|
Sự đàm thoại về Pháp
Bảo giữa A Nan Ða và đức Phật tìm thấy trong kinh điển Pali rất
nhiều, có thể nói là đa dạng! Có lúc Phật trả lời một câu vấn đạo
của A Nan Ða bằng cách làm thinh. Vì trong Phật giáo, "đàm luận" là
đưa đến sự cảm thông, tức hiểu đúng, cái ý hay những điều mà các
bậc hiền triết muốn nói, chứ không cứ gì phải phát ra bằng lời.
Nếu chúng ta cho rằng:
Hiểu đúng những lời đức Bổn Sư đã dạy là "đàm luận" một cách mật
thiết nhất với đức Phật thì trọn hai mươi lăm năm trường gần Phật,
A Nan Ða đã không ngừng "đàm luận" với một bậc Giác Ngộ.
Mặt khác, A Nan Ða
cũng đã được đức Phật ban cho một đặc ân là bất cứ pháp nào ông
cũng được nghe trực tiếp từ kim khẩu của đức Bổn Sư thốt ra, chứ
không phải qua trung gian một người khác. Trường hợp khi đức Phật
nói pháp mà A Nan Ða vắng mặt, thì sau đó đức Thế Tôn lại lập lại
trong tịnh thất cho một mình ông nghe.
Ðây chính là lý do
chúng ta thấy rất nhiều chỗ trong Tam tạng kinh điển, các bài pháp
của đức Phật đã được bắt đầu bằng câu:"Ta là A Nan Ða có nghe như
vậy...".
Khi hiểu một cách
thật thà, thì câu trên bắt đầu nói trên ám chỉ rằng: Ðây là một bài
pháp của chính đức Phật đã thuyết, và A Nan Ða chỉ là người thuật
lại. Nhưng nếu hiểu một cách tế nhị và không chấp nhận vào văn tự
thì câu "Ta là A Nan Ða có nghe như vậy..!" cũng có nghĩa là A Nan
Ða đã dùng những lời lẽ của mình diễn tả đúng cái ý đạo của đức
Phật đã dạy.
Trong khuôn khổ tập
sách nhỏ bé này, chúng ta không thể kê khai hết những "Phật pháp"
do A Nan Ða thuật lại. Chúng ta càng không thể nhắc hết những mẫu
bàn luận có tính cách đại chúng.
Khi đọc Tam Tạng cẩn
thận, chúng ta sẽ nhận thấy rằng: Mỗi khi đức Phật đàm luận về một
đề tài nào với A Nan Ða, Ngài thường nhân có sự hiện diện đông đảo
của chư đệ tử mà bắt đầu câu chuyện bằng một câu hỏi, hoặc nêu lên
một thời sự nóng bỏng vừa diễn ra trong đời sống Tăng lữ hằng ngày
hay trong xã hội thực tại.
Phương pháp mở đầu
dạy đạo như vậy, đức Phật hiển nhiên đã không phải chỉ nhắm vào A
Nan Ða, nâng cao trình độ kiến thức của ông, mà Ngài còn cố ý mang
lại lợi ích cho các hàng Tăng chúng khác nữa. Tuy nhân vật đối
thoại với đức Phật là A Nan Ða, nhưng thành phần hấp thụ yếu pháp
lại là những ai có mặt lúc ấy.
Cách nêu lên một chủ
đề để cùng nhau dùng trí óc thảo luận như thế, ngày nay vẫn còn
thịnh hành. Khi toàn thể những người dự thính góp phần suy ngẫm và
phân tích, thì sự soi sáng nội tâm được đồng loạt kích thích. Lúc
bấy giờ đức Phật và A Nan Ða chỉ còn đóng vai hướng dẫn, khai triển
cuộc pháp đàm hơn là để cho cộng đồng Tăng chúng thụ động ngồi nghe
những điều Ngài và A Nan Ða nói.
Kết quả, những cuộc
pháp đàm như thế thường đã trở thành những bài pháp vô cùng hữu ích
cho cộng đồng Tăng chúng.
Một lần khác A Nan Ða
hỏi Thế Tôn rằng:"Làm thế nào để một Tỳ khưu sống an vui trong kiếp
sống xuất gia?" .
Ðức Phật trả lời:"-
Khi một Sa môn có đầy đủ giới đức mà không khó chịu trước những
người kém giới hạnh hơn mình, Không coi họ thấp thỏi hơn mình, và
luôn luôn thân thiện với tất cả mọi người. Nghĩa là Sa môn như thế
chỉ luôn luôn quan sát thân, khẩu, ý của mình, chứ không chú ý đến
phẩm giá của người khác. Họ không trông đợi được trở thành danh
tiếng, họ chẳng mong mỏi lời khen và cũng không lo ngaị mình sẽ bị
chê. Hằng ngày, họ chỉ chăm lo hành tri pháp Tứ Niệm Xứ một cách
hoan hỷ, dễ dàng, ít bị (hay không bị) phóng tâm làm chướng ngại.
