Phần IV
-ooOoo-
8. Tiền kiếp của Mahà Moggallàna.
Về sự nhớ lại tiền kiếp, Ðại đức Mahà
Moggallàna chỉ tự thuật có một lần. Ðó là kinh số 50 thuộc bộ Trung
A Hàm (Majjhima Nikàya), soạn giả xin phép dùng bản kinh ấy
làm căn cứ cho chương này.
Trong Jàtaka (Túc Sinh truyện),
tức những truyện nói về tiên thần đức Phật Thích Ca và Mahà
Moggallàna đã gặp nhau trong nhiều kiếp. Ít nhất là có ba mươi mốt
lần đức Phật và Mahà Moggallànaphải gặp nhau là một điều tự nhiên.
Ðối với thời gian vô lượng kiếp, con số ba mươi mốt lần gặp nhau ghi
trong kinh quả thật quá ít, quá nhỏ, so với cái chuỗi luân hồi"Bất
Tận" mà cả hai vị đã trải qua. Tuy nhiên , như thế cũng đủ để cho
chúng ta có một cái nhìn tổng quát về tiền kiếp của vị Sa Môn này.
Dĩ nhiên ở đây soạn giả không thể kể
hết ba mươi mốt kiếp một cách chi tiết, với đầy đủ những nét đẹp,
những phẩm cách xứng đáng của một trong hai Ðại đệ tử. Nhưng những
gì mà soạn giả cố gắng ghi lại trong cuốn sách nhỏ bé này chính là
những nét quan trọng để cho các hàng Phật tử có thể tìm hiểu tiểu sử
và nhân cách của Ðại đức Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên).
Ðiểm thứ nhất chúng ta tìm thấy trong
Jàkata (Túc Sinh Truyện) "mối liên hệ mật thiết" giữa Bồ Tát (tiền
thân đức Phật) với Mahà Moggallàna. Nhiều kiếp Sàrìputta (Xá Lợi
Phất) và Mahà Moggallàna đã sinh làm anh em của đức Bồ Tát. (Như ghi
trong các Kinh Jàtaka số 488, 509. 542, và 543). Rồi ở những kiếp
khác, họ lại sinh làm bạn của Bồ Tát (Jàtakasố 326). Hay khi đức Bồ
Tát làm vua thì họ trở thành hai trung thần (Jàtaka 401). Thỉnh
thoảng, họ cũng sinh làm Ðạo sĩ, môn đồ của đức Bồ tát (Jàtaka số
423, và 522). Ngoài ra, họ còn sinh làm thầy của đức Bồ Tát nữa (Jàtaka
539).
Ðặt biệt, những Túc Sinh Truyện kể
lại đức Bồ Tát làm vua, Sàrìputta làm Thái tử, còn Mahà Moggallàna
thì làm quan chỉ huy Ngự lâm quân (Jàtaka 525). Hoặc đức Bồ Tát làm
trời Ðế Thích (Sakka) thì Sàrìputta và Mahà Moggallàna làm "Tiên
trưởng" cai quản hai cung Nhật Nguyệt (Jàtaka số 450).
Ðiểm thứ hai dáng cho ta chú ý là sự
chênh lệch giữa Mahà Moggallàna với Sàrìputta trong một số tiền kiếp
sinh làm cầm thú. Ðọc kỹ Túc Sinh truyện (Jàkata) chúng ta sẽ nhận
thấy rằng mặc dù cả hai vị Ðại tông đồ này thường đồng hành trong
cái vòng sinh tử. Những khi tái sinh từ cõi người trở lên thì họ có
địa vị tương đương nhau. Còn khi luân hồi làm thú vật, thì họ lại ở
tình trạng hoàn toàn chênh lệch. Ðặc biệt là Sàrìputta luôn luôn
sinh làm những thú vật tiến hóa hơn:
Chẳng hạn như trong Jàkata số 73,
Sàrìputta sinh ra làm rắn thì Mahà Moggallàna làm chuột. Trong
Jàkata số 206, 486, Sàrìputta sinh làm chim thì Mahà Moggallàna sinh
làm rùa. Trong Jàkata 272, 361và 438, Sàrìputta sinh làm sư tử thì
Mahà moggallàna sinh làm cọp. Trong Jàkata số 37, Sàrìputta sinh làm
khỉ thì Mahà moggallàna sinh làm voi. Trong Jàkata số 315 Sàrìputta
sinh làm rắn thì mahà Moggallàna sinh làm chó sói. Trong Jàkata số
490, Sàrìputta sinh làm người thì Mahà Moggallàna sinh làm thú.
Duy nhất chỉ trong bốn Jàkata (Túc
Sinh truyện ) số 160, 187, 215 và 476 là cả hai sinh làm chim thiên
nga như nhau.
Rồi lúc sinh làm người, địa vị của
Sàrìputta thường cũng cao hơn địa vị Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên).
