|
PHẦN THỨ NHẤT
TỪ KHI SANH RA ÐẾN
LÚC ÐẠT THÁNH QUẢ
Câu chuyện bắt đầu từ
trong hai làng Bà-la-môn ở Ấn Ðộ gọi là Upatissa và Kolita. Hai làng
này cách xa thành Ràjagaha (Vương Xá) chẳng bao nhiêu.
Trước khi đức Phật ra
đời, có một thiếu phụ thuộc dòng Bà-la-môn tên Sàrì, sống trong làng
Upatissa đã thụ thai (Cunda, Satipatthàna Samyutta và Chú
Giải thì nơi sinh của Ngài là Nàlàkà - hay Nàlàgàma.
Không chừng đó là tên phụ. Có điều chắc chắn là nơi ấy gần vùng
Nalanda... Ở Nalanda có một Ðại Học Ðường đầu tiên trên
thế giới. Chính Ðường Huyền Trang đã tòng học tại đây. Còn ông
Bà-la-môn, tức thân sinh của Ðại Ðức Sàrìputta tên là Vaganta),
và đồng thời tại một làng khác gọi là Kolita, cũng có một thiếu phụ
Bà-la-môn khác mang thai. Nhưng có điều lạ là cả hai thiếu phụ này
thụ thai trong một ngày. Người thiếu phụ thứ hai tên là Moggallì.
Hai gia đình của hai thiếu phụ này giao hảo với nhau rất thân mật và
đã kết thân cùng nhau bảy đời.
Kể từ ngày mới thụ
thai, hai gia đình Bà-la-môn kia chăm sóc hai thiếu phụ ấy rất chu
đáo và sau một thời gian đến ngày nở nhụy khai hoa, cả hai thiếu phụ
đồng sinh ra hai đứa con trai cũng cùng trong một ngày.
Trong lúc đặt tên cho
đứa bé, thiếu phụ có tên Sàrì đã nhận tên Upatissa mà đặt cho con
trai mình, bởi vì gia đình của nàng là một gia đình đứng đầu trong
làng. Tương tự như thế, cậu bé con trai của nàng Bà-la-môn Moggallì
bên làng kia lại được đặt tên là Kolita.
Khi hai cậu bé bắt đầu
khôn lớn, chúng được cha mẹ giáo dục thật chu đáo, và được học hỏi
nhiều môn học từ những danh sư nổi tiếng nhất trong xứ. Hai cậu đã
trở nên lão thông tất cả những môn học thời bấy giờ.
Mỗi chàng trai xuất
chúng ấy đều có hằng năm sáu trăm người thanh niên Bà-la-môn khác
theo làm môn đệ. Họ thường dắt nhau đi thưởng cảnh bơi lội hoặc vào
trong những công viên vừa giải trí vừa luận bàn thời sự. Upatissa
hay dùng năm trăm chiếc võng, và Kolita với năm trăm cỗ mã xa.
Hồi ấy tại thành
Ràjagaha (Vương Xá) mỗi năm có một kỳ lễ tưng bừng giống như hội Vu
Sơn. Ðôi thanh niên trí thức này được mời ngồi vào những chiếc ghế
danh dự để chứng kiến cuộc lễ. Thoạt đầu họ có vẻ vui thú khi những
hồi trình diễn trở nên hào hứng, và họ đã tặng nhiều món tiền thưởng
để các diễn viên, trình diễn thêm những màn đặc biệt mà họ thích
nhất. Họ giải trí vui vẻ như vậy đến hai ngày, nhưng qua đêm thứ ba
thì cả hai bỗng trở nên buồn bã, vì họ vừa ý thức được một điều gì.
Họ không còn vui vẻ hay tươi cười nữa. Họ cũng chẳng màng treo thêm
những món tiền thưởng hậu như hai ngày trước.
Mỗi người đồng có một
ý nghĩ: "Ở đây có gì lạ mà ta phải ngồi nhìn? Tất cả những người này
khi đã đến trăm tuổi rồi thì họ sẽ phải đi theo thần chết. Vậy việc
mà ta nên làm là mau mau đi tìm một con đường để thoát chết".
Những ý nghĩ như vậy
cứ lẩn quẩn trong đầu óc họ, ngay khi họ còn ngồi trong cuộc lễ. Sau
đó Kolita bèn nói với Upatissa:
- Này bạn Upatissa!
Thế này là nghĩa làm sao? Do đâu bạn lại không vui vẻ và thích thú
như hai ngày trước? Tôi nhìn bạn như đang lo âu một điều gì, vậy bạn
có thể cho tôi biết được chăng?
- Này bạn Kolita. Tôi
thấy ngồi nhìn những cảnh tượng này chẳng lợi ích chi cả. Nó hoàn
toàn vô vị. Tôi nghĩ phải đi tìm một con đường giải thoát cho chính
tôi Kolita ạ. Ðó là vấn đề mà tôi đang băn khoăn trong tâm. Nhưng mà
còn anh nữa, anh Kolita ạ, tôi thấy anh cũng không có vẻ an tâm chút
nào!
