trừng phạt
xứng đáng nhất. Chính sự hổ thẹn sẽ làm cho ông bị cắn rứt còn hơn
là nhận lại trăm ngàn cái đánh.
- Thu phục được ông
Bà-la-môn như thế không phải là chuyện dễ. Người nào đã kềm giữ được
tư tưởng của mình khỏi những gì thương yêu trìu mến càng nhanh thì
sự đau đớn sẽ không dày vò thân xác được. Và như vậy sự bực tức
trong nội tâm cũng dần dần biến mất đi.
Tính hướng thiện của
Ðại Ðức Sàrìputta cũng vĩ đại như đức nhẫn nhục của Ngài. Ngài sẵn
sàng ghi nhận mọi sự khuyên bảo của bất cứ ai không những bằng sự
thành thật mà còn với lòng biết ơn nữa.
Trong chú giải kinh
Devaputta SAMYUTTA Susimo có một đoạn thuật rằng:
"Một lần nọ vì vô ý mà
chéo y nội của Ngài lệch đụng xuống đất. Một ông Sa Di bảy tuổi đã
trông thấy và chỉ cho Ngài. Ðại Ðức Sàrìputta liền bước sang một bên
và sửa lại y phục với một thái độ vâng lời và vui vẻ. Sau đó Ngài
tiến đến trước mắt vị Sa Di và đưa tay nói rằng:
- Giờ thì y phục của
tôi đã chỉnh tề rồi Sư ạ.
Ðể ám chỉ đức tính này,
trong kinh Vua Mi Lan Ðà Vấn Ðạo (Milinda Panhà Sutta) còn có mấy
dòng kệ nói về Ðại Ðức Sàrìputta như sau:
"Người nào dù chỉ là
bảy tuổi, nếu nhìn thấy hình thức dễ duôi trước tôi, và chỉ rõ cho
tôi, tôi sẽ sẵn sàng hoan hỷ nhận. Tôi luôn luôn mong mỏi được nhắc
nhở một cách ham thích và nhiệt thành. Tôi còn biết ơn những người
ấy mãi mãi và kính trọng họ như những ông thầy".
Có một lần đức Phật
hiền từ khiển trách Ðại Ðức Sàrìputta vì đã không tiếp độ một kẻ hữu
duyên đến nơi đến chốn. Ðó là câu chuyện liên quan đến người
Bà-la-môn tên Dhànanjàni. Ðại Ðức Sàrìputta ngẫu nhiên đến viếng
nhằm lúc ông này đang đau nặng và thoi thóp trên giường bịnh. Ðức
Trưởng lão vì biết những người Bà-la-môn hằng ngưỡng mộ cõi trời
Phạm Thiên, nên Ngài đã chỉ dẫn cho ông Bà-la-môn sắp chết ấy con
đường đạt tới cõi trời đó bằng những giới hạnh của chư Phạm Thiên.
Kết quả ông Bà-la-môn
đã được sinh lên cõi trời Phạm Thiên thực sự.
Nhưng khi Ðại Ðức
Sàrìputta thăm viếng xong trở về, đức Bổn Sư đã bèn dạy:
- Này Sàrìputta! Trong
khi có nhiều Pháp đẻ đạt được những quả vị cao hơn, sao ông không
cống hiến mà chỉ gieo vào tư tưởng của bịnh nhân chỉ có pháp lành
tới cõi trời Phạm Thiên rồi ông ra về?
Ðại Ðức Sàrìputta trả
lời:
- Bạch đức Thế Tôn! Ðệ
tử nghĩ: "Vì những người Bà-la-môn này luôn luôn ngưỡng mộ cõi trời
Phạm Thiên, nên đệ tử đã không hướng dẫn cho ông Bà-la-môn
Dhànanjàni ấy con đường đạt tới cảnh Phạm Thiên là gì?".
Ðức Phật bảo:
- Nếu nghe được Pháp
bảo cao hơn thì ông ấy có thể đắc vào Thánh đạo. Nhưng bây giờ là
quá muộn vì Dhànanjàni đã chết và đã trở thành một trong những Phạm
Thiên rồi.
Chúng ta tìm thấy câu
chuyện này trong kinh Dhànanjàni, thuộc bộ Majjhima Nikàya như một
sự mô tả rất thâm diệu về thật tính không ưa thích tái sinh của đức
Phật, cho dù đó là sự tái sinh trong cõi trời cao nhất.
