|
Những mẩu chuyện (phần
nhiều dưới hình thức đối thoại) của A Nan Ða và đức Phật, vài ba
tháng trước khi Phật nhập Niết Bàn, đã được nhiều học giả Phật
giáo, xem như những tài liệu lịch sử, diễn tả các biến cố quan
trọng liên quan đến phần cuối cùng của đời sống đức Phật.
Theo Maha
Parinibbana Sutta (Ðại Niết Bàn Kinh) ghi trong Digha Nikaya 16 (Trường
A Hàm số 16) thì A Nan Ða đã đóng một vai trò chính các bài pháp
do đức Phật thuyết trước khi nhập Niết Bàn.
Những bài pháp này
thường mang am hưởng "lời giáo huấn cuối cùng" và diễn tả cả sắc
thái buồn bã của A Nan Ða, khi biết Phật sắp Nhập Diệt.
Theo một số nhà
nghiên cứu Phật giáo thì những bài kinh ấy đã gián tiếp tiên đoán
tuổi thọ của Phật Pháp Thích Ca (chỉ có 5000) thôi, cũng như báo
trước những hình thức suy đồi trong Phật giáo về sau như Tăng
chúng xa dần nếp sống phạm hạnh, gương giải thoát bị biến mất v.v
.. cho đến khi một vị Phật giáo mới ra đời.
Những Kinh Di Giáo
này hầu hết cũng nêu rõ những pháp thực tiễn, khuyên dạy các hàng
đệ tử càng gia tăng tinh tấn, thực hành pháp giải thoát trong lúc
đức Phật tại tiền, kẻo một khi Phật đã viên tịch, thì ơn ích duy
nhất ấy xem như đã vuột mất.
Ðồng thời, toàn thể
nội dung các kinh Di Giáo còn phản ảnh qua nhân vật chính, đóng
vai đối thoại là A Nan Ða, một đặc sắc giải cứu mà chúng tôi sẽ cố
gắng trình bày trong những trang sách sau đây:
Phần thứ nhất của
kinh Ðại Niết Bàn (Maha Parinibbana Sutta) có thể xem như bắt đầu
tại Vương Xá thành (Rajagaha), kinh đô xứ Ma Kiệt Ðà (Magadha) nơi
Ðề Bà Ðạt Ða trước đó bảy năm đã hại Phật và chia rẽ Tăng Già.
Thuở bấy giờ, vua A
Xà Thế (Ajatasattu) đang trị vì xứ Ma Kiệt Ðà. Còn vua Ba Tư Nặc (Pasenadi)
thì mới bị lật đổ, đồng thời vương tộc Thích Ca cũng vừa trải qua
một thảm kịch ghê gớm, cả dòng họ bị tàn sát. Hoàng tử Mahanama (anh
em duy nhất còn tại gia của A Nan Ða) đã bị giết.
Lúc ấy ba sứ quân
đầy thế lực cai trị ba lãnh địa nằm ở phía bắc sông Hằng (Ganga)
gần núi Hy Mã Lạp Sơn là Koliyas, Mallas và Vajjians đang tuyên bố
độc lập, không thần phục đại vương A Xa Thế nữa.
Nhằm lúc vị vua này
cũng có tham vọng đánh chiếm rồi sát nhập ba lãnh địa ấy vào ba
lãnh thổ của mình, Ðặc biệt là vua A Xà Thế dự định sẽ chinh phục
vùng Vajjians trước tiên.
Nếu trong thảm kịch
của dòng họ Thích Ca vì nghiệp nặng của những người bà con, đức
Phật đã không che chở được gì, thì đối với ý định xâm lăng bộ tộc
Vajjians của vua A Xà Thế, Ngài đã cứu giúp rất nhiều. Sau đó Ngài
còn gián tiếp che chở cho dân chúng trong bộ tộc Mallas nữa.
Ðây chính là bối
cảnh có sắc thái chính trị vào những năm cuối cùng của đời sống
đức Phật.
Soạn giả xin nhắc
lại tượng trưng một số biến cố như sau:
Nhà vua có máu xâm
lăng A Xà Thế đã ra lệnh cho một quan đại thần tên Vassakara đến
yết kiến đức Phật và báo cho Phật hay rằng đại vương có ý định đem
quân đi chinh phục lãnh địa Vajjians.
Khi Vasakara nêu lên
ý định của nhà vua và xin lời Phật dạy, thì đức Phật quay sang Tôn
Giả A Nan Ða (lúc đó đang đứng hầu sau lưng đấng Bổn Sư). Phật hỏi
A Nan Ða:
- Này A Nan Ða! Dân
tộc Vajjians có bảy phẩm hạnh trong đời sồng hằng ngày như thế nào?
A Nan Ða liền trả
lời:
- Bạch Ðức Thế Tôn:
- Thứ nhất dân
chúng bộ tộc Vajjians rất thường hội họp và thảo luận một cách
nhất trí mọi vấn đề.
- Thứ hai dân
chúng Vajjians không bao giờ hủy bỏ những luật lệ cũ.
- Thứ ba dân chúng
Vajjians thường xuyên nghe lời khuyên nhủ của các bậc lão thành.
- Thứ tư dân chúng
Vajjians không bao giờ xâm phạm tiết hạnh của phụ nữ.
- Thứ năm dân chúng Vajjians luôn
luôn tôn trọng những nơi thờ phượng.
- Thứ sáu dân chúng Vajjians tiếp
tục hiến dâng của cải đến những cơ sở tín ngưỡng.
- Thứ bảy dân
chúng Vajjians lúc nào cũng sẵn sàng che chở và hộ trì những bậc
tu hành chân chính.
Chờ A Nan Ða trả lời
xong, đức Phật liền phán rằng:
- Với bảy đức tính
như thế không ai có thể phủ nhận được sự thịnh vượng, hùng mạnh
của dân chúng Vajjians.Và bảy đức tính đó trước đây họ đã không có
nên họ mới bị suy đồi, nghèo đói. Chính Như Lai đã dạy dỗ cho họ
thấm nhuần được bảy phẩm hạnh ấy! một dân như thế là một dân tộc
có thể bảo vệ được gia sản, vật chất cũng như tinh thần của họ một
cách dễ dàng.