Kolita đáp:
- Tôi quả có sự suy tư đúng như anh
vừa thốt.
Khi biết rằng người
bạn cùng mang một nỗi âu lo như mình, Upatissa bèn nói:
- Ðó là một mối quan
tâm đáng khen của chúng ta. Nhưng muốn đi tìm một người thầy để dạy
cho chúng ta con đường giải thoát, chỉ có cách là chúng ta phải rời
bỏ nhà cửa để du phương và tìm sống với các bậc đạo sĩ hữu hạnh,
song biết ẩn sĩ đắc đạo nào mà chúng ta theo bây giờ?
Thuở ấy có một Giáo
chủ sống trong thành Ràjagaha (Vương Xá). Vị này thuộc phái Du Sĩ
Paribbàjaka, tên gọi là Sanjaya. Ông có một số môn đồ rất đông.
Với ý định sẽ gia nhập
làm môn đệ của vị ấy, Upatissa và Kolita bèn tìm đến đó. Mỗi người
cùng dắt theo năm trăm thanh niên đồ đệ của mình rồi tất cả đều được
nhận vào môn phái của Sanjaya. Kể từ đó tiếng thăm và hậu thuẫn của
đạo sĩ Sanjaya liền trở nên vang dậy.
Sau một thời gian ngắn,
đôi bạn Upatissa và Kolita đã học hết học thuyết của Giáo chủ
Sanjaya. Họ hỏi thầy đạo sĩ rằng:
- Thưa thầy, giáo pháp
của thầy chỉ có chừng ấy hay còn gì hay hơn nữa?
Sanjaya đạo sĩ đáp:
- "Chỉ có thể, và các
ngươi đã biết cả rồi."
Nghe vậy đôi bạn
Upatissa và Kolita liền nghĩ: "Nếu chỉ có thế mà mình lại tiếp tục
cuộc đời đạo sĩ này với ông ta thì vô ích quá! Mình đã lìa bỏ gia
đình, sống đời để tìm giải thoát thế sự, mà theo ông thầy này mình
chẳng được chi cả!".
Rồi họ lại nghĩ tiếp:
"Nhưng nước Ấn Ðộ rộng bao la, nếu mình kiên nhẫn tầm Sư không thối
chuyển, cứ đi từ làng này qua làng khác, tỉnh nọ đến tỉnh kia chắc
hẳn sẽ tìm được một vị thầy dạy cho ta phương pháp thoát tử!".
Kể từ đó mỗi khi họ
nghe có một đạo sĩ uyên bác nào, dù ở xa đi nữa, đôi bạn Kolita và
Upatissa cũng tìm đến cầu đạo. Nhưng chẳng có một vị nào giải đáp
nổi một câu hỏi của họ, trong khi đối với những người khác các vị
đạo sĩ ấy đều tỏ ra thông suốt.
Sau khi đi khắp cả xứ
Ấn Ðộ, cả hai phải cùng quay về, và lúc về đến chỗ cũ, họ đồng cam
kết với nhau rằng:
"Trong hai người nếu
ai tìm được con đường bất tử trước phải chỉ lại cho người kia".
Từ đó họ chính thức
kết làm huynh đệ và tình giao hữu giữa đôi thanh niên lại càng sâu
đậm hơn.
Chẳng bao lâu, sau khi
Upatissa và bạn là Kolita hẹn ước như thế, thì đức Thế Tôn - đấng
hoàn toàn Giác Ngộ lại đến thành đô Ràjagaha (Vương Xá). Vì khi Ngài
đã thuyết xong một bài pháp nói "Lửa" tại thị trấn Gàya, Ngài bèn
nhớ đến lời hứa mà Ngài đã hứa với vua Bimbisàra (Tần Bà Sa) trước
khi đắc thành Chánh đẳng Chánh giác là Ngài sẽ trở lại thành
Ràjagaha (Vương Xá) ngay sau khi Ngài đã đắc được đạo Giác Ngộ. Ðức
Thế Tôn di hành suốt quãng đường dài từ Gàyà đến thành Ràjagaha và
được vua Bimbisàra thân hành đón tiếp tại Trúc Lâm tịnh xá (Veluvana
Vihàra).
Trong số sáu mươi mốt
vị Thánh A-la-hán mà đức Bổn Sư đã phái đi để truyền bá cho thế gian
về ân đức của Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo), có Trưởng
lão Assàji, người thuộc nhóm năm đạo sĩ trước đây là những vị đồng
tu khổ hạnh với đức Thích Ca khi Ngài chưa đạt được giác ngộ, và
cũng chính những vị đó sau này đã trở thành những đệ tử đầu tiên của
Ngài. (Tức năm thầy Kiều Trần Như).
Trưởng lão Assàji, sau
khi đã du hành truyền đạo bèn trở lại thành Ràjagaha.