Riêng ông Dhànanjàni,
đức Phật xét thấy nếu được tiếp độ đúng mức ông có thể đạt đến quả A
Na Hàm trước khi chết, nghĩa là chỉ tái sinh lại một lần nữa mà thôi.
Bàn về trường hợp ông
Dhànaĩjàni, đây không phải là điều sơ hở của Ðại Ðức Sàrìputta, mà
vì lúc đó đức Trưởng lão chưa đắc được pháp Quán Thế Tâm (Lokiya
Abhinnà) như đức Phật, nên Ngài đã không phân biệt được sự thật đó.
Kết quả, ông Bà-la-môn Dhànaĩjàni ấy phải tốn một thời gian vô lượng
nữa trong cõi trời Phạm Thiên, và sẽ phải sinh làm người trước khi
ông đạt được đạo quả cứu cánh.
(Còn trong kinh
Tevijjà có thuật một vài lần đức Phật đã tiếp độ một số người tới
cõi Phạm Thiên là bởi duyên năng của họ không thể tiến cao hơn được
nữa, chứ không phải đức Thế Tôn đã làm một việc giống như Ðại Ðức
Sàrìputta).
Và Ðại Ðức Sàrìputta
cũng đã nhận một sự khiển trách hiền từ khác nữa của đức Phật lúc
Ngài bạch hỏi đức Bổn Sư tại sao có một số chư Phật trong quá khứ đã
không để cho giáo lý của các Ngài tồn tại lâu dài. Và Ðức Phật đã
trả lời rằng:
- Ðiều ấy là bởi những
vị Toàn Giác đó không thuyết nhiều Pháp bảo, không đặt ra nhiều Giới
luật cho các hàng đệ tử, cũng không tạo nên sự tuyên đọc Biệt Biệt
Giải Thoát Pháp (Pàtimokkha).
Ðại Ðức Sàrìputta lại
bạch tiếp:
- Giờ đây chắc đức Thế
Tôn có nhiều thời gian hơn để ban bố những điều luật và tuyên hạnh
chú đọc Biệt Biệt Giải Thoát Pháp Pàtimokkha để cho đời sống của
Giáo Hội sẽ tồn tại lâu dài?
Ðức Phật bèn dạy:
- Này Sàrìputta! Việc
đó hãy để cho chính đức Tathàgata, bậc có trách nhiệm biết rõ về
thời gian tính ấy. Ðức Thế Tôn sẽ không chế định giáo điều cho các
hàng đệ tử, cũng không khuyên đọc Biệt Biệt Giải Thoát Pháp nữa khi
nào không thấy có những dấu hiệu hư hoại trong hàng Tăng lữ (Theo
Pàràjika Pàli chương mở đầu).
Ðiều quan tâm của vị
Ðại đệ tử ấy chính là Ngài mong mỏi cho Giáo pháp Giải thoát được
bền vững càng lâu càng tốt. Và đó cũng là điềm "Huyền Cơ Khả Mật"
của một vị Phật.
Bất cứ một đấng Toàn
Giác nào cũng vậy: Giáo pháp của Ngài luôn luôn có một tuổi thọ và
tuổi thọ ấy chỉ có đấng Toàn Giác thuyết ra nó rõ mà thôi. Ðức Phật
ấy phải biết trước thời mạt pháp, và Ngài sẽ không để lại bất cứ một
lời dạy nào khi trên thế gian không còn lấy một người có thiện tâm.
Rồi đức Thế Tôn giảng
giải tiếp cho Ðại Ðức Sàrìputta nghe:
- Vào thời mạt pháp đó,
người hành đạo cầu tiến sẽ vô cùng ít ỏi. Và vị Tỳ-khưu sau chót
trong Tăng Già của Như Lai sẽ là ông Sotàpàna. Do đó, thật là tội
nghiệp nếu sau ông Sotàpàna mà còn Phật ngôn để cho người đời đem ra
chế giễu".