Hoặc vào nghề nghiệp, Sàrìputta vẫn tương đối đỡ cực hơn Mahà
Moggallàna phần nào như trong Jàkata số 525, Sàrìputta sinh làm
Hoàng tử thì Mahà Moggallàna sinh làm quan Ðại thần. Trong Jàkata số
544, Sàrìputta sinh làm quan Ðại thần thì Mahà Moggallàna sinh làm
người hầu cận. Trong Jàkata số 151, Sàrìputta sinh làm người xa phu
cho Hoàng gia Bodhisatta thì Mahà Moggallàna sinh làm xa phu cho
hoàng thân Ananda.
Riêng lần nọ Mahà Moggallàna sinh làm
Nguyệt thần thì Sàrìputta sinh làm Ðạo sĩ tên Nàradà. (Jàkata số
535), và một lần khác Sàrìputta sinh làm Nguyệt thần thì Mahà
Moggallàna sinh làm một vị tiên cao hơn cai quản Nhật Cung (Jàkata
số 450). Ðây là hai trường hợp Mahà Moggallàna tái sinh vào địa vị
cao hơn Sàrìputta.
Nói tóm lại, khi sinh kể từ người trở
lên thì hai nhân vật này có địa vị tương đương nhau.
Túc Sinh Truyện cũng có ghi một lần
duy nhất Sàrìputta và Mahà Moggallàna bỗng tái sinh làm hai đối thủ.
Ðó là Jàkata số 545 thuật lại rằng Sàrìputta sinh làm Long Vương (Nàga)
thì Mahà Moggallàna sinh làm vua chim đại bàng (Ðại Bàng Ðiểu Vương)
tên Supanna. Giống chim này rất to, chỉ ăn thịt rồng rắn.
Trường hợp Túc Sinh Truyện (Jàkata)
chỉ nói đến một mình Mahà Moggallàna, mà không có sự góp mặt của
Sàrìputta rất hiếm. Chỉ có hai lần:
a) Lần thứ nhất Mahà Moggallàna sinh
lên trời thay thế Thiên Vương đế Thích (Sakka). Kinh Majjhima Nikàya
(Trung A Hàm) đoạn 37 thuật "Khi ấy vị chúa tể cõi trời (Tiền thân
Mahà Moggallàna) đã khiển trách những Thiên Vương tiền nhiệm không
giữ đúng phẩm hạnh, rồi với tư cách là vua trời Sakka (tiền thân
Mahà Moggallàna) đã hiện xuống trần gian để cảnh tỉnh một "Người bạn"
bầu tiện (?) quay về với đạo đức và tạo dịp cho người bạn ấy được
tái sinh lên những cõi cao hơn (Jakàta số 78).
Nhưng trong một kiếp khác, Sàrìputta
và Mahà Moggallàna cùng sinh lên làm người. Cả hai là những thương
gia tham lam, đã đem tiền của chôn sâu dưới đất. Sau khi chết, một
người sinh làm rắn, người kia sinh làm chuột, đào hang ở cạnh chỗ
ngày xưa mình chôn giấu tiền bạc (theo Jàkata số 73).
b) Câu chuyện thứ hai thuật Mahà
Moggallàna sinh làm chó rừng. Khi tìm thấy một con voi xóc cây lủng
bụng chết, chó rừng vì háu ăn nên chui vào lỗ hổng nơi bụng voi, nằm
trong đó ăn cho bằng thích. Ðến khi ăn no mặt trời lên cao, xác voi
sình bịt kín lỗ hổng, cho không chui ra được mới hối hận thì đã muộn.
Câu chuyện có ngụ ý tiêu biểu và cảnh cáo những kẻ say mê hưởng thụ
(Jàkata số 490).
Nhưng Túc Sinh Truyện nổi tiếng phải
kể là câu chuyện Mahà Moggallàna sinh làm quan giữ kho lúa gạo của
dân tộc Kuru, và Sàrì putta sinh làm người lái buôn. Cả hai, một bổn
giữ đúng bổn phận của một công bộc, một bên mua bán hợp pháp nên đã
không vi phạm giới trộm cắp và tội sang đoạt, dù họ đang có dịp
thuận tiện làm điều bất chấp mà không ai biết.
9. Những ngày cuối cùng của Mahà
Moggallàna
Sáu tháng trước khi Phật nhập Niết
Bàn, sự tịch diệt đã tách rời lần cuối cùng đôi bạn Thánh nhân
Sàrìputta và Mahà Moggallàna. Sàrìputta nhắm mắt vào ngày trăng tròn
tháng Kattika (vào khoảng giữa hai tháng 10 và tháng 11 Dương lịch).
Sàrìputta viên tịch ngay nơi ông đã
chào đời, và trong nhà của cha mẹ, rất xa người bạn cao thượng Mahà
Moggallàna. Phải chăng hai vị Thánh Tăng ấy đã đắc quả A La hán tại
hai nơi khác nhau, nên họ cũng viên tịch ở hai điạ điểm khác nhau,
mặc dù họ đã từng trải qua bao nhiêu kiếp không thể tách rời nhau
được?
Và chẳng bao lâu, sau khi Sàriputta
viên tịch, Ma vương (Màrà), hiện thân của tội lỗi và thần chết, đã
tìm cách hãm hại Mahà Moggallàna bằng cách xâm nhập vào bên trong
thân thể của vị Thánh Tăng này.