Vào một buổi sáng nọ,
trong khi Trưởng lão đang trì bình khất thực trong thành Ngài được
Upatissa, người đang đi trên con đường dẫn đến tu viện thuộc phái
đạo sĩ du phương Sanjaya, trông thấy. Bị kinh cảm bởi vẻ mặt trang
nghiêm và thoát tục của Ðại Ðức Assàji, Upatissa nghĩ: "Trước đây ta
chẳng bao giờ trông thấy một nhà sư như vậy. Ông ta phải là một
trong những Thánh Tăng A-la-hán (Arahatta). Nếu không chắc hẳn Ngài
cũng là người đang bước trên con đường đến Thánh quả A-la-hán? Tại
sao ta không thử đến gần Ngài để tìm hiểu xem Ngài được thọ giáo với
ai? Ðâu là Ðạo môn của Ngài và Ngài đã học được giáo lý như thế nào?".
Nhưng Upatissa lại
nghĩ: "Giờ phút này không tiện để cho ta đặt những câu hỏi như vậy
vì Ngài còn đang khất thực trên đường phố. Tốt hơn ta nên theo sau
Ngài như một người ngưỡng mộ". Và rồi Upatissa đã thực hiện ý nghĩ
của mình.
Sau khi đức Trưởng lão
khất thực xong, Upatissa lại thấy Ngài dời chân đến một nơi khác,
dường như với ý định chọn nơi thanh vắng để dùng bữa. Ông ta bèn
tiến nhanh đến phía trước sửa soạn cho Ngài một chỗ ngồi bằng chiếc
tọa cụ của chính ông đã mang theo, rồi ông cung kính dâng đến đức
Trưởng lão Assàji. Khi Ngài dùng bữa xong thì Upatissa liền dâng đến
Ngài nước rửa tay lấy từ trong bình đựng nước của ông, và cùng một
cách như thế, ông đã lo lắng cho Ngài bằng tất cả cử chỉ của một
người đệ tử đối với bậc thầy.
Sau khi trao đổi với
nhau với những lời chào hỏi thông thường, lịch sự và lễ phép,
Upatissa nói:
- Kính đạo sĩ, nét mặt
của Ngài thanh tịnh quá. Phong thái của Ngài sao mà trong sạch sáng
sủa thế. Kính đạo sĩ, vậy Ngài đã theo vị nào để trở thành thoát tục?
Và ai là thầy của Ngài, cũng như Ngài đã thọ giáo ra sao?
Ðức Assàji đáp lời: -
Này đạo hữu! Ðúng vậy chính vị Giác Ngộ, người con cao quí của dòng
Sakya chính là Bổn Sư của bần đạo. Ði trên con đường của Ngài, bần
đạo đã tiến hóa. đức Thế Tôn ấy là bậc đã giải thoát, và cũng nhờ
Pháp bảo của Ngài mà bần đạo đã được thanh tịnh.
- Thưa đạo sĩ. Vị Ðại
phúc ấy chắc phải thông rõ vạn pháp và Ngài phải học hỏi có bao
nhiêu mới đạt được mức thanh tịnh như thế?
Bị chất vấn như vậy,
đức Trưởng lão Assàji bèn tự nghĩ rằng: "Những học giả du phương này
thường không hiểu pháp Ba la mật của đức Phật. Ta sẽ chỉ cho ông ta
rõ Ba la mật pháp cao dày như thế nào?". Vì vậy Ngài nói:
- Dù sao bần đạo hãy
còn trên bước đường tu tập. Con đường giải thoát mà bần đạo đã đi kể
từ khi xuất gia đến giờ chưa xa mấy. Bần đạo chỉ mới bước được vài
bước thuộc vào những bước mở đầu trong giáo lý và phẩm hạnh này. Bần
đạo không thể giải nghĩa Pháp bảo của đức Thế Tôn cặn kẽ đến đạo hữu
được.
Người tầm đạo ấy liền thưa:
- Kính Ðại Ðức. Tôi
tên là Upatissa, đang quyết lòng tìm đạo. Xin Ngài làm ơn chỉ dẫn
cho tôi tùy theo khả năng của Ngài. Dù nhiều hay ít tôi cũng vẫn
kính cẩn lắng nghe. Nếu là chánh pháp thì chỉ một câu đã giúp người
thành tâm tìm ra nẻo giải thoát.
Và ông ta năn nỉ tiếp:
- Xin Ngài chỉ dạy cho tôi theo sức hiểu biết của Ngài. Với ánh sáng
giác ngộ dù chỉ le lói đi nữa, nó vẫn có giá trị và đầy đủ khả năng
giúp người thiện tâm tìm ra con đường chân lý.
Ðể đáp lại, Trưởng lão
Assàji ngâm kệ rằng:
"Vạn pháp đều sanh ra
bởi một Nhân,
Ðức Thế Tôn đã chỉ rõ Nhân của nó,
Ngài cũng dạy cho cách diệt tắt,
Nhân ấy! Ðó chính là Giáo Pháp
của bậc Ðại Sa-môn".
