|
Mục Lục
I. Dẫn Nhập
A. Thứ Nhất, Tiểu Dẫn Về Tài
Liệu
B. Thứ Hai, Tìm Xét Về Dịch
Chủ
C. Thứ Ba, Khái Lược về Nội
Dung
D. Phần Chính Thuyết
E. Phần Bổ Túc
II. Ghi Về Địa Tạng Đại Sĩ
A. Địa Tạng Đại Sĩ
B. Địa Tạng Đại Sĩ và Kinh Địa
Tạng
III. Nghi Thức Sám Nguyện Đơn
Giản Trước Khi Trì Tụng Kinh
Địa Tạng
IV. Kinh Địa Tạng : cuốn trên
(1)
A. Phẩm 1 : Thần Thông Tại
Cung Đao Lợi
B. Phẩm 2 : Thân Phân Hóa Qui
Tụ Lại
C. Phẩm 3 : Quán Sát Nghiệp
Quả Chúng Sinh
D. Phẩm 4 : Nghiệp Quả Của
Người Diêm Phù
V. Kinh Địa Tạng : cuốn giữa
A. Phẩm 5 : Danh Xưng Địa Ngục
B. Phẩm 6 : Thế Tôn Tuyên
Dương
C. Phẩm 7 : Lợi Ích Người Còn
Kẻ Mất
D. Phẩm 8 : Chúa Tôi Diêm La
Xưng Tụng
E. Phẩm 9 : Xưng Tụng Danh
Hiệu Chư Phật
VI. Kinh Địa Tạng : cuốn dưới
A. Phẩm 10 : Trắc Lượng Công
Đức Bố Thí
B. Phẩm 11 : Thần Đất Hộ Trì
C. Phẩm 12 : Lợi Ích Của Sự
Thấy Nghe
D. Phẩm 13 : Thế Tôn Ký Thác
Ghi Sau Khi Duyệt Địa Tạng
Nếu nói vì sự dấn
thân mà được Phật đem chúng ta
ký thác, thì đó là sự đặc thù
của đức Địa tạng mà Phật tử thì
phải học tập.
Đời Phật có 2 vị
đại sĩ quan trọng. Một là đức Từ
thị, sẽ thay Phật làm Phật. Hai
là đức Địa tạng, thay Phật mà
gánh vác chúng sinh.
Địa tạng đề cao
niệm Phật và bất sát, và xếp vào
loại bất khả tư nghị cái phước
giúp người già, người bịnh và
sản phụ. Địa tạng chú trọng cả
sinh và chết. Địa tạng rất trọng
thị hạnh phúc nhân loại. Địa
tạng hay nói Phật giáo, nhưng
chữ ấy không có nghĩa tôn giáo
của Phật, mà là giáo huấn của
Ngài, và cái phước là làm theo
giáo huấn ấy.
Địa tạng nói đến
quỉ thần. Quỉ thần thật thì
không đáng nói lắm. Hãy nói quỉ
thần hình người mặt người. Quỉ
thần ác có thiện có. Nhưng con
người đa số ác nên quỉ thần ác
lộng hành. Vậy đối phó với quỉ
thần ác thì phải đừng ác.
Phật giáo có cái
thuyết tam tai - Tam tai là 3
tai nạn đao binh, tật dịch và cơ
cẩn, mà tôi đã dịch là chiến
tranh, nhiễm độc và nhân mãn. Đó
là 3 điều đang là mối lo lớn
nhất cho cả thế giới. Trước đây
không lâu thì chiến tranh hạt
nhân là mối lo lớn nhất, nhưng
hiện nay thì mối lo lớn nhất là
ô nhiễm môi trường và bùng nổ
dân số. Mối lo ô nhiễm môi
trường lại có những mối lo liên
hệ mà vi khuẩn HIV chỉ là một.
Phật giáo không nói tận thế như
các tôn giáo khác, nhưng mô tả
tam tai thì thật kinh hoàng. Và
nói về Địa tạng đại sĩ thì tam
tai được nói đến còn hơn nói đến
ngũ trược.
-
Mồng 8 tháng tư, 2537
-
Trí quang
Thứ Nhất, Tiểu Dẫn Về Tài Liệu
1. Kinh này dịch và in năm 2514
(1970) một cách bình thường. Nay
được chữa lại khá kyլ dẫu không
còn để phần dịch âm.
2. Tài liệu được sử dụng là Đại
tạng kinh bản Đại chính tân tu (ký
hiệu là Chính) và Tục tạng kinh
bản chữ Vạn (ký hiệu là Vạn).
3. Nguyên bản căn cứ để chữa là
Chính 13/777 - 790. Nguyên bản
này không chia 3 cuốn mà chia 2
cuốn thượng hạ. Bản in riêng của
Phật giáo Trung hoa cũng được sử
dụng. Địa tạng khoa chú (Vạn
35/197-336) lại càng được tham
chiếu.
