hần tiếp theo nói về
Ðại Ca Diếp có lẽ sẽ là vai trò chính của ông (hợp tác với A Nan Ðà)
trong việc hướng dẫn Tăng già, sau khi đức Phật đã viên tịch. Lúc
đức Phật qua đời, chỉ có hai trong số năm đại đệ tử có mặt bên thân
đức Bổn Sư là đôi anh em A Nan Ðà và A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha). Còn
Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã nhập Niết Bàn trước đức Phật. Riêng
Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa) người đứng đầu ngũ đại đệ tử (gồm Ðại Ca
Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nậu Lâu Ðà và A Nan Ðà) thì đang
trên đường hóa đạo, cùng với đông đảo chư Tỳ-khưu, từ phía Pàvà đổ
về thành Kusinàrà.
Trong cuộc du hành, mỗi lần mỏi mệt, Ðại Ca Diếp và
đoàn tùy tùng, thỉnh thoảng dừng lại nghỉ chân bên đường. Lúc ấy có
một đạo sĩ lõa thể đi qua. Ðạo sĩ trên mình mang một tràng hoa Mạn
Ðà La (Mandaràva), một thứ bảo vật mà nhân gian thuở bấy giờ quan
niệm là chỉ từ cõi trời rơi xuống! Ðại Ca Diếp thấy hoa ấy liền nghĩ
rằng: "Phải một biến cố trọng đại gì đó thì có hoa quý nầy mới xuất
hiện trên cõi trần".
Ðoạn để mở đầu câu chuyện về xuất xứ của hoa Mạn Ðà
La, Ðại Ca Diếp vốn biết rõ những đạo sĩ lõa thể rành nhiều tin tức
trên thế gian lắm, nên trước tiên hỏi về đức Phật. Viên đạo sĩ lõa
thể liền vui vẻ thông báo rằng "Ðức Thế Tôn Cồ Ðàm đã nhập Niết bàn
cách nay một tuần lễ. Hoa Mạn Ðà La nầy do ông lượm được gần chỗ sẽ
tổ chức lễ hỏa táng!"
Nghe xong, trong đoàn tăng lữ của Trưởng lão Ðại Ca
Diếp, chỉ có những Sa-môn nào đã đắc Thánh quả A-la-hán thì mới giữ
vẻ thanh tịnh, còn hầu hết phàm Tăng chưa hết phiền não, thì đồng
loạt tỏ ra buồn khổ, than khóc thảm thiết. Họ cùng nói lên câu
thương tiếc đức Bổn Sư rằng: "Khi đấng Giác Ngộ đã ra đi thì ánh đạo
soi sáng tâm hồn u tối trên thế gian nầy không còn nữa! ".
Tuy nhiên, cũng có một Tỳ-khưu (đến lão niên mới
xuất gia) tên Subhadda, vì trình độ thấm nhuần Phật giáo chưa được
đầy đủ, nên ông tỏ ra vui mừng, "phân tích" với một số đồng đạo rằng:
"Nầy chư huynh đệ! Hơi đâu mà quý vị buồn khóc. Ðức Cồ Ðàm chết đi
là chúng ta trút gánh nặng, không bị ai khiển trách, chế ra điều
luật nghiêm túc nầy, đặt ra phương pháp tu hành khổ sở kia! Chúng ta
hiện tại đã hoàn toàn tự do, ai muốn làm chi thì làm, không còn sự e
sợ gì hết!"
Bình thường, trước một Tỳ-khưu vô kỷ luật như thế,
Ðại Ca Diếp đã quở trách một cách nghiêm khắc, có khi ông xứng đáng
bị Ðại Ca Diếp khai trừ khỏi Tăng đoàn là đàng khác!. Nhưng trong
trường hợp vừa được tin đức Phật viên tịch, Ðại Ca Diếp đã im lặng.
Có lẽ Ðại Ca Diếp không muốn trong tình trạng hoang mang vì "mất
thầy" ấy, có một sự trừng phạt nặng nề hay tranh luận trong hàng ngũ
những phàm Tăng! Sự sáng suốt của một Thánh nhân phần nhiều người
đời khó phân tích được!