Những hàng Sa môn như thế không những đang sống một cuộc đời an vui,
mà quả giải thoát A La Hán (Bất Lai) sẽ đến với họ ngay trong kiếp
này. Nói cách khác là nền tảng của hạnh phúc xuất gia là sự tri túc
và phát triển giới hạnh của chính mình và không đòi hỏi bất cứ cái
gì từ người khác, cho dù cái đó là phẩm giá hay phạm hạnh mà các
hàng Thánh nhân hằng khen ngợi. (Theo Anguttara Nikàya 5, 106 =
Tang Nhất A Hàm 5, 106).
Một câu hỏi của A Nan
Ða cũng đáng nhắc lại như sau: ''Thế nào gọi là hạnh phúc và mục
đích của giới đức là gì?".
Ðức Phật trả lời:
- Hạnh phúc của một
bậc xuất gia tròn đủ giới đức là không bao giờ có sự tự trách mình,
không bao giờ mang mặc cảm tội lỗi. Tâm linh của họ lúc nào cũng tự
tại, trong sáng.
Nhưng A Nan Ða liền
hỏi xa hơn: "Bạch đức Thế Tôn! Vậy khi tâm linh được tự tại, trong
sáng thì hành giả sẽ đạt tới tình trạng gì?".
Ðức Phật liền trả lời:
- Tâm linh được trong
sáng thì tư duy (ý nghĩ) đều được thanh tịnh. Khi tất cả ý nghĩ
được thanh tịnh, thì lạc thọ nội tâm tự nhiên ngập tràn và kích
thích hành giả tiến lên Thánh quả, đồng thời tỏa rộng lòng từ bi
đến muôn loài chúng sanh.
Rồi không để A Nan Ða
chất vấn, đức Phật tự nêu ra câu hỏi và trả lời:
- Vậy chớ kết quả của
lạc thọ ngập tràn trong tâm và tỏa rộng lòng từ bi là gì?
- Là sự hướng thượng
của tâm linh. Là sự chan chứa lòng hoan hỷ, không phải chỉ cho
riêng mình, mà còn cho toàn thể vạn vật. Niềm hoan hỷ và tính hướng
thượng ấy sẽ lên cao và tỏa rộng đến vô cực, khiến cho một bậc giải
thoát không còn mắc dính trong sự chật hẹp của những kiếp sinh tử
luân hồi, hạn chế trong tam giới này nữa. (Theo Anguttara Nikàya
10, 1 = Tăng Nhất A Hàm 10, 1).
Cứ như thế, sau này
đức Phật đã nâng cao trình độ nghe và hiểu pháp của A Nan Ða lên
những mức vi diệu, thánh thiện hơn, đưa A Nan Ða bước chập chững
vào trong vòng cảm thức của Thánh giới.
A Nan Ða lắng nghe
lời Phật dạy với tất cả sự thành kính, thỉnh thoảng ông cũng trình
lại với đức Phật một số những nhận xét của ông để được đức Phật xác
nhận là đúng hay sai.
Một lần ông đã hỏi
đức Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn!
Sự liên quan huynh đệ trong đời sống đạo hạnh phải chăng rất quan
trọng. Nó có thể ảnh hưởng đến một nửa đời sống tu hành không?
A Nan Ða liền bị đức
Phật bác bỏ một phần và bổ túc như sau:
- Sự gần gũi (liên hệ
huynh đệ) với một Thánh nhân không thể coi là chỉ quan trọng như
một nửa đời sống tu hành, mà nó phải được xem là quan trọng cho cả
đời sống tu hành. Vì sự liên hệ cao thượng ấy là con đường dẫn đến
cánh cửa giải thoát. Ai có liên hệ mật thiết với một bậc A La Hán
là người đang hy vọng ra khỏi vòng sanh tử luân hồi vậy.
(Theo Samyutta
Nikàya 45,2 và 3,18 = Tạp A Hàm 45,2 và 3,18. Cùng những đoạn khác
có nội dung tương đương trong Anguttara Nikàya 6, 57 = Tăng Nhất A
Hàm 6, 57 và trong Majjhima Nikàya 121 = Trung A Hàm 121).
Nhưng nhận xét độc
đáo nhất của A Nan Ða phải kể là: "Các pháp hành (Sankhàra) phát
sinh từ nơi nào thì nơi đó là nguyên nhân của các pháp dập tắt".
đối với ông, câu nói
này có lẽ là một chân lý, không có chỗ thiếu sót, nên ông nêu lên
để được đức Phật xác nhận.