Nghe Phật dạy dứt
lời, quan đại thần Vasskara cũng khen ngợi rằng:
- Không cần phải có
đến bảy đức tính như thế! chỉ cần một đức tính thứ nhất mà thôi,
cũng đủ làm cho bộ tộc này phát triển mạnh mẽ. Ngày nào dân chúng
Vajjians còn tiếp tục có bảy đức tính đó thì ngày ấy họ không thể
bị xâm lăng. Ai muốn chinh phục họ phải chờ cho đến khi nào họ
chia rẽ và có nội phản.
Ðoạn quan đại thần
ấy kiếu từ đức Phật Với ý định sẽ về tâu lên nhà vua rằng: cử binh
đi chinh phục lãnh thổ Vajjians trong lúc này là một điều thất
sách.
Trong xã hội Ấn Ðộ
thuở bấy giờ, sự tin tưởng vào sức mạnh tinh thần của một sân tộc
rất quan trọng. Chỉ cần làm cho một thế lực xâm lăng hiểu rõ điều
đó, cũng đủ giúp cho đức Phật ngăn ngừa một cuộc chiến tranh.
Mãi về sau, khi đức
Phật đã nhập Niết Bàn, xứ Vajjians mới bị thôn tính, bởi vì dân
tộc xứ này đã dần dần bỏ rơi và xa lìa những đức tính cũ, trở
thành chia rẽ, không còn sức mạnh nhất trí, nên đã chẳng giữ được
biên cương lãnh thổ của họ.
Về phần đức Phật,
lúc gián tiếp cản ngăn được ý định xâm lăng của vua A Xà thế, Ngài
đã rút tỉa được một bài học chính trị và đem áp dụng vào cộng đồng
giáo hội. Ngài dạy A Nan Ða triệu tập Tăng chúng để đề cao bảy đức
tính nói trên: Nếu nhờ bảy đức tính ấy mà một dân tộc được hùng
mạnh, khiến cho ngoại bang không dám xâm lăng như thế nào,thì bảy
đức tính ấy cũng làm cho Giáo Hội vững chắc như thế ấy.
Nghĩa là:
- Thứ nhất, Tăng
chúng nên thường xuyên hội họp, thảo luận mọi vấn đề chung trong
cộng đồng một cách nhất trí. Dù có những bất đồng ý kiến cũng
phải đả thông một cách ôn hòa với nhau.
- Thứ hai, không
nên đặt ra những luật lệ mới (Vì quyền làm luật sẽ bị phân bì,
rồi ai cũng muốn chế luật mới hết).
- Thứ ba là nên
tuân lời những bậc trưởng lão.
- Thứ tư, phải tôn
trọng Giáo Hội Tăng Già
- Thứ năm, cần suy
gẫm đến mọi lời khuyên dạy của các hàng Tôn Túc
- Thứ sáu, tinh
tấn diệt trừ tham vọng và phát triển tính ưa thích thanh tịnh.
- Thứ bảy, nên
luôn luôn biết mình để thấy được sự an lạc của các hàng Thánh
nhân, lúc nào cũng sống trong sự biết mình ấy.
Sau khi liệt kê bảy
pháp lành cho Tăng chúng nhớ xong, đức Phật đã cô đọng thành một
đoạn pháp (về Giới - Ðịnh - Tuệ) mà sau này chúng ta thường tìm
thấy nhiều nơi trong Tam Tạng kinh điển như sau:
- Ấy là giới đức! Ấy
là sự an trụ! Ấy là trí tuệ! Khi có an trụ và giới đức thì kết quả
giải thoát sẽ vững chắc. Rồi khi có trí tuệ phối hợp với an trụ và
giới dức thì kết quả giải thoát không những vững chắc mà còn vĩ
đại nữa. Và khi có sự biết mình thì tâm hồn sẽ được trí huệ giữ
cho luôn luôn trong sạch, tránh khỏi mọi ô nhiễm, mọi dục lạc và
vô minh.
Phần thứ hai của
Kinh Ðại Niết Bàn là sau những lời giáo huấn đó, đức Phật đã bắt
đầu cuộc du thuyết cuối cùng của mình. Nơi nào có người hữu duyên
đón mừng Tháp Bảo để thấm nhuần chân lý giải thoát là Ngài dừng
chân để ban bố ơn lành. Hoặc nơi nào có những sức mạnh cuồng bạo
manh nha gây chiến thì Ngài cũng dừng chân lại ở nơi đó, để dùng
pháp giác ngộ, dập tắt ngòi lửa chiến tranh.
Trong cuộc hành trì
lịch sử này, trước tiên đức Phật đã hướng về vùng châu thổ sông
Hằng, xuyên qua địa phận Na Lan Ða, nơi đó về sau có một trường
đại học Phật Giáo nổi tiếng. Ðịa phận này cũng là nơi sinh quán
của Thánh Tăng Xá Lợi Phất (Sàrìputta). Chính ở đây, Trưởng lão Xá
Lợi Phất đã chia tay đức Phật, không tiếp tục cuộc hành trình với
đức Bổn Sư nữa, để quay về cứu độ mẹ mình, rồi viên tịch luôn
trong ngôi làng mà ông đã sinh ra.
Lúc nhìn đức Phật
lần cuối cùng, Trưởng lão Xá Lợi Phất đã thốt ra những lời vĩnh
biệt, nhân danh là một đại tông đồ như sau:
- Bạch Ðức Thế Tôn!
Bạch đấng Giác Ngộ! Dù cò muôn triệu lời để ca ngợi ân đức của
Ngài cũng không bằng bốn chữ Trí tuệ giác ngộ.
Sau đó đức Phật cùng
với đông đảo chư đệ tử tiến về thành Vesali. Ðây là thủ đô của xứ
Vajjians, mà đức hạnh của dân tộc xứ này Ngài đã từng khen ngợi.
Và một cuộc chiến tranh suýt do vua A Xà Thế gây ra, tàn phá nước
ấy cũng đã được Ngài dùng pháp lành dập tắt.
Người ta có thể tự hỏi:" Tại sao đức Phật trong
lúc tuổi về chiều, lại đến đây, để nhập hạ lần thứ 45 của cuộc đời
một vị Phật Tổ?"
Nếu chúng ta chịu
khó suy nghĩ một cách sâu xa thì sẽ thấy rằng sự có mặt của đức
Phật trong lãnh thổ này (Vajjians) không có mục đích gì khác hơn
là dùng ân đức của Ngài để can ngăn vua A Xà Thế đem quân đánh
chiếm một nước nhỏ lân cận.
