Khi ấy đức Phật đang thuyết
pháp giữa hàng Tăng chúng. Ngài thấy đôi bạn từ xa đi tới, liền nói
rằng:
"Này chư Tỳ Khưu! Hai người sắp
đến kia tên là Kolita Moggallàna và Upatissa, là hai nhà trí thức.
Họ sẽ là những Ðại đệ tử ưu tú của Như Lai. Họ là một đôi bạn phước
duyên song toàn".
Lúc đến gần, Kolita Moggallàna
và Upatissa đồng kính cẩn lễ bái đức Thế Tôn. Họ chấp đôi bàn tay
nâng cao ngang trán và cúi lạy tận bàn chân đức Phật, rồi cả hai
cùng nói:
- "Lạy đấng Toàn Giác! Xin Ngài
cho phép chúng con gia nhập Phật giáo và được nhận lãnh đầy đủ phẩm
hạnh xuất gia trong hàng Tăng chúng".
Ðức Thế Tôn liền phán rằng:
- "Hãy đến! Như Lai công bố quí
vị sẽ là những Sa Môn, sẽ sống đời đạo đức thanh tịnh để chấm dứt
phiền não."
Những lời tuyên ngôn trên của
đức Phật chính là sự "Ban bố phẩm vị Tỳ Khưu" không những chỉ cho
đôi bạn Kolita và Moggallàna và Upatissa, mà luôn cả cho những tuỳ
tùng của họ nữa.
Và kể từ đó Upatissa được gọi
là Sàrìputta (Xá Lợi Phất) có nghĩa là người con trai của bà Sàrì (Sàrì
được phiên âm là Xá-lợi, Putta được phiên âm là Phất. Vì Putta nghĩa
là "con", nên có khi Sariputta được dịch là Xá-lợi tử). Sàrì là
tên của mẹ Ngài. Còn Kolita Moggallàna được gọi là Mahà Moggallàna (Ðại
Mục Kiều Liên) có nghĩa là con lớn của giòng họ Moggallàna.
Sau khi tất cả đã được đức Phật
ban bố phép xuất gia đầy đủ, trên hai trăm năm mươi tân Tỳ Khưu còn
được nghe đức Thế Tôn thuyết cho một bài pháp có ý nghĩa thông giải
những phép học căn bản, khiến tất cả đều đạt được đạo quả Nhập Lưu (Sotàpatti).
Và sau đó chẳng bao lâu, họ đã đắc quả A La Hán (Arahatta)
Riêng Sàrìputta và Mahà
Moggallàna kể từ ấy phát tâm ở nơi thanh vằng để tụ tập. Lần này,
đôi bạn trí thức tự tách rời mỗi người một ngả, không ở chung một
chỗ như trước.
Sàrìputta (Xá Lợi Phất) lưu ngụ
trong vùng phụ cận thành Vương xá, và ngày ngày tu thiền trong một
hộc núi gọi là "Ðộng heo" (có sách nói là Ðộng gấu). Ở đó Ngài cũng
thuận đường đi khuất thực và luôn tiện đến nghe đức Phật thuyết pháp.
Mỗi lần Sàrìputta (Xá Lợi Phất) nghe pháp của Phật về, Ngài tự mình
thanh tịnh quán xét, và tìm ra ý nghĩa sâu xa, thấu đáo. Ngài hành
trình như thế đến mười bốn ngày mới đạt tới Thánh quả Giải Thoát (Arahatta:
A La Hán), một trạng thái tiêu diệt toàn bộ phiền não và trở thành
Sàvaka (Thinh Văn Giác)
Còn Mahà Moggallàna thì không
sử sách nói rõ rại sao Ngài lại chọn nơi ẩn tu xa xôi tận rừng núi,
tại ngôi làng Kalla Vàlaputta, thuộc vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha).
Ở đó, với một sự tinh tấn bất thối Ngài luôn luôn giữ tâm trong pháp
thiền, ngay cả trong lúc đi kinh hành hay trong những oai nghi khác.
