1- KINH-TỰ
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt
đầu chuyển pháp-luân, độ cho
năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả
Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng,
Ngài thuyết pháp độ cho ông
Tu-bạt-đà-la. Những người nên
độ, Ngài đã độ xong. Ngài nghỉ
ở giữa hai cây Sa-la và sắp
nhập niết-bàn. Khi ấy, vào
khoảng nửa đêm, vẳng lặng
không có tiếng động Ngài vì
các đệ-tử, nói qua về các
giáo-pháp quan-yếu.
2- TRÌ GIỚI
Các vị Tỳ-Khưu, sau khi Tôi
nhập-diệt, các vị nên
tôn-trọng và trân-kính
Ba-La-Đề-Mộc-Xoa, như tối gặp
sáng, như người nghèo được của
báu. Các vị nên biết giới ấy
là bậc Đại-Sư của các vị và,
không khác gì Tôi còn ở đời
vậy.
Người giữ giới thanh-tịnh,
không được làm những việc như:
buôn bán, đổi chác, tạo dựng
ruộng nhà, nuôi dưỡng người
dân, tôi tớ, súc sinh. Hết
thảy sự trồng trọt, các của
cải châu báu, đều nên tránh xa,
như tránh hầm lửa. Không được
chặt phát cây cỏ, đào sới đất
đai, điều-hòa thuốc thang, xem
tướng tốt, xấu quan sát
tinh-tú, suy-đoán đủ, thiếu,
lịch-số kế-toán, đều không nên
làm.
Giữ thân tiết-độ, ăn uống đúng
thời, sinh hoạt nơi mình một
cách thanh-tịnh. Không được
tham-dự việc đời, sứ-mệnh
liên-lạc, chú-thuật thuốc tiên,
kết thân với người sang, thân
cận đậm-đà với những người
nhàm-nhỡ, kiêu-mạn, đều không
nên làm.
Các vị nên tự giữ tâm ngay
thẳng, suy-niệm chân-chính, để
cầu độ thoát.
Các vị không được che dấu vết
nhơ, bày trò khác lạ, để
mê-hoặc quần-chúng.
Đối với bốn sự cúng-dường,
lượng biết tri túc. Được đồ
cúng-dường, không nên cất chứa.
Đó là nói qua về tướng trì
giới.
Giới là căn-bản chân-chính
thuận theo đường giải-thoát,
nên gọi là “ba-la-đề-mộc-xoa”.
Nhân y vào giới này được sinh
ra các thiền-định và trí-tuệ
diệt khổ.
Thế nên, các vị Tỳ-Khưu nên
giữ giới thanh-tịnh, đừng để
thiếu, hủy. Nếu ai giữ được
giới thanh-tịnh, sẽ có các
thiện-pháp. Nếu không giữ giới
thanh-tịnh, các công-đức thiện
đều không sinh được. Do đó,
nên biết giới là trụ-xứ
công-đức an-ổn thứ nhất vậy.
3- CHẾ TÂM
Các vị Tỳ-Khưu, các vị đã an-trụ
trong giới-luật, nên phải
kiềm-chế năm căn, đừng để nó
buông thả vào năm dục. Ví như
người chăn trâu, cầm roi dòm
ngó nó, không để cho nó tha hồ
xâm-phạm vào lúa mạ người ta.
Nếu buông thả năm căn, chẳng
phải nó chỉ lan vào năm dục,
mà nó, hầu như xông tới không
bờ bến nào và không thể
chế-phục được! Cũng như con
ngựa dữ, không thể dùng giây
cương mà kiềm-chế được và nó
sẽ kéo người ta sa xuống hố.
Như bị cướp hại, chỉ khổ một
đời, nhưng tai-họa của giặc
năm căn kéo đến nhiều đời, làm
hại rất nặng, không thể không
cẩn-thận!
Thế nên, bậc trí-giả kiềm-chế
năm căn mà chẳng dựa theo, gìn
giữ nó như giặc, không để cho
nó buông lung. Giả như, để cho
nó buông lung, chẳng bao lâu,
sẽ thấy sự tan diệt vì nó. Đối
với năm căn ấy, tâm làm chủ
chúng. Do đó, các vị nên khéo
chế-phục tâm! Tâm rất đáng sợ,
sợ hơn rắn độc, ác-thú,
oán-tặc. Và ngay như lửa cháy
bừng bừng cũng chưa đủ làm
ví-dụ về chúng! Ví như có
người tay cầm bát mật, di-động
hấp-tấp, chỉ ngó bát mật,
không thấy hố sâu. Ví như voi
cuồng không có móc câu, con
khỉ, con vượn, kiếm được rừng
cây, leo, trèo, nhẩy nhót, khó
ngăn-cấm, chế-phục được chúng!