Nếu nhất thời sự im lặng của Ðại Ca Diếp đã làm cho
chúng ta ngạc nhiên, thì hành động của ông sau nầy phải làm cho
chúng ta hiểu rõ. Ðó là việc Ðại Ca Diếp là người đầu tiên đề nghị
khẩn cấp, cần phải có một cuộc toàn Thánh tăng kết tập Phật ngôn
thành hệ thống! (Các thế kỷ sau nầy người ta quen gọi là "Kết tập
Tam Tạng") Khi đề nghị kết tập Phật ngôn thành hệ thống, Ðại Ca Diếp
cũng không quên nhắc lại làm lý do những lời nói vô kỷ luật của
Tỳ-khưu lão niên xuất gia, tên Subhadda kia!
Ðại Ca Diếp tuy không nói năng gì đến Tỳ-khưu vô kỷ
luật ấy, nhưng ông đã hiền hòa an ủi các phàm Tăng khác không ngừng
khóc lóc, thương tiếc đức Bổn Sư. Ông giảng giải, nhắc rõ cho họ nhớ
rằng: "Mọi vật đều vô thường, hễ cái gì có sinh ra thì phải có tử,
tan rã, biến mất!". Rồi ông dẫn cả Tăng đoàn gấp rút đi về thành phố
Kusinarà...
Lúc ấy nhục thân của đức Phật đã an định trên giàn
hỏa. Nhưng không ai có thể châm lửa được, vì mọi mồi lửa dù cháy
mạnh đến đâu, khi đến gần kim quan của đức Phật cũng đều tự nhiên
tắt ngấm. Trong khi toàn thể Tăng và tín đồ Phật tử đang có mặt ngạc
nhiên cho là chuyện lạ, thì giáo đoàn của Ðại Ca Diếp cũng vừa tới...
Theo lời tiết lộ của Thánh Tăng thiền sư A Nậu Lâu
Ðà thì sở dĩ có hiện tượng "mồi lửa tự nhiên tắt ấy", là vì Thiên
chúng, tập trung một cách vô hình để dự lễ, đã dùng phép lạ ngăn cản,
dập tắt sự cháy! Họ (chư Thiên) cố ý chờ đợi Ðại Ca Diếp Trưởng lão
đến nơi, để nhìn thấy nhục thân đức Phật lần sau cùng! (Lời thêm của
dịch giả: Nhục thân của đức Phật được đặt trong kim quan, nhưng
không đậy nắp. Ai đến lễ bái cũng có thể nhìn thấy thân Phật).
Khi Trưởng lão Ðại Ca Diếp đến gần giàn hỏa nhìn mặt
đức Bổn Sư lần cuối cùng, rồi "nhiễu Phật" (đi xung quanh quan tài)
ba vòng xong, thì toàn thể Sa-môn trong Tăng đoàn của ông cũng lễ
bái tương tự...!
Theo kinh điển thuật lại thì lửa đã tự nhiên bốc
cháy lúc Ðại Ca Diếp quỳ mọp tại chân quan tài của đức Phật, cùng
toàn thể đảnh lễ cầu phép hỏa táng!
Nhục thân của đấng Thiên Nhân Sư vừa biến ra hài cốt
(Xá lợi) sau ngọn lửa trà tỳ, thì một cuộc tranh chấp đã xảy ra suýt
gây chiến tranh, chỉ vì vương tước địa phương không muốn chia phần
Thánh vật, cho những sứ giả của các cộng đồng lân quốc ngưỡng mộ đức
Phật từ phương xa cử đến. Trưởng lão Ðại Ca Diếp, Thiền sư A Nậu Lâu
Ðà và Tôn giả A Nan Ðà, tuy là ba đại tông đồ có thẩm quyền trong
việc ấy, nhưng nghiệp lực xung đột của những người đòi Thánh vật quá
nặng, nên ba vị phải làm thinh, đặt mình ra ngoài vòng tranh chấp!
Lúc ấy có một thiện sĩ Bà-la-môn, tên Dona, nhờ tài
ngoại giao, mà uy tín từ lâu đã lan rộng các vùng, ông nầy cuối cùng
đã giải hòa được mọi bất đồng giữa các vương tước và sứ giả. Rồi
đích thân làm ông trọng tài, chia thánh cốt (Xá lợi) ra làm tám phần
bằng nhau, để phân phối cho tám phe tranh chấp. Riêng cá nhân ông,
ông chỉ xin được nhận cái bình đựng Xá lợi, đem về tạo tháp tôn thờ.