Mặc dù vậy, Ngài vẫn bị những
cơn buồn ngủ nặng nề tràn ngập. Ngài không muốn đầu hàng những hôn
trầm này. Nhưng Ngài vẫn bất lực, không thể giữ cho thân mình ngồi
thẳng, và đầu vẫn ngục xuống. Có những lúc Ngài phải vận dụng toàn
lực để mở rộng đôi mí mắt, không cho nó khép lại.
Ðây là một trạng thái rất dễ
hiểu. Bởi khí hậu vùng nhiệt đới oi bức, và bởi sau những năm dài du
phương tầm đạo. Ðại đức Mahà Moggallànagiờ đây thân thể phải mệt mỏi
và những cơn buồn ngủ đến với Ngài là một sự tự nhiên.
Nhưng đức Thế Tôn, bằng đức
tính chăm sóc của một bậc thầy đến hàng đệ tử, Phật dù biết vậy, vẫn
không ngừng theo dõi mọi sinh hoạt của Mahà Moggallàna. Ðức Phật tuy
ở xa, nhưng với nhãn lực siêu phàm Ngài đã thấy rõ những trở ngại tu
tập của người tân môn đồ đó, nên dùng Phật lực hiện ra trước mặt
Mahà Moggallàna.
Khi Mahà Moggallàna thấy Phật
đang đứng trước mặt mình, một phần lớn sự buồn ngủ, sự mệt nhọc tự
nhiên bị biến mất. Bây giờ đức Thế Tôn mới hỏi Ngài:
- Phải chăng Mahà Moggallàna
đang ngủ ngục?
- Bạch Thế Tôn! đúng vậy!
Phật bèn dạy tám phần pháp giải
trừ chướng ngại hôn trầm (buồn ngủ) như sau:
1/ Này Mahà Moggallàna! Ðừng
nghĩ rằng có cơn buồn ngủ đang ở trong ông, rồi chú ý đến nó. Giữ
tâm như thế cơn buồn ngủ sẽ biến mất.
2/ Nếu làm như vậy mà hôn
trầm không đi mất thì ông nên nhớ lại nững lời dạy của Như Lai và
suy ngẫm. Khi ông nhớ đủ, rồi soi xét ý nghĩa giải thoát thì hôn
trầm sẽ biến mất.
3/ Nhưng nhớ đủ Phật ngôn như
thế mà hôn trầm không biến mất, thì ông nên lập lại sự phán xét ấy
một cách chi tiết hơn về các pháp hữu vi của Như Lai đã dạy, hôn
trầm sẽ theo đó mà biến mất.
4/ Nhưng nếu hôn trầm cũng
không biến mất thì ông đem tâm ý vào xúc giác, cọ mạnh đôi vành
tai và xoa bóp tứ chi thì hôn trầm (hay cơn buồn ngủ) sẽ biến mất.
5/ Khi làm như vậy mà hôn
trầm cũng không đi mất thì ông nên đổi oai nghi, để tâm và ý duyên
vào động tác, như đứng dậy đi rửa mặt bằng nước mát, rồi phòng tầm
mắt quan sát tất cả mười phương tám hướng. Ðoạn ông nhìn lên bầu
trời, quan sát mọi tinh tú, không gian, thì hôn trầm sẽ biến mất.
6/ Nhưng nếu làm như thế má
hôn trầm vẫn không biến mất thì ông nên chăm chú đến ánh sáng. Nếu
ấy là ban ngày thì lấy ánh sáng mặt trời làm đề mục. Ban đêm thì
lấy ánh sáng tinh tú (trăng, sao) làm đề mục. Ðây là cách làm cho
tinh thần xán lạn không bị ú ám, hôn trầm sẽ biến mất.