Nên gấp bẻ gẫy tâm-niệm ấy,
đừng để cho chúng buông lung.
Buông lung tâm ấy, làm mất
những việc tốt của người. Chế
phục nó vào một chỗ, không
việc gì là không xong. Vì vậy,
các vị Tỳ-Khưu, nên siêng năng
tinh-tiến triết-phục tâm các
vị!
4- TIẾT-ĐỘ SỰ ĂN UỐNG
Các vị Tỳ-Khưu, các vị nhận
các món ăn uống, nên tưởng như
uống thuốc. Đối với các đồ
ngon hay dở, các vị đừng sinh
tâm tăng giảm. Cốt giúp cho
thân khỏi đói, khát là được!
Như ong hái hoa, chỉ hút vị
của hoa mà không làm tổn-hại
đến sắc và hương! Các vị
Tỳ-Khưu cũng vậy, nhận sự
cúng-dường của người, cốt khỏi
phiền-não, chứ không được cầu
nhiều, làm băng-hoại thiện-tâm
của người. Ví như bậc trí-giả,
biết lượng sức trâu, có thể
làm việc được nhiều hay ít,
đừng để nó làm quá phần, kiệt
sức!
5- RĂN VIỆC NGỦ NGHỈ
Các vị Tỳ-Khưu, ban ngày nên
siêng năng tu-tập các
thiện-pháp, không để phí thời
giờ. Đầu đêm, cuối đêm cũng
đừng bỏ phí công-phu. Nửa đêm
tụng kinh, để tự quán sát lý
sinh-diệt (tiêu-tức). Không
bởi nhân-duyên ngủ nghỉ, khiến
cho một đời luống qua không
ngộ được gì! Nên niệm ngọn lửa
vô thường, đốt mọi thế-gian,
vì vậy, nên sớm cầu tự-độ,
đừng nên ngủ nghỉ. Các giặc
phiền-não, thường rình giết
người. Nó tệ hơn oán-gia, sao
có thể ngủ nghỉ được mà không
tự răn tỉnh? Rắn độc phiền-não
nằm ở tâm người. Ví như con
rắn độc màu đen, ngủ trong nhà
ngươi, ngươi nên lấy cái móc
câu “trì giới”, sớm gạt trừ đi.
Con rắn ngủ trong nhà đã ra
ngoài rồi, mới có thể ngủ yên
được. Nếu nó không ra ngoài mà
cứ nằm ngủ, đó là người không
biết thẹn. Bộ áo thẹn hổ, đối
với các đồ trang-nghiêm, nó là
bậc nhất. THẹn như móc câu
bằng sắt, hay chế-phục những
người làm điều phi-pháp. Thế
nên, các vị Tỳ-Khưu, thường
thường phải biết thẹn-hổ,
không được thay đổi trong tạm
thời. Nếu xa lìa sự thẹn-hổ
thời mất các công-đức. Người
có tâm biết thẹn-hổ thời có
thiện-pháp. Người không có tâm
biết thẹn-hổ thời cùng như các
loài cầm-thú không khác.
6- RĂN VỀ OÁN-GIẬN
Các vị Tỳ-Khưu, nếu có người
lại cắt xẻo từng chi-tiết nơi
thân-thể, nên tự-nhiếp-tâm
đừng để cho nó phát sinh
sân-hận. Và, cũng nên giữ
miệng, đừng thốt ra lời nói ác.
Nếu buông thả tâm oán giận
thời tự mình làm phương-ngại
cho sự tiến đạo, mất sự
lợi-ích về công-đức. Đức
nhẫn-nhục, trì giới, khổ hạnh
cũng không thể bì kịp. Người
làm hạnh nhẫn-nhục, mới được
gọi là bậc đại-nhân có lực.