(Kệ ngôn trên đây
ngày nay đã trở thành một trong những triết lý căn bản và nổi
tiếng nhất của Phật giáo. Bất cứ lúc nào nó cũng có thể đóng vai
như một sự nhắc nhở về lần tiếp xúc đầu tiên của Ðại Ðức Upatissa
- Sàrìputta với Pháp bảo, và nó cũng là một sự ghi nhớ có giá trị
về Trưởng lão Assàji, vị thầy đắc đạo A-la-hán của ông).
Nhắc lại thanh niên
Upatissa, khi nghe hết hai câu đầu, Upatissa đắc được Pháp Nhãn,
chứng đạo Nhập Lưu (Tu Ðà Hườn) và lúc dứt hai câu cuối cùng ông đã
hoàn toàn lắng nghe với vẻ mặt của một người đang được giải thoát.
Khi ông đã trở thành
một bậc nhập Thánh Lưu rồi, và trước khi đạt được những quả vị cao
hơn, ông đã cảm nhận rằng: "Ánh sáng cùng ý nghĩa của sự giác ngộ đã
tìm thấy nơi đây rồi". Và ông cung kính nói với đức Trưởng lão:
- Xin Ngài khỏi giải
rộng thêm về Pháp bảo này nữa. Như thế đó là đủ tất cả. Upatissa xin
qui y đấng Thế Tôn và Ðại Ðức.
- Nhưng thưa Ngài.
Hiện vị thầy của chúng ta đang ở đâu?
- Này kẻ tầm đạo. Ngài
đang ở trong Trúc Lâm tịnh xá.
- Bạch Ðại Ðức! Thỉnh
Ðại Ðức đi trước. Tôi có một người bạn và chúng tôi đã hẹn ước với
nhau rằng: "Nếu ai tìm được đạo bất tử trước tiên sẽ chỉ dạy cho
người kia. Vậy tôi phải đi thông báo cho người bạn tôi biết, rồi
chúng tôi sẽ cùng theo con đường Ngài đã đi để đến ra mắt đấng Thiên
Nhân Sư".
Ðoạn Upatissa cung
kính mọp xuống tận bàn chân của đức Trưởng lão, lễ bái và từ giã
Ngài để trở lại nơi cư ngụ của những đạo sĩ du phương.
Kolita trông thấy bạn
mình tiến lại gần và thầm nghĩ: "Hôm nay nét mặt của bạn ta hoàn
toàn thay đổi. Chắc hẳn anh ấy đã tìm ra con đường thoát tử?".
Và khi ông hỏi bạn về
chuyện ấy, Upatissa đáp:
- Vâng, thưa bạn. Tôi
đã tìm ra đạo bất tử.
Rồi ông đọc thuộc lòng
cho bạn mình nghe kệ ngôn mà ông đã nghe. Khi kệ ngôn chấm dứt,
Kolita liền đắc quả Nhập Lưu (Tu Ðà Hườn) và liền hỏi:
- Bạn thân mến! Hiện
đấng Thượng Sư ngụ ở đâu?
- Thầy của tôi, đức
Trưởng lão Assàji đã cho tôi biết rằng đấng Thượng Sư đang ở tại
Trúc Lâm tịnh xá.
Kolita liền bảo:
- Này Upatissa vậy
chúng ta hãy đến ra mắt Ngài đi.
Nhưng Upatissa là
người luôn luôn kính trọng thầy, nên ông ta bèn đề nghị với bạn rằng:
- Này bạn! Trước tiên
chúng ta hãy đến thầy cũ của chúng ta đã, Ngài du sĩ Sanjaya, và bảo
cho ông ấy biết rằng chúng mình vừa tìm được đạo bất tử. Nếu ông ta
đón nhận, ông ta sẽ đạt được con đường thật. Dù cho ông ta không tin
đi nữa có lẽ ông cũng được ảnh hưởng do lòng tin tưởng mãnh liệt của
chúng ta, rồi sẽ cùng đi yết kiến đấng Thượng Sư để nghe giáo lý của
Ngài. Biết đâu ông ta cũng gặt hái được đạo quả giải thoát?
Do đó cả hai cùng đến
gặp đạo sĩ Sanjaya và báo tin rằng:
- Thưa thầy! Thầy đang
làm gì đó? Một đấng Giác Ngộ đã xuất hiện trên thế gian này. Giáo lý
của Ngài đã khai sáng nhân sinh và được thực hành chân chánh trong
cộng đồng do những Tăng sĩ đệ tử của Ngài. Vậy Ngài hãy cùng đi với
chúng tôi đến ra mắt đấng Thượng Sư đã tròn đủ Thập Ðộ.
Ðạo sĩ Sanjaya ngạc
nhiên la lên rằng: "Ta chẳng hiểu các ông muốn nói cái gì?".