7/ Nhưng nếu dùng ánh sáng
bền ngoài mà hôn trầm không biến mất thì ông quay lại soi xét nội
tâm. Lấy nội tâm làm đề mục và cố gắng xem kỹ từng ý nghĩa, giống
như lấy ánh sáng tinh thần để rọi thẳng vào tâm thức để thấy rõ
từng chập tư duy khác nhau , đừng để một thứ tư duy nào hiện lên
trong đầu ông mà ông không biết, đồng thời ông đứng dậy đi kinh
hành. Làm thế hôn trầm sẽ biến mất.
8/ Như thế mà hôn trầm vẫn
không biến mất thì ông có thể nằm xuống, biết rõ mìmh đang nằm như
một con sư tử: vai mặt ở dưới, vai trái ở trên, hai chân duỗi
thẳng, kê lên nhau, giữ trong tâm một ý niệm mạnh mẽ là: "Ta phải
biết mình toàn thân đang nằm như thế nào? Nếu thân thể ta mệt mỏi
thì ta để cho nghỉ ngơi, nhưng ta không say đắm trong sự nghỉ ngơi
ấy!" thì hôn trầm sẽ biến mất.
- Này Mahà Moggallàna! Ông nên
tinh tấn hành trì tám phương pháp này!
(theo Anguttara Nikàya VII 58: Tăng Nhất A Hàm
số 58).
Trên đây, đức Phật đã hướng dẫn
Ngài Mahà Maggallàna một phương pháp tiệm tiến để giải trừ sự hôn
trầm. Ðiểm quan trọng nhất và hữu hiệu nhất là đừng để tâm mình bị
lôi kéo bởi ý nghĩ cho rằng cơn buồn ngủ (hay hôn trầm) đang xảy đến
và tiếp tục. Dĩ nhiên điều này rất khó làm. Nếu hành giả không thành
công, họ có thể tập trung nghị lực, suy xét những lời Phật dạy, hoặc
tự đọc thuộc lòng những lời dạy ấy. Khi giải pháp hướng dẫn trí nhớ
(tinh thần) không đem lại kết quả hành giả có thể quay sang giải
pháp tác động thân thể như kéo mạnh vành tai, lắc lư thân mình,
chuyển vận huyết mạch bằng cách xoa bóp tứ chi, rửa mặt bằng nước
lạnh v.v... Nếu vào ban đêm họ nên ngước mặt lên bầu trời, hướng sự
chú ý vào vô biên thăm thẳm của vũ trụ, không gian đầy tinh tú. Ban
ngày thì nhìn ánh sáng rực rỡ của vầng Thái dương v. v... Những tác
động ấy vừa có thể kích thích giác quan (nhất là Xúc giác và Thị
giác) vừa có thể đưa tâm ý câu hữu với mọi đối tượng thiên nhiên bên
ngoài.
Làm tất cả những điều ấy có thể
giúp hành giả vượt qua cơn buồn ngủ, như trong Theragàthà (Tôn Túc
kệ ngôn) có lời lưu lại của một Thánh Tăng như sau:
"Chớ lùi bước vì hôn trầm mê
ngủ
Nhìn không gian sao sáng chiếu lung linh
Khi đêm đến tâm mà như tinh tú
Tuệ tâm soi bừng giác tánh nơi mìng!"
(Theragàthà, 193)
Khi áp dụng tất cả các cách ấy
mà hành giả không thắng nổi sự hôn trầm, lúc bấy giờ có thể quay về
với ánh sáng nội tâm mà nhiều nhà Thần bí học đã nói. Hay nói một
cách khác là quay về với sức mạnh kỳ diệu của Giác tánh (là hạt
giống lành đã gieo, do sự tu tập thiền định trong một kiếp nào đó).
Sức mạnh hay ánh sáng nội tâm ấy sẽ giúp hành giả vượt ra ngoài sự
chi phối xác thịt của cuộc đời hiện tại.
Trong trường hợp này, hành giả
sẽ không còn phân biệt ngày hay đêm, bởi vì "Ánh sáng nội tâm" không
để cho lằn mức giữa hai cái ấy (đêm và ngày) hiện hữu nữa. Nhờ với
một tinh thần tự soi sáng, hành giả có thể loại bỏ, như một trời
Phạm Thiên,toàn diện cảnh giới của ngày lẫn đêm (vốn chỉ là những
hiện tượng giả lập của cảm quan!).