Nếu ai không có thể vui vẻ
nhận chịu được lời độc-hại của
sự ác-mạ, như uống thuốc cam-lộ,
thời không được gọi là người
trí tuệ vào đạo. Sở dĩ thế là
sao? Cái hại của sự oán giận
là nó phá hoại các thiện-pháp,
hư-hoại các tiếng tốt, đời
nay, đời sau, người ta không
muốn nhìn thấy bằng một cách
vui vẻ. Nên biết, tâm oán-giận,
nó mạnh hơn lửa dữ, vậy, luôn
luôn phải gìn giữ, không để nó
xâm-nhập được. Giặc cướp
công-đức, không gì tệ hơn oán
giận, Người bạch-y hưởng thụ
các dục-lạc, chẳng phải là
người hành-đạo, họ không có
pháp gì để tự kiềm-chế, họ
khởi ra oán-giận, còn có thể
tha-thứ được; người xuất gia
hành đạo, không có sự ham-muốn,
mà còn ôm ấp tâm oán-giận, rất
không nên vậy! Ví như trong
đám mây trong lạnh, khởi ra
tia lửa sấm sét, thời không
nên vậy!
7- RĂN VỀ KIÊU-MẠN
Các vị Tỳ-Khưu, nên xoa lên
đầu mình, tự thấy, mình đã bỏ
thứ trang-sức tốt đẹp, mặc áo
hoại-sắc, mang giữ đồ ứng-khí,
lấy việc đi xin ăn để sống như
thế, mà nếu, còn khởi ra tâm
kiêu-mạn, thời nên sớm diệt nó
đi. Tăng trưởng tính kiêu-mạn,
còn chẳng phải là người bạch-y
thế-tục nên làm, huống là
người xuất-gia nhập đạo, đã vì
sự giải-thoát, tự hạ thân mình
xuống, mà làm hạnh khất-thực
ư?
8- RĂN VỀ SIỂM-KHÚC
Các vị Tỳ-Khưu, tâm nịnh-hót,
cong queo, là trái với đạo,
thế nên, cần phải giữ tâm chất
trực. Nên biết, nịnh-hót, cong
queo, chỉ là dối trá. Người đã
vào đạo, thời không có lẽ ấy.
Do đó, các vị phải nên giữ tâm
ngay-thẳng, lấy “chất-trực”
làm gốc.
9- THIỂU-DỤC (ÍT MUỐN)
Các vị Tỳ-Khưu, các vị nên
biết: người ham muốn nhiều, vì
cầu lợi nhiều, nên khổ-não
cũng nhiều. Người ham muốn ít,
không cầu không muốn, thời
không có tai-hoạn ấy. Thẳng
thắn mà nói, không có gì, sự
ít ham muốn còn nên tu-tập,
huống là sự ít ham muốn còn
sinh ra các công-đức? Người ít
ham muôn thời không có tâm
siểm-khúc để cầu vừa ý người
ta, và cũng lại không bị các
căn lôi-kéo. Người làm hạnh
“thiểu dục” (ít ham-muốn) thời
tâm thản-nhiên, không lo sợ gì,
chạm tới sự gì đều có thừa, và
thường không có gì là không
đầy-đủ. Người có đức-tính ít
ham muốn thời có niết-bàn. Thế
gọi là “thiểu dục”.
10- TRI-TÚC (BIẾT ĐỦ)
Các vị Tỳ-Khưu, nếu muốn thoát
khỏi các khổ-não, nên quán
“tri-túc” (biết đủ). Biết pháp
tri-túc, tức là chỗ giàu sang,
vui vẻ và an-ổn. Người tri-túc,
tuy nằm trên đất vẫn cho là
vui vẻ. Người không tri-túc,
tuy ở thiên-đường cũng chẳng
vừa ý. Người không tri-túc,
tuy giàu mà nghèo, người tri-túc
tuy nghèo mà giàu. Người không
tri-túc thường bị năm dục lôi
kéo, bị người tri-túc
thương-xót. Thế gọi là “tri-túc”.
11- VIỄN LY
Các vị Tỳ-Khưu, muốn cầu sự
an-lạc, vô vi tịch-tĩnh, nên
rời khỏi chốn ồn-ào, ở nơi an
nhàn một mình. Người ở chốn
an-tĩnh, vua Đế-Thích cũng như
chư Thiên đều cùng kính-trọng.
Thế nên, nên bỏ đồ-chúng của
mình và cả đồ-chúng người khác,
ở nơi trống vắng, an-nhàn một
mình, suy nghĩ về sự diệt-trừ
gốc khổ. Nếu ưa chỗ nhiều
người, thì chịu nhiều
phiền-não. Ví như cây lớn, mọi
loài chim tụ-tập trên đó, thì
sẽ có tai-hoạn khô gẫy. Sự
ràng buộc của thế-gian, đắm
chìm trong mọi khổ. Ví như con
voi già bị lún vào bùn, không
thể tự rút ra được. Thế gọi là
“viễn ly” (xa lìa).