Rồi ông từ chối không
đi theo họ, mà còn khoe khoang với họ về danh dự và tiếng tăm của
ông ta để hy vọng thuyết phục hai học trò mình ở lại hưởng thụ và
chỉ tin tưởng nơi danh vị của ông thầy cũ.
Nhưng họ đã quyết: -
Thầy ạ. Chúng tôi đã dứt khoát, không còn bất cứ ý muốn nào ở lại
đây. Thầy ơi! Thầy chỉ cần quyết định rằng đi theo chúng tôi là nên
hay không mà thôi?
Thất bại trong những
lời thuyết phục, Sanjaya nghĩ: "Nếu họ hiểu nhiều như vậy, họ sẽ
chẳng nghe theo những gì ta bảo. Tốt hơn hãy để họ ra đi càng sớm
càng tốt, kẻo không những đệ tử khác hay biết sẽ có hại".
Tư tưởng xong ông ta
liền đáp: "Thôi các ông hãy đi đi, còn ta không thể đi được".
- Thưa thầy, tại sao
không?
- Vì ta là một vị thầy
có nhiều môn đệ. Nếu ta đảo lộn hệ thống môn đồ như thế thì chẳng
khác nào một bệ nước vĩ đại đem đổi lấy một bình chứa nhỏ nhoi. Bây
giờ ta không thể nào trở lại cuộc sống như là một đệ tử được.
Họ lại khẩn cầu: - Xin thầy đừng nghĩ như thế thầy
ạ!
- Nhưng ta đã quyết
định rồi, các ông hãy đi đi, ta không thể đi được.
- Thầy ơi! Khi đức
Phật xuất hiện trên đời, bao nhiêu người từ hạ dân đến quyền quí cao
sang đều tôn thờ Ngài, mang cả những bảo vật đến dâng cúng kia mà.
Danh vị của thầy làm sao so sánh với đấng Toàn Giác. Cho nên, khi
chúng tôi đã theo Phật rồi, những gì sẽ xảy đến cho thầy, chắc thầy
đoán biết chứ?
Ðể đáp lại câu đó, đạo
sĩ Sanjaya trả lời:
- Này các đệ tử, các
ông suy nghĩ gì kỳ lạ vậy? Trên đời này người ngu muội nhiều hay
người trí thức nhiều?
- Người ngu muội
nhiều, thưa thầy. Song người trí thức thì ít lắm.
- Nếu vậy thì này các
ông. Chắc các ông cũng biết rằng những người trí thức sẽ đến với đức
Phật Cồ Ðàm (Gotama), còn những kẻ ngu muội sẽ về với ta, chỉ những
người ngu muội thôi. Bây giờ các ông có thể đi đi. Nhưng ta chẳng
bao giờ đi theo các ông cả.
Vì vậy, đôi bạn
Upatissa và Kolita, khi rời thầy đã nói:
- Thưa thầy. Rồi đây
thầy sẽ hối hận vì những tư tưởng sai lầm của thầy.
Sau khi họ đi rồi, có
một sự rạn nứt trong những môn đồ Sanjaya và tu viện của ông ta đã
trở nên gần như trống trải.
Thấy tư thất của mình
vắng lặng các môn đồ, đạo sĩ Sanjaya đã uất ức đến hộc máu tươi. Năm
trăm đệ tử của ông đã rời bỏ theo Upatissa và Kolita. Trong số đó
chỉ có hai trăm năm mươi người trở lại với đạo sĩ du phương Sanjaya.
Với số còn lại là hai
trăm năm mươi người, cộng thêm những người tùy tùng xưa kia, đôi bạn
Upatissa và Kolita bèn nhắm Trúc Lâm tịnh xá trực chỉ.
Lúc đó đức Thượng Sư
đã an tọa trong hàng, Tứ chúng (đó là Tỳ-khưu, Tỳ-khưu Ni, Thiện
nam, Tín nữ) và đang thuyết pháp. Khi đức Thế Tôn thấy hai người
tiến đến, Ngài bèn công bố với chư Tăng và Phật tử rằng:
- Ðôi bạn Upatissa và
Kolita đang đến đây sẽ là những đệ tử ưu tú của Như Lai. Thực là một
đôi bạn phước duyên song toàn.
Khi đến gần, hai người
ấy liền trịnh trọng đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi lại một bên. An tọa
xong, họ bạch với đức Phật rằng:
- Bạch Ngài! Xin Ngài
cho chúng con được thọ giáo để được đi trên con đường tấn hóa và xin
Ngài dắt dẫn chúng con trên con đường giải thoát tối thượng.
Ðức Thế Tôn thuyết:
"Này các Tỳ-khưu! Các vị hãy đến đây! Khi Pháp bảo đã được thuyết
giảng, hấp thụ vào tâm rồi thì đời sống của kiếp người là những ngày
tháng trong sạch để chấm dứt cả phiền não".