Và tại thành Vesali,
đức Phật đã thọ trọng bệnh. Một thân nghiệp tự nhiên và sau cùng
của một đời người. Ngài đã dùng sức mạnh thiền định để đánh tan
mọi đau đớn. Ðồng thời Ngài cũng không muốn viên tịch mà chưa
triệu tập đầy đủ các hàng đệ tử một lần sau cùng. Vả, nhục thân
của bất cứ một nhân sinh nào trên đời này, vốn không tránh khỏi
bốn định luật: Sinh, Lão, Bệnh và Tử.
A Nan Ða thấy đức
Thế Tôn nhuốm bệnh và biết rõ ấy là một căn bệnh ngặt nghèo, thì
buồn khổ vô cùng. Ông lo sợ đến nổi mất hết sáng suốt. Rồi để tự
an ủi, A Nan Ða đã tưởng tượng và nói với đức Phật rằng;
- Bạch Ðức Thế Tôn!
Dù bệnh hoạn có nguy kịch cỡ nào, một vị Phật chắc chắn cũng không
bao giờ nhập Niết bàn một cách bất ngờ, khi chưa triệu tập đủ mặt
chư đệ tử và ban bố những lời di chúc tối hậu.
Nhưng đức Phật bỗng hết đau đớn, thần thái tươi
tỉnh nói:
- Này A Nan Ða! Như
lai không có gì để di chúc tối hậu cả! Những điều đáng truyền lại
cho các hàng đệ tử, Như Lai đã thuyết ra hết rồi. Hiện tại không
còn một pháp nào có thể gọi là bí mật để di chúc tối hậu. Như Lai
từ khi Thành Ðảo đến giờ đã tiếp tục hiện hữu là nương vào "thân
Phật". Ông chớ hiểu lầm có một vị Phật đang sống để lãnh đạo Giáo
Hội, và trước khi viên tịch, vị Phật ấy phải chuẩn bị mọi lời di
chúc để chuyển giao quyền hành như các hàng vua chúa còn mắc dính
trong bản ngã phàm tình. Thân Như Lai hiện giờ giống như một cỗ xe
đã cũ. Ở cái tuổi 80 thân Phật của Như Lai chỉ được yên ổn khi tâm
thường an trú trong các bậc Thiền, nhất là Thiền Phi Tửơng và Vô
Sở Hữu Xứ (animitta céto vimutti). Và khi ra khỏi hai bậc thiền ấy
nhục thân Như Lai cũng chịu mọi trạng thái tàn hoại của luật vô
thường.
- Này A Nan Ða ! Ông
hãy tự xem mình là nơi nương nhờ của chính ông. Ông hãy xem trí
tuệ chơn chánh của mình là pháp cứu rỗi duy nhất, vì một đệ tử
thấm nhuần Phật giáo không bao giờ mong cầu nơi tha lực để giải
thoát sự sinh tử luân hồi của chính mình.
Phần thứ ba của kinh
Ðại Niết Bàn (Mahà Parinibbàna Sutta), cũng được thuyết tại Vesali,
thuật lại giai thoại:
- Ở đó đức Phật đã
đừng chân để tu dưỡng một mùa hạ. Một hôm đức Thế Tôn bảo A Nan Ða
lấy tọa cụ và theo Ngài đến đại tịnh xá Capala để hành thiền. Sau
khi Phật và A Nan Ða an toạ, đức Thế Tôn thay vì lập tức Nhập Ðịnh,
Ngài lại quan sát khung cảnh thanh tịnh, và đẹp đẽ xung quanh, rồi
Phật nói như cảm khái với A Nan Ða rằng:
- "Những nơi phụ cận
trong vùng cũng có sắc thái xinh đẹp, thanh tịnh như thế này. Như
Lai nên an trú ở đây, hay lần lượt đến những nơi đó ?"
Hành động của đức
Phật khi ấy vốn có một nguyên do, nhưng A Nan Ða đã không hiểu.
Ông chẳng tìm thấy một ngụ ý nào trong lời Phật nói cả.
Và theo kinh điển,
mãi về sau các học giả Phật giáo mới nhắc đến câu nói ấy của Phật
để phân tích, khi họ đối diện với những đoạn khác đầy minh chứng
trong Tam Tạng Pháp Bảo.
Vì một đấng Phật Tổ
mà thốt lên lời cảm khái hay tỏ ra ưa thích cảnh đẹp như thế(dù là
cảnh đẹp thanh tịnh) là một điều rất hiếm và dường như mâu thuẫn
với phẩm cách không còn dính mắc thế gian của một bậc hoàn toàn
giải thoát.
Nhưng Phật đã xuất
khẩu nói ra, tất phải có lý do. Và lý do duy nhất chỉ là báo hiệu
sự gần Nhập Diệt của Ngài. Không phải vì Phật lưu luyến cảnh đẹp,
mà vì lòng thương xót chúng sanh. Lần đầu tiên non 45 năm về trước
sau khi Ðắc Ðạo, nhận thấy Phật giáo quá cao thâm và vì sự nghiệp
chướng của chúng sanh lại sâu dày, Ngài đã chần chờ, thì Phạm
Thiên đã xuất hiện thỉnh Phật thuyết pháp.
Giờ đã trải qua 45
năm truyền đạo giải thoát, nếu duyên lành của nhân loại còn thuận
hành thì có kẻ tịnh tâm sẽ yêu cầu Ngài khoan Nhập Diệt.
Rồi đức Phật lại nói"
Ai phát triển được bốn thần lực tuyệt đối (Iddhipàda) là An định
(hay nhất tâm) tinh tấn, nhẫn nại, và sát minh, thì người ấy có
thể làm chủ hoàn toàn được vận mạng của chính mình. Nếu muốn kéo
dài tuổi thọ, họ cũng có thể làm được".
Có nghĩa là một vị
Phật còn hơn thế nữa, vì Ngài đã dư đủ bốn thần lực ấy, nên khi có
ai yêu cầu Phật tiếp tục sống để cứu độ chúng sanh thì Ngài cũng
có thể thực hiện một cách dễ dàng.