12- TINH-TIẾN
Các vị Tỳ-Khưu, nếu siêng năng
tinh-tiến thì việc gì cũng
không nhớ. Thế nên, các vị nên
siêng năng tinh-tiến. Ví như
giọt nước nhỏ chảy mãi, thời
có thể làm thủng đá. Nếu tâm
của hành-giả, thường thường
lười-biếng bỏ phế, như người
dùi cây lấy lửa, cây chưa bốc
nóng đã thôi, vì vậy, tuy muốn
được lửa, nhưng lửa khó thể
bùng lên được. Thế gọi là “tinh-tiến”.
13- BẤT VONG NIỆM
Các vị Tỳ-Khưu, cầu bậc
thiện-tri-thức, cầu bậc
thiện-hộ-trợ, không bằng cầu
được tâm “bất vong niệm” (không
quên chính-niệm). Nếu người đã
có tâm “bất vong niệm”, thời
các giặc phiền-não không thể
xâm-nhập được. Thế nên, các vị
thường nên nhiếp-niệm tại tâm.
Nếu mất chính-niệm thời mất
các công đức. Nếu năng-lực của
chính-niệm kiên-cường, tuy vào
trong đám giặc ngũ dục, cũng
không bị hãm hại. Ví như mặc
áo giáp vào trận thời không sợ
gì. Thế gọi là “bất vong niệm”.
14- THIỀN-ĐỊNH
Các vị Tỳ-Khưu, nếu nhiếp tâm
được, thời tâm an tại định.
Tâm an tại định nên cơ thể
biết được pháp-tướng sinh-diệt
của thế-gian. Thế nên các vị,
thường nên tinh-tiến tu-tập
các định. Nếu được định, tâm
không tán-loạn. Ví như các nhà
trông coi về việc nước, khéo
sửa trị đê, đường. Hành-giả
cũng vậy, vì nước trí-tuệ,
phải khéo tu thiền-định, khiến
cho không dò rỉ. Thế gọi là “thiền-định”.
15- TRÍ-TUỆ
Các vị Tỳ-Khưu, nếu có trí-tuệ
thì không tham-đắm. Thường tự
xem xét, không để cho mình có
chỗ sai-lạc. Như thế, ở trong
giáo-pháp của Ta sẽ được
giải-thoát. Nếu không được như
thế, đã không phải là đạo-nhân,
cũng khôngphải là bạch-y và,
không gọi là tên gì được vậy!
Người có trí-tuệ như-thực, như
là có con thuyền bền-chắc vượt
qua biển lão, bệnh, tử, cũng
là ngọn đèn rất sáng soi chỗ
vô minh tăm-tối, là lương-dược
chữa trị mọi bệnh, là búa sắc
đẵn cây phiền-não. Thế nên các
vị, nên lấy văn, tư, tu-tuệ,
tăng thêm sự ích lợi cho mình.
Nếu người nào có sự soi sáng
bởi trí-tuệ, tuy là nhục-nhãn,
nhưng là người “minh-kiến” (thấy
rõ) vậy. Thế gọi là “trí-tuệ”.
16- KHÔNG HÝ-LUẬN
Các vị Tỳ-Khưu, mọi thứ
hý-luận, nó làm tâm loạn. Còn
vương vào hý-luận, tuy là xuất
gia, nhưng chưa được thoát.
Thế nên, các vị Tỳ-Khưu, nên
gấp lìa bỏ hý-luận loạn tâm.
Nếu các vị muốn được sự an vui
tịch diệt, chỉ nên khéo diệt
cải tai-hoạn hý-luận. Thế gọi
là “không hý-luận”.
17- TỰ GẮNG SỨC
Các vị Tỳ-Khưu, đối với các
công đức, thường nên nhất tâm,
bỏ mọi sự phóng-dật, như là bỏ
oán-tặc. Đại-bi Thế-Tôn nói ra
những điều lợi-ích, đều đã
trọn vẹn, các vị nên
siêng-năng thực-hành. Khi ở
trong núi non, khi ở bên đầm
trống, khi ở dưới gốc cây, hay
khi ở chốn an-nhàn, trong ngôi
nhà vắng vẻ, cần niệm những
giáo-pháp đã lĩnh-thụ, đừng để
cho quên mất. Thường nên tự
gắng sức, tinh tiến tu theo
những pháp ấy. Không làm gì,
chết rỗng không, sau này sẽ
đưa lại sự hối tiếc. Ta như
thày thuốc hay, biết bệnh cho
thuốc, uống hay không uống,
lỗi không phải nơi thày thuốc.
Lại như người khéo chỉ đường,
chỉ cho người ta con đường
thiện, nghe mà không đi, không
phải lỗi ở người chỉ đường vậy.
18- QUYẾT NGHI
Các vị, nếu trong pháp Tứ-Đế
như Khổ v.v.. còn có chỗ nào
nghi ngờ, các vị nên hỏi mau
lên, không được mang lòng ngờ
vực, mà không cầu sự giải
quyết. Khi ấy đức Thế-Tôn
xướng lên ba lần như thế,
không có vị nào hỏi nữa. Sở dĩ
thế là sao? Vì chúng không còn
nghi-ngờ nữa. Bấy giờ Tôn-giả
A-nâu-lâu-đà quán-sát tâm
đại-chúng, bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế-Tôn, mặt trăng
có thể nóng, mặt trời có thể
lạnh, chư Phật nói pháp Tứ-Đế,
không thể có sự sai khác được.
Phật nói Khổ-Đế thực là khổ,
không thể vui được; Tập-Đế
thực là “nhân”, không có nhân
khác; Khổ, nếu diệt trừ, tức
là nhân diệt. Nhân diệt nên
quả diệt; đạo “diệt khổ”, thực
là chân-đạo, không còn đạo nào
khác nữa. Bạch Đức Thế-Tôn các
vị Tỳ-Khưu, đối với pháp “Tứ-Đế”,
quyết định không còn sự ngờ
vực gì nữa.
19- CHÚNG-SINH ĐẮC ĐỘ
Trong chúng này, những vị chưa
làm xong công việc tu-chứng,
thấy Phật diệt-độ, nên có sự
bi-cảm. Vì mới nhập-pháp, nghe
lời Phật nói, liền đắc độ. Ví
như ban đêm thấy ánh chớp,
liền được thấy đạo. Nếu vị nào
đã làm xong việc tu-chứng, đã
vượt qua biển khổ liền khởi
niệm rằng: “Thế-Tôn diệt độ,
nhất thời, sao chóng vậy!
Tôn-giả A-nâu-lâu-đà nói ra
lời trên rồi, trong chúng đều
tỏ suốt nghĩa Tứ-Thánh-Đế. Đức
Thế-Tôn muốn cho đại-chúng này
được kiên-cố, Ngài đem tâm đại-bi
lại vì chúng nói: “Các vị
Tỳ-Khưu, đừng mang lòng bi-não,
nếu Ta ở đời một kiếp, hội hợp
rồi cũng tan-diệt. Hội-hợp mà
không tan lìa, hoàn toàn không
thể có được. Việc tự-lợi
lợi-tha, các pháp đều đã
đầy-đủ. Nếu Ta ở đời lâu nữa
cũng không ích gì. Nếu những
người ở trên cõi trời hay cõi
người, nên độ, đều đã độ,
những người chưa được độ, đều
cũng đã gây nhân-duyên đắc độ”.
20- PHÁP-THÂN THƯỜNG-TẠI
“Từ nay về sau, các đệ-tử của
Ta, triển-chuyển thực-hành các
giáo-pháp ấy, thời như
pháp-thân Như-Lai thường-trụ
không tan-diệt. Vì vậy, nên
biết: “Đời là vô thường, họp
tất có tan. Đừng mang lòng
ưu-não. Thế-tướng như thế. Nên
siêng năng tinh-tiến, sớm cầu
giải-thoát. Dùng ánh sáng
trí-tuệ, diệt các si-ám.
Thế-gian thực nguy-ngập, không
bền-chắc. Ta nay được diệt-độ,
như trừ được ác-bệnh. Thân này
là tấm thân nên xả. Thân này
là vật tội-ác, mượn danh là
thân mà thôi. Ai là người có
trí-tuệ, trừ-diệt được nó đi,
như giết oán-tặc, mà lại không
hoan-hỷ?
21- KẾT-LUẬN
Các vị Tỳ-Khưu, thường nên
nhất tâm siêng cầu đạo
xuất-thế. Hết thảy pháp động
hay bất động ở thế-gian, đều
là tướng-trạng bại-hoại bất
an. Các vị hãy ngưng, đừng nên
hỏi nữa! Thời-gian sắp qua, Ta
muốn diệt-độ. Đây là lời
giáo-hối tối-hậu của Ta!”
WP: Chân Thiền