Ma vương phá phách khắp ngũ tạng lục
phủ nhưng không thể nào gia hại nội Ðại đức Mahà Moggallàna, vì
thiền lực của Ngài vẫn an trụ trên đỉnh đầu, còn Ma vương thì không
dám lên gần trên đó.
Tuy nhiên Mahà Moggallàna vẫn hiền từ
bảo Ma vương rằng: "Này Màra! Ngươi mau ra khỏi thân ta. Tuy tâm hồn
ta hoàn toàn thanh tịnh không bao giờ có tà niệm gia hại chúng sinh
nhưng ác nghiệp mà ngươi đang làm sẽ khiến cho thần thông ta tự động
phát tác thì hậu quả tất đưa ngươi vào địa ngục!".
Ma vương nghe thế hãi vô cùng, liền
biến thành một vật rất nhỏ, ẩn núp trong ruột già của Ðại đức Mahà
Moggallàna. Y nghĩ rằng: "Ngay cả đức Phật cũng chưa chắc chắn tìm
ra ta!"
Chợt ma vương nghe Mahà moggallàna
nói: "Này Mahà! Luân Xa Thần (Chakra) trong thân ta không có chỗ nào
là không thể chiếu tới, vậy ngươi mau ăn năn kẻo ác nghiệp thêm dày!"
Ma vương bây giờ rất đỗi kinh ngạc,
nhưng còn hy vọng là Mahà Moggallàna nói mò, chứ không biết xác thực
hiện y ẩn núp chỗ nào. Nhất thời ma vương yên lặng.
Ðoạn Ma vương nghe Thánh Tăng nói
tiếp: "Này Màra, Ngươi đang khoảng giữa ruột già của ta. Chớ lầm lẫn
cho là ta không biết!"
Bây giờ Ma vương không còn cách nào
làm khác được. Y liền nương theo ngõ miệng của Mahà Moggallàna thoát
ra ngoài, và hiện nguyên hình đứng đối diện với Thánh Tăng này.
Mahà Moggallàna liền báo cho Ma vương
lần đầu trong ngày hôm nay, mà Ngài đã biết rõ gốc tích bao nhiêu
ngàn đơì nghiệp quả trước của hắn. Ngay cả con cháu, ma binh, giòng
dõi hắn còn bao nhiêu Ngài cũng biết nốt.
Rồi Mahà Moggallàna dùng ba pháp Thần
trụ là Thiên nhãn thông. Tha tâm thông và Túc mạng thông để để khuất
phục Ma vương bằng một cách hòa nhã! Sự sử dụng thần thông này về
sau được ghi trong kinh Majjhima Nikàya số 50 với tựa đề là: "Mahà
Moggallàna đã tự thuật về tiền kiếp".
Sau đây là những điểm chính những gì
vị Thánh Tăng này nói:
"Thuở Phật quá khứ tên là Kakusandha
xuất hiện vào Ðại kiếp trái đất (Bhaddakappa), đem diễm phúc đến cho
tam gới chúng sanh, với năm vị Phật khác. Ngài đã sống bằng tuổi thọ
trung bình của con người là bốn trăm ngàn năm. Và khi sự tăm tối đầu
tiên trong cái tuổi thọ vàng son ấy bắt đầu che áng bởi vua chúa
thiếu đức tánh tu thân, nên bỏ mất thiện tâm. Rồi lòng tranh giành
ích kỷ bắt đầu xuất hiện. Do sự suy đồi đó, sức sống và tuổi thọ của
loài người bị giảm xuống còn một nửa"
Thuở ấy, Mahà Moggallàna chính là
Màrà (Ma vương) hoành hành các cõi trời Dục giới và thế gian với cái
tên là Dùsimàra. Ma vương ấy có một "Ma chị" tên là Kàli sinh được
một đứa con trai, sau này trở thành Ma vương, đóng vai thần chết vào
thời kỳ đức Phật Thích ca.
Như vậy Ma vương đang đứng trước mặt
kia không ai khác hơn là hàng con cháu của tiền thân Mahà Moggallàna
từ một đại kiếp quá khứ.
Vì khi làm Ma vương trong thuở xa xôi
ấy tiền thân Mahà Moggallàna đã si mê tấn công một vị Ðại đệ tử Phật
quá khứ bằng cách hiện thành một đứa bé, lấy những mảnh chén bể,
liệng vào đầu của vị Ðại đệ tử Phật kia cho đến khi đổ máu.
Khi đức Phật Kakusandha thấy vậy bèn
khuyên rằng : "Ma vương! Sao ngươi ác độc thế, nên biết hồi tâm!
Ngay cả quỉ Sa tăng cũng có lúc hối lỗi".
Phật nói dứt, và chỉ trong nháy mắt,
toàn thân Dùsimàra liền tiêu tan ra khói và Màrà bị đọa vào trong
địa ngục sâu nhất.