Theo chú gỉải kinh
nói về kiếp sống (€yu kappastta) thì bốn thần lực của một vị Phật
có khả năng làm cho nhục thân của Ngài kéo dài tuổi thọ bằng một
kiếp trái đất. Còn nếu Phật dùng thần lực, mà Ngài chỉ áp dụng
thiền định. Ngài cũng có thể sống đến 120 tuổi. Trường hợp thân
Phật bị dư nghiệp hiện kiếp phát tác, chẳng hạn như Ngài bị vi
trùng công phá, sinh bệnh, thì Ngài cũng có thể dùng pháp Ðại Bát
Nhã để sống lâu theo ý muốn. Tức là kéo dài kiếp sống cho đến khi
nào các tế bào cuối cùng trong thân Ngài bị vi trùng phá hủy. Và
trong thời gian dùng Ðại Bát Nhã pháp để kéo dài sự sống, một vị
Phật chỉ biết Thuyết Pháp và Nhập Ðịnh mà thôi chứ Ngài không còn
những sinh hoạt phàm tình khác.
Ðức Phật không phải
chỉ nói điều ấy với A Nan Ða một lần, mà Ngài đã nhắc lại đến lần
thứ hai, rồi lần thứ ba. Nhưng A Nan Ða vì quá âu lo, bối rối, đã
không hiểu rõ nghĩa lý của lời Phật dạy.
Sự bối rối đến trở
thành tăm tối đó của A Nan Ða vốn đã do hai nguyên nhân;
- Thứ nhất A Nan Ða
lúc ấy chưa đạt Thánh quả A La Hán.
- Thứ hai có sự quấy
nhiễu của Ma Vương (Màra)
Theo thuật truyện (Màrajàtaka)
thì Ma Vương không phải chỉ mới bắt đầu khuấy phá sức khoẻ của
Phật, và những ai gần gũi Phật khi tuổi đời Ngài ở giai đoạn xế
bóng, mà hắn đã xuất hiện yêu cầu Phật hãy bước ra khỏi Tam giới (tức
là hãy nhập Niết bàn) lúc Ngài vừa đắc quả Chánh Ðẳng Chánh Giác
dưới cội cây Bồ dề.
Phật bị nhuốm bệnh
chính là lúc A Nan Ða, dù lo lắng cũng phải bình tĩnh, chăm chỉ và
cẩn thận. Nhưng ông đã trở nên đãng trí, bối rối là một hiện tượng
khác thường. Hiện tượng ấy của A Nan Ða trước đó tuy đã từng xảy
ra, nhưng chỉ xảy ra trong những lúc đức Bổn Sư và chư tông đồ gần
Phật, được an toàn tự tại. Và nhất là chỉ xảy ra khi Ma Vương
không lởn vởn xung quanh để che mờ trí sáng suốt của ông. Nhờ vậy
tuổi thọ của Phật giáo mới không bị rút ngắn hơn nữa (dưới 5000
năm) chứ nếu không, cõi Ta Bà này đã không có đủ 45 năm hưởng thụ
ơn ích của một vị Phật Tổ và hiện thời thế gian vì không có Phật
giáo chắc phải mang một bộ mặt khác. Bộ mặt lấy sự bạo động làm"
chân lý" rồi ân oán triền miên, đau khổ không bao giờ chấm dứt.
(Lấy oán báo oán,
oán sẽ chất chồng. Lấy ân báo oán, oán lại tiêu tan. -- Theo Pháp
Cú kinh).
Là những Phật tử
muốn nghiên cứu rõ ràng lịch sử Phật Ðà, chúng ta thử phân tích
biến chuyển tâm lý của A Nan Ða đã trong khi ấy: Phải chăng ngoài
việc bị ông Ma VƯơng che mờ trí sáng suốt, còng những nguyên nhân
nào khác?
Số là tối hôm sau
khi Phật muốn bệnh lần thứ nhất A Nan Ða được Phật gọi lên ngồi
sát bên mình ở hàng toạ cụ đầu (Trứơc cả các vị Ðại Tôn Túc) để
tụng kinh khuya. Rồi sau thời kinh, đức Phật lại ra lệnh cho chư
Tăng ai về chỗ nấy để tu niệm. Còn A Nan Ða Ngài bỗng bảo cầm toạ
cụ đi theo Ngài đến tịnh xá Capala để hành thiền. Một sinh hoạt tu
thiền chung với đức Bổn Sư, một vị Phật Tổ, mà A Nan Ða từ non 45
năm trường gần Phật không bao giờ dám ngờ là mình sẽ có được một
diễm phúc như thế.
(Thường lệ, trước
khi nhập định, đức Phật chỉ bảo A Nan Ða chuẩn bị tọa cụ trong
tịnh thất cho một mình Ngài. Rồi Phật vào Nhập Ðịnh. Còn A Nan Ða
muốn hành thiền ở đâu tuỳ ý, miễn đừng quá xa Phật, hầu khi cần,
đức Bổn Sư sẽ không phải đi tìm. Thói quen này làm cho A Nan Ða có
thể tiên đoán thời gian Nhập Ðịnh của Phật kéo dài bao lâu, để ông
hoặc hành thiền trong tinh thất của mình hoặc lẳng lặng đi làm
những công tác khác, như giặt giũ y phục của Phật, hay đến chăm
sóc những Sa môn già yếu, bệnh hoạn).
Nhưng lần này, đức
Phật lại bảo ông cùng đi hành đạo với Ngài, nên A Nan Ða cảm thấy
một nỗi vui sướng khó tả tràn ngập trong lòng.
Nhất là trong khi ấy
thần sắc của Phật rất bình thường, dường như trong ngày hôm đó
Ngài không nhuốm trọng bệnh chi cả. (A Nan Ða nào biết rằng Phật
đã dùng Ðại Bát Nhã pháp để quân bình thân bệnh). Nỗi vui sướng
của A Nan Ða hiển nhiên là một loại hạnh phúc biết rằng ông sắp
hành thiền trong hào quang và định lực của một vị Phật.