Khi đức Phật, trong các điều
dạy thứ năm, thứ sáu, thứ bảy nhắc đến tinh tú, bầu trời, ngày đêm
v.v... tức là Ngài muốn ám chỉ những gì Mahà Moggallàna đã từng trải
qua (từng an trụ) trong kiếp này hay kiếp trước.
Ðối với chúng ta, tám lời dạy
này tỏ ra quá bình thường bao nhiêu thì đối với Mahà Moggallàna có ý
nghĩa đặc biệt bấy nhiêu. Sự "Thắp lại ánh sáng nội tâm"ấy (aloka
sannà) có ghi rõ trong bài kinh số 33 của bộ Trường A Hàm (Dìgha
Nikàya) như một trong bốn cách phát triển thiền pháp dẫn đến Trí
tuệ và Quang kiến (Sannadassana).
Nếu tinh tấn cỡ ấy mà hôn trầm
(đòi hỏi giấc ngủ của xác thân) không chấm dứt thì hành giả bắt buộc
phải kinh hành. Kinh hành nhưng tâm trí không được lìa khỏi tầm soi
sáng nội tâm bằng thiền lực, để tiêu trừ mệt mỏi do hôn trầm gây ra.
Tuy nhiên, nếu bằng cả "sự soi
sáng nội tâm" ấy mà hành giả vẫn không đạt được kết quả thì bấy giờ
họ có thể nằm xuống "nghỉ ngơi" trong chốc lát, vì đó là sự phản ứng
tự nhiên của thân thể, chứ không phải do tính lười biếng thúc giục
xác thân đòi hỏi hành giả chỉ cần nằm để điều hoà oai nghi cùng quân
bình sự quá độ trong chốc lát, chứ không phải để hưởng thụ. Vì vậy
họ sẽ nhanh chóng ngồi dạy khi sự hôn trầm trôi qua.
Trong bài kinh số 33 (Ðức Phật
dạy Ngài Mahà Moggallàna cách tiêu trừ hôn trầm) còn một đoạn tiếp:
"Này Mahà Moggallàna! Ông nên
tu tập xa hơn nữa bằng cách tự mình nhắc nhở rằng "khi đứng trước
những thí chủ (khất thực) ta không nên tỏ ra ngã mạn, không nên có ý
niệm trông đợi vật thí'. Nhiều khi những thí chủ ấy bận rộn không
hay sự hiện diện của ta, chứ không phải họ thờ ơ. Nếu ta ngã mạn và
trông chờ vật thí, ta sẽ tưởng rằng họ lạnh nhạt vòi ta, và do đó
phiền não nổi lên. Chỉ vì không nhận được bố thí mà một Sa Môn trở
nên bất tịnh, trở nên khích động, trở nên nóng giận và mất hết an
trụ là một điều trái đạo Giải thoát.
"Này Mahà Moggallàna! Lại nữa,
ông nên giữ nết hạnh tự mình nhắc nhở rằng: 'Ta không nên nói điều
tranh luận. Vì sự bàn cãi chỉ khiến ta nói nhiều (đa ngôn) khiến ta
bị kích thích, khiến ta mất quân bình, và khiến ta khó định tâm
trong thiền pháp'."
Ở đây đức Phật đã chỉ ra hai
trướng hợp gìn giữ hạnh kiểm, hai trường hợp tránh sự loạn động và
bất an nội tâm. Cả hai trường hợp này đều nằm trong thói quen tiếp
xúc hằng ngày giữa một bậc xuất gia với các thiện tín.
Trong trường hợp thứ nhứt,một
bậc xuất gia thường mong mỏi Phật tử nhìn nhận mình là một Sa Môn và
hãnh diện địa vị lãnh đạo tinh thần ấy, rồi đòi hỏi mọi người phải
kính trọng. Nếu các hàng tại gia vì sơ ý hay bận rộn công việc sinh
nhai mà thiếu quan tâm đến họ, họ sẽ trở thành lo lắng, sẽ trở nên
bất mãn.