Trước đó chẳng bao lâu, Ma vương là "Vua"
của các cảnh địa thì bây giờ chính Ma vương là "nạn nhân"của địa
ngục. Lúc trước Ma vương là tay hành hạ tội phạm, bây giờ Ma vương
phải chịu tất cả những gia hình tương tự. Ðó là pháp thanh đổi nhanh
chóng trong cái Samsàra (Càn Khôn Sinh Tử đồ, cõi Ta bà).
Trải qua không biết bao nhiêu ngàn
năm, tiền thân Mahà Moggallàna phải chịu nhiều đau khổ trong cảnh
địa ngục để trả quả ngu muội, nông nỗi, xúc phạm đến một vị Thánh
Tăng . Mười ngàn năm khác, tiền thân của Mahà Moggallàna còn chịu
cầm cố trong một địa ngục mang mình người đầu cá, giống như họa sĩ
Pieter Breughel đã vẽ những sinh vật trên một bức tường nói về địa
ngục vậy.
Ở đó, cứ mỗi khi "Phạm Ma" bị hai
ngọn giáo trừng phạt đâm xuyên qua trái tim thì sẽ biết rằng thời
gian trên dương thế đã trải qua hai ngàn năm rồi ( theo
Majjhima Nikàya số 50
).
Bây giờ thấy lại Ma vương (Màrà),
Mahà Moggallàna chợt nhớ đến những hãi hùng trong vòng luân hồi quá
khứ (Sàmsàra) mà hiện tại ông được hoàn toàn giải thoát, nên tâm hồn
ông trở nên thanh tịnh, Phổ Lực Công tự động phát tác làm rung
chuyển mặt đất, khiến Ma vương hoảng sợ chạy mất.
Sau khi Ma vương đi rồi, Mahà
Moggallàna tự nhủ "Ðây là kiếp chót của ta! Sự sinh tử chắc chắn sẽ
chấm dứt! Là một Thánh nhân ta không thấy có lý do nào để ham mê một
kiếp sống giả tạo. Ta còn sống là bởi vì thân thể ta chưa đến lúc
tiêu hoại. Tuy trong mình ta có thần thông, ta thừa sức sử dụng phép
lạ để sống lâu bằng một kiếp trái đất, nhưng ta làm vậy ích lợi gì?
Ta nên để cho "Quỷ vô thường" biểu dương bản chất tự nhiên của nó!".
Như nhiều nhà hiền triết vĩ đại khác
ở Ðông phương (Á Châu) và cũng như chư Thánh Tăng thời đức Phật,
Mahà moggallàna đã lưu lại hậu thế một loại tự thuật dưới hình thức
kệ ngôn gọi là Theragàthà (Tôn Túc Kệ Ngôn) trong đó ông đã tóm lược
những pháp chính ông tu tập để được giải thoát, và xuyên qua bao
nhiêu tiền kiếp cho chí đời sống sau cùng, ông vẫn giữ đúng hạnh
nguyện không lo âu, không thối chuyển! Biết bao hạnh phúc kỳ diệu
trong quả vị giải thoát và các thần thông thượng thừa đã làm cho
những "Kẻ khác" tràn ngập phỉ lạc, mắc dính trong những "hạnh phúc
thần tiên" nhưng đối với Mahà Moggallàna, ông vẫn thản nhiên như một
ngọn núi phủ đầy hoa! ( Ý nói ngọn núi không bao giờ biết hãnh diện
trước sự vững chắc và vẻ đẹp của mình).
Những kệ ngôn của ông trong
Theragàthà có thể tóm tắt bằng một câu đại ý như sau:
"Không còn cái vòng sinh tử luân
hồi nào (Samsàrà) trong tam giới mà bần Tăng chưa khám phá. Cũng
không còn một quyền lực Vô minh nào có thể che áng được Thánh tuệ
của bần Tăng. Khổ não từ nay sẽ không còn gia hại bần Tăng nữa, vì
bần Tăng đang sống trong một phẩm cách thanh tịnh vượt khỏi tất cả
sự đau đớn và bất an của kiếp luân hồi!".
Khởi đầu Theragàthà, kệ ngôn nói: "Ở
đâu và khi nào những kẻ khác tham lam, ích kỷ, thì Mahà Moggallàna
giữ cuộc đời ẩn dật, hài lòng với lối sống thanh đạm và giảm thiểu
thèm muốn. (Theragàthà, các câu từ 1446
đến 1449).
Thuở nọ có một cô gái làng chơi xinh
đẹp tìm cách dụ dỗ, Mahà Moggallàna liền dứt khoát từ chối. Ông từ
chối như đức Phật đã từ chối sự quyến rũ của những nàng con gái Ma
vương (Theragàthà, các câu từ 1150
đến 1157).
Khi Sàrìputta, người
bạn cao thượng nhất của ông viên tịch, ông không bị khích động hay
bị đau buồn một cách thống thiết như Ananda (lúc ấy chưa đắc quả A
La Hán). Ngược lại Mahà Moggallàna đã nhận tin bạn mình qua đời một
cách nghiêm trang và thanh tịnh. (Theragàthà, các câu từ 1158
đến 1163).