Một lần nữa, đức Thế Tôn lại bảo:
- Này A Nan Ða! Ðiều
phát biểu của ông tuy rất hiển nhiên, nhưng rất khó lĩnh hội. Vì "Các
phép dập tắt" (ám chỉ giải thoát) không được mô tả một cách rõ ràng.
Nhất là không chỉ thẳng: "Trong cái vòng sinh tử luân hồi ấy, người
ta có thể tìm thấy sự giải thoát ở đâu?" .
Theo Phật giáo thì
cái ngõ để thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi là một khung cửa gồm
bốn cạnh, gọi tắt là Tứ Diệu Ðế, tức: Khổ Ðế (luân hồi và mọi bất
toại nguyện trong sự sống), Tập Ðế (nguyên nhân của Khổ Ðế), Diệt
Ðế ( hay khả năng không cho Khổ Ðế phát sinh), Ðạo Ðế (phương pháp
tu luyện để đạt tới khả năng ấy). Phật giáo ví Ðạo Ðế này như một
bánh xe tiến hóa có tám căm được mệnh danh là bánh xe Bát Chánh Ðạo.
Ðoạn đức Phật giảng
dạy cho A Nan Ða các khía cạnh khác nhau của mỗi pháp hành (Sankhàrà),
nhất là những trạng thái khi nó phát sinh và khi nó bị dập tắt.
(Theo Digha Nikàya 15 = Trường A Hàm số 15).
Một hôm nọ A Nan Ða
nhân chứng kiến tài nghệ độc đáo của một người bắn cung đem thuật
lại với đức Phật sự thán phục của ông.
A Nan Ða vốn xuất
thân từ giai cấp Hiệp Sĩ, nên mặc dù đã xuất gia nhưng bản chất
thích gặp lại những người thuộc giai cấp mình là một chuyện thường
tình; nhất là khi ông chưa đắc được bật cao trong Thánh giới.
Ðức Phật bèn nhân cơ
hội thuật chuyện bắn cung ấy để nêu lên một sự so sánh. Ngài nói:
- Vì như người xạ thủ
kia! Trước những con mắt của khán giả, ai cũng thấy y làm việc một
cách dễ dàng. Nhưng nếu bảo một người thường thay y làm việc đó thì
họ không thể làm được. Và tương tự như thế, sự hiểu rõ các pháp Tứ
Diệu Ðế và thực hành đứng đắn Bát Chánh Ðạo trong Phật giáo, ngoài
các Sa môn tròn đủ phẩm hạnh và các Thánh nhân ra, không một người
thường nào có thể làm được dễ dàng.
(Sách chép người
bắn cung mà A Nan Ða thán phục ấy có thể dùng mũi tên bén chẻ sợi
tóc ra làm bảy lần).
Các kinh: Majjhima
Nikàya 4, 27, 99 va Anguttara Nikàya 2, 15 còn ghi rõ một thuật sự
khác, kể rằng: Một lần nọ, A Nan Ða đã chứng kiến một đệ tử danh
tiếng của đức Phật thuộc giai cấp Bà la môn, tên là Janussoni, đang
điều khiển một cỗ xe màu trắng một cách oai vệ trong đấu trường. A
Nan Ða cũng nghe khán giả bàn tán và hoan hô rằng: Cỗ xe màu trắng
ấy là cỗ xe của vị quân sư vua Pasenadi, và là cỗ xe tốt nhất, đẹp
nhất...
Rồi ông đem thuật lại
những điều tai nghe mắt thấy đến đức Thế Tôn và hỏi Phật làm thế
nào để một Phật tử có thể so sánh các nét đẹp ấy với các pháp học
trong Phật giáo?
Ðức Phật trả lời rằng:
- Cỗ xe trắng tinh,
đẹp nhất ấy có thể ví như Niết bàn. Những con tuấn mã có thể ví như
đức tin và trí tuệ. Nết hổ thẹn tội lỗi ví như cái thắng. Tư tưởng
Minh sát bén nhạy có thể ví như dây cương. Tính biết mình ví như
người đánh xe. Giới đức ví như các bộ phận che chở. Thiền định ví
như trục xe. Nguyên lực ví như bánh xe. Bình thản (ý nói tâm xả) ví
như bộ nhún. Xuất gia ví như nền xe. ...n dật và vô hại (ám chỉ
lòng từ bi) ví như những võ khí. Nhẫn nại ví nhu áo giáp. Và sau
cùng màu trắng tinh ví như Thánh quả. (Vì trong Thánh tâm không bao
giờ có tà tư duy, cũng như trên màu trắng của chiếc xe đẹp nhất,
vết bẩn bao giờ cũng hiện rõ, và người xa phu chuyên cần sẽ lập tức
chùi rửa sạch (Theo Samyutta Nikàya 45,4 = Tạp A Hàm số 45,4).
-ooOoo-
|