Trường hợp thứ hai, trong khi
biện luận thường có sự tự đắc về cách biểu dương óc nhận xét sắc bén.
Tự cao cho rằng "Ta biết nhiều hơn kẻ khác" hay "Ta hữu lý hơn để áp
đảo người đối thoại" thường làm cho người tranh luận bất tịnh.
Kết quả, kẻ ham thích tranh
luận chỉ phí bỏ một số thì giờ quý báu đáng lẽ phải dùng trong việc
tu tập, phí bỏ hơi lực và để tim óc khích động mất bình an một cách
vô lối, mà không gặt hái được thiện pháp đáng khen nào.
Kẻ dễ duôi và thiển cận thường
để mình rơi vào các sinh hoạt bất tịnh như thế, nên họ không những
khó tập trung được thần trí phàm phu. Còn khi muốn tu thiền, họ sẽ
gặp rất nhiều chướng ngại.
Sau khi đức Phật đã dạy cho
Mahà Moggallàna, Mục Kiền Liên tám cách vượt qua sự hôn trầm và hai
trường hợp tránh xa sự khích động, Mahà Moggallàna liền bạch hỏi
Phật như vầy:
- "Bạch đức Thế Tôn! Xin Ngài
giải nghĩa tóm tắt làm thế nào để một đệ tử có thể tự mình tiêu diệt
hoàn toàn khát vọng, giải thoát và đạt tới cứu cánh cuối cùng, không
còn bị trói buộc trong phiền não, được sống đời sống Thánh thiện và
trong sạch hơn cả chư Thiên và nhân loại?".
- "Này Mahà Moggallàna (Mục
Kiền Liên)! Một bậc xuất gia nhờ tinh tấn tu tập mà nhận thức được
rằng "Không có gì đáng cho ta dính mắc", tức là họ bắt đầu biết rõ
mọi vật. Và khi họ "biết rõ" mọi vật thì họ sẽ hiểu rõ mọi vật. Khi
một Sa Môn hiểu, biết đầy đủ mọi vật thì bất cứ cảm nghĩ nào họ trải
qua, dù vui sướng hay đau khổ hoặc vô vị, họ cũng đều thấy nó có
trạng thái vô thường, họ sẽ nhìn nó một cách vô tư , không để nó lôi
kéo, và sẵn sàng buông bỏ. Khi một vị Sa Môn trở thành thanh tịnh
như thế thì họ sẽ không ham thích bất cứ cái gì trong đời này không
ham thích thì họ không khao khát, và không khao khát họ sẽ không
vướng mắc, tức là họ đạt tới chỗ hoàn toàn tiêu diệt dục vọng, chấm
dứt tái sanh, sống đời sống Thánh Thiện. Rồi họ sẽ biết rõ rằng công
trình tu tập giải thoát của họ đã viên mãn!"
Sau khi Mahà Moggallànanhận
được những lời giáo huấn do đức Phật đích thân truyền dạy (ghi
trong Anguttara Nikàya VIII,58). Ngài liền vững tâm hành đạo với
một quyết định bất thối. Mục Kiền Liên đã tranh đấu với năm pháp
chướng ngại một cách dũng mãnh phi thường. Hơn nữa trong suốt những
năm dài làm đạo sĩ du phương tầm đạo Ngài đã thành công một cách
vững chắc việc dẹp bỏ các ác ý và những đam mê trần tục. Ấy chính là
hai trong năm chướng ngại ngăn cản hành giả tiến vào Thánh lưu.
Hiện tại, với sự hỗ trợ của đức
Phật, Ngài vừa chiến thắng sự lười biếng và hôn trầm (chướng ngại
thứ ba), đồng thời Ngài loại bỏ được bất định và lo âu (chướng ngại
thứ tư) bằng cách tránh những va chạm xã hội vô ích. Sau cùng, Ngài
tiêu diệt được hoài nghi (tức pháp chướng ngại thứ năm) bằng cách
hành theo lời Phật dạy là định tâm quán xét thấy rõ bộ mặt giả tạm
của vạn vật, từ đó cắt đứt tình cảm dính mắc.