Trưởng lão Ðại Ca Diếp là người nhận trách nhiệm đem
phần Xá lợi chia đến nước Ma Kiệt Ðà (Magadha) giao cho quốc vương A
Xà Thế (Ajàta Satta). Trong khi trên đường thi hành công tác đó,
Trưởng lão Ðại Ca Diếp bèn suy nghĩ "Di sản hài cốt của đức Bổn Sư
được lưu truyền như thế nầy, thì di sản tinh thần là Phật ngôn phải
được bảo tồn ra làm sao?". Ông lại nhớ đến những lời nói vô ý thức
của Tỳ-khưu lão niên xuất gia Subhadda, như một thách đố của dấu
hiệu suy đồi kỷ luật trong Phật giáo. Những lời lẽ cổ võ cho hành
động buông trôi, tự do phá giới kia, được ông xem như hồi chuông báo
động: Nếu gương xấu của Subhadda mà lan rộng ra thì ngày tàn của
phẩm hạnh Tăng già và giáo lý giải thoát đã đến ngay khi đức Phật
nhập diệt!
Và để chận đứng tình trạng mạt pháp quá sớm ấy,
Trưởng lão Ðại Ca Diếp vội nghĩ đến chuyện triệu tập nhanh chóng đại
hội Thánh Tăng, để đúc kết Phật ngôn thành hệ thống Pháp (Dhamma) và
Luật (Vinaya) hầu lưu lại Phật giáo chánh thống cho đời sau.
Sau đó, công việc còn lại là Ðại Ca Diếp phải đích
thân đem phổ biển đề nghị ấy đến tất cả Sa-môn có mặt trong và ngoài
kinh đô Vương Xá. Ðoạn ông được tất cả tán thành cử ông làm người
triệu tập 499 "nghị sư" Trưởng lão, tất cả phải là thánh nhân A-la-hán,
cộng với Tôn giả A Nan Ðà để có một đại hội năm trăm vị đại Sa-môn.
A Nan Ðà lúc đó tuy chưa chứng giải thoát A-la-hán,
nhưng ông có trí nhớ phi thường, và là người được trực tiếp nghe hầu
hết những bài pháp của đức Phật. Lịch sử Phật giáo cũng chép: "A Nan
Ðà, trước ngày khai mạc đại hội kết tập kinh điển (gồm Pháp = Dhamma
và Luật = Vinaya) là một phàm Tăng, nhưng nhờ tinh tấn và quyết tâm,
ông đã đắc Thánh quả A-la-hán vào lúc rạng đông ngày đầu đại hội kết
tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất. (Mời quý đạo hữu xem cuốn "Cuộc
Ðời Thánh A Nan Ðà " cùng một dịch giả đã ấn tống).
Trong lúc năm trăm vị A-la-hán hội hợp kết tập Phật
ngôn thành kinh điển tại một cái động gần Vương Xá thành thì tất cả
những tu sĩ Phật giáo khác được yêu cầu phải rút lui về tịnh thất
của mình, chăm chỉ tu hành, không được di chuyển loạn động.
Phần thứ nhất trong cuộc kết tập kinh điển là nhắc
lại những điều luật mà đức Phật đã dạy. Sa-môn Upali là người nhớ
nhiều luật cấm nhất, đã được Trưởng lão Ðại Ca Diếp, trong vai chủ
tọa, yêu cầu lập lại nguyên văn. Phần thứ hai thuộc về xếp loại toàn
thể những bài kinh, tức là những lời thuyết giảng đức Phật khi còn
sinh tiền, chu du trong suốt bốn mươi lăm năm trường ban bố chánh
pháp đến nhân loại. A Nan Ðà là một Sa-môn nghe nhiều và có trí nhớ
vô song, nên được chủ tọa Ðại Ca Diếp yêu cầu tụng lại tất cả. Nhờ
đó mà các cuộc kết tập kinh điển sau nầy mới có đủ Phật ngôn để chép
ra năm bộ A Hàm, lập thành tạng Kinh (Sutta Pitaka). Sách vở những
đời sau thường tuyên dương A Nan Ðà là bậc thừa truyền Pháp bảo,
chính vì lẽ đó!
Tổng kê trong kỳ kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ
nhất nầy chỉ có hai tạng là tạng Kinh (Sutta Pitaka) và tạng Luật (Vinaya
Pitaka) mà thôi.