4. Quan trọng đến nỗi không thể
thiếu được trong việc tìm hiểu
về đức Địa tạng là kinh Thập
luân (Chính 13/721-777). Bản
dịch trước của kinh này (Chính
13/681-721) và kinh Chiêm sát (Chính
17/901-910) cũng được tham khảo.
5. Tài liệu để soạn nghi thức
sám nguyện là Tán lễ Địa tạng bồ
tát sám nguyện nghi (Vạn
129/68-71), nhưng kinh Thập luân
vẫn là tài liệu chính.
Thứ Hai, Tìm Xét Về Dịch Chủ
Về dịch giả kinh
Địa tạng, có thể có 3 thuyết.
Thứ nhất, tôi nhớ khi nhỏ có
thấy 1 bản ghi ngài Pháp cự dịch.
Thứ hai, 1 bản dịch ghi là ngài
Pháp đăng. Thứ ba, nhiều bản ghi
là ngài Thật xoa nan đà.
Về ngài Pháp cự,
niên đại dịch kinh là 290-306 (Chính
98/678). Xuất xứ này cũng ghi
dịch phẩm của ngài, như những
xuất xứ khác. Trong những dịch
phẩm được ghi, không có kinh Địa
tạng. Nhưng trong Chính 49/61,
cũng như mấy xuất xứ nữa, ghi
dịch phẩm của ngài có 132 bộ 142
cuốn ẫ mà không bản mục lục nào
ghi được đầy đủ. Như vậy không
rõ trong đó có kinh Địa tạng mà
thất lạc, hay không?
Về ngài Pháp đăng,
không thể tìm thấy tên, nên
không thể nói gì được.
Về ngài Thật xoa
nan đà, niên đại dịch kinh là
695-704 (Chính 98/668). Có đến 5
xuất xứ ghi ngài là dịch giả
kinh Địa tạng: Chính 13/777, Vạn
35/220A, Chính 99/346, Chính
99/376, và Chính 100/1010.
Phần tôi, sau khi
tra cứu gần hết sử truyện và mục
lục, ghi lại như trên đây. Nhưng
thấy vấn đề dịch giả kinh Địa
tạng vẫn bất ổn. Tôi lại không
có 1 bản giảng giải mới nào, nên
không biết có sự tra cứu nào
đáng kể không. Riêng ngài Thái
hư thì cũng cho dịch giả kinh
Địa tạng là ngài Thật xoa nan đà
(Thái hư toàn thư, 29/2470).
Thứ Ba, Khái Lược Về Nội Dung
Như vừa nói,
nguyên bản kinh này chia 2 cuốn:
cuốn thượng có các phẩm 1-6,
cuốn hạ có các phẩm 7-13. Xét ra
chia như vậy mới có nghĩa. Chia
3 cuốn thượng trung hạ chỉ để
trì tụng cho thích hợp thì gian
mà thôi. Kinh này cốt nói đại
nguyện đại lực của Địa tạng đại
sĩ. Cuốn thượng kể như là phần
chính thuyết, nói đại lược đã đủ,
và cuối phẩm 6 đã kết thúc bằng
sự đặt tên kinh. Còn cuốn hạ kể
như là phần bổ túc, bổ túc một
số chi tiết. Nay tóm lược tất cả
dưới đây.
Phần Chính Thuyết
Phẩm 1: Thần
thông tại cung Đao lợi.- Sát với
chính văn thì phải dịch là thần
thông tại cung trời Đao lợi.
Cung trời Đao lợi là Thiện pháp
đường, tức giảng đường của Đế
thích, và là chỗ Phật thuyết
pháp cho mẹ, trong pháp được
thuyết có kinh Địa tạng. Thần
thông là đại bộ phận của thần
lực và nhiều lúc cũng gọi là
thần lực. Vã lại chữ thần lực đủ
và sát với phẩm này, nên phải
đổi ra. Xét thần lực của phẩm
này nói thì thấy có 3. Một, thần
lực không nói mà thấy rõ, đó là
biến cung Đao lợi vốn rất lớn và
trang nghiêm lại càng lớn và
trang nghiêm vô tận (như Bồ đề
tràng trong Hoa nghiêm). Hai,
thần lực ánh sáng và âm thanh mà
Phật biểu hiện ở cung Đao lợi (như
phóng quang và thần lực trong
Pháp hoa). Ba, thần lực hóa độ
và tác thành của đức Địa tạng mà
tại cung Đao lợi Phật đã đề cao.