Phật thuyết chỉ có thế
và Ngài xem như rất đầy đủ cho những hàng xuất gia cao thượng.
Sau đó đức Bổn Sư tiếp
tục bài pháp tùy theo căn cơ của mỗi cá nhân để đưa họ vào một sự
suy gẫm. Trường hợp đặc biệt của hai thủ lãnh môn đồ vừa đến, pháp
của Ngài đã làm cho họ đạt tới A-la-hán quả. Nhưng hai vị ấy chưa
hoàn toàn ngộ được ba đạo Thánh tâm cao thượng hơn. Lý do là vì tính
chất, vĩ đại của trí tuệ hòa hợp với sự hoàn toàn của một Ðại đệ tử
mà họ còn phải đạt tới. (Sàvakapàramì Ĩàna).
Từ khi trở thành đệ tử
của đức Phật, Upatissa có tên là Sàrìputta (Xá Lợi Phất) và Kolita
được gọi là Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên).
Sau đó Ðại Ðức Mahà
Moggallàna (Mục Kiền Liên) đến ngụ tại một làng trong xứ Magadha (Ma
Kiệt Ðà), gọi là làng Kallavàla. Ở đó Ngài phải nhờ vào vật bố thí
của thập phương bá tánh. Vào ngày thứ bảy sau khi xuất gia, khi Ngài
đang thực hành phận sự của bậc Sa-môn (Thiền định), thì sự lười
biếng và hôn trầm kéo đến Ngài. Nhưng nhờ pháp câu thúc của đức Phật
Ngài đã đẩy lui được sự lười biếng (điều này căn cứ vào một bài pháp
trong kinh Anguttara Nikàya VII N. 58), và sau đó khi nghe
đức Thượng Sư dẫn giải cho Ngài về đề mục Thiền Ðịnh Sơ cấp (Dhàtu
Kammatthàna), Ngài đã hoàn thành công việc, đạt tới ba đạo tâm cao
hơn và chứng được sự hoàn toàn tối thượng của một Ðại đệ tử (Sàvaka
Pàramì).
Trong lúc đó thì Ðại
Ðức Sàrìputta (Xá Lợi Phất) tiếp tục sống bên cạnh đấng Bổn Sư trong
một cái hang gọi là Sakarakhatalena (Ðộng Heo), và thường đi vào
thành Ràjagaha (Vương Xá) khất thực. Nửa tháng sau lễ xuất gia của
Ngài, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp về sự nhận thức của tâm
(Kinh Dighanakha Sutta, Majjhima Nikàya N.74.) cho người cháu
của Ðại Ðức Sàrìputta tên là Dìghanakha (Một đạo sĩ du phương) nghe.
Ðại Ðức Sàrìputta đứng phía sau đức Bổn Sư để hầu. Trong khi theo
dõi những ý tưởng liên tục của bài pháp, Ðại Ðức Sàrìputta (Xá Lợi
Phất) đã nhận thấy rằng đó chính là sự chia sớt những món ăn tinh
thần quí báu mà đức Thượng Sư thân hành trao lại cho người đời.
Nhờ hiểu biết như vậy
mà Ðại Ðức Sàrìputta đã chứng được trí thức tối thượng tròn đủ của
một Ðại đệ tử, và cũng đắc được đạo quả A-la-hán với bốn Tuệ phân
biệt (Tứ Phân Biệt Tuệ) (theo chú giải trong Anguttara Nikàya
phần thứ 4, số 172). Còn người cháu của Ngài khi dứt bài pháp đã đắc
quả nhập lưu (Tu Ðà Hườn) (căn cứ theo Thera Gàthà do Ðại Ðức
Sàrìputta thuyết, các kệ ngôn số 995-996).
Nếu có người hỏi: "Ðại
Ðức Sàrìputta không có một trí tuệ vĩ đại sao? Và nếu có tại sao
Ngài lại đạt được sự hoàn toàn của một Ðại đệ tử sau Ðại Ðức Mahà
Moggallàna (Mục Kiền Liên) Câu trả lời là chính vì sự vĩ đại đó mà
thời gian phải cần thiết để cho nó được chuẩn bị chín muồi. Chẳng
hạn như một thường dân muốn đi đâu, họ liền đặt chân ra đường. Nhưng
trường hợp những hạng vua chúa thì lắm sự chuẩn bị chu đáo lại cần
thiết. Chẳng hạn như thắng xe tứ mã, bố trí quan quân v.v...
Trường hợp nói trên
cũng tương tự như vậy.
Cùng ngày hôm ấy, khi
bóng chiều đã đổ dài trên ngàn cây nội cỏ, đức Thượng Sư gọi tất cả
môn đồ của Ngài tựu hợp và tỏ lời nâng nhị vị A-la-hán Sàrìputta (Xá
Lợi Phất) và Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên) lên hàng Huynh trưởng
hướng dẫn Tăng chúng.