ÐẠI ÐỨC SÀRÌPUTTA BỊ
KHIỂN TRÁCH VÌ NHÓM HỌC TRÒ
Theo Càtuma Sutta, tức
kinh số 67 trong Majjhima Nikàya, thì có một lần đức Phật đã khéo
léo khiển trách Trưởng lão Sàrìputta như sau:
"Lúc ấy có một số đông
Tỳ-khưu mới nhập môn, là những đệ tử của hai Ðại Ðức Sàrìputta và
Mahà Moggallàna. Lần đầu tiên họ kéo đến để xin ra mắt đức Phật,
nhưng khi đến nơi lại chia ra làm nhiều nhóm nói lời nhảm nhí với
những Tỳ-khưu đang ngụ trong tịnh xá Càtuma.
Nghe có sự ồn ào, đức
Phật liền tập trung Tăng chúng để hỏi nguyên do. Ngài được biết đó
là sự hỗn loạn bởi những vị Tỳ-khưu mới đến gây ra. Trong kinh không
nói rõ là các vị Tỳ-khưu thăm viếng có mặt lúc Phật hỏi hay không.
Nhưng chắc chắn là họ phải có mặt, vì đức Phật đã nghiêm khắc thốt
ra những lời dạy như sau:
- Này các Tỳ-khưu! Các
ông hãy đi ngay. Như Lai muốn các ông ra khỏi chỗ này lập tức. Các
ông không thể đến gần một vị Phật bằng đức hạnh như vậy.
Bị quở phạt, có một số
Tỳ-khưu kinh sợ bỏ đi, còn một số chỉ có mặt trong đám chứ không gây
ra sự ồn ào đuợc phép ở lại.
Sau đó đức Phật nói
với Ðại Ðức Sàrìputta:
- Này Sàrìputta! Ông
nghĩ như thế nào khi Như Lai đuổi nhóm Tỳ-khưu ấy?
- Bạch đức Thế Tôn! Ðệ
tử nghĩ: "Ðức Thế Tôn muốn giữ mãi sự trang nghiêm thanh tịnh trong
lúc này". Do đó chúng đệ tử phải tôn trọng và vâng lời, rút lui một
cách có trật tự.
Ðức Phật dạy:
- Này Sàrìputta! Dừng
lại! Ðừng để cho những ý nghĩ như thế phát sanh trong ông nữa.
Và đức Phật quay sang
Ðại Ðức Mahà Moggallàna cũng hỏi một câu tương tự.
Ðại Ðức Mahà
Moggallàna trả lời:
- Bạch đức Thế Tôn!
Khi đức Thế Tôn đuổi những vị Tỳ-khưu ấy đi, đệ tử nghĩ rằng: "Ðức
Thế Tôn vì muốn giữ lại sự trang nghiêm thanh tịnh để làm gương giải
thoát cho tất cả nhân loại". Do đó đệ tử và đạo huynh Sàrìputta giờ
đây phải trở về chăm lo Tăng chúng.
Ðức Thế Tôn nói:
- Này Mahà Moggallàna!
Ðúng thế! Ông trả lời đúng đấy! Việc cần thiết hoặc là chính Như
Lai, hoặc là Sàrìputta hoặc là Mahà Moggallàna phải đích thân khuyên
giáo chúng Tăng.
Phần kết thúc, tuy bài
kinh không nêu rõ nhưng chắc chắn là hai Ðại Ðức Sàrìputta và Mahà
Moggallàna đã trở về giáo huấn những học trò của mình một cách
nghiêm khắc và kỹ lưỡng.
ÐẠI ÐỨC SÀRIPUTTA BỊ
VU CÁO
Có một lần đức Phật
ngụ tại Kỳ Viên tịnh xá cùng với đông đảo chúng Tăng, Ðại Ðức
Sàrìputta là nạn nhân của một sự kết tội sai lầm. Chuyện xảy ra như
sau:
Lúc ấy là thời gian ra
hạ, mùa mưa cũng vừa chấm dứt. Chư Tăng phương xa đến nhập tại Kỳ
Viên tịnh xá đang lần lượt kiếu từ đức Phật và những vị Tôn túc để
trở về.
Vì Tăng chúng quá đông
nên khi tạm biệt nhau, Ðại Ðức Sàrìputta đã thành thật tuyên bố một
câu: "Bần đạo chỉ quen nhớ những vị nào theo tên ám chỉ giới hạnh
hơn là tên của gia đình đặt cho họ".