Rồi trong một chốc
sung sướng, hân hạnh, A Nan Ða lại nghe đức Phật khen ngợi cái
khung cảnh vừa xinh đẹp vừa thanh tịnh xung quanh đại Thiền xá
Capala, trong rừng vắng, nên ông càng thêm cản khái, quên mất
trước đó không lâu một biến cố tối quan trọng xảy ra: Ðức Phật đã
nhuốm trọng bệnh! Ðây có lẽ là lý do thứ hai của sự "Tăm tối", lý
do vì từ lâu A Nan Ða hằng thương kính đức Phật mà chưa bao giờ có
được những giây phút gần gũi thân thiết êm đềm như thế!(Nói
theo kiểu phàm tình, vì A Nan Ða lúc đó chưa đạt được Thánh quả A
La Hán). Nên ông đã không ngờ bổn phận "Thỉnh Phật khoan Nhập
Niết Bàn" chính là bổn phận của ông, và hiện tại đang đòi hỏi ông
phải làm bổn phận đó, mà ông không biết.
Có gì đáng tiếc cho
bằng A Nan Ða chính là người sợ Phật Nhập Niết Bàn sớm nhiều nhất
mà khi đến lúc, ông lại không biết thỉnh Phật tiếp tục sống tại
thế gian. Phải chăng sự yêu thương, ái mộ phàm tình vốn là nguyên
nhân đưa tâm linh của con người đi vào nẻo tăm tối?
Dẫu sao, nếu Ma
Vương (Màra) không ám ảnh thì A Nan Ða đã hiểu rõ ngụ ý trong lời
Phật dạy rồi. Ông không phải chỉ yêu cầu một lần, mà cho đến một
nghìn lần, ông cũng sẽ sẵn sàng vui vẻ năn nỉ Phật tiếp tục trên
thế gian này để cứu độ chúng sanh. Và chỉ cần một lời yêu càu thôi,
lóng từ bi vô lượng của đức Phật sẽ tỏa rộng và Ngài sẽ không sớm
nhập Niết bàn.
Sự cần thiết phải có
người yêu cầu Phật "Khoan nhập Niết Bàn" như thế, là một điều thần
bí trong kinh điển Pàli (Phạn ngữ). Người Phật tử khi nghiện cứu
về khía cạnh siêu hình trong đạo Phật sẽ thấy nhức óc. Xưa nay
chúng ta vẫn hiểu rằng: Tuổi thọ của một kiếp người là do kết quả
của toàn thể những cộng nghiệp (thiện ác lẫn lộn) mà người
ấy đã tạo ra trong kiếp trước.
Nhưng trường hợp của
đức Phật thì hơi khác. Vì kiếp thành Phật là kiếp chót, nên tuổi
thọ của một vị Phật là di quả lưu lại của hằng hà sa số kiếp trước.
Có thể có những di quả phi thiện hay trung hòa quá yếu nào đó, nằm
trong vô thỉ kiếp xa xưa đã không đuổi theo kịp tiền thân Phật,
nên Ngài chưa trả, thì khi thành Phật Ngài phải trả. Người ta gọi
những di quả quá yếu ấy là quả Tuỳ nhân duyên. Nghĩa là khi có lý
do chính đáng đức Phật có thể chuyển hóa chúng được. Do đó tuổi
thọ của một vị Phật sẽ ngắn hay dài vốn tùy theo sự chuyển hoá các
di quả Tùy nhân duyên ấy.
Và lý do chính đáng
vừa nói chính là phải có người thiện tâm yêu đức Phật tiếp tục
cuộc sống trên thế gian để độ cứu chúng sanh. Khi nghe lời yêu cầu
ấy lòng từ bi của một vị Phật sẽ tự động tỏa rộng đến vô cực và
làm chuyển hóa mọi hiệu lực của quả Tùy nhân duyên kia.
Cũng có người nói
rằng: Ðức Phật là một bậc toàn tri. Ngài biết rõ mọi điều mong ước
của tất cả chúng sanh, nên không cần ai yêu cầu, Ngài vì lòng từ
bi sẽ tự động sống lâu trên thế gian để độ đời!
Ðiều này rất đúng,
nhưng chỉ đúng khi thân Phật nằm trong trạng thái bình an, không
thọ bệnh. Còn khi nhục thân bị trọng bệnh hoành hành, và tâm Phật
nằm trong các bậc thiền, nhất là thiền Bát Nhã Vô Sắc, thì linh
quang của Phật chỉ chiếu xung quanh thân Ngài mà thôi, chứ không
tỏa đi xa để thấu đến những ai hữu duyên cần được cứu rỗi.
Trở lại trường hợp A
Nan Ða bị Ma Vương làm cho tăm tối, chúng ta thử đọc tiếp trong
Tam tạng:
"Khi ấy A Nan Ða
vâng lời Phật, vừa đến ngồi Nhập Ðịnh dưới một tàng cây to, cách
chỗ Phật không xa, thì Ma Vương (Màra) hiện ra. Y nhắc lại những
điều đức Phật đã hứa trước đó 45 năm, khi Ngài mới đắc quả Chánh
Ðẳng Chánh Giác. Nghĩa là Ma Vương muốn đức Phật Nhập Diệt càng
sớm càng tốt, để Ngài đừng bao giờ Chuyển Pháp Luân trên thế gian
này. Nhưng đức Phật đã trả lời rằng: Ngài không thể Viên Tịch khi
đạo giải thoát chưa được phổ biến đầy đũ, và bốn hạng người lành (Tỳ
khưu, Tỳ khưu Ni, thiện nam, tín nữ ) chưa thấm nhuần Chánh Pháp,
cùng chưa vững tiến trong đời sống phạm hạnh.
Ma Vương nhắc xong
rồi nói; "Hiện tại những việc đó Phật đã hoàn thành, vậy Ngài hãy
giữ lời hứa và phải Nhập Diệt".
Ðức Phật trả
lời;"Chúng sinh còn thiện duyên với Như Lai! (Ngài không nói duyên
lành ít hay nhiều). Như Lai sẽ vào Niết Bàn trong khoảng ba tháng
nữa...!"
Một câu hỏi có thể
đặt ra; "Tại sao đức Phật lại tuyên bố Ngài sẽ Nhập Diệt trong
vòng ba tháng tới, trước mặt Ma Vương, mà Ngài không tuyên bố lời
ấy, trước mặt một ai khác?"
Chúng ta thử phân
tích về điểm này: Theo điển cố thì Ma Vương là chủ tể của cái vòng
sinh tử luân hồi, gồm Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới).
