|
Kỳ công và biệt tài nổi bật, đã nâng A Nan Ða lên hàng một trong
những đệ tử thông thái nhất của đức Phật, là khả năng nhớ nhanh, nhớ
nhiều và nhớ dai của vị tông đồ này.
Mặc dù khi đức Phật
còn tại tiền, A Nan Ða chưa đắc A La Hán, nhưng ông đã được xem
tương đương như một trong những Thinh Văn của cộng đồng Thánh Nhân.
Ông xứng đáng để được toàn thể Phật tử lúc bấy giờ tặng cho danh
hiệu "Một tông đồ xuất chúng". Bốn chữ tông đồ xuất chúng này có
nghĩa là ông có đủ khả năng và đức tính của một bậc giải thoát.
Ngoại trừ hai đại
Thinh Văn, có hai năng lực phi thường, là Xá Lợi Phất và Mục Kiền
Liên, thì A Nan Ða là một trong những 75 đại đệ tử nổi tiếng khác
của đức Phật.
Trong khi 74 vị kia có
những xuất sắc chuyên biệt thì A Nan Ða đã nổi tiếng nhờ bốn trong
năm "nền tảng trí thức Thượng thừa":
- Nền tảng trí thức
thứ nhất là ông đã nghe nhiều hơn ai hết, nghe gần như toàn thể
những lời Phật dạy.
- Nền tảng trí thức
thứ hai là ông đã nhớ nhiều hơn ai hết, nhớ đầy đủ những lời Phật
dạy.
- Nền tảng trí thức
thứ ba là ông đã hiểu nhiều hơn ai hết, hiểu cả hệ thống Pháp Bảo,
kể luôn ý nghĩa súc tích khi phối hợp các Phật ngôn dạy trước với
các Phật ngôn dạy sau, một cách song đối hay thứ tự.
- Nền tảng trí thức
thứ tư ông là người tin tưởng nơi Pháp Bảo của đức Phật, tin tưởng
chắc chắn nhất, trên tất cả mọi học thuyết (Theo Anguttara Nikàya
n.1,19 =Tăng Nhất A Hàm 1,19).
(Riêng nền tảng trí
thức thứ năm là "sự cần cù, dẻo dai, nhiều nghị lực trong việc hầu
hạ một bậc Toàn Giác của A Nan Ða", không nên kể đến. Vì thuở bấy
giờ, mà đề cặp đến nền tảng trí thức ấy, đối với A Nan Ða là một
chuyện thừa! Chẳng khác nào như ta khen "nước biển là chất lỏng mặn
nhất" trên thế gian này ).
Khi nghiên cứu kỹ
trong kinh điển Phật giáo chúng ta sẽ nhận thấy rằng những nền tảng
trí thức vừa nêu trên thuộc về một công phu rất diệu dụng, từ đó có
sinh ra đức tính cảnh giác, tiếng Pàli gọi là Sati. Cái công phu mà
sức mạnh và ảnh hưởng của nó hằng giúp cho hành giả có một tinh thần
trong sáng , vững chắc, đủ khả năng để phân biệt mọi cảm giác trong
thân cũng như mọi khái niệm ngoại thân, hầu không để cho ý thức bị
tham, sân, si lôi kéo.
Và cũng nhờ cái công
phu tuyệt diệu ấy, mà khả năng sử dụng trí nhớ của hành giả, ở bất
cứ lúc nào, và đối diện với tất cả các vấn đề, đều luôn luôn thanh
tịnh, không bị chính cái trí nhớ của họ dẫn vào nẻo ngã mạn cố chấp.
Nói cách khác dễ hiểu
hơn: đức tính cảnh giác là hạt nhân sẽ đem lại thục quả là sự biết
mình. Rồi nhờ sự biết mình ấy mà hành giả nhận rõ mọi hiện tượng
xung quanh, phân biệt pháp lành với pháp ác, cái nào đang phát động
trong tâm tư mình; hầu tự thu thúc lục căn, sống đúng theo Chánh
Pháp.
Thực ra chữ Pàli
"Sati" có nghĩa thông thường là "trí nhớ" (tức là khả năng tự "biết
lại" những cái gì đã trôi qua). Chính nhờ cái"trí nhớ" ấy mà quá khứ
và hiện tại mới được nối liền với nhau bằng những chuỗi truyền cảm
ký ức.