Khi đã loại trừ được năm pháp
chướng ngại ấy, Mahà Moggallàna đạt đến trí tuệ thanh tịnh, vượt qua
khỏi mọi hấp dẫn vật chất ở đời, và bằng một tri kiến sắc bén, Ngài
chọc thủng bức màn vô minh vi tế che đậy sự thật của cuộc sống, thấy
rõ giải thoát Niết Bàn, trạng thái không còn dư sót phiền não.
Lúc Mahà Moggallàna đạt tới
Nhất thiền, tâm đang phỉ lạc trong sự an trụ (Ekaggata) một thành
công vi diệu mà người thường không thể nào hiểu được, văn tài thế
gian dù lỗi lạc đến đâu cũng không thể nào diễn bày chính xác được,
thì dần dần những tư tưởng trần tục len lõi vào thiền tâm của Ngài
gây vọng động.
Ðức Phật nhờ pháp nhãn đặc biệt
liền biết rõ như thế. Ngài lập tức hiện đến để hỗ trợ vị đệ tử này.
Nghĩa là khi Mahà Moggallànabị năm pháp chướng ngại bao vây trở lại
thì đã có đức Phật bên cạnh tế độ. Nhưng những lần sau này, Phật
không nhắc nhở một cách chi tiết như trước. Ngài chỉ thông giải
thẳng vào chỗ "chướng ngại tái phát" là đã có thể giúp Mahà
Moggalãna vượt qua sự bế tắc.
Ðức Thế Tôn còn lưu ý Mahà
Moggallànarằng: "Chớ nên phỉ lạc và tin tưởng nơi sự đắc thiền, mà
phải giữ vững thiền tâm hơn nữa để có thể tiến xa hơn khỏi mục tiêu
nhất quán (Ekaggata)"
Mahà Moggallàna nhờ lời dạy này
của đức Phật mà từ đó về sau khi an trụ vào Nhất thiền, Ngài không
bị những ý nghĩ trần tục quấy nhiễu nữa!
Khi đã vững chắc trong Nhất
thiền, Mahà Moggallànatiến lên Nhị thiền, trong kinh Samyutta Nikàya
(Tạp A Hàm), đoạn hai mươi dòng một gọi là "Thanh tịnh tâm", bởi vì
trong ấy mọi ý nghĩa đều biến mất rồi từ đó Ngài phát triển tới đệ
Tứ thiền một cách tuần tự (Samyutta
Nikàya No 40, F2).
Sau này chính Mahà
Moggallànatiết lộ Ngài đã thực hành thiền định bằng phương pháp "Nhị
lập": trước tiên là phát triển Ðịnh lực (Iddhipada, theo Samyutta
Nikàya N0 51, 31-1). Rồi sau phát huy Quán lực
(Vimokkha, theo Theragàthà 1172).
Trên con đường tiến đến giải
thoát hoàn toàn bằng Tuệ giác ngộ (Pannàvimutti), các bậc Thiền (Jhàna)
có thể xem như những giai đoạn "Sử dụng thần lực", một mặt đưa đến
nhiều khả năng siêu nhiên, mặt khác mở được cửa ngõ bước vào ánh
sáng toàn giác.
Phương pháp tu chứng Nhị lập
này là bí quyết then chốt để Mahà Moggallàna trở thành một bậc A La
Hán (arahatta) thượng thặng giữa các hàng Thinh Văn giác.
[hay còn gọi là bốn yếu tố
thành công (the four bases ot success). Xem cuốn Requisites ot
Enlightenment,"The Wheel" xuất bản, các tập số 171/174 - p. 64 ff.
Bốn yếu tố thành công là: Ðịnh lực, Quán lực, Hữu Biên thiền, và
Vô Biên thiền.]