Ảnh hưởng mạnh nhất của Ma Vương là cõi Dục giới. Tất cả những sắc
thân từ vật chất ô trược (Như đặc, lỏng, mủ, máu, hữu cơ v.v...)
cho đến vật chất thể bền và thể hơi (như sắt, đá, cương tinh, gió,
lửa và các thứ khí v. v...) đều là sản phẩm độc quyền chế tạo của
Ma Vương.
Khi một chúng sanh
ra đời trong Tam giới, bất luận thuộc hạng nào, có thể từ thấp
sinh, noãn sinh, hay thai sinh, lên đến hóa sinh, như từ thú rồi
người và trời v.v... là chúng sinh ấy đã chịu "nương" vào sản phẩm
của Ma Vương để mà sống.
Tất cả chúng sanh
mang thân nghiệp có thể ví như người ở trọ mà Ma Vương là chủ nhà.
Tiền thuê nhà phải trả cho Ma Vương trong trường hợp này là nuôi
dưỡng tham, sân, si. Một vị Phật hay một vị A La Hán là những bậc
không còn thiếu nợ đối với chủ nhà xác thân họ nữa. Hay nói cách
khác là các hàng ấy đã đứt khoát không chịu: ''thuê nhà" kiếp sau
của Ma Vương nữa. Các vị ấy không chịu nuôi dưỡng tham, sân, si
thì không còn tái sinh nữa, nên Ma Vương nổi giận muốn đuổi người
"ở trọ" thánh thiện ấy đi, để lấy nhà ô trược lại càng sớm càng
tốt. Tuổi chết (ví như hạn kỳ thuê nhà) của một bậc Giác Ngộ, dù
chưa đến, Ma Vương cũng tìm đủ mọi cách làm cho nó đến sớm, kẻo
bậc Giác Ngộ càng có mặt lâu trên cõi Ta bà nàythì số người Giác
Ngộ càng tăng, khuyến khích nhau tận diệt tham, sân, si... bước ra
khỏi Tam giới, không còn ai thuê nhà kiếp sau do Ma Vương chế tạo
nữa.
Thí dụ một cách khác
thì Ma Vương có thể ví như một người xây nhà để bán cho chúng sinh
luân hồi. Còn đức Phật có thể ví như người Mua nhà lần cuối cùng.
Khi ngôi nhà ấy (ám chỉ xác thân) trở nên cũ kỹ, sắp sập, Ngài
quyết định không để cho Ma Vương xây nhà mới nữa, nên Ma Vương nổi
giận tìm đủ mọi cách đuổi Phật ra khỏi ngôi nhà cũ, (tức phải chết)
càng sớm càng tốt!
Do đó Ma Vương chính
là kẻ đầu tiên biết Phật không còn cần đến y nữa. Nhưng năng lực
của Phật muốn lưu lại trong ngôi nhà cũ, (ám chỉ xác thân) do y đã
cất, không biết đến bao giờ mới cạn, nên y cứ tìm cách hỏi Phật
chừng nào Ngài Nhập Diệt? Ma vương cũng tự biết rằng: Thánh quả
Toàn Giác, tuy rất hiếm, nhưng cũng có thể xuất hiện trên thế gian
bất cứ lúc nào. Không có một năng lực chi có thể ngăn cản được.
Cũng như thành quả Chánh Ðẳng Chánh Giác ấy muốn kưu lại trong Tam
giới bao lâu tùy nhân duyên chứ Ma Vương không làm sao biết trước
hay xua đuổi được.
Nhưng dù sao, đức
Phật sau khi Ðắc Ðạo, Ngài đã quyết định không sống một kiếp người
dài bằng tuổi thọ trái đất. Ngài đã không vận dụng những thần lực
để biến mình thành trường sinh bất tử. Những thần lực này vốn có
sẵn trong tâm Phật. Ngài có thể phát triển bất cứ lúc nào ngài
muốn. Nhưng Ngài đã không phát triển.
Và khi đối diện với
Ma Vương, Phật thản nhiên tuyên bố Ngài sẽ Nhập Diệt trong vòng ba
tháng nữa, tức là một cách Phật gián tiếp xác nhận Ngài sẽ không
sử dụng thần lực trường sinh bất tử, nên quả đất phải rung chuyển
và phong vũ sấm sét đã nổi dậy... Vì những sức mạnh phi thường bao
quanh địa cầu là kết tinh của hào quang chiếu và nhục thân của đức
Phật.
Những sức mạnh phi
thường ấy đã từ lâu chờ đợi tâm Phật phổ ra để biến thành kim
cương mà bảo vệ một vị Phật Chánh Ðẳng Giác cho đến mãn kiếp trái
đất. Nhưng những linh lực ấy đã không được Phật làm hành điểm để
hội tụ, thành thử chúng hiển lộng ra như thế!
Khi A Nan Ða chứng
kiến một cách kinh hãi cảnh mặt đất rung động, đồng thời trên
không trung sấm sét, cuồng phong nổi lên như thế. Ông lập tức bạch
Phật hỏi nguyên nhân, thì được đức Thế Tôn trả lời rằng:
- Có tám nguyên nhân
làm cho mặt đất rung động và bầu khí quyển bị xáo trộn là:
''Một, có một sinh
vật khổng lồ bước đi. Hai, có một đạo sĩ đắc Thiền đạt thần thông
Vô sắc. Ba, có một đại Bồ Tát giáng sinh vào lòng mẹ. Bốn, có một
đấng cứu thế ra đời. Năm, có một đức Phật Thành Ðạo. Sáu, có một
bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác bắt đầu Chuyển Pháp Luân. Bảy, có một vị
Phật Tổ từ chối sự trường sinh bất tử. Và tám, có một lời hứa Phật
sẽ nhập Niết Bàn''.
Khi đọc đến đoạn này,
chúng ta sẽ thấy rằng: Sự hiện hữu của một vị Phật Tổ, trên thế
gian vốn có nhiều liên quan với càn khôn vũ trụ, chứ không đơn
giản như một cuộc sống phàm tình mà chúng ta thường lầm tưởng.
Ðối với các nhà khảo
cứu thì những bài kinh nói về tám điềm lạ, hay nói đến tám trình
độ tinh thông hoặc nói đến tám bậc Giải Thoát là những đề tài
chính trong kinh Ðại Niết Bàn. Và chúng ta ai cũng biết rằng:
trong 3 lần 8 là 24 ấy, chỉ có tám pháp nói về điềm lạ (hay còn
gọi là tám hiện tượng kinh cảm vũ trụ), như vừa kể trên là thỉnh
thoảng được nhắc đến mà không có lý giải. Còn 16 loại đề tài kia,
gồm tám trình độ tinh thông và tám bậc Giải Thoát, thì thường được
Tạng kinh và Tạng luận phân tích rõ ràng.