Tiếp theo, Theragàthà (Tôn Túc kệ
ngôn) chuyển sang những câu nói bản lĩnh siêu phàm của Mahà
Moggallàna. Chẳng hạn như chuyện ông đã làm lung lay nhiều tòa nhà
của một tu viện bằng ngón chân (câu 1164), chuyện ông nhập định một
cách vô ngại trong khe núi giữa cơn mưa gió sấm sét (câu 1167).Rồi
tư cách ẩn tu một cách bình thản ở những nơi xa xôi hẻo lánh, ông
quả thật xứng đáng làm người thừa tự đức Phật và đáng cho các hàng
Phạm Thiên Lễ bái (câu 1169).
Riêng những câu Theragàthà từ 1169
đến 1173 là những câu Mahà Moggallàna khuyên nhủ một người Bà La Môn
dị đoan và tà kiến khi người ấy thấy Ðại đức Mahà Moggallàna ôn hoà
cảnh cáo lão Bà La Môn về những ác ý và các hành động xấu xa như thế,
khuyên ông nên kính trọng các bậc Thánh nhân! Những câu kệ ngôn số
1176 cũng là kệ ngôn Mahà Moggallàna tán dương Sarìputta.
Còn các kệ ngôn số 1177 đến 1181
dường như là những lời của chính Ðại đức Sàrìputta ca ngợi Ðại đức
Mahà Moggallàna.
Tiếp theo là những câu từ 1182 đến
1186, Mahà Moggallàna dùng để tự kiểm soát lại phép tu chứng và đạt
được quả vị giải thoát của mình như bổn phận trên hết mà ông đã hoàn
tất.
Cuôí cùng, các kệ ngôn từ 1187 đến
1208 là những kệ ngôn thuật lại Mahà Moggallàna cảm thắng Ma vương
như thế nào, tương tự như bản kinh có tựa "Ðối Diện Thần Chết" tìm
thấy trong bộ Majjhima Nikàya(Trung A Hàm) số 50 đã nói trên đây vậy.
(Lời phụ giải của Dịch giả: - "Ma vương" trong "Ngôn
ngữ Phật giáo thường được dùng với hai hàm ý: Hàm ý thứ nhứt ám
chỉ Tử tính trong nhục thân con người, nghĩa là khi nào có một
thân thể sinh hoạt là khi ấy có sự có mặt của"Tử tính". Hành động
dù bằng chân hay bằng ý không gì khác hơn là tạo một chu kỳ năng
lực, trong đó sự "tiêu thụ" các tế bào phải diễn ra và Tử tính (tức
các tế bào cũ phải diệt) đương nhiên phát hiện. Hàm ý thứ hai"Ma
vương tức là một loại chúng sanh khác loài người nhưng thường lui
tới trong cõi người, mà mắt phàm ít ai có thể trông thấy được).
10. Kết thúc cuộc đời
Có ba sự viên tịch cần nhắc lại:
1. Ðức Phật đã nhập diệt một cách
siêu phàm với đông đủ Tỳ Khưu Tăng vây quanh. Ðức Thế Tôn đã nhập
sâu vào Ðại Ðịnh và trút hơi thở cuối cùng.
2. Ðại đức Sàrìputta (Xá Lợi Phất)
biết trước ngày giờ viên tịch, vội trở lại quê hương cùng với một số
đồ đệ thân cận. Sàrìputta chọn một khung cảnh vô cùng trang nghiêm
để vừa tiếp độ mẹ già vừa viên tịch. Ấy là căn phòng ngày xưa Ngài
đã chào đời.Tuy trước khi nhắm mắt Sàrìputta bị bệnh, nhưng vị Thánh
Tăng này đã nhập Niết Bàn một cách rất siêu thoát, có cả chư Thiên
đến thăm vào phút chót.
3. Ðại đức A Nan (Ananda) hưởng thọ
đến một trăm hai mươi tuổi mới từ giã cõi đời. Ông có lẽ là người
sống lâu nhất trong các hàng Thinh Văn đệ tử Phật. Vì A Nan là vị
Thánh Tăng rất thuần thục trong thiền định lấy lửa làm đề mục, nên
trước khi viên tịch Ananda chợt có tâm niệm rằng "Ta sẽ không để cho
bất cứ ai bận rộn trong việc hỏa táng xác thân phàm tục này!". Sau
đó Ananda nhập thiền vào đề mục lửa rồi viên tịch luôn. Xác thân
Ngài tự nhiên bốc cháy và biến thành hỏa táng.
Trước ba cảnh nhập Niết Bàn đầy ý
nghĩa đó, ai cũng tưởng rằng Thánh Tăng Mahà Moggallàna sẽ nhập diệt
một cách kỳ diệu, nhất là vị Thánh Tăng này lại là bậc Thượng thừa
của các loại thần thông.
Nhưng Mahà Moggallàna đã chấm dứt
cuộc đời một cách rất đáng thương, rất cảm động (nếu không muốn nói
là ghê rợn). Và chỉ có những bậc Thánh nhân từ tâm tròn đủ như Ngài
mới có thể viên tịch bằng một cái chết thảm khốc như thế.