Chính yếu của phẩm này là 2 thần
lực sau. Ngoài 3 thần lực này,
phẩm này cốt nói đại nguyện của
đức Địa tạng, đại nguyện ấy cũng
là một thần lực, mà là thần lực
quan trọng.
Phẩm 2: Thân phân
hóa qui tụ lại.- Phân thân là
phương tiện quan trọng nhất
trong những phương tiện mà đức
Địa tạng đã vận dụng để giải
thoát cho bao kẻ tội khổ ẫ như
đại nguyện mà phẩm 1 đã nói.
Cũng chính vì đại nguyện nghiêng
nặng về bao kẻ tội khổ, nên phân
thân mà phẩm này nói đã nhấn
mạnh phân thân ở địa ngục. Nhưng
phân thân của đức Địa tạng, theo
kinh Thập luân thì đếm được 42
loại (Chính 13/725), còn kinh
này có 20 loại, của Phật nhưng
là điển hình cho các vị đại sĩ.
Phân thân như vậy có 2 loại lớn
là hữu tình và vô tình. Trong
loại vô tình, kinh Thập luân chỉ
nói" hiện những cảnh đẹp cho
người vui thích", còn kinh này
nói rõ hơn: hiện ra làm núi rừng,
dòng nước, đồng bằng, sông ngòi,
ao hồ, suối giếng. Nói rõ mà
không đủ, vì ngoài núi rừng và
đồng bằng, chỉ nói toàn nước --
Nói như vậy cũng không lạ, nếu
ta biết đến vấn đề nước ở cái xứ
nóng như Ấn độ. Nhưng phải nói
như chính đức Địa tạng đã nói
mới rõ và đủ hơn, dầu vắn tắt
hơn, rằng thân đức Địa tạng là
thân không biên cương, rằng tại
mỗi thế giới hệ, ngài phân hóa
trăm ngàn vạn ức thân hình. Và
phân hóa thân hình là để thuyết
pháp. Nhưng thuyết pháp ở đây
không phải chỉ có một cách nói
bằng lời, mà nói bằng nhiều cách:
cách nào mà lợi người là thuyết
pháp cả. Nên cảnh vật làm người
vui thích, làm người được ích
lợi, thì đó chính là sự thuyết
pháp, là sự độ thoát. Đừng hiểu
rằng hiện cảnh vật ích lợi mọi
người để rồi sau đó thuyết pháp
độ thoát cho họ. Mặt khác, vì
đại nguyện và sự phân thân như
vậy, nên trong phẩm này đức Địa
tạng được đức Thế tôn đem chúng
sinh, trong đó có chúng ta, ký
thác cho ngài.
Phẩm 3: Quán sát
nghiệp quả chúng sinh.- Nghiệp
quả, hay nghiệp cảm, là hành vi
và kết quả của hành vi. Nói quán
sát nghiệp quả của chúng sinh,
nhưng thật ra phẩm này lấy người
Diêm phù chúng ta làm điển hình
mà nói. Vì đại nguyện của đức
Địa tạng chú trọng chúng sinh
tội khổ, nên phân thân của ngài
đã nhấn mạnh phân thân địa ngục,
và bây giờ nói quán sát nghiệp
quả, nhưng thật ra chỉ quán sát
nghiệp quả địa ngục ẫ đặc biệt
địa ngục vô gián, nơi nghiệp dữ
nhất và quả khổ nhất. Điều rất
đáng tiếc là trong phần nói về
nghiệp dữ nhất ấy đã không nói
đến nghiệp dữ hơn hết, ấy là
những chủ thuyết độc hại nhân
loại mà chữ tà kiến hay ác kiến
không diễn đạt hết được. Phản
bội Phật pháp, đi theo các chủ
thuyết ấy, cũng là nghiệp dữ
nhất mà kinh này đã không nói
đến.
Phẩm 4: Nghiệp
quả của người Diêm phù.- Phẩm
này tiếp tục phẩm trước, lấy
người Diêm phù chúng ta làm điển
hình mà nói về nghiệp quả của
chúng sinh, nhưng nói rộng hơn:
Một, về nghiệp quả, không phải
chỉ nói nghiệp quả vô gián,
nhưng vẫn chú trọng nghiệp quả
đường dữ. Hai, nói về đại thệ (lời
thề thực hiện đại nguyện) của
đức Địa tạng. Ba, nói về cách
giải thoát nghiệp quả cho chúng
sinh của đức Địa tạng; trong
cách này, ở đây đưa ra cách nói
về nhân quả, nhưng chữ nói ấy
không phải chỉ là nói, khuyên và
răn, mà là nói bằng sự "vận dụng
hàng trăm hàng ngàn phương tiện".
Hai phần đại thệ và cách nói như
vậy là vài phương tiện của đức
Địa Tạng.