Nhưng đối với A Nan Ða,
trong kiếp chót, trí nhớ (sati) đã biến thành sự biết mình (sampa
jãnnã). Tức là ông không phải chỉ nhớ suông đến những điều mà ông đã
học thuộc lòng, mà ông còn cảm thấy, cái tác dụng của nó nữa. Ðể khi
gặp lại, ông biết tùy theo trình độ trí thức của mỗi người nghe mà
diễn đạt từ thấp tới cao, từ nông cạn đến sâu sắc, từ thô kệch đến
vi tế, chứ ông không phải nhắm mắt lặp lại, một cách hỗn độn, loạn
xà ngầu.
Còn về phương diện nhớ
nhanh và nhớ chắc chắn thì A Nan Ða có thể xem là vô địch. Nhờ thiện
tồn trữ từ nhiều đời trước, kiếp này ông chỉ nghe qua một lần là ông
có thể lặp lại nguyên văn một bài pháp của đức Phật gồm 60.000 chữ
một cách dễ dàng. Một lần khác, A Nan Ða đã tụng lại 150 ngàn bài kệ,
mỗi bài bốn câu của đức Phật dạy.
Kỷ lục ghi nhớ tức
khắc, và ghi nhớ đầy đủ của A Nan Ða, khiến ta có cảm tưởng, như ông
đã dùng phép lạ, mới thực hiện nổi một kỳ công như thế. Nhưng theo
Phật giáo thì phép "lạ" của A Nan Ða không có gì khác hơn là không
để cho tâm trí của mình bị vướng mắc bởi những ý tưởng vô ích. Những
ý tưởng vô ích vốn có hàng trăm, ngàn thứ và luôn luôn "choán hết
chỗ" trong đầu óc con người , thì còn đâu tiềm lực để cho trí nhớ
của họ được phát triển?
Ðức Phật dạy rằng: "Nguyên
nhân duy nhất khiến cho một người hay quên là sự pháp chướng: tham
dục, ác tâm, hôn trầm, vọng tưởng (phóng dật) và hoài nghi" (theo
Anguttara Nikàya V 193).
A Nan Ða lúc ấy tuy
chưa đắc quả A La Hán, nhưng nhờ ông vâng lời Phật dạy lấy Chánh
Niệm làm nền tảng tu luyện, đồng thời nhờ phúc duyên tu nhiều kiếp
trước, nên mỗi khi ông tập trung tâm trí để nghe pháp, là năm pháp
chướng ấy không thể nào khuấy nhiễu ông được.
Ngay cả ngày nay,
nhiều Cao Tăng Phật giáo ở Miến Ðiện, chỉ nhờ thành công phần nào
trong việc loại trừ năm pháp chướng ấy, mà cũng có thể nhớ nằm lòng
Tạng Luật, Tạng Kinh hay Tạng Luật một cách dễ dàng. Có vị còn đủ
khả năng nhớ cả Tam Tạng gồm 45 quyển in đầy cả chữ nữa.
Khi A Nan Ða nghe pháp,
ông không có một gợn tư duy nào trong tâm ông cả. Ông không để cho
cái "ngã" nổi dậy để bình phẩm "Câu này dài, câu kia ngắn. Câu này
sâu sắc, câu kia thông thường, âm thanh câu này cao, âm thanh câu
kia thấp v.v..".
Trong ý thức của ông
lúc ấy chỉ có một điều là nghe và ghi nhớ một cách tự nhiên, không
bấn loạn hay hoang mang, sợ rồi mình sẽ quên nhưng điều Phật dạy.
Như một viên thư ký chuyên nghiệp, chỉ biết vô tư chép đúng những
lời người khác nói, lên trang giấy trắng tinh một cách tự tin và
bình thản.
Và trang giấy trắng
tinh của A Nan Ða là trí óc thanh tịnh, không bị năm pháp chướng làm
ô đục, hoen ố vậy!
Ðây chính là tư cách
của một đại Thinh Văn (Bậc được nghe nhiều học rộng). Vì ai được
nghe và học nhiều bằng phẩm hạnh này sẽ loại trừ được tánh ương
ngạnh, tự đắc, nằm sẵn trong tâm, và biến trí óc mình thành một kho
tàng chứa toàn chân lý. Và người được nghe và hấp thụ càng nhiều
chân lý thì những ác pháp trong tâm họ, đương nhiên càng được tiêu
trừ.