Mahà Moggallàna nhập diệt nửa tháng
sau Ðại đức Sàrìputta. Nghĩa là vào ngày trăng non (Mồng 1) sau
tháng Kattika (khoảng giữa hai tháng 10 và Dương lịch). Lúc ấy nhằm
mùa thu, lá vàng rơi đầy tiễn đưa Ngài giã từ "biển khổ".
Ðêm Phật nhập Niết Bàn là đêm trăng
tròn tháng Vesakha (nhằm tháng 5 Dương lịch) tức là nữa năm sau hai
vị Ðại đệ tử viên tịch. Phật hưởng thọ tám mươi tuổi, trong khi cả
Sàrìputta lẫn Mahà Moggallàna đã từ trần năm thứ 84 của kiếp chót.
Sau đây là những biến cố đáng thương
trong cái chết của Mahà Moggallàna:
Lúc ấy Nàthaputta (Ni kiền tử), Giáo
chủ đạo Lõa Thể (Jains: Jinas) mà trong kinh điển Pàli gọi là
Niganthasàsana (Ni kiền giáo) cũng vừa qua đời.
Có sự tranh luận, xét lại giáo lý của
Ni Kiền Tử bỗng xuất hiện trong hàng ngũ những đạo sĩ tu theo môn
phái này. Kết quả Ni kiền Giáo (hay còn gọi là đạo Lõa Thể) đã bị
mất một số tín đồ và cảm tình viên khá đông, khiến cho các đạo sĩ
cầm đầu đâm ra tức giận.
Nhiều sư trưởng đạo Lõa Thể còn nghe
đồn rằng: Ðại đức Mahà Moggallàna, sau những chuyến Thiên du (lên
trời thuyết pháp rồi trở về) đã tiết lộ rằng: Hầu hết tín đồ Phật
giáo đều được sanh lên cõi trên, nhưng rất hiếm những kẻ tu theo đạo
khác được hường hạnh phúc ấy. Trái lại, họ còn bị đoạ vào cảnh khổ
và tái sinh thành nhiều sinh vật thấp hơn loài người. Ðây có lẽ là
tin đồn thất thiệt, nhưng là một trong những lý do khiến cho các đạo
khác, kể cả đạo Lõa Thể (Ni Kiền Giáo) bị sút giảm hậu thuẫn. Ðặc
biệt, một chi giáo cuồng tín của đạo Lõa Thể ở vương quốc Ma Kiệt Ðà
(Magadha) đã trở nên giận dữ trước sự mất danh tiếng càng lúc càng
trầm trọng ấy, nên họ chủ tâm tiêu diệt Ðại đức Mahà Moggallàna.
Những đạo sĩ cuồng tín Ni Kiền Giáo
ấy không chịu điều tra rõ nguyên nhân suy đồi của môn phái mình. Họ
chỉ biết âm mưu phỉ báng và trút hết lên đầu Ðại đức Mahà
Moggallàna. Nhiều lần họ mưu tâm ám sát vị Thánh Tăng ấy nữa nhưng
đều thất bại. Về sau, họ phải mướn bọn cướp làm việc đó.
Thuở bấy giờ cũng có bọn chuyên đâm
thuê chém mướn, sẵn sàng nhân, nếu được trả nhiều tiền như ngày nay.
Họ là những kẻ vô cùng tham lam và hung bạo. Ðối với họ chỉ có tiền
là "cao quí" nhất, nên họ bất chấp việc giết người nào, dù cho nạn
nhân là một vị Thánh Tăng! Do đó, một số đạo sĩ cuồng tín Ni Kiền
Giáo (Ðạo Lõa Thể) liền tìm mướn họ đi giết Ðại đức Mahà Moggallàna.
Khi ấy, Mahà Moggallàna đang ẩn tu
một mình trong tịnh cốc vắng, ven rừng Kàlasikà, thuộc vương quốc Ma
Kiệt Ðà. Sau khi đã cảm thắng Ma vương (đã thuật trong đoạn trước)
Mahà Moggallàna biết rằng "đoạn chót của đời mình" sắp đến. Một vị
Thánh Tăng khi đã được hưởng "hương vị" giải thoát hằng thấy rằng
"xác thân phàm tục này chỉ là một chướng ngại hay một gánh nặng mà
thôi!"
Do đó, Mahà Moggallàna đã không một
chút mảy may nghĩ đến việc dùng thần thông để được sống trường thọ.
Ngược lại, khi Mahà Moggallàna thấy bọn cướp giết mướn lại gần, Ngài
chỉ nghĩ "Ta không nỡ để cho các kẻ ấy phạm trọng tội!". Thế là toàn
thân Ngài tự nhiên biến mất (do thần thông của một cao thủ A La Hán
đầy lòng từ bi phát tác, chứ không phải do sự sợ sệt hay lòng tham
sống mà ra).