Phẩm 5: Danh xưng
địa ngục.- Danh xưng địa ngục là
tên của các địa ngục. Chính tên
của mỗi địa ngục biểu thị hình
cụ và cực hình của địa ngục ấy.
Phẩm này chỉ bổ túc cho phẩm 4,
nói về các địa ngục, nơi nghiệp
dữ phải chịu quả báo, sau khi
chịu hoa báo và trước khi chịu
dư báo. Nhưng đến đây, sau 3
phẩm 3, 4 và 5 nói về nghiệp quả,
những điểm chính yếu sau đây
phải được nhận rõ: địa ngục thật
khổ, và ai làm nghiệp dữ thì
người ấy tự chịu, chứ không ai
có thể chịu thay cho; như vậy
địa ngục là thật, nếu thật có
nghiệp dữ; nhưng cũng không thật,
nếu nghiệp dữ không có hay có mà
được trừ bỏ; sự trừ bỏ cũng vẫn
có thể hy vọng, nếu biết qui y
đức Địa tạng và làm theo kinh
này chỉ dẫn; và đức Địa tạng trừ
bỏ cứu vớt cho cũng không phải
chỉ trừ bỏ cứu vớt nơi cái nhân
mà còn ngay nơi cái quả: Đó là
sự đặc biệt, bất khả tư nghị của
đức Địa tạng và kinh Địa tạng.
Phẩm 6: Thế tôn
tuyên dương.- Các phẩm trước đã
nói về thệ nguyện, phương tiện
và sở độ của đức Địa tạng, phẩm
này nói về sự ích lợi nhân thiên
của ngài. Ích lợi nhân thiên là
đem lại cho nhân thiên và mọi
loài sự ích lợi mà phần chính là
ở chính trong nhân thiên. Sự ích
lợi ấy gọi là sự yên vui tuyệt
diệu (thắng diệu lạc). Sự ích
lợi ấy ích lợi cả nhân và quả,
cả hiện tại và vị lai. Ích lợi
này còn được nói đến trong phẩm
12 và rải rác ở các phẩm khác.
Và, như đã nói, đến đây kể như
đã lược đủ về đại nguyện và đại
lực của đức Địa tạng, nên Phật
đặt tên cho kinh này, tên ấy
biểu thị đại nguyện và đại lực
đã nói.
Phần Bổ Túc
Phẩm 7: Lợi ích
người còn kẻ mất.- Phẩm này bổ
túc cho chi tiết ích lợi kẻ mất:
làm cách nào để kẻ mất được ích
lợi mà người còn cũng được.
Trong cách ấy, hại nhất cho kẻ
mất, cái hại phải cố mà tránh,
ấy là sự sát sinh cúng tế.
Phẩm 8: Chúa tôi
Diêm la xưng tụng.- Diêm la là
Diêm la thiên tử, cũng gọi là
Diêm vương, thuộc loài quỷ,
thống lãnh quỉ chúng và tổng
quản địa ngục. Phẩm này bổ túc
những chi tiết sau đây: Thứ nhất,
bổ túc sự đại tinh tiến, cứu độ
không chán mệt của đại nguyện
đức Địa tạng. Thứ hai, bổ túc uy
thần của đức Địa tạng đối với
thế giới quỉ -- thế giới rất
mạnh và đa dạng, mạnh nên gây
họa mạnh bao nhiêu thì giúp
phước cũng mạnh bấy nhiêu, khi
có uy thần của đức Địa tạng. Thứ
ba, bổ túc ích lợi khi chết,
nhất là lúc sinh. Trong chi tiết
này có vài chi tiết nhỏ: Một,
lúc sinh không được sát sinh
tiệc tùng (phẩm trước mới nói
khi chết không được sát sinh
cúng tế); còn khi chết thì phẩm
này nói đến một trong những cái
gọi là "cách ấm mê": sự bị mê
hoặc dẫn dụ khi chết. Hai, chúa
quỉ Chủ sinh mạng, vị bổ túc chi
tiết thứ ba này được Phật gọi là
một vị đại bồ tát và thọ ký cho:
quan trọng biết bao. Điều cần
phải đặc biệt nói thêm, là kinh
này hết sức răn việc sát sinh (để
cúng tế khi chết và tiệc tùng
lúc sinh), coi việc sát sinh
cùng loại với tội vô gián (chính
văn : ... ngoại trừ 5 thứ nghiệp
dữ vô gián với nghiệp dữ sát
sinh, còn những nghiệp dữ tương
đối nhỏ hơn...).
Phẩm 9: Xưng tụng danh hiệu chư
Phật.- Phẩm này bổ túc chi tiết
nghe hay niệm danh hiệu Phật đà.
Điều cần ghi chú, là mục đích bổ
túc, cũng như lời kết thúc, tuy
có vẻ nhấn mạnh giành cho sