5. Những Thinh văn xuất sắc
Trong Mahàpadãna Sutta, bài kinh thứ
14 thuộc bộ Diighà Nikàya (Trường A Hàm) đức Phật đã đề cập đến
những vị Chánh Ðẳng Chánh Giác trong quá khứ và xác nhận rằng các vị
Chánh Ðẳng Giác mỗi vị đều có hai đệ tử lãnh đạo và một đệ tử hầu
cận. Rồi trong một chỗ khác, kinh Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm
17,14) Phật còn nói rằng: Tất cả những bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác
trong quá khứ và tương lai đã hay sẽ có một đôi đệ tử xuất sắc nhất.
Mỗi khi có đấng Toàn Giác xuất thế ba
vị đại đệ tử này (tức hai vị lãnh đạo Tăng chúng và một vị hầu cận)
rất cần thiết. Ngài ví họ như ba vị cầm đầu ba bộ Quốc phòng, Nội vụ
và Tài Chánh của một nhà vua. Ðức Phật so sánh việc điều hành Phật
giáo như cách tổ chức của một quốc gia, Phật đã nói Ananda (Ðại đức
A Nan) như người "Tàng trữ" Pháp Bảo (Bộ trưởng Tài Chánh), vì
Ananda là đệ tử nhớ tất cả những bài pháp của Phật thuyết. Ðức Phật
cũng nói đến Sàrìputta như vị "Tổng Tư Lệnh" chu toàn, bảo vệ phạm
vi Giáo Hội (Bộ Trưởng Quốc Phòng) và Mahà Moggallànalà người có
trách nhiệm nội bộ, như bà vú trong gia đình chăm lo con cái, như "Bộ
trưởng Nội Vụ" duy trì nội an.
Cả bốn Thánh nhân này (tức đức Phật
cộng với hai đệ tử lãnh đạo và một đệ tử hầu cận) có thể chia làm
hai nhóm: mội nhóm gồm hai vị có nhiều điều tương đồng. Chẳng hạn
như đức Phật và Ananda (A Nan) thuộc giai cấp "Chiến sĩ" (Khattiya)
và cùng sinh một ngày. Tương tự như thế, Sàrìputta (Xá Lợi Phất) và
Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên) thuộc giai cấp Bà La Môn và ra đời
cùng một lúc.
Sự quan hệ nhân tộc này đã nghiệm
đúng trong đời sống thanh tịnh hàng ngày: Ananda luôn luôn ở bên
cạnh Phật, kể từ khi ông trở thành đệ tử hậu cận như bóng với hình.
Còn Mahà Moggallàna và Sàrìputta thì gần như không thể tách rời nhau
được.
Lúc tuổi về chiều, mỗi khi đức Phật
cảm thấy thân thể mỏi mệt, ba vị Ðại đệ tử này là ba vị duy nhất
được Phật cho phép nhân danh Ngài giảng giải giáo pháp.
Chẳng hạn như đã xảy ra ở
Kapilavatthu (Ca Tỳ la Vệ) Mahà Moggallàna thay Phật thuyết một bài
pháp thật dài nói về sự thu thúc lục căn để đối trị tình trạng chìm
đắm trong lục trần. (theo kinh Samyutta Nikàya:Tạp A hàm, 35, 202).
Sau khi Sàrìputta và Mahà Moggallàna
đắc quả A La Hán. Ðức Phật đã tuyên bố trước Tăng chúng rằng họ sẽ
đóng vai trò hai vị đệ tử lãnh đạo.
Một số Tỳ Khưu tỏ ra ngạc nhiên và
bắt đầu so bì tại sao đức Thế Tôn lại nâng đỡ những Tỳ Khưu "mới
xuất gia". Họ bàn tán: "Người xứng đáng được Phật ban cho phẩm vị ấy
phải là nhóm năm thầy Kiếu Trần Như, hoặc giả Trưởng lão Yasa hay ba
vị đại Sa Môn Kassapa (Ca Diếp). Tại sao đức Phật không ngó ngàng
các vị này, mà lại ban giáo phẩm cao nhất đến những đệ tử mới xuất
gia và "thấp hạ" nhất?"
Ðể phân giải sự xôn xao ấy, đức Thế
Tôn dạy rằng: Mỗi người chỉ gặt hái những gì họ đã tạo. Sàrìputta và
Mahà Moggallàna vốn trong nhiều kiếp quá khứ gieo trồng phẩm vị ấy.
Cả hai đã tuần tự bồi đắp công năng trở thành Ðại đệ tử Phật. Trong
khi đó những Tỳ Khưu khác thì cố gắng tiêu trừ phiền não để giải
thoát mà thôi. Tuy cả hai vị Ðại đệ tử thuộc về một giai cấp xã hội
khác, và từ một tín ngưỡng khác mới gia nhập Phật giáo, nhưng địa vị
đặc biệt của họ trong hàng Thánh nhân là một địa vị đặc biệt do luật
nhân quả ấn định.
Ngoài ra đức Phật cũng đã nhiều lần,
trong nhiều trường hợp khác nhau, ca ngợi đôi đệ tử ưu tú này như
sau:
"Sàrìputta và Mahà Moggallàna là
những vị Thánh nhân độc đáo, là những Sa Môn ưu hạng trong cộng
đồng Tăng lữ. Họ luôn luôn thực hành đúng lời giáo huấn của Như
Lai, sống theo chân lý. Hai Thánh Tăng ấy xứng đáng cho hành Tứ
chúng lễ bái và kính mến (Samyutta Nikàya: Tạp A Hàm 47, 14)"
Và:
"Nếu một người mẹ hiền, thường
khuyên nhắc đứa con trai yêu quí rằng: Này con! Con nên học hành
và giữ gìn nết hạnh như một "Quan Nội Giám" hay như một Hatthaka
của giòng họ Alavi. Vì đây là hai hạng người gương mẫu của xã hội
hiện tại. Thì (xa hơn nữa) bà mẹ ấy nên dạy tiếp rằng: Này con!
Ðức con yêu quí của mẹ. Nếu con muốn được giải thoát, sống đời
sống vô gia đình của một đạo sĩ chân tu thì con nên làm như
Sàrìputta và Mahà Moggallàna! Vì hai Sa Môn này là hai tấm gương
sáng của các hàng Tỳ Khưu vậy! "(Samyutta
Nikàya 17, 23).
Một chỗ kinh khác:
"Này chư Tỳ Khưu! Hãy học hỏi và tu
tập cùng Sàputta và Mahà Moggallàna. Vì hai Sa Môn này có đầy đủ
sức thông minh và tinh thần hỗ trợ cho đồng đạo trong đời sống
Thánh Thiện! Sàrìputta có thể ví như người mẹ, và Mahà Moggallàna
ví như bà vú. Sàrìputta đủ khả năng hướng dẫn phàm Tăng đến Thánh
quả Nhập lưu và Mahà Moggallàna sẽ đưa họ đến cứu cánh giải thoát!"
(Majjhima Nikàya: Trung A Hàm số 141).
Ðặc điểm hai vị Ðại đệ tử này trong
các lời ca ngợi nêu trên của đức Phật có thể phân tích như sau:
Sàrìputta có một biệt tài khai thị và hỗ trợ những ai được Ngài dạy
dỗ, chặt đứt ba xiềng xích sanh tử đầu tiên nơi tâm thức để bước vào
Thánh đạo! Nghĩa là Ngài có khả năng cải hóa phàm nhân một cách rất
hiệu quả, bằng cách làm cho họ thấy rõ sự ảo mộng của kiếp người,
rồi đưa họ vào giai đoạn bình an, không còn sa đọa.
Sàrìputta giống như một hiền mẫu,
hằng theo dõi và hướng dẫn những bước chân đầu tiên của trẻ thơ.
Hoặc nói cách khác, Sàrìputta là vị thầy thọ ký, hay ít nhất là bậc
Sa Môn làm nở được đoá hoa Tu Ðà Hườn trong mỗi học trò.
Còn Mahà Moggallàna hằng tiếp tục
hướng dẫn chư Tỳ Khưu đã bước vào Thánh lưu tiến đến mục tiêu cuối
cùng, Mahà Moggallànakhông bao giờ để cho một vị Tu Ðà Hườn dừng lại
ở đó, mà sẵn sàng soi sáng khuyến khích hành giả tới nơi tới chốn.
Mahà Moggallàna như một Sa Môn vô địch về đức tính tinh tấn, nên
những Tỳ Khưu nào hữu duyên tu tập gần Ngài, có thể xem như tu tập
gần đức Phật, vì phương pháp phát triển tinh tấn mà Mahà Moggallàna
áp dụng để hỗ trợ đồng đạo cũng giống như phương pháp mà đức Phật đã
hỗ trợ Ngài trước đây. Nói tóm lại, Mahà Moggallàna gần như một bà
vú luôn luôn dinh dưỡng và củng cố sức mạnh của trẻ thơ cho đến khi
khôn lớn vững chắc.
Riêng đức Phật tượng trưng cho sự
tổng hợp của hai phẩm tính Sàrìputta và Mahà Moggallàna. Nếu
Sàrìputta là người mẹ, Mahà Moggallànalà bà vú, mỗi người có một ân
đức riêng đối với trẻ thơ, thì đức Phật quả thật vừa là người mẹ,
vừa là bà vú đối với tất cả chúng sanh, nhất là đối với những ai đã
bước vào con đường Bát Chánh (Atthangika Magga).
Ðể dễ nhớ, chúng ta có thể tóm tắt
rằng cuối cùng Sàrìputta và Mahà Moggallàna đều giải thoát, những
phương tiện để hai vị này tiến tới giác ngộ là chiều Rộng và chiều
Sâu. Sàriputta nhờ vào Trí tuệ (rộng), và Mahà Moggallàna nhờ vào
Thiền định (sâu) (Ceto vimutti
cànivimuttica).
Dữ kiện này được hoàn toàn chứng minh
khi hai Ðại đệ tử Phật được giao phó trách nhiệm chăm sóc sự tu tập
của Rahula (La Hầu La), người con kiếp chót của đức Phật.
Vị là một Tỳ Khưu vừa xuất gia,
Rahula có hai vị thầy A Xà Lê (Acariya): một dạy dỗ về Pháp bảo và
một chăm sóc hạnh kiểm. Sàrìputta được Phật chỉ định làm thầy dạy
đạo, và Mahà Moggallàna làm sư trưởng giám hộ hạnh kiểm và tu tập
Thiền định...
Một hôm, Sàrìputta nói với Mahà
Moggallàna rằng: "Này đạo huynh! Sự hiểu biết của bần Tăng so với
những thần thông vĩ đại của đạo huynh chẳng khác nào một mảnh đá vụn
đối với toàn khối núi Hy Mã Lạp Sơn to lớn hùng vĩ!"
Mahà Moggallàna liền đáp lại rằng: "Nhưng
đổi lại, này Sàrìputta! Về sức thông minh, trí tuệ của bần đạo đối
với trí tuệ của Thánh huynh chỉ như một hạt cát nhỏ trong một bãi sa
mạc!" (theo Samyatta Nikàya 21,3)
Về những tầm thông thái đa diện, một
hôm đức Phật đã tiết lộ rằng: "Có những pháp chỉ có Như lai mới
nghiệm ra và có thể thông giải, nhưng không phải Sàrìputta. Rồi có
những vấn đề Sàrìputta mới cắt nghĩa nổi, chứ không phải Mahà
Moggallàna. Và cũng có những công việc chỉ có Mahà Moggllàna mới đủ
khả năng giải quyết, chứ không phải bất cứ một Tỳ khưu nào khác!" (theo
Jataka 483).
Vì vậy, hai vị Ðại đệ tử ấy có thể
xem như hai gạch nối giữa những phẩm lực tối thượng của đức Phật với
khả năng của chư vị đệ tử khác.
Khi Ðề Bà Ðạt Ða tuyên bố đòi lãnh
đạo Giáo Hội, đức Thế Tôn đã nói rằng Ngài sẽ không giao phó ai cầm
đầu Tăng chúng. Ngay cả hai vị Ðại đệ tử Sàrìputta và Mahà
Moggallàna, khiến cho Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) bị cô lập. (Cula
Vagga VII, 3).
Trong sự phẩm định những đệ tử ưu tú
trên cán cân, một bên là Sàrìputta và Mahà Moggallàna và bên kia là
Ðề Bà Ðạt Ða (kẻ hằng làm cho nhiều Tỳ Khưu nông nỗi trở nên hư hỏng),
còn một số đông Sa Môn khác với nhiều trình độ và công hạnh khác
nhau, nên đức phật đã phủ dụ như thế.
Bởi tranh giành chức "Ðệ tử ưu tú" mà
một Tỳ Khưu tên Kokàlika, nghe lời Ðề Bà Ðạt Ða, đã có lần vu khống
hai vị Ðại đệ tử ấy rằng "họ có nhiều ác ý" thay vì sự tố cáo đó nên
nhắm vào Ðề Bà Ðạt Ða.
Ðức Phật đã dạy:
"Này Kokàlika! Ông không nên lầm lẫn
như thế! Hãy thân thiện và tín nhiệm Sàrìputta và Mahà Moggallàna,
vì họ là hai Sa Môn có khả năng!" (theo Samyutta Nikàya, Tạp A
Hàm 6- 10).
Dù được Phật nhắc nhở như vậy, nhưng
Kokàlika vẫn tiếp tục vu oan nên đã chịu quả khổ. Theo kinh ghi lại
thì Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) và Kokàlika đã bị đọa vào địa ngục Vô
Gián, tức địa ngục của những kẻ nặng tội nhất. Ngược lại, Sàrìputta
và Mahà Moggallànathì đạt tới Thánh quả cao nhất, giải thoát Niết
Bàn.
6. Những đóng góp của hai vị Ðại đệ
tử.
Trong tam tạng kinh điển, có nhiều
bản "thuật sự" nói về những công tác mà hai vị Ðại đệ tử đã thực
hành chung để phụ tá đức Phật chăm sóc Giáo Hội. Cả hai đã làm việc
rất nhiều để cho cộng đồng Tăng lữ được phát triển đầy đủ ơn ích.
Những đóng góp của họ hầu hết nhắm vào việc dung hoà nội bộ, ổn định
và gìn giữ kỷ luật Giáo Hội, đáng được ghi lại cho hậu thế noi theo.
Chẳng hạn như vụ đức Phật ra lệnh
trục xuất nhóm sáu vị Tỳ Khưu (Chabaggiya, Lục quần Tỳ khưu)
cố ý dễ duôi và bất tuân kỷ luật mà đức Phật đã lắm lần khuyên răn
không kết quả (ghi trong Kìta Giri thuộc bộ Majjhima Nikàya 70).
Ðây không phải là một việc dễ làm! Và cũng vì nhóm sáu vị Tỳ Khưu
này mà một số giới luật mới đã được đức Phật chế định.
Sau cùng, vì thái độ quá sân si, bất
phục thiện của họ mà đức Phật quyết định cho phép Sàrìputta và Mahà
Moggallàna(với sự ủng hộ của Tăng Già Tỳ Khưu đầy đủ đức hạnh) trục
xuất sáu Tỳ Khưu khó dạy này ra khỏi Giáo Hội một cách êm đẹp
(Culla Vagga VI,13-16).
Ðặc biệt nhất là sau đó, hai vị Ðại
đệ tử đã thành công trong việc khuyến dụ được những Tỳ Khưu trẻ tuổi
bồng bột, nghe lời xúi giục của Ðề Bà Ðạt Ða hành động sai lầm, quay
về với đức Phật và giữ lại đời sống phạm hạnh.
Khi thực hiện điều này, Sàrìputta đã
dùng Tha tâm thông để thấy rõ những Tỳ Khưu nhỏ lầm lạc kia suy nghĩ
gì mà giải thích ngay điểm họ hiểu quấy, còn Mahà Moggallàna thì
dùng những thần thông khác! (theo Culla Vagga VII,4).
Biến cố sau đây chứng tỏ rằng hàng
ngũ Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Sàrìputta và Mahà Moggallàna đã
được vững chắc: một lần nọ, khi Sàrìputta bị một Tỳ Khưu thù nghịch
vô cớ kết tội, Mahà Moggallànavà Ananda đã lập tức triệu tập Tăng
chúng để nhìn nhận và phán quyết sự điều trần chân chánh của
Sàrìputta trước lời buộc tội của người đối lập, là sự thật (Anguttara
Nikàya IX 11).
Lần khác, khi Mahà Moggallàna bị bệnh,
đức Phật đã đến thăm và khuyến khích ông bằng một bài pháp nói về
bảy yếu tố Giác ngộ. Mahà Moggallàna đã nhờ bài pháp này mà khắc
phục được đau đớn và khỏi bệnh (Samyutta
Nikàya 46,15).
Sau khi đạt đến Thánh quả A La Hán,
và được đức Phật giao phó trách nhiệm hướng dẫn Giáo Hội, hai vị Ðại
đệ tử thường sống chung với nhau trong một tu viện thuộc Trúc Lâm
tịnh xá (Veluvana Vihàra). Họ thường tổ chúc những buổi luận đạo,
với sự tham dự của một số Tăng lữ để giúp những đồng đạo gia tăng sự
hiểu biết trong Phật giáo hoặc đã thông những điểm nghi ngờ của họ.
(Majjhima Nikàya No 5).Và có rất nhiều bài pháp đã được hai
vị Ðại đệ tử này thuyết cho Tăng chúng nghe.
Những bài pháp do Mahà
Moggallànathuyết được ghi lại trong các kinh: Majjhima Nikàya số 15,
Anguttara Nikàya 35, 202.
Họ cũng dùng khá nhiều thì giờ trong
việc chủ tọa những buổi luận đạo của những hàng đệ tử (ghi
trong kinh Samyutta Nikàya 14, 15).
Ngoài ra còn có những mẫu đối thoại
sâu sắc với Ðại đức Anuruddha (A Nậu Lâu Ðà), một Thiền sư thượng
thừa trong các hàng Ðại đệ tử Phật. Những mẫu đối thoại như thế đề
cập đến pháp Thân Quán Niệm Xứ (tức sự quán xét biết mình- ghi
trong Samyutta Nikàya 47, 26-27) và sự khác biệt giữa hai bực
Hữu học (Sekhà) và Vô học (Asekhà) (ghi trong Samyutta Nikàya 52,
4-6).
Cả hai vị Ðại đệ tử thường được đức
Phật nhiệt liệt khen ngợi về việc làm hữu ích của họ nhưng họ không
bao lấy làm hãnh diện. Vì họ là những Thánh nhân, nên các sự ngã mạn,
tự cao v.v... không còn trong họ nữa.
Xin kể một giai thoại:
Một lần nọ khi hai Ðại đệ tử này đang
ngồi gần đức Thế Tôn. Phật yên lặng và cả hai vị Ðại đệ tử đều lĩnh
tọa trong một trạng thái đoạn tuyệt phiền não. Chợt đức Phật thốt ra
những câu tán dương sau đây, trước tiên đến Sàrìputta và sau đến
Mahà Moggallàna:
"Như đỉnh núi khôn lay trên mặt đất,
Một Sa Môn vọng tưởng đã tiêu tan,
Tâm và trí không còn theo phóng dật,
Thì lục căn tinh khiết sáng như vàng.
Thiền an trụ làm thân tâm hoá Phật,
Rồi Sa Môn thấy rõ Pháp Niết Bàn!"
(Thoát dịch theo Kinh Udàna III, 4-5)
Còn sự khiển trách thì chỉ có một là
đức Phật đã không ý với Sàrìputta mà lại khen ngợi Mahà Moggallàna (Mục
Kiền Liên). Câu chuyện như sau:
Lúc ấy đức Thế Tôn vừa yêu cầu một
nhóm Tỳ Khưu làm ồn, vốn là học trò của Ðại đức Sàrìputta, ra khỏi
nơi Phật ngự. Ðức Phật bèn hỏi hai vị Ðại đệ tử xem họ nghĩ sao khi
Phật làm như vậy. Sàrìputta trả lời: "Vì đức Thế Tôn muốn an định
trong thiền cảnh, và chư đệ tử phải tuân hành".
(Ý nói Sàrìputta và Mahà Moggallàna, sau khi nhóm Tỳ
Khưu ồn ào kia đi rồi, họ phải cùng với đức Phật nhập vào Thiền định).
Nhưng đức Phật đã quở trách Sàrìputta.
Ngài nói: "Ông không nên có ý nghĩa như vậy, và đừng bao giờ tái suy
nghĩ như thế!"
Rồi Phật quay sang Mahà Moggallàna
nhắc lại câu hỏi tương tự. Mahà Moggallàna đáp lại rằng: "Khi đức
Thế Tôn muốn an định trong thiền cảnh thì các đại đệ tử, nhất là đạo
huynh Sàrìputta phải có trách nhiệm coi ngó chư Tăng (dạy dỗ các đệ
tử của mình).
Ðức Phật liền khen ngợi Mahà
Moggallàna và tiếp rằng "Cả hai đại đệ tử phải trông nom cộng đồng
Tăng lữ một cách tốt đẹp như chính đích đức Phật trông nom vậy!".
7. Thần thông của Mahà Moggallàna
Trong bài pháp nói về những đệ tử có
khả năng siêu phàm (Anguttara Nikàya I,13) đức Phật đã đề cập
đến Mahà Moggallàna như một bậc Thương thừa trong những kẻ có thần
thông trên thế gian.
Một hôm Mahà Moggallànacùng với các
học trò đi kinh thành gần nơi Tăng hội (Samyutta Nikàya 14-15),
đức Phật đang có mặt và còn nói rõ: "Dĩ nhiên cũng có những đệ tử
khác đã được thần thông quí báu, nhưng mỗi người chỉ tuyệt diệu trên
một phương diện. Chẳng hạn như Sa Môn Anuruddha và Tỳ Khưu Ni Sakulà
đạt Thiên nhãn thông thấy rõ đủ loại chúng sanh trong tam giới. Tỳ
Khưu Sobhita và Tỳ Khưu Ni Bhadda Kapilàni thì có Túc mạng thông
biết được hàng ngàn kiếp trong quá khứ. Tỳ Khưu Sagalo có thể đi
trong lửa, không bao giờ bị cháy. Ðệ tử Cùla Panthaka có thể bay
trên không gian, đi thăm các tầng trời. Và đệ tử Pilinda thì độc đáo
trong việc nghe các hàng chư Thiên nói chuyện (Thiên nhĩ thông).
Nhưng Mahà Moggallàna thì xuất sắc
nhất trên tất cả các phương diện. Ông đã đạt được nhiều loại thần
thông khác nhau, cao đẳng hơn các loại đệ tử khác! Ngay cả Tỳ Khưu
Ni Uppallavanna là một bậc pháp luật nổi tiếng cũng không vượt nổi
thần thông của Mahà Moggallàna vậy!"
Ai đã từng nghiên cứu về những sức
mạnh "Siêu tâm lý" hay các bí mật Thần học (tuy trừu tượng nhưng rất
thực dụng) sẽ khám phá ra được giá trị bản kinh nói về thần thông
của Mahà Moggallàna, và phải tin tưởng rằng ấy là một điều có thật!
Thế giới mà chúng ta gọi là vật chất,
có thể tiếp nhận qua năm cảm quan (hay năm giác quan) được nhưng nhà
Vật Lý học hiện nay cắt nghĩa như là "Sự biểu hiện của nhiên lực"
v.v... vốn chỉ là một phần rất nhỏ trong cái "sự thật vô biên". Sự
thật ấy bao gồm tất cả mọi "Tĩnh Ðộng" từ cực tiểu đến cực đại mà
con người chỉ thông thấu được môi trường rất hạn hẹp, khó có thể
hiểu nổi những gì giới hạn của mình.
Nghi ngờ chớ không dám quá quyết Xác
nhận hay Phủ nhận vì biết rằng nó nằm ngoài tầm tay tư tưởng của
mình, rồi tạm dùng những từ ngữ như "Phản vật chất", "Tâm lý lực"
hay "Siêu nhiên" chính là con người bắt đầu cảm chứng những kỳ lạ mà
khoa học không cắt nghĩa được. Vì chúng ta chỉ ý thức được một lãnh
vực nhỏ hẹp, lãnh vực của thế giới "sinh động vật", nên chúng ta
luôn luôn có khuynh hướng lấy những "Kiến thức" chuyển động giới hạn
làm nguyên tắc tuyệt đối.
Nhưng vũ trụ đối với những bậc thanh
tịnh Ðại Giác, đối với các bậc Thánh nhân vượt khỏi mọi tầng lớp vật
chất hóa hiện, là một vũ trụ to lớn không lường. Vũ trụ ấy vốn vừa
độc lập với môi trường của chúng ta vừa có thể linh nghiệm nếu chúng
ta đủ đem sức cái " Tự nhiên" của mình rèn luyện thành cái "Siêu
nhiên" của các bậc Thánh. Ðây chính là chỗ gạch nối (hay còn gọi là
mối liên hệ) giữa những huyền bí khác nhau mà người ta gọi là phép
lạ! Ðiều đáng tiếc là một khi những trình độ siêu phàm ấy biểu hiện
như một thần thông có thật, vì người ta vì quá bị cầm tù trong tư
tưởng hẹp hòi, không thể ý thức rằng chính cái "sở năng hữu hạn" của
mình không cho mình hiểu biết được các sự thật không thể chối cãi
được.
Nhưng đối với các hàng siêu thế, như
đức Phật hay ngài Mục Kiền chẳng hạn, khi đã tu luyện phát triển
những khả năng thần nghiệm xuất thế, các ngài đã lọt vào trong những
pháp hành vô cực, cao rộng hơn môi trường phàm tình rất nhiều và với
những cảm quan đã hoàn toàn tinh diệu, nhất là đã đạt được "Tứ Phần
Nhận Thức" (Iddhipada), các Ngài sẽ thấy rõ cái chân lý Vô thượng,
Vô lượng, phi không gian lẫn phi thời gian.
Ðối với các bậc này, viễn tượng biểu
hiện biết thực nghiệm của họ sẽ nằm trong lẫn ngoài vũ trụ, không
thể đo lường được, vượt khỏi mọi lằn mức và biên giới.
Kinh Majjhima Nikàya (Trung A Hàm) số
32 có ghi : Khi Sàrìputta hỏi Mahà Moggallàna: "Loại Sa Môn nào mà
Tăng chúng (đang) hội họp nơi đây nên tán dương nhiều nhất?" Mahà
Moggallàna trả lời rằng: "Theo quan điểm của ông thì ấy là Sa Môn có
trí tuệ luôn luôn tỏ sáng và có thể thảo luận và giảng giải một cách
rành mạch mọi giáo lý của đức Phật"
Nghĩa là kinh đã xác nhận Mahà
Moggallàna quả thật là người đủ khả năng nói pháp siêu hình.
Thật ra, những bài pháp giá trị cả bề
rộng lẫn bề sâu là những bài pháp phải thoát ra cửa miệng của một
người đã tu chứng đạt thần thông, vượt lên trên lãnh vực vật chất và
cảm quan. Sa Môn nào càng mở trí thức bằng những công phu siêu nhiên
như thế, Sa Môn ấy càng có nhiều điều để nói. Nghĩa là hành giả khi
tự mình đã chứng nghiệm trong diệu pháp giải thoát siêu phàm, họ sẽ
có trí tuệ thông biện nhất để làm bộc lộ sức mạnh của pháp bảo và
kích thích người khác. Những thí dụ về Mật pháp do Mahà Moggallàna
thuyết ra như thế đã được ghi trong Majjhima Nikàya (Trung A Hàm số
15- 17), trong Anguttara Nikàya (Tăng Nhất A Hàm X, 84) và trong
Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm 35, 202.44,7-8)
Bây giờ chúng ta thử quay lại vấn đề
"Thần thông" của Mahà Moggallàna (Mục Kiên Liêm) ghi trong kinh điển
Phật giáo, dựa theo năng thể chất thì sẽ thấy những loại sau:
1/ Tha tâm thông
Một lần nọ nhằm lễ Phát Lồ (Uposatha),
đức Phật cùng Tăng chúng ngồi tĩnh tọa trọn cả đêm
* Ngày phát lồ, Bố-tát, tức là ngày
kiểm soát lại giới hạnh. Có hai lần trong mỗi tháng, tức mồng 1 và
ngày rằm. Hằng Phật Tử tại gia thường gọi đó là ngày "Sám hối",
còn các bậc xuất gia ấy gọi là ngày "xưng tội, tụng giới bổn". Lễ
phát lồ sẽ không thành tựu nếu có một Tỳ Khưu giấu lỗi.
Khi bình minh ló dạng, đức Phật chỉ
tuyên bố: "Tăng hội đêm nay không trong sạch". Ðại đức Mahà
Moggallàna lập tức dùng Tha tâm thông quan sát từ vị Tỳ Khưu này đến
vị Tỳ Khưu khác, và tìm ra một tu sĩ hoàn toàn bị ô uế. Ông liền đến
trước mặt yêu cầu vị Tỳ khưu ấy ra khỏi Tăng hội. Nhưng đương sự
không chịu nhúc nhích. Sau khi cảnh cáo đủ ba lần, Mahà Moggallàna
mới dùng "Ðại thủ" (bàn tay lớn) nhấc bổng Tỳ Khưu ấy lên, rồi đem
để ra ngoài phòng hội. Ðoạn Mahà Moggallàna đóng cửa cẩn thận trước
khi yêu cầu đức Phật tuyên đọc Giới bổn (Patimokha Samvarasila) (theo
Anguttara Nikàya VIII,20)
* Giới bổn
là những điều răn cấm, gồm 227 điều hành cho phẩm hạnh Tù Khưu (Bhikkhu)
Giới bổn này còn gọi là "Biệt Giải Thoát Giới" chỉ được sau khi
cộng đồng tăng sự đả "xưng tội" đầy đủ, đã được"ân xá" hay đã được
"hành phạt" và trở nên trong sạch.
Lần khác đức Phật có mặt trong cộng
đồng năm trăm vị Tỳ Khưu mà chỉ có Ngài mới biết tất cả là A La Hán.
Khi Mahà Moggallàna từ xa đến, ông liền nhận ra các Thánh Tăng và lễ
bái một cách kính cẩn.
Liền ấy, một trong số năm trăm vị A
La Hán đã đứng dậy ca ngợi Ðại đức Mahà Moggallàna bằng những câu kệ
(phỏng dịch thành thơ) như sau:
"Trong khe núi tâm người thanh tịnh,
Diệt tham, sân, phá tan chấp mê lầm.
Người xứng đáng cho Tăng đồ cung kính.
Vị thần thông, vì tuệ lực cao thâm.
Trong nháy mắt người nhìn ra đạo hạnh.
Của thánh nhân, không còn chút bụi trần!
Tâm người sáng như kim đài óng ánh,
Vì người đây là Tôn túc tuyệt luân!"
(Samyutta Nikàya 8,10)
Ngoài ra, kinh tạp A Hàm (Samyutta
Nikàya No 52, 1-2) cũng còn một đoạn ghi về Tha tâm thông của Mahà
Moggallàna như sau :
"Khi ấy Ðại đức Anuruddha đang hành
thiền tại một nơi vằng vẻ. Vì muốn biết rõ hiệu lực của diệu pháp
Niệm Xứ (Satipatthàna) có khả năng tiêu trừ đau khổ, đánh tan phiền
não, tiến tới giải thoát hoàn toàn như thế nào, mà Mahà Moggallàna
đã dùng Tha tâm thông "bám sát" thiên cảnh của Anuruddha, rồi hiện
ra trước mặt, yêu cầu Thiền tăng ấy mô tả chi tiết của phương pháp
thực hành Niệm Xứ".
2/ Thiên nhĩ thông
Một tối nọ, khi Ðại đức Sàrìputta đến
thăm Ðại đức Mahà Moggallàna, ông chợt thấy nét mặt của người đạo
huynh này có một vẻ thanh tịnh lâng lâng, siêu thoát. Ðại đức
Sàrìputta liền hỏi Mahà Moggallàna xem phải chăng người đang tịnh
tâm trong một cõi thiền nào đó. Nhưng Mahà Moggallàna trả lời rằng:
tâm ông chỉ an trú ở cõi thiền thấp nhất. Còn nét mặt ông "trong
suốt" là vì ông đang "lắng nghe" một bài pháp. Sàrìputta liền hỏi: "Sư
huynh nghe pháp của ai vậy?", thì được trả lời: "Bần Tăng nghe pháp
của đức Thế tôn!"
Lúc ấy đức Phật đang ngụ tại thành Xá
Vệ (Savatthi) rất xa kinh đô Vương Xá (Ràjagaha), tức là nơi mà
Sàrìputta và Mahà Moggallàna đang có mặt. Ðại đức Sàrìputta liền hỏi
:
"Phải chăng Mahà Moggallàna đã "xuất
hồn" đi nghe Phật thuyết pháp hay đức Thế Tôn dùng Phật lực đến bên
cạnh Mahà Moggallàna để thuyết pháp?". Mahà Moggallàna liền xác nhận
rằng không phải ông xuất hồn đến gần Phật, cũng chẳng Phật lại gần
ông, mà ấy chỉ là "sự vận dụng của Thiên nhản thông và Thiên nhĩ
thông" khi cả hai giác quan này của ông lẫn của đức Phật đều đã tinh
luyện. Nghĩa là với hai thần thông ấy, đức Phật và Mahà Moggallàna
tuy ở rất xa nhau, nhưng có thể nhìn thấy nhau, và đối đáp với nhau
thật rõ ràng như ở gần vậy.
Sau đó, Ðại đức Sàrìputta tự động tán
dương rằng: "Khi đạt được những thần thông như thế đức Phật hay Mahà
Moggallàna có thể sống mãi đến trọn kiếp tái đất, nếu Phật hay Mahà
Moggallàna muốn!". (Samyutta Nikàya 21,3).
Ngoài ra, với "Thiên nhĩ thông" Mahà
Moggallànacòn có thể nghe được "ngôn ngữ của phi thân, chư thiên, ma
quỷ.v.v. và có thể nhận rõ những tư thức của họ". Chẳng hạn như có
một lần một ngạ quỷ đã báo cho ông biết để ngăn chặn Ðề Bà Ðạt Ða,
vị ác Tăng này định làm hại đức Phật (theo Kinh Culla Vagga
VIII,2).
3/ Thiên nhãn thông
Như đoạn trên vừa nói, Màhà
Moggallàna đã dùng Thiên nhãn thông để thấy được đức Thế Tôn xa hàng
một trăm dặm (Samyutta Nikàya 21,3).
Nhưng cũng còn ngững thuật sự sau đây:
"Lần nọ, Ðại đức Sàrìputta đang ngồi
tham thiền gần chân núi, một quỷ dạ xoa (Yakkha) hung bạo đã dùng
toàn lực đánh lên đầu Ðại đức một cái như trời giáng, và nhanh như
chớp, Ðại đức Mahà Moggallàna cũng bận hành thiên, chợt thấy không
ngăn kịp, bèn hỏi:
"Ðạo huynh Sàrìputta! Người bị quỷ dạ
xoa đánh có đau không?"
Ðại đức Sàrìputta mỉm cười trả lời:
"Tôi chỉ cảm thấy có cái gì chạm nhẹ
lên đầu". Sau đó, Mahà Moggalàna liền tán dương oai lực của tâm an
trụ. Còn Sàrìputta thì khen ngợi thần nhãn của Mahà Moggallàna, vì
chính mình không tài nào trông thấy được hung thần vừa tấn công mình
hình dáng như thế nào (theo Kinh Udàna IV,4).
Một hôm, nhờ Thiên nhãn thông mà Mahà
Moggallàna tuy ở xa vẫn thấy được đức vua Pasenadi bị thảm bại trong
một trận đánh với người Licchavi. Nhưng sau đó nhà vua đã tập hơp
được tàn quân rồi phản công và chiến thắng kẻ thù.
Khi Mahà Moggallàna thuật lại chuyện
này, một số Tỳ Khưu vội kết tội ông nói điều không thật và khoe pháp
"Bậc cao nhân", tức phạm vào một trong bốn đại tội gọi là Bất Cộng
Trụ, phải bị mất phẩm hạnh Tỳ Khưu và bị trục xuất khỏi Giáo Hội.
Tuy nhiên, đức Phật liền dùng Thánh
Tuệ phán xét và phân giải rằng: "Này chư Tỳ Khưu! Mahà Moggallàna
chỉ nói đúng những điều ông đã thấy, vì những chuyện ấy đã xảy ra (theo
Pàrajika IV,17).
Hơn thế nữa, Mahà Moggallàna cũng
nhìn thấy rất thường sự biểu hiện của luật Nhân Quả: Ông thấy nhân
loại sinh tử ra sao. Do những hành động xấu xa (như làm hại đồng
loại chẳng hạn) đã khiến họ tái sinh vào các ngạ quỷ, chịu đau khổ
như thế nào. Trong khi đó một số người khác nhờ làm việc lành đã
được sanh vào các cõi trời Dục giới hay các cõi trời cao hơn.
Vì vậy cứ mỗi lần thuyết pháp, Mahà
Moggallàna thường dùng những trường phòng hợp như thế làm thí dụ
chứng minh cho luật Nhân Quả. Thuật sự về Thiên nhãn thông này tìm
thấy rải rác trong kinh điển rất nhiều, không thể kể hết ra được.
Trong hai cuốn thuộc Tam Tạng Pàli
nói về cảnh ngạ quỷ (Petavatthu) và các cõi trời Dục giới A
Tu La (Vimànavatthu), có chín trong số năm mươi về những sự
sinh diệt do chính mắt ông trông thấy. Ðây chính là lý do mà hầu hết
học giả Phật giáo đều kết luận rằng Mahà Moggallàna là một vị Thánh
Tăng duy nhất biết được nhiều thế giới khác ngoài cõi người và thấu
rõ mọi "Biến hành" của Nghiệp (Kamma).
Tuy thuật sự về Thiên nhãn thông của
Mahà Moggallànacó quá nhiều, không thể kê khai hết được. Nhưng ít
nhất xin kể vài chuyện trong kinh Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm ) số
19, 1-21 và trong Pàràjika 9,15 như sau:
Lần nọ, Mahà Moggallàna ẩn tu trên
đỉnh Linh Thứu Sơn ,gần thành Vương Xá (Rajàgaha) cùng một Sa Môn
tên Lakkhana (tức một trong số một ngàn đạo sĩ Bà La Môn đã quy y
Phật giáo cùng với Uruvela Kassapa).
Một buổi sáng nọ, khi hai vị Sa Môn
xuống núi khất thực trong thành phố, Mahà Moggallàna chợt mỉm cười
khi đi qua một đoạn đường. Sa Môn Lakkhana thấy lạ bèn hỏi lý do thì
Mahà Moggallàna trả lời vỏn vẹn rằng: "Bây giờ chưa phải là lúc bần
đạo có thể nói cho sư huynh nghe! Khi gặp đức Bổn Sư, bần Tăng sẽ
nói cho Sư huynh nghe cũng không muộn!"
Sau đó, khi gặp đức Phật, Sa Môn
Lakkhana liền nhắc lại câu hỏi này thì được Mahà Moggallàna trả lời:
"Lúc ấy bần Tăng thấy những ngạ quỷ đói rách chạy loạn trên không,
sau lưng chúng có những" luồng ác khí "như phiền não, hối hận, đau
đớn đuổi bắt!".
Ðức Phật cũng xác nhận "Ấy là một sự
thật". Ngài còn nói thêm: "Sở dĩ Như Lai ít khi đề cập đến chuyện
ngạ quỉ khốn khổ là vì phàm nhân không thể nào tin được!". Rồi đức
Thế Tôn còn dùng "Thông Thiên Tuệ" phân tích: "Loài ngạ quỉ vốn kiếp
trước xem thường từ hạnh, chế giễu những kẻ chăm lo tu hành nên kiếp
này thèm khát phúc đức. Mỗi khi chúng thấy một bậc chân tu đi ngang
là chúng lại gần để tinh thần bớt khổ não". Phật kết luận: "Bọn ngạ
quỉ biết Mahà Moggallànacó nhiều thần thông muốn cầu ông ta giải cứu,
nhưng vì nghiệp ác cuả chúng dày, không mở miệng ra được nên chúng
cứ chạy quanh để kích thích lòng từ bi của Mục Kiền Liên đấy!"
4/ Di hành thông (hay còn gọi là Di
Thân Pháp).
Ðây chính là loại thần thông mà những
chúng sanh nào mang sự sống bằng vật chất phải cần dùng nhất.
Kinh chép: "Chỉ dễ dàng như một người
muốn co cánh tay vào hay duỗi cánh tay ra, và nhanh chóng như thế,
thì Mahà Moggallànacũng có thể " khởi hành" ( với xác thân của mình)
từ cõi người, rồi xuất hiện trên cõi trời trong khoảnh khắc".
Ðại đức Mahà Moggallàna đã sử dụng
thần thông ấy nhiều lần để vừa đi thuyết pháp cho những thiên chúng
ở các cõi trời nghe vừa quay về trần gian lo việc Giáo Hội. Một
trong những kỳ công ấy là Mahà Moggallàna đã giảng đạo đến chư Thiên
ở tầng trời thứ ba mươi ba (Tàvatimsa: Tha Hóa Tự Tại Thiên) giúp họ
phần lớn nhập vào Thánh Lưu, và nhắc nhở luôn cả vua trời Ðế Thích
(Sakka) xem vua còn tin tưởng vào giáo lý giải thoát của chư Phật
hay không (theo Majjhima Nikàya: Trung A Hàm số 37).
Theo thuật sự Jàkata số 483E thì khi
Phật lên cung trời Ðao Lợi thuyết pháp ròng rã trong vòng ba tháng
để độ "Phật Mẫu". Mahà Moggallàna đã làm vị Tông Ðồ duy nhất lên
thông báo mọi tin tức Giáo Hội ở thế gian đến đức Phật và xin chỉ
thị của ngài.
Trong khi "du hành" làm Phật sự như
thế Mahà Moggallàna không phải chỉ "ghé thăm" các chư Thiên ở cõi
trời Dục giới, mà Ngài còn lên cả đến các cung trời Sắc giới lẫn Vô
Sắc giới. Khi Mahà Moggallàna xuất hiện, các Phạm Thiênvốn không tin
có một đạo sĩ nào đủ khả năng lên tới cảnh trời của họ bèn chất vật,
mới hay đó là thần thông của Sa Môn Maggallàna, đại đệ tử Phật. Từ
đó, các Ðại Phạm Thiên không dám dễ duôi cho rằng "họ là những vị
trời bất diệt" nữa (theo Kinh Samyutta Nikàya 6,5).
Ðặt biệt là Mahà Moggallàna đã tìm ra
được một vị Phạm Thiên tên là Tissa, kẻ trước đó không bao lâu chính
là một Tỳ Khưu đệ tử Phật, đã viên tịch và sinh vào cõi trời này.
Nhờ nghe được Pháp bảo của Mahà Moggallàna mà Phạm Thiên Tissa đã
chứng quả giải thoát ngay sau đó. (theo Anguttara Nikàya: tăng
Nhất A Hàm IV,34-VII 530.)
5/ Phổ lực thông
Ðối với những vật chất (hữu hình) hay
vật tính (vô hình) dù có trọng lượng và cấu lực vững chắc đến đâu,
Mahà Moggallàna cũng có thể lay chuyển dễ dàng.
Lần nọ, nhân lúc một nhón Tỳ Khưu ngụ
tại một tu viện, xem thường các bậc Thánh Tăng và dễ duôi phận sự tu
hành, cứ bận tâm tập luyện thân thể cho được cường tránh. Ðức Thế
Tôn hay chuyện nay, hiểu rõ lòng tin sức mạnh vật chất thái quá của
họ, bèn bảo Mahà Moggallàna nên sử dụng thần thông để cảnh cáo. Mahà
Moggallàna vâng lời Phật dạy, chỉ dùng một ngón chân ấn nhẹ, làm
rung chuyển nhiều tòa nhà khiến cho toàn thể tu viện mệnh danh là
"Lãnh vực Thiên Ðường Migàra" như trải qua một cơn đông đất.Nhìn
thấy thần lực phi thường của Ma hà Moggallàna toàn thể Tỳ Khưu từ đó
không dám dễ duôi, bắt đầu kính sợ đức Phậtt và các hàng Thánh Tăng
. Nhân đó, đức Thế Tôn đã giảng giải về bốn yếu tố tạo nên thần lực
(Iddhipada) và chỉ có Mahà Moggallàna mới hội đủ bốn yếu tố này (theo
Kinh Samyutta Nikàya số 51, 14 và kinh Jàtaka 299E).
Kinh Majjhima Nikàya (Trung A Hàm số
37) cũng kể rằng: "khi Moggallàna đến thăn vua trời Ðế Thích (Sakka)
tại thiên giới, rồi nhận ra rằng vị vua trời này đang bắt đầu khởi
niệm "dục mạng", ngã chấp tâm tự hào và khoái lạc trong những hạnh
phúc tiên cảng, quên hết chân lý giải thoát. Mahà Moggallàna liền sử
dụng Phổ Lục Công làm lay động nhẹ ngôi đền của Ðế Thích ở, có tên
là "Bất Diệt Cung", khiến cho Ðế Thích giật mình hoảng sợ. Sau đó,
Ðế Thích mới từ bỏ ngã mạn và lắng nghe vị Thánh Tăng nhắc lại pháp
tiêu trừ tham ái, mà ông đã được Phật dạy trong một thiên niên kiếp
trước. Pháp ấy cũng là pháp Phật đã dạy đến Mahà moggallàna để tiến
lên quả vị giải thoát.
Lần khác, khi đức Phật còn tại tiền,
có một nạn đói đã xảy ra ở vùng đức Phật cùng Tăng chúng đang ngụ.
Chư Tăng đi trì bình chẳng đủ thực phẩm. Vì vậy, Mahà Moggallàna
liền yêu cầu đức Thế Tôn cho phép ông đảo ngược lớp mặt đất vì có
những chất nằm trong lòng đất có thể trồi lên và con người có thể ăn
được,
Nhưng đức Phật đã bảo Mahà Moggallàna
không nên làm vì sẽ gây sự hủy hoại sinh mạng của một số lớn sinh
vật sống trong lòng đất. Hơn nữa, nạn đói cũng là một ác quả phải
trả của một số người không thể tránh được.
Ðại đức Mahà Moggallàna liền nêu lên
một giải pháp khác: Ông có thể dùng thần thông để mở ra một con
đường rất ngắn đến xứ Uttara kuru (khá sung túc và cách đó rất xa )
để chư tăng có thể đi khất thực.
Lần thứ hai, đức Phật cũng bác bỏ và
dạy rằng: "nạn đói không thể làm hại những Sa Môn đầy đủ đạo hạnh!
Dù cho các Sa Môn ấy không có một chút thần thông!" (theo Kinh
Pàràjika I,2). Ðây là trường hợp duy nhất mà đức Phật đã từ chối
lời đề nghị của Mahà Moggallàna.
Ngoài ra, Mahà Moggallàna cũng có
thần thông đem được bất cứ vật gì ở bất cứ nơi nào trên thế giới,
đến chỗ mình muốn. Chẳng hạn như trong kinh ghi: "Khi Sàrìputta bị
bệnh, ông (Mahà moggallàna) đã dùng thần thông lấy cuốn sen trên
đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn về làm thuốc cho vị đạo huynh này". (theo
Mahà Vagga VI, 20 và Culla Vagga V, 34).
Chỗ khác, kinh Jàtaka số 78E còn nói
"Ðại đức Mahà Moggallàna, trong chốc lát đã lấy về một chồi cây Bồ
đề cách xa hàng trăm dặm cho ông Bá hộ Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika)
trồng trong khuôn viên Kỳ Viên Tự"
Nhưng theo một thuật sự khác về vấn
đề tranh tài thì Mahà Moggallàna đã từ chối.
Số là thuở ấy, những tín đồ ngoại đạo
và một số những Trưởng giả trong thành phố đã tổ chức một cuộc biểu
dương thần thông. Họ treo giải thưởng là một bình bát bằng vàng, cột
ở đỉnh trụ rất cao, mà đạo sĩ hay Sa Môn nào lấy được tức là người
vô địch.
Khi Tỳ Khưu Pindola yêu cầu Mahà
Moggallàna "sử dụng thần thông để cho quần chúng khâm phục oai lực
của Tăng bảo "thì Mahà Moggallàna đã từ chối. Ông nói rằng:
- "Sư đệ có thể làm việc đó!"
Và khi Pindola lấy được bát quí,
khiến cho quần chúng kính nể các đệ tử của đức Cồ Ðàm thì đức Thế
Tôn đã khiến trách ông ấy. Phật dạy:" Này Pindola! Từ nay về sau,
ông chớ biểu diễn thần thông vì mục đích ham danh như thế!" (theo
Culla Vagga V,8).