Bọn sát nhân (có sách gọi là bọn
cướp) xông vào tịnh cốc, không tìm thấy một ai, chúng lục lạo khắp
nơi, nhưng vẫn vô hiệu, bèn thất vọng ra về. Ngày hôm sau, chúng trở
lại, và cũng rơi vào tình trạng như cũ. Nghĩa là từ xa chúng thấy
Ðại đức Mahà Moggallàna thấp thoáng, nhưng khi đến gần, chẳng tìm ra
Ðại đức đâu cả, mặc dù càng lúc chúng càng kéo đồng bọn đông hơn và
lục soát kỹ hơn. Chúng cũng khôn ngoan cho bộ hạ mai phục, rình rập
xung quanh tịnh cốc để phát giác sự xuất hiện của Ðại đức Mahà
Moggallàna, rồi vẫn không có kết quả. Sau ngày liên tiếp như thế,
sáu lần bọn cướp xông vào hãm hại Mahà Moggallàna, và sáu lần Mahà
Moggallàna vì lòng từ bi, chỉ một niệm "không muốn kẻ ngu muội phạm
trọng tội" thân thể Ngài đã biến mất một cách như nhau.
Ðộng lực của thần thông vốn không
phải là để bảo vệ xác thân ô trược này, mà để cứu độ những tâm hồn
hung bạo. Nhưng tiếc thay thần thông ấy của một vị Ðại Tôn túc A La
Hán đã không cảnh tỉnh được bọn người tội lỗi, nên qua ngày thứ bảy,
Ðại đức Mahà Moggallàna đã quán xét bằng Tha tâm thông, thấy rằng
"bọn cướp vì tham tiền quá độ sẽ không bao giờ từ bỏ hành động sát
nhân ấy".
Trong khi Ðại đức Mahà Moggallàna sử
dụng Tha tâm thông như thế, thì "Di Thần" Thần Công của Ngài tự
nhiên biến mất, xác thịt Ngài bất thần hiện lại như cũ, ngồi yên
trong tịnh cốc.
Thì ra ác quả một hành động tội lỗi
xa xưa (khi tiền kiếp nọ, Mahà Moggallàna vì sợ vợ, đã nhu nhược đem
cha mẹ bỏ vào rừng hoang, đói khát cho đến chết) nay ác quả đang
đuổi kịp. Ðại đức Mahà Moggallàna phải trả xong ác quả ấy thì công
hạnh mới hoàn toàn! Giống như đức Phật và Sàrìputta, trước khi nhập
Niết Bàn đã trải qua một cơn bệnh vậy!
Bọn sát nhân tiến vào tịnh cốc thấy
vị Thánh Tăng hiền hoà ngồi đó, liền đâm chết rồi muốn chắc ăn chúng
bầm nát tay chân, biến người thành một khối thịt vụn bất động.
Khi biết chắc nạn nhân chỉ còn là một
thây ma, không cách nào sống lại, và phe mình sắp được lãnh tiền trả
công, bọn sát nhân ung dung bỏ đi không thèm quay lại.
Nhưng Ðại đức Mahà Moggallàna là một
Thánh Tăng đại cao thủ thần thông, người không thể nhập Niết Bàn
trong tình trạng như thế. Mahà Moggallàna trong khi bị đâm chém đã
hoàn toàn nhập định, nên mọi đau đớn không chi phối được Ngài. Bây
giờ, Ngài chỉ vận dụng thiền lực tập trung sức mạnh tinh thần điều
hợp với thể chất, rồi tái hiện thành một Sa Môn như cũ. Mahà
Moggallàna cố gắng đem tấm xương thịt đầy thương tích đến yết kiến
đức Phật lần chót. khi hiện diện trước mặt Thiên Nhơn sư, rồi ngồi
yên, nhắm mắt lìa đời, biến địa điểm gặp gỡ lần cuối của Ngài và đức
Phật thành một khung cảnh vô cùng ảm đạm và thánh thiện (theo
Jàtaka 522E).
Tư cách từ bi đối với những kẻ ác tìm
kiếm hạ sát mình, và phẩm hạnh giải thoát mà vị Thánh Tăng này đã
đạt được từ khi Ngài chứng bậc A La Hán quả thật đã không rời Ngài
cho đến phút chót. Phẩm hạnh ấy đã gói trọn bảy ngày sống sau cùng
của Mahà Moggallàna. Bảy ngày quá khắc nghiệt của định luật nhân quả
và tràn trề lòng Từ bi của một bậc Thánh. Một khoảng thời gian tàn
khốc của kiếp sống đầy đe dọa, chỉ có những bậc đã dứt trừ phiền não
và không còn dục vọng mới có thể trải qua một cách dễ dàng! Nghiệp
tạo tác trong quá khứ phải trổ quả trong hiện tại là một điều tự
nhiên. Người phàm hay Thánh nhân chỉ khác nhau ở cách đón nhận cái
quả ấy. Nếu phàm tục đón nhận hậu quả một cách si mê thì Thánh nhân
nhìn thấy hậu quả một cách sáng suốt thanh tịnh.