Các hạng Thinh Văn như
thế có thể ví như những hạt kim cương, tiếp nhận ánh sáng chân lý,
từ tôn khẩu của đức Phật, nên sự phản chiếu ánh sáng chân lý (ám chỉ
sự lập lại) cũng trung thực, không thêm, không bớt, không rõ, không
mờ. (Theo vật lý học, kim cương là môi trường mà ánh sáng hiện ra
chính xác nhất).
Bởi vậy, một bậc Thinh
Văn chân chánh là người luôn luôn tự nhiên, và tuyệt đối tôn trọng
sự thật. Bất cứ điều lành nào họ ghi vào trí nhớ để thực hành, là họ
không bao giờ cho rằng "Ấy là nhờ trí tuệ tinh lanh của mình suy
diễn mà được, nhưng ấy là "Sự thật trong pháp". Và họ chỉ là người
được nghe và khách quan nhận ra giá trị của nó.
Như mấy câu thơ đây
của Rainer Maria Rilke đã ca ngợi A Nan Ða:
"Thấy sự thật mà
không tự hào tinh mắt,
Hiểu sâu xa không nghĩ tuệ mình cao.
Hàng Thinh Văn như thế hiếm dường nào,
Như giọt nước long lanh trong sa mạc".
Bài thơ này phản ảnh
một cách trái ngược tâm tánh của A Nan Ða, khi ông chưa xuất gia.
Lúc ông mới đến với đức Phật, A Nan Ða là người chứa đầy vô minh,
phiền não, ngã mạn và tự đắc. Nhưng càng về sau, nhờ sống bên cạnh
đức Bổn Sư, mà ông mỗi ngày một thấm nhuần chân lý giải thoát. Thấm
nhuần đến độ mà không còn là ông nữa! Ông đã biến thành hiện thân
của Pháp Bảo, biến thành "Pháp Thân" của đức Phật, để hơn 2500 năm
sau, cái tên A Nan Ða không còn là một danh xưng nữa, mà nó chính là
"ngôn ngữ mở đề" của các kinh điển Phật giáo.
Phẩm cách nghe Pháp và
thấm nhuần chân lý vào trí óc của A Nan Ða được gọi là nền tảng trí
thức thứ nhất(trong năm nền tảng trí thức). Kinh Samyutta Nikàya (Tạp
A Hàm số 14.5) còn ghi rõ rằng:"A Nan Ða đã thấm nhuần lời Phật dạy
như thế nào, thì khi ông truyền lại Phật ngôn cho các đệ tử, cũng
làm cho họ thấm nhuần như thế ấy!".
Còn theo kinh Tăng
Nhất A Hàm số 3, 78 (Anguttara Nikàya n.3, 78) thì Phật đã xác nhận
rằng:
"A Nan Ða có một nghệ
thuật nghe pháp rất đặc biệt, không thể tìm ra một người thứ hai
trên thế gian này".
Một lần nọ, đức Phật
ngự tại vườn Song Long Thọ Gosinga (cũng gọi là rừng Gosinga) với
một số đông đệ tử hạng Tôn túc. Ðức Trưởng lão Xá Lợi Phật (Sàrìputta)
thấy được khung cảnh thanh nhã, đã tán dương rằng:"Ðây có thể gọi là
vườn An Lạc, vì những cây Song Long ở đây nở đầu hoa, hương tỏa kín
không gian, như một cõi trời...!".
Rồi Trưởng lão nêu câu
hỏi:
- Kính thưa chư đạo
huynh! Một khung cảnh thanh tịnh như thế này, có thể đem so sánh với
phẩm hạnh của Sa môn nào trong chúng ta, là xứng đáng nhất?
Các vị đại đệ tử của
đức Phật liền lần lượt trả lời. Mỗi vị làm nổi bật một khía cạnh
trong sự so sánh của mình. Nhưng nói chung, tất cả ý chính đều qui
về một điểm là: Mỗi Sa môn đều có một phẩm hạnh đặc sắc, xứng đáng
để so sánh với khung cảnh thanh tịnh của ngôi vườn.
Riêng câu trả lời của
A Nan đa thì như sau:
- Này chư đạo huynh!