Nói cách khác, chúng ta có thể
tóm lược rằng: Ðể đạt đến giải thoát Tâm linh (Ceto Vimutti), chính
Thiền định đã giúp cho Mahà Moggallànatrước tiên loại trừ tám pháp
thế gian (*) (Vimokkha), sau đó khi thuần thục tuyệt mức trong các
bậc thiền Vô Sắc (Arùpa Jhàna), Ngài mới có đủ "Quán lực" tận trừ
những sở định vi tế (Như phỉ lạc trong quả thiền chẳng hạn).
(*) 8 phép thế gian là : được
lợi, mất lợi , được vui, bị buồn, được khen, bị chê, được thương,
bị ghét.
Nghĩa là Ngài tiến mạnh trên
con đường giải thoát bằng thiền pháp Nhị lập, tức là vững vàng trong
an trụ (Samãdhi) rồi mới đủ định tâm phát triển Minh sát (Ubhago
Bhagà Vimutti) - (Xem chú giải trong Pàli Dictionary của
Nyànatolika). Minh sát bắt đầu từ Tứ thiền về sau.
Khi lấy đệ Tứ Thiền làm nền
tảng Minh sát. Hành giả sẽ giữ tâm được trong trạng thái Vô Ký (tức
là tâm nào đến thì tự thấy nó đến, tâm nào biến đi tự thấy nó đi, vô
tư không lay động), hoàn toàn vượt ra khỏi mọi ý niệm, sinh từ vạn
pháp hữu vi (điều kiện). Nhờ đó, các pháp Giác Ngộ mới được soi sáng
(theo Samyutta Nikàya: Tạp A Hàm số 40, 9 ).
Theo chú giải, trạng thái "Tâm
vô ký' (Anicca Ceto Sammàdhi) là trình độ tâm đã ổn định bậc cao,
vượt ra ngoài tâm ghi nhận những đối tượng ngoại cảnh cũng như nội
cảnh (Tư duy). Tâm ở trình độ này chỉ còn giác tỉnh biết rõ mình
đang vừa sống và vừa chết từng sát na (Vipassana Samàdhi), nên ý
thức hoàn toàn được giải trừ khỏi những ảo ảnh vô thường, tham ái
v.v..
Sự dẫn giải này trong kinh điển
quả phù hộp với lối tu chứng của Ngài Mahà Moggallànakhi Ngài áp
dụng pháp tu thiền Nhị lập. (An trụ rồi Minh sát) đã được nhiều học
giả Phật giáo bàn đến bằng hai danh từ Phan ngữ "Animtta Cetovimutti"
(theo Majjhima Nikàya: Trung A Hàm số 43, The Wheel, BPS xuất bản).
Tuy nhiên , khi thành công
trong Thiền định (Samàdhi) hành giả không khéo lại bị rơi vào vòng "một
ý niệm vi tế" là tưởng ta được giải thoát, không còn bị các pháp hữu
vi chi phối, vì hành giả lúc này đang "trực nhận" một loại phỉ lạc
rất siêu thoát. (Không phải thứ phỉ lạc do dẹp được tám pháp thế
gian, mà là một loại phỉ lạc trong trụ pháp "Thanh tịnh Xuất thế").
Ðây cũng là một loại dính mắc
và là một sự dính mắc vô điều kiện, và rất khó kiến nhận. Loại dính
mắc này chính là bức màn che áng sự giác ngộ sau cùng. Nó chỉ có thể
bị loại trừ bằng thanh lọc siêu đẳng, mà ngoài các bậc Toàn giác
Toàn tri ra, không có một trí tuệ thế gian nào có thể diễn tả được.
Nhưng Ngài Mahà Moggallànanhờ
đức Phật đã hỗ trợ, nên có thể vẹt được cái màn che áng vi tế sau
cùng này, để đạt đến phẩm cách hoàn toàn giải thoát. Giải thoát một
cách rốt ráo và tròn đủ Tuệ trực giác từ mọi khía cạnh, ngay cả khía
cạnh dẹp được cảm thức là "mình đã giải thoát".
Chính Mahà Moggallànađã xác
nhận rằng "Sự đạt được quả vị Giác ngộ của một Sa Môn nếu có đức
Phật hỗ trợ là sự một chứng quả tuyệt luân nhất!". Kinh gọi sự chứng
quả này (Mahà abhinnà), nghĩa là Thần thông (Pancalabhinnà) và sáu "Thức
thần trụ" có thể chế phục dễ dàng mọi nhân ác, dù cho nhân ác ấy đến
từ một đối thủ nhiều Thần thông nhất trong tam giới.
Sự tu chứng ấy của Mahà
Moggallànađã kéo dài trong một tuần lễ. Thực ra, bảy bữa ấy là bảy
bữa phối hợp tất cả những gì mà Ngài đã rèn luyện trong nhiều kiếp
qua, vì đạo quả Ngài đạt được là một loại đạo quả độc đáo, rất ít
Thánh nhân đạt được
Chúng ta có thể tưởng tượng nổi
độ tinh tấn và lòng quả cảm của Ngài Mahà Moggallàna trong suốt thời
gian ngắn ngủi này. Bởi vì vai trò một đại Thinh Văn giác là vai trò
mà những phẩm hạnh siêu nhiên gặt hái được, cần một công phu tu tập
Thượng thừa mới xứng đáng, và mới có thể vượt thắng nổi những xiềng
xích ràng buộc vô cùng mạnh mẽ đã mọc rễ một cách vi tế trong tâm.
Kinh có thuật lại rằng: Ðức
Phật, trong bốn giờ thuộc khắc thứ nhất đêm tiến lên phẩm hạnh Toàn
giác, Ngài đã nhớ được chín mươi mốt kiếp thế gian. Ðối với, một
đấng Giác Ngộ, sự "có mặt" của không gian và thời gian sẽ bị tan
biến khi cường độ giải thoát đang tiếp diễn. Tương tự như thế, Mahà
Moggallànacũng vừa thể nhận sự "vượt khỏi" thời gian và không gian
để tổng kết công đức của suốt bao nhiêu kiếp chỉ trong vòng một tuần
lễ. Ở đây, khái niệm về không gian và thời gian hoàn toàn bị xoá.
Một phàm nhân đang bị cầm tù
bởi năm giác quan và ý thức nhiễm đầy dục vọng không thể nào hiểu
nổi chỉ trong vòng bảy ngày, một Thinh Văn giác Thượng thừa như Mahà
Moggallànađã có thể vượt giòng thời gian và vượt khoảng không gian
vô hạn để trực nhận "Tất cả chỉ là một con số không".
Mahà Moggallànacòn nói rõ trong
kinh Anguttara Nikàya, cuốn IV (trang 167-168) rằng: -- Tuy Ngài đã
đắc quả Thánh nhanh chóng bằng tinh tấn vượt kỷ lục (Khippbhinnà),
nhưng trên thực tế trong một tuần lễ ấy Ngài đã "Tiến hoá" khó khăn
(Dukkha patipadà) vì phải nhờ tới sụ hỗ trợ dồi dào (Sasankhàra) của
đức Phật.
Còn Sàrìputta (Xá Lợi Phất) thì
khác. Mặc dù, vị đại Thinh Văn giác thứ hai này đã đắc Thánh quả
chậm hơn một tuần lễ (tức trong mười bốn ngày ) nhưng nhờ vậy mà
tiến hoá của ông thoải mái hơn (Dukkha patipàda).
Mục Kiền Liên tiến lên Thánh
quả nhanh hơn Sàrìputta vì nhờ có đức Phật đích thân hướng dẫn và hỗ
trợ. Còn Sàrìputta, Phật không làm vậy là vì Ngài biết rằng
Sàrìputta có trí tuệ đặc biệt, có thể tự mình tiến lên Thánh quả một
cách độc lập.