Ai muốn biết rõ ba
nhóm kinh, mỗi nhóm tám chi này, mời quí vị hãy đọc cuốn, Những
ngày cuối cùng của Ðức Phật bằng tiếng Anh (The Last Day of the
Buddha), do Bánh Xe Pháp xuất bản (Wheels Publication, Sri Lanka).
Trên thực tế, tám
điềm lạ, (tức tám nguyên nhân làm cho mặt đất chuyển động và
phong vũ sấm sét nổi lên) vốn chứa lắm điều bí ẩn đặc biệt.
Ðức Phật dẫu có tiết lộ trước đó, phàm tuệ của A Nan Ða cũng không
thể nào thấu hiểu nổi. Cho nên Phật Tổ đã không nói ra và chỉ có
những hiện tượng nhiệm màu làm cho A Nan Ða bị kinh cảm, mới khiến
cho ông sực nhớ biết chắc Ðức Phật sắp đi vào Niết bàn. Và cảnh
quả địa cầu đã không chịu nỗi sự mất mát phúc đức vô lượng, tức
sắp mất đi một vị Phật, nên đã chuyển động khiến vạn vật rung rinh
một cách kỳ lạ mà không làm tổn hại đến A Nan Ða một sợi lông, đủ
chứng minh cái sắc thái thần bí muôn đời giữa đức Phật và vũ trụ
dó.
Trở lại câu chuyện
của đức Phật và A Nan Ða tại Thiền Ðịnh Ðạo Tràng Capala: Sau khi
quả địa cầu kinh cảm chấm dứt, đức Phật liền đích thân dạy cho A
Nan Ða các phương pháp hành thiền thích hợp với các căn cơ ông
nhất để A Nan Ða mau tiến hóa.
Ðoạn đức Thế Tôn
thuật lại cho A Nan Ða nghe những gì ngài đã hứa với Ma Vương 45
năm về trước. Ngài lập lại câu nói ''Một vị Phật không thể Nhập
Niết Bàn trước khi chưa ban bố pháp Giải Thoát đầy đủ trong Tam
Giới''.
Rồi Phật tiếp:
- Nhưng trải qua 45
năm chờ đợi. Vừa rồi Ma Vương đã hiện ra nhắc rằng: Hiện tại Như
Lai đã công bố đầy đủ tám muôn bốn ngàn pháp môn rồi. Tại sao Như
Lai chưa nhập Diệt? Và Như Lai đã hứa với y là Như Lai sẽ nhập
Niết Bàn trong ba tháng tới.
Và Phật kết thúc câu
chuyện:
- Khi tâm Phật hướng
vào Niết Bàn mà thân Phật chưa biến thành kim cương thì quả địa
cầu, phải rung động. Hiện tượng ấy không phải lúc nào cũng có, mà
nó chỉ xảy ra đúng ba tháng trước khi Phật nhập Niết Bàn.
A Nan Ða nghe thế
liền hốt hoảng quỳ lạy thiết tha yêu cầu Phật hóa thành Kim thân
để sống lâu độ đời. Ông yêu cầu lần thứ nhất, rồi lần thứ hai, vẫn
thấy đức Thế Tôn ngồi yên, im lặng.
Ðoạn Phật hiền từ
nhìn A Nan Ða cho biết rằng:
- Này A Nan Ða! Bây
giờ thì quá muộn, vì tâm Phật đã hướng về Niết Bàn rồi và đã tự
dứt bỏ các phép nhiệm mầu Trường Sinh Bất Tử.
Nhưng khi A Nan Ða
yêu cầu đến lần thứ ba thì đức Phật chợt nghiêm nghị hỏi A Nan Ða:
- Này A Nan Ða! Vậy
ông có tin tưởng vào phẩm hạnh hoàn toàn của một bậc đã ra khỏi
Tam Giới không?
- Bạch Ðức Thế Tôn!
Ðệ tử tin tưởng như thế!
Rồi đức Phật dạy
tiếp:
- Nếu tin tưởng như
thế, tại sao ông lại nài nỉ Phật làm một việc đã quá thời đến ba
lần?
A Nan Ða biện hộ
rằng:
- Bạch đức Thế Tôn!
Sở dĩ đệ tử yêu cầu đức Thế Tôn đến ba lần, là vì đệ tử đã nghe
đức Thế Tôn nói một vị Phật luôn luôn có đầy đủ bốn thần lực tuyệt
đối, dư khả năng hóa thân thành kim cương, kéo dài tuổi thọ.
Ðức Phật liền hỏi A
Nan Ða:
- Này A Nan Ða! Mà
ông có tin điều Như Lai nói, về bốn thần lực ấy, là sự thật không?
- Bạch đức Thế Tôn!
Ðệ tử tin sự ấy có thật.
Ðức Phật bèn giải rõ:
- Này A Nan Ða! Dịp
may độc nhất đã qua rồi không bao giờ trở lại! Lời ông yêu cầu
Phật hóa thân trường sinh bây giờ đã quá trễ! Ông chỉ có thể yêu
cầu Phật hóa thân trường sinh bây giờ đã quá trễ! Ông chỉ có thể
yêu cầu Phật chấp nhận kim thân bất tử khi nào tâm Phật chưa bắt
đầu hướng vào Vô Dư Niết Bàn. Và hiện tại thì hy vọng ấy của ông
không còn nữa.
Rồi Phật giảng thêm:
- Này A Nan Ða! Nếu
trước đây ông đã cung thỉnh Như Lai hóa thân trường sinh độ đời
đúng lúc, thì lời yêu cầu của ông đã được Như Lai chấp nhận rồi!
Ông quên rằng chính Phật đã gợi ý cho ông làm điều đại thiện ấy
nhiều lần, nhưng ông vì tăm tối đã để trôi qua. Phật không phải đã
chỉ nhắc ông một lần mà Ngài đã nhắc ông đến mười lăm lần tại năm
địa điểm khác nhau rằng: Một vị Phật khi thân thể suy tàn, nếu có
kẻ thiện tâm yêu cầu, Ngài vì lòng từ bi sẽ hóa thân trường sinh
độ đời.