Sa môn nào là người nghe đủ bốn ngàn pháp môn của đức Phật, là người
sống đúng theo chánh pháp, là người làm sáng tỏ và bảo tồn Pháp Bảo
tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn chót. Sa
môn nào là người có khả năng truyền lại những điều Phật dạy một cách
tròn đủ, không thêm, không bớt một cách khiêm nhượng, tự nhiên. Sa
môn nào là người luôn luôn ghi nhớ rằng: Pháp nào ta đã hiểu được,
ta có bổn phận cống hiến cho cộng đồng xã hội. Tức là Sa môn có khả
năng thuyết Pháp đến các hàng tứ chúng (Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, thiện
nam, và tín nữ) làm cho họ trước tiên thỏa thích trong Pháp Bảo, rồi
sau đó hiểu đúng nghĩa đế, để tiến tới phẩm hạnh diệt tận tham, sân,
si, giải thoát... thì Sa môn ấy xứng đáng để so sánh với ngôi vườn
kỳ diệu này. (Theo Majjhina Nikaya 32 = Trung A Hàm số 32).
Nền tảng trí thức thứ
hai là giữ lại trong tâm bất cứ Pháp Bảo nào mà mình nghe được và tự
động áp dụng những thiện pháp ấy, để mang lại lợi ích cao thượng cho
chính bản thân mình.
Nền tảng trí thức thứ
ba, chú giải tiếng Pàli gọi là Gatimanta, tức là sự hiểu đúng mạch
văn và hoàn cảnh của từng vấn đề. Cùng một từ ngữ mà trong bài pháp
này đức Phật ám chỉ thân nghiệp, rồi trong một bài pháp khác, đức
Phật có thể ám chỉ ý nghiệp. Khi A Nan Ða được nghe nói đến hai lần
trong hai trường hợp đặc biệt khác nhau, ông cũng hiểu Phật ngôn
đúng theo ý nghĩa của từng thời pháp. Nói cách khác là bộ óc của A
Nan Ða có khả năng "thu thanh" một cách chính xác và phân biệt mọi
vấn đề theo thứ tự thời gian: Ðiều nào ông đã nghe, ông hiểu khác
với nhiều điều ông đang nghe, không bao giờ lầm lẫn vì cố chấp trên
một số từ ngữ.
Nhiều học giả Phật
giáo đã ví bộ óc của A Nan Ða như một cái máy ghi âm siêu đảng, có
nhiều tầng số thanh lọc. Một tầng số dành thu phát một vấn đề chuyên
biệt, không bao giờ cho những âm thanh bất thiện, ngoại đề, có thể
nhập vào trong âm trường của làn sóng.
Theo một thuật sự
trong tam tạng Pàli thì A Nan Ða có khả năng nghe nhiều đoạn pháp
khác nhau cùng một lúc. Những đoạn pháp ấy có thể thuộc về nhiều đề
tài khác nhau, và được thuyết xen kẽ nhau. Nhưng sau khi nghe xong,
A Nan Ða đã có thể ráp nối các đoạn pháp rời rạc ấy một cách mạch
lạc, thứ tự, để hoàn tất một lúc hai ba bài pháp, thật dễ dàng. Thậm
chí A Nan Ða có thể vừa nghe, vừa đem thuyết lại từng đoạn Phật ngôn
rời rạc cho các hàng tứ chúng hấp thụ về một số đề pháp chuyên biệt.
Và khi nghe xong các
đoạn pháp ấy, thính giả luôn luôn khen ngợi A Nan Ða đã cống hiến
cho một bài pháp, tuy nhiều đoạn ráp nối nhưng rất dễ hiểu, hấp dẫn
và mạch lạc.
Ðiều ấy chứng tỏ rằng
A Nan Ða đã có khả năng hiểu đúng, và nắm vững ý chính, từng chữ,
từng câu, hay từng đoạn do đức Phật thuyết dạy, bằng một nghệ thuật
rất khoa học.
Nhờ thế, nhiều lần A
Nan Ða, trong lúc đang thuyết lại một số Pháp Bảo, chợt bị các đồng
đạo chất vấn bất ngờ, ông vẫn có thể ngưng lời, để giải đáp cặn kẽ,
rồi quay lại đề chính một cách tự nhiên, dễ dàng, mà không bao giờ
bị lạc ý và lúng túng.
Nền tảng trí thức thứ
tư là nghị lực và sự hiến thân không thối chuyển trong nhiệm vụ học
hỏi và duy trì Pháp Bảo Giải Thoát, với tư cách là một Thinh Văn
thân cận nhất của một bậc Giác Ngộ.