Trong dịp này, có một
số Tăng sĩ không hài lòng và bàn tính với nhau: "Ðức Bổn Sư nên cho
phẩm vị Trưởng lão đến những vị xuất gia đầu tiên mới phải, nghĩa là
nhóm năm đệ tử đầu (năm thầy Kiều Trần Như). Nếu không thì hoặc cho
nhóm hai trăm năm mươi Tỳ-khưu dẫn đầu do Ngài Yasa hay cho ba mươi
vị trong nhóm Bhadda Vaggiya (Thắng Dục Sĩ), còn không thì Ngài phải
cho đến ba Huynh đệ Kassapa chứ?
Nhưng tại sao Ngài
không kể đến các vị đại Trưởng lão này, mà đem phẩm vị đó ban đến
những người mới xuất gia sau cùng". Ðức Bổn Sư dọ hỏi về đề tài bàn
tán của họ, và khi được biết Ngài bèn dạy:
- Như Lai không thiên
vị mà chỉ cho phẩm vị ấy theo hạnh nguyện của họ. Tỷ như Kondanna
(chỉ nhóm Kiều Trần Như), trong kiếp trước họ đã bố thí vật thực
chín lần giữa mùa gặt đến tiền thân của Như Lai. Họ không có nguyện
vọng trở thành Ðại đệ tử, họ chỉ có nguyện vọng được bước vào giáo
lý của Như Lai đầu tiên, cùng chung được phẩm đạo cao nhất là
A-la-hán. Ðiều đó giờ đây đã đúng sự thực. Nhưng Sàrìputta và Màha
Moggallàna, trong vô lượng quá khứ vào thuở đức Phật Anomadassi, họ
sinh làm một thanh niên Bà-la-môn tên Sàrada và một người điền chủ
tên Sirivaddhaka. Họ đã có nguyện vọng trở thành những Ðại đệ tử khi
gặp đức Phật trong kiếp sau cùng. Này chư Tỳ-khưu! Hãy nghe đây!
Phẩm vị mà Như Lai cho họ chính là nguyện vọng của họ đấy. Chư Như
Lai không bao giờ thiên vị.
Phần sưu tập về địa vị
của Ðại Ðức Sàrìputta này được lấy ở đoạn chú giải trong Kinh
Anguttara Nikàya, bộ Etavagga và một số trích từ những bài kệ song
đối trong chú giải Pháp Cú Kinh (Dhammapàda Sutta). Trong đó, một số
những đặc điểm chính yếu về vai trò của Ðại Ðức Sàrìputta được hoàn
toàn ghi nhận. Ngoài ra, đức năng trong tình bạn sâu xa giữa Ngài
với Ðại Ðức Mahà Moggallàna cũng được mô tả, không những khi Ngài
còn ngoài đời, một thanh niên được giáo dưỡng trong nhung lụa, mà cả
đến lúc xuất gia sống đời sống vô gia đình. Rồi đạt được Thánh quả.
Ðức năng ấy vẫn luôn luôn bền bỉ trong sạch như ánh sáng mặt trời.
Trong khi vừa thấm
nhuần được giáo lý giải thoát và trước khi tiến xa hơn trên con
đường thanh tịnh, ý tưởng đầu tiên của Ngài là nghĩ đến bạn, ông
Kolita cùng lời thề mà Ngài đã nguyện. Ðại Ðức Sàrìputta có một trí
tuệ vô song và tiềm tàng do tu tập trong nhiều kiếp qua. Trí tuệ ấy
trong kiếp này là lúc đã chín muồi, chỉ chờ dịp để phát hiện. Do đó
nó đã biểu lộ tức khắc giúp Ngài nắm được ngay yếu chất Phật giáo
lúc chỉ được nghe vài câu pháp của Trưởng lão Assàji. Và hi hữu hơn
nữa là Ngài đã kết hợp được sức thông minh ấy với cá tính khiêm tốn,
dịu dàng, tự nhiên và biểu lộ bằng sự hiểu biết khiến cho bất cứ ai
cũng kính phục. Ðối với đạo chủ Sanjaya, dù biết rằng ông ấy vô cùng
lầm lạc, nhưng Ðại Ðức Sàrìputta vẫn giữ một thái độ tôn kính như
xưa. Bởi vậy, ta không thể thắc mắc gì khi biết rằng suốt đời sống
của Ngài, Ngài luôn luôn tỏ rõ sự kính trọng đối với Trưởng lão
Assàji vì chính nhờ vị này mà Ngài đã được bước vào giáo lý của đức
Phật.