Ðoạn đức Phật nhắc
lại năm địa điểm gần thành Vesali, nơi đó ngài đã gợi ý để A Nan
Ða thỉnh Phật đừng nhập Niết bàn (mỗi địa điểm Phật nhắc đến ba
lần, tổng cộng thành mười lăm lần), nhưng A Nan Ða vẫn im lặng,
không phản ứng gì cả.
Sau cùng đức Phật
khuyên nhủ A Nan Ða rằng vạn vật trong Tam giới luôn bị chi phối
bởi luật Vô thường. Và một bậc Toàn Giác không bao giờ làm ngược
lại với duyên phận của chúng sinh trên cõi thế. Phật đã hứa với Ma
Vương trong ba tháng nữa sẽ Nhập Diệt, là một cách để cho những ai
hữu duyên còn sót lại, có thể sẽ được ngài giải cứu độ.
Tiếp theo đức Phật
bảo A Nan Ða tập họp chư Tăng đệ tử trong vùng để ngài thuyết một
bài pháp tán dương trước cộng đồng xuất gia sự phát triển nội tâm
(thiền định) và trao dồi Minh sát tuệ (vipassanà), vì chỉ có hai
phép tu tập này mới làm cho đời sống phạm hạnh được duy trì vững
chắc, và mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Phần cuối bài pháp,
đức Phật dùng để công bố giữa Tăng hội rằng Ngài sẽ nhập Niết Bàn
trong vòng ba tháng nữa.
(Lời của dịch giả:
Lúc Phật tuyên bố câu ấy nhằm ngày 15 tháng giêng Âm lịch. Bởi vậy
về sau này theo truyền thống Nam tông, mỗi năm chư Phật tử hằng tổ
chức lễ kỷ niệm ''Phật hứa với Ma Vương'' - hay Ngày Phật Di Chúc
- vào ngày trăng tròn tháng thứ nhất).
Tuyên bố thời điểm
nhập Niết Bàn xong, đức Phật bèn thốt ra nhiều bài kệ, mà một
trong các bài ấy được tạm dịch như sau:
Như Lai tuổi đã về
chiều,
Niết Bàn sẽ nhập là điều tất nhiên.
Khuyên hàng đệ tử cần chuyên,
Rèn tâm, trì giới tạo duyên lấy mình.
Luân hồi bao nẻo đăng trình,
Khổ, vui, thăng, đọa.. tự mình mà thôi.
Giới mà giữ đúng không rời,
Ðịnh mà vững chắc là đời thánh nhân.
Minh tâm kiến tánh càng tăng,
Giác duyên sẽ kết, thiện căng sẽ dày.
Sa môn hành những lời này,
Ngày sau thoát cảnh đọa đày chẳng sai.
(N.Ð dịch thành thơ)
Phần thứ tư của kinh
Ðại Niết Bàn thuật lại chuyện đức Phật tóm lược những chuyến hành
trình của Ngài sau mùa nhập hạ, và tuyên bố ngài muốn trở về
Vesali.
Rồi trên đường đi
Vesali, Phật còn lập lại cho các hàng đệ tử những lời dạy mà ngài
đã thuyết, và họ đã được nghe. Nội dung đại khái như sau:
- Chúng sanh sở dĩ
phải tiếp tục luân hồi trong cái vòng Sinh Diệt bất tận, là bởi họ
đã không thấm nhuần bốn Pháp học. Bốn Pháp học ấy trước đó Ngài đã
gọi là Tứ Diệu Ðế (Catu ariyasaccàni: Khổ đế, Tập đế, Ðạo đế và
Diệt đế) thì bây giờ lại được Phật gọi là bốn pháp hành đạo cao
thượng gồm có:
1. Giới đức cao thượng.
2. Ðịnh tâm cao thượng.
3. Trí tuệ cao thượng.
4. Giải thoát cao thượng.
Riêng phần Ðịnh tâm
cao thượng còn được Phật lặp đi lặp lại và nhấn mạnh nhiều lần
trong chuyến trở về Vesai này. Ðặc biệt Ngài còn chỉ rõ rằng nền
tảng của định tâm cao thượng chính là giới đức cao thượng (ám chỉ
thân nghiệp và khẩu nghiệp hoàn thành trong sạch).
Và tại một địa điểm
dừng chân khác, cũng trên lộ trình ấy, đức Phật đã giải cho các
hàng Tăng chung nghe một phương pháp tìm hiểu Phật ngôn, hầu phòng
khi có đệ tử sơ cơ nào, chưa thấu rõ lời Phật dạy, sẽ có tiêu
chuẩn mà học hỏi Phật giáo, nhất là sau khi Ngài Tịch Diệt.
Những ai khảo cứu
kinh Ðại Niết Bàn, muốn nắm vững nội dung đoạn pháp nói về "Phương
cách tìm hiểu Phật ngôn'' trên, họ có thể tìm thấy sự dẫn chứng
trong Tạng Luật, và lời cắt nghĩa trong Tạng Kinh.
Trường hợp đoạn kinh
ấy được ghi lại quá sâu sắc, tế nhị và cô đọng, khiến họ khó tìm
ra nghĩa lý, rồi phát sinh nghi ngờ về thuật sự đó, thì soạn giả
xin mời họ hãy đọc chương "Bốn Pháp Quyền Vĩ Ðại'' bằng tiếng Anh
(The Great Autorities), quyển "Những ngày cuối cùng của đức Phật
(The Last Days of The Buddha)", trang 46 thì sẽ rõ.
Lời dạy về "Phương
pháp để hiểu Phật ngôn'' này ngày nay rất quan trọng,vì nó là nền
tảng giữ đức tin của các hàng Phật tử, khi họ đối diện với một số
bản kinh khác nhau, mà những ngườI "làm chủ'' các bản kinh ấy ai
cũng đề cao bản văn của mình và tài liệu Phật ngôn chính thống.
Nhất là người Phật tử có thể nhớ lại lời Phật dạy ấy để phân biệt
những Phật ngôn do chính đức Bổn Sư thuyết ra khi còn tại tiền,
với những "Phật ngôn'' được ghi lại trong kinh điển sau này.
(xin xem tiếp
Phần IX-b).
-ooOoo-
|