Nền tảng trí thức thứ
năm là công hạnh của một đệ tử hầu Phật hoàn toàn nhất, của A Nan Ða,
như chúng ta đã đề cặp qua trong đoạn trước.
Ngày nay, khi chúng ta
nhắc lại năm nền tảng trí thức ấy, chúng ta không thể nào không
mường tượng ra hình ảnh linh hoạt của đại Tôn giả A Nan Ða. Tuy ông
ở vai trò làm pháp ngôn viên chính thức của đức Phật, ông là trọng
tâm của mọi sự chú ý, mà ông vẫn ung dung, hòa ái, đối xử một cách
bình dị, cởi mở với tất cả mọi người.
Ðối với những ai
thường tiếp xúc với ông, A Nan Ða là mẫu người hiếm khi bị chê trách,
vì đức tính phụng sự đức Phật và Tăng chúng không hề biết mệt, cũng
như tình bạn không lay chuyển, mà ông luôn luôn dành cho tất cả mọi
người.
Nhiều khi, có những
xung đột xảy ra trong các hàng Tăng chúng, mà A Nan Ða hay. Thay vì
ông dửng dưng làm người ngoại cuộc cho yên thân thì A Nan Ða đã tình
nguyện làm "hòa bình sứ giả" để dùng từ tâm của mình giải quyết một
vấn đề một cách êm đẹp.
Và A Nan Ða đã luôn
luôn thành công, vì ông là một Sa môn không bị ai ghét bỏ. Ông là
một người không có kẻ thù. Hình ảnh của ông chỉ là một hình ảnh
trung thành với đức Phật.
Ông đã hết lòng phục
vụ Tăng chúng đồng thời với sự tận tụy với đức Phật. Nên trong tâm
tư của những đồng đạo của ông, ông không bao giờ lưu lại một nét bất
mãn.
Mặt khác, A Nan Ða vốn
là người rất giỏi tổ chức. Ông luôn luôn biết trước và nắm vững mọi
sinh hoạt của các hàng tứ chúng, có liên hệ đến ông hàng ngày. Ông
như một vị "giám đốc" kỳ tài, biết phân phối rõ ràng chương trình
làm việc đến tất cả mọi người để cho những sinh hoạt Tăng Già luôn
luôn được diễn ra tốt đẹp. Rồi nhờ tính cẩn thận và cảnh giác cố hữu,
A Nan Ða hàng ngày rút ra nhiều bài học quý giá. Cùng một sơ hở,
người khác có thể vấp phải nhiều lần, nhưng A Nan Ða không bao giờ
vấp lại lần thứ hai.
Tính cảnh giác và trí
nhớ đặc biệt còn giúp cho A Nan Ða có thể nhận diện hàng trăm ngàn
Phật tử xa gần khác nhau một cách kỳ diệu. Ông chỉ cần thấy mặt một
người nào đó một lần, là trong bao nhiêu lần sau, ông cũng nhận ra
họ được.
Và cũng nhờ cái tài "nhớ
rõ mặt mũi từng người" ấy, mà A Nan Ða đã có thể đoán trước (ngày
nay chúng ta thường gọi là xem tướng) biết được bản chất của từng
người một, hầu đối xử với họ làm sao cho hợp lẽ, để họ tự động học
hỏi thấm nhuần Phật giáo, không gây cho họ cảm tưởng "Ông là người
đã khéo léo dẫn dụ họ quay về với đạo Phật". Bất cứ ai lúc quy y đạo
Phật, sau khi đã nghiên cứu giáo lý Phật Ðà với A Nan Ða, cũng điều
nghĩ rằng: Chính họ đã tìm ra Chánh Pháp, chứ không bị ai ảnh hưởng
cả.
Nói tóm lại, A Nan Ða
là một Sa môn có đủ phẩm hạnh để đóng vai trò đại diện cho đức Phật
trước hàng tứ chúng, hầu cùng với những vị đại tông đồ khác lãnh đạo
Giáo hội. Và cái phẩm hạnh nổi bật nhất, cần luôn luôn nhắc đến ở
đây, là phẩm hạnh của một bật gìn giữ Pháp Bảo. Nếu Phật pháp là một
kho tàng của báu vô giá, thì A Nan Ða chính là vị bảo vệ kho tàng ấy
chắc chắn nhất vậy.
-ooOoo-
|