Thánh Tăng A La Hán Mahà Moggallàna
không còn là một chúng sanh vướng chặt trong thế giới vô thường thì
"quỷ vô thường" dù có hoành hành trong kiếp chót, cũng không thể nào
ngăn cản Ngài bước vào con đường giải thoát.
Ðoạn chót của quyển sách nhỏ bé này
nói về cuộc đời của Ðại đức Mahà Moggallàna còn cho chúng ta một ý
nghĩa khác: Ðó là sức mạnh của Nghiệp Quả, một sức mạnh tự nhiên,
không ai làm chủ cũng không có một thần thông nào thay đổi nó được.
Ðối với một đấng Toàn Giác, sức mạnh
của "Nghiệp Oan Trái" tuy không có hiệu lực trong kiếp chót, nhưng
vẫn trổ quả đầy đủ trong một đời sống trước kiếp chót. Trường hợp
đặc biệt củ một vị "Bồ tát tu hành tinh tấn" nếu đắc được Chánh Ðẳng
Chánh Giác trước kiếp chót, rồi viên tịch luôn thì sức mạnh của
Nghiệp Oan Trái may chăng không bao giờ theo kịp và trở nên vô hiệu
chứ không phải là không có!
Sau khi Mahà Moggallàna và Sàrìputta
tịch diệt rồi, đức Phật đã nhiều lần nhắc nhở đến hai vị Ðại đệ tử
này trước cộng đồng Tăng chúng như hai "bảo vật" đã mất.
Câu mà đức Phật thường tán dương hai
vị Ðại đệ tử là "một đôi Thánh nhân kỳ diệu, lỗi lạc và duyên phúc
vẹn toàn!"
Nhưng điều kỳ diệu hơn hết phải nói
là đức Phật đã nhìn đôi đệ tử "quí báu nhất thế gian" ra đi bằng một
thái độ giải thoát. Thái độ chỉ có đấng Thiên Nhân Sư mới có thể đạt
đến!
Vì vậy, chúng ta là những Phật tử đọc
lịch sử và sự viên tịch của hai vị Thánh Tăng này chúng ta học được
gì? Phải chăng chúng ta cần nương nhờ nơi chúng ta? Chúng ta chính
là "Hòn đảo duy nhất" của chúng ta. Chớ tìm kiếm một "Tha lực" nào
khác!
Chân lý mà chúng ta học được ở Phật
là ngọn đèn bất diệt trên cái "hòn đảo" ấy. Nếu đèn thế gian thường
soi sáng nhiều hướng, thì đèn chân lý cũng soi rõ bốn căn gốc phiền
não: ấy là phiền não trong thân (Sắc), phiền não trong cảm giác
(Thọ), phiền não trong tâm (Tưởng, Thức) và phiền não trong pháp
(Hành). Người nào nhận diện được phiền não trong bốn nền tảng Thân,
Thọ, Tâm, Pháp như thế, gọi là người đã hiểu đúng lời Phật dạy, đã
biết rõ mình là "ai", và chỉ bị luân hồi bằng cái gì (bằng ngũ uẩn:
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), người ấy chắc chắn sẽ bước chân vào
con đường giải thoát!
Nói cách khác là người tu Phật, ngoài
việc cố gắng gìn giữ giới hạnh cho được trong sạch, cần phải liên
tục thực hành phép tu tâm trong chánh thiền (An trụ và Quán xét) để
lúc nào người Phật tử cũng sống trong "sự biết mình"(Satipathàna) và
với một tâm hồn tự tại.
Nếu Bát Chánh Ðạo (Atthangika Magga)
là con đường chúng ta phải đi, Giới Ðức (Sìla) là "sinh hoạt" chúng
ta phải thực hiện, Thiền Ðịnh (Samàdhi) là "thực phẩm" chúng ta phải
ăn, thì Tứ Niệm Xứ (Catu Satipatthàna) là "ngọn đèn" chúng ta phải
thắp để vượt qua khỏi cái biển khổ tử sanh luân hồi vậy./.
Dịch xong tại Paris,
Ngày 3 tháng 3, 1988
Nguyễn Ðiều
-ooOoo-
Phật ngôn
"Selo yathà ekaghano, vàtena na
samĩrati! evam nindàpasamsàsu, na saminjianti pandità!"
(Dhammapàda)
Dịch:
"Như tảng đá vững vàng không lay chuyển, hàng
Thánh nhân thanh tịnh giữa cuộc đời. Chê chẳng buồn, khen cũng
thản nhiên thôi!"
-ooOoo-
Ca dao
Sen
Trong đầm gì đẹp bằng Sen?
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng,
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!
(Văn chương bình dân Việt Nam)
Thơ
Ðạo chứng thân tâm vốn lặng trong
Thần thông biến hóa diệu vô cùng!
Vô biên thế giới hà sa số
Một thoáng
định tâm, đếm cả xong
Sáu cõi, ba đời, hoàn lại một
Tiền Nhân, hậu quả vẫn chung vòng
Kiền Liên bậc Thánh không mà có
Sử chép ngàn sau ấy Mật Tông!
-- Nguyễn Ðiều, 1988
- Hết -
-ooOoo-
|