Tuy nhiên, cũng có những vấn đề linh tinh được nêu
lên sôi nổi trong đại hội. Ðó là sự tranh tụng giữa Tăng già về một
số các điều luật "vụn vặt" được A Nan Ðà thuật lại là đức Phật,
trước khi nhập Niết bàn, đã cho phép hủy bỏ. Nhưng khi Ðại Ca Diếp
chất vấn A Nan Ðà về nguyên tắc do đức Phật đã dạy, để ấn định "thế
nào là điều luật vụn vặt" thì A Nan Ðà chưa nghe Phật nói, nên không
thể trả lời được. A Nan Ðà liền ân cần nhận lỗi vì ông đã sơ ý,
không hỏi kỹ đức Bổn Sư về những nguyên tắc ấn định các điều luật
vụn vặt ấy.
Tiếp theo, đa số ý kiến của chư Thánh Tăng trong đại
hội về vấn đề nầy nhất thời không giống nhau. Hầu hết họ chỉ bình
phẩm, chứ không chịu nói rõ "điều nào là một giới luật vụn vặt để có
thể hủy bỏ!" Sau cùng chủ tọa Ðại Ca Diếp phải tuyên bố:
"Kính bạch chư tôn túc, chư huynh đệ! Chúng ta không
có quyết định đa số, chúng ta cũng không có những nguyên tắc để ấn
định các điều luật vụn vặt nào có thể hủy bỏ! Bần Tăng xin đề nghị
chúng ta nên giữ đúng tất cả những điều răn mà Phật đã để lại! Hơn
nữa, đức Bổn Sư mới viên tịch chẳng bao lâu, nếu các hàng tông đồ đệ
tử Phật bắt đầu xét lại lời răn nầy, hay hủy bỏ điều luật kia, thì
người đời sẽ dị nghị, họ sẽ nghĩ rằng "Chư đệ tử ông Cồ Ðàm, khi
thầy khuất bóng muốn giảm bớt luật lệ để được tự do!", khiến cho
những kẻ tín tâm sẽ giảm đức tin trong Phật giáo! Vậy một lần nữa
bần đạo nhân danh chủ tọa đại hội tuyên bố: "Ðiều nào đức Phật đã
răn dạy, chư đệ tử phải tuyệt đối gìn giữ, không được phân biệt
khinh trọng (Theo Tiểu Phẩm, trong tạng Luật số XI - Cùlavagga XI
Vinaya).
Sau khi đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ
nhất kết thúc, phẩm vị được kính trọng và vai trò của Trưởng lão Ðại
Ca Diếp trong tăng lữ, mỗi ngày một trở nên to lớn hơn. Ðại Ca Diếp
có thể xem như vị chưởng môn Phật giáo đầu tiên. (Ngày nay chúng ta
gọi là chức Tăng Thống). Bởi vì ông chẳng những là một vị Sa-môn cao
hạ () nhất, mà ông còn là vị Trưởng lão lớn tuổi nhất trong hàng các
đại Thinh Văn đệ tử Phật còn sống. (Theo chú giải thì lúc tổ chức
đại hội ấy, Ðại Ca Diếp đã thọ đến 120 tuổi. Nhưng có một giáo sử
khác lại ghi ông lớn hơn đức Phật 40 niên kỷ, thành thử khi Ðại Ca
Diếp gặp Phật và chính thức làm đệ tử, ông đã là một lão đạo sĩ 75
tuổi rồi! Xác định tuổi tác của một nhân vật cách nay hơn 25 thế kỷ
là một điều rất khó. Nhưng dịch giả vẫn ghi chép vào đây để quý đạo
hữu rộng đường tra cứu!)
Một dữ kiện lịch sử khác mà các hàng Phật tử cũng
cần biết là cái bình bát của đức Phật, sau khi Ngài nhập diệt, đã
được toàn thể Tăng chúng giao Ðại Ca Diếp cất giữ! Bình bát nầy về
sau, Ðại Ca Diếp lại trao lại cho A Nan Ðà trước khi lên đường vào
rừng thọ hạnh đầu đà rồi tuyệt tích. Hành động truyền bát của Ðại Ca
Diếp được ghi lại như thế tượng trưng cho sự nối tiếp trách nhiệm
bảo tồn Phật giáo.
Căn cứ trên những dữ kiện đó, chúng ta có thể kết
luận rằng: Tuy Phật ngôn đã dạy "Sau khi Như Lai nhập Niết Bàn, chư
đệ tử hay lấy kinh luật làm thầy!", nhưng Ðại Ca Diếp vẫn là người
đầu tiên thay thế đức Phật để hướng dẫn Tăng chúng.
Rất tiếc là trong toàn thể kinh điển Pàlì, không có
chỗ nào nói đến thời gian và địa điểm chính xác nơi thánh Ðại Ca
Diếp đã viên tịch.