Trong số đó có một vị
Tỳ-khưu, không ai biết tên gọi căn cứ theo giới hạnh của ông là gì
hoặc tên của gia đình đặt cho ông ra sao. Nhưng vì ông hằng mong
muốn Ðại Ðức Sàrìputta gọi ông bằng một cái tên ám chỉ ông là người
Ðức Hạnh, ít nhất cũng trong khi cáo từ nhau.
Tuy nhiên, giữa đám
đông Tăng chúng, Ðại Ðức Trưởng lão đã không cho ông ta sự phân biệt
này. Và vị Tỳ-khưu ấy đã trở nên bất mãn, ông bèn suy nghĩ: "Ngài
không tiếp độ mình như tiếp độ những vị khác?".
Rồi ông ta có mặc cảm
Ðại Ðức Sàrìputta đối xử bất công. Lúc ấy, nhân việc đức Trưởng lão
đi ngang, chéo y của Ngài bị gió phất quét nhẹ lên mình ông, khiến
ông càng bực tức hơn nữa. Ông liền đến gần đức Phật phàn nàn:
- Bạch đức Thế Tôn!
Chắc Ðại Ðức Sàrìputta đang hãnh diện mình là một Ðại đệ tử nên đã
đánh con một tát tay đến nỗi tai con gần như bị hỏng. Sau khi làm
như vậy, Ngài đã không tỏ ra vẻ người hối lỗi với con mà còn bỏ đi
không đếm xỉa gì đến con cả.
Ðức Phật bèn gọi Ðại
Ðức Sàrìputta vào và truyền lệnh đại hội Tăng chúng.
Trong khi chờ đợi, Ðại
Ðức Mahà Moggallàna và Ðại Ðức Ànanda dọ biết rõ có một sự cáo oan
xảy ra, vội gặp gỡ tất cả các nhóm Tỳ-khưu và nói lên rằng:
- Bạch chư huynh đệ!
Xin các Ngài hãy tới dự Tăng hội. Khi Ðại Ðức Sàrìputta đối diện
trước đức Bổn Sư rồi, Ngài chỉ thốt ra những sự thật. Sự thật ấy sẽ
vang rền như tiếng gầm của một con sư tử.
(Câu này dịch sát theo
chữ Pàlì là "Sìhanada" có nghĩa là một giọng nói tự nhiên lẫn trầm
hùng, đảm bảo chắc chắn ấy là sự thật).
Và đúng như điều vừa
nói! Khi đức Bổn Sư chất vấn Trưởng lão Sàrìputta, thay vì Ngài vạch
rõ sự vu cáo, Ngài lại nói:
- Bạch đức Thế Tôn!
Khi một người đã được vững chắc trong đạo quả, làm chủ được bản tâm
rồi, người ấy có thể nào làm đau đớn một đồng đạo của mình mà bỏ đi
không một lời sám hối?
- Bạch đức Thế Tôn! Ðệ
tử của đấng Siêu Xuất tam giới khi đã thuần thục trong Thánh đạo thì
không còn trạng thái sân hận hoặc thù nghịch nữa, trái lại chỉ có
một phẩm tính hỷ xả vô biên như quả đất. Ðại cầu này có bao giờ phản
đối bất cứ vật gì dù dơ hay sạch, dù đẹp hay xấu, dù thuận hay
nghịch mà thế gian vất lên mình nó đâu?
Mặt khác, đệ tử của
đấng Toàn Giác khi đã chứng quả Bất Lai (A-la-hán) thì tham dục
không còn nữa, dù chỉ vi tế trong một sát na thời gian hay trong một
tế bào vật chất.
Theo chú giải kinh
Sìhanada thì lúc Ðại Ðức Sàrìputta thốt ra những lời như vậy, quả
địa cầu đã rung chuyển đến chín lần để xác minh sự thật. Và toàn thể
đại hội đã giải tán với tấm lòng kinh cảm. Riêng vị Tỳ-khưu vu khống
thật vô cùng hối hận. Ông xấu hổ quỳ mọp dưới chân đức Thế Tôn để
xin nhận tội nói xấu của mình.
Kế đó đức Phật liền
khuyên:
- Này Sàrìputta. Hãy
tha lỗi cho vị Tỳ-khưu ngu dại này đi, kẻo không cái đầu của ông ấy
sẽ vỡ làm bảy miếng.
Ðại Ðức Sàrìputta cung
kính đáp lời:
- Bạch đức Bổn Sư. Tự
nhiên là đệ tử đã tha thứ cho vị Tỳ-khưu này rồi.
Và với hai bàn tay
chắp lại, đức Trưởng lão tiếp: "Ngoài ra, đệ tử cũng xin Sư ấy tha
lỗi cho đệ tử nếu vì vô tình mà đệ tử làm bất cứ điều gì mích lòng".
Ðoạn cả hai được đức
Phật xử hòa.
Chư Tăng vô cùng thán
phục. Họ đều nói: "Ðại Ðức Sàrìputta quả thật là một tấm gương tốt.
Ngài đã tỏ ra thân mến đối với vị Tỳ-khưu vu khống kia. Hành động
của Ngài chính là một hành động đại xá. Lẽ ra ông ta phải tỏ vẻ hạ
mình biết lỗi trước Ngài mới phải, đằng này Ngài lại đưa hai tay với
vẻ cung kính xin lỗi ông ta nữa".
Nghe Tăng chúng bình
phẩm, đức Phật còn giải thích thêm:
- Này chư Tỳ-khưu! Ðối
với ông Sàrìputta thì việc nuôi dưỡng lòng sân hận và oán thù không
thể nào có được. Tâm hồn của Sa-môn Sàrìputta giống như quả đất vĩ
đại hay vững chắc như trụ thành môn và yên lặng như một hồ nước
trong.
Rồi Ngài ngâm kệ:
"Chỉ có quả đất và
những cột trụ chống đỡ cửa thành trì mới là những vật không bao giờ
biết sân hận. Với một tâm hồn trong sáng như một bể nước yên lặng
thì một Sa-môn có giới đức như thế, vòng sinh tử luân hồi sẽ không
còn xoay tròn họ nữa".
Có một câu chuyện khác
cũng nói về đức tính này của Ðại Ðức Sàrìputta. Ngay trong thời gian
Tăng Già mới thành lập, một Tỳ-khưu tên Kolàlika, nhận thấy sự sốt
sắng chăm lo tổ chức Giáo Hội của hai Ðại Ðức Sàrìputta và Mahà
Moggallàna, sinh lòng ganh tị và hiểu lầm hai vị Ðại đệ tử này có
dụng ý gì đây, rồi đến bạch với Ðức Thế Tôn về "những ham muốn tội
lỗi của hai vị ấy".
Ðức Bổn Sư liền khuyên
dạy:
- Này Kolàlika! Ðừng
nên nói như vậy. Ông nên có những ý nghĩ thân thiện và tin tưởng nơi
Ðại Ðức Sàrìputta và Mahà Moggallàna thì hơn vì họ là những người có
hạnh kiểm rất tốt và đầy lòng từ bi".
Nhưng ông Tỳ-khưu lầm
lạc không vâng lời đức Phật. Ông cứ khăng khăng với sự kết tội sai
lầm của mình. Chẳng bao lâu sau khắp thân thể ông mọc đầy mụn nhọt,
và cứ tiếp tục như thế cho đến khi ông chết vì cái bịnh này.
Chuyện đó được khá
nhiều chỗ trong kinh nhắc đến. Chẳng hạn như trong các kinh Brahma
SAMYUTTA No 10, kinh Nipàta Mahà Vanga No 10, kinh Anguttara Nikàya
V-170 và kinh Takkàriya Jàtaka No 481.
Chính sự so sánh về
hai câu chuyện vu cáo nói trên đã cho ta biết tầm quan trọng của
tính ăn năn tội lỗi. Không phải vấn đề hai Ðại Ðức Sàrìputta và Mahà
Moggallàna chịu nhận hay không chịu nhận sự sám hối của Tỳ-khưu
Kolàlika, mà chính là đương sự có thấy rõ ác tâm của mình hay không.
Những lời sám hối của ông ta nếu có đến các Ngài cũng sẽ chẳng làm
thay đổi gì thái độ của nhị vị Ðại đệ tử ấy, vì hai Trưởng lão này
lúc nào cũng hỷ xả cho vị Tỳ-khưu tội lỗi nói trên vì hai Ngài không
muốn cho ông ta phải nhận hậu quả của nghiệp ác.
-ooOoo-
|