Như ta đã biết, theo
chú giải kinh Vìva Sutta (Sutta Nipàta), và cũng trong Chú giải cuốn
số 392 trong Kinh Pháp Cú rằng: Bất cứ lúc nào, khi Ðại Ðức
Sàrìputta cùng sống trong một tịnh xá với Trưởng lão Assàji, Ngài
luôn luôn đến nghiêng mình đảnh lễ trước Trưởng lão ngay sau khi đã
lễ bái đức Thế Tôn. Ngài làm như thế, ngoài cái nghĩa kính trọng còn
nghĩ rằng: "Vị Ðại Ðức này là thầy đầu tiên của ta. Nhờ Ngài mà ta
tìm thấy và hiểu được tuyệt pháp Ba la mật của Phật". Và khi đức
Trưởng lão Assàji ngụ trong một nơi nào khác. Ðại Ðức Sàrìputta
thường hướng về nơi Trưởng lão đang ở để tỏ lòng tôn thờ bằng cách
chắp tay nghiêng mình lễ bái khắp các phương.
Những điều này đã dẫn
đến một sự hiểu lầm. Mỗi khi trông thấy như thế, chư vị Tỳ-khưu
thường bảo với nhau rằng: "Ðã là đệ tử Phật mà Ngài Sàrìputta còn lễ
bái những phương trời. Ngay cả bây giờ mà ông còn chưa bỏ được những
tư kiến tôn sùng những trời Phạm Thiên ư?".
Nghe được những lời
chỉ trách này, đức Thế Tôn bèn dạy rằng:
- Này chư Tỳ-khưu.
Không phải như thế đâu. Sàrìputta không phải lễ bái các phương trời
đâu. Ông ta chỉ lễ bái đến ai mà nhờ đó ông ta tìm thấy Pháp bảo của
Như Lai, vì ông ta xem kẻ ấy là thầy của mình và Sàrìputta là người
rất biết ơn Thầy Tổ.
Sau đó đức Thế Tôn
liền thuyết cho chư Tăng đang họp nhau bàn tán nghe về kinh Nàva (Nà
vasutta) Phật dạy:
- Ðược về trời phải
kính trọng người chỉ rành Thiên đạo. Vậy người đời sao không lễ bái
ông thầy đem Pháp bảo đến cho mình?
Một thí dụ khác nói về
sự biết ơn của Ðại Ðức Sàrìputta đuợc ghi trong câu chuyện Ràdha
Thera (Ðại Ðức Ràdha). Chú giải về câu kệ thứ 76 trong Pháp Cú
(Dhammapàda) thuật rằng:
Tại một tịnh xá trong
thành Sàvatthì (Xá Vệ), có một người Bà-la-môn nghèo. Ông ta chăm lo
những công việc lặt vặt như làm cỏ, quét dọn v.v... Và chư Tăng đã
bố thí vật thực cho ông để sống. Tuy nhiên họ không muốn cho ông
xuất gia.
Ngày kia, đức Thế Tôn
khi quan sát căn trí của người đời, đã thấy rằng ông Bà-la-môn ấy có
duyên đắc A-la-hán. Ngài bèn dọ hỏi các vị Tỳ-khưu đang tụ họp bàn
về ông ta và hỏi họ xem có ai còn nhớ là đã nhận sự giúp đỡ nào của
ông Bà-la-môn nghèo kia không. Ðại Ðức Sàrìputta nhận rằng Ngài có
nhớ một lần khi Ngài đang khất thực trong thành Ràjagaha (Vương Xá)
ông Bà-la-môn nghèo cực này đã cho Ngài một vá cơm đầy mà ông vừa
kiếm được để sống. Ðức Bổn Sư bèn bảo Ðại Ðức Sàrìputta làm lễ xuất
gia cho ông, và từ đó ông được gọi tên là Ràdha.
Sau ấy Ðại Ðức bắt đầu
hướng dẫn và ông Ràdha luôn luôn vui vẻ ghi nhận mọi điều dạy dỗ dù
khó nhọc đến đâu cũng không chút buồn giận.
Cứ thế sau một thời
gian thực hành theo lời giáo huấn của thầy, ông Ràdha đã trở nên
thanh tịnh, rồi chẳng bao lâu nữa ông đã đắc quả A-la-hán.
Lần này chư Tỳ-khưu
trở lại bàn tán về hạnh kiểm và năng lực chỉ đạo của Ðại Ðức
Sàrìputta. Họ bảo rằng:
- Khi muốn nhận học
trò hay khuyên học trò làm như thế nào thì mình cũng phải làm được
như thế ấy.
Ðể đánh tan dư luận về
vấn đề này, đức Phật nói:
- Không phải như thế
đâu, này chư Tỳ-khưu. Sở dĩ ông Sàrìputta đem những pháp khó hành
dạy học trò như vậy là vì trước đây Sàrìputta đã thọ ơn do một hành
động cao thượng của người kia đã làm đến ông ta.
Và để bổ túc vào câu
chuyện ấy, đức Bổn Sư đã kể lại một sự tích trong Alìnacitta Jàtaka
(Túc Sanh truyện Alìnacitta). Ðó là câu chuyện của một con voi biết
ơn.
(Xin xem Jàtaka,
truyện số 156).
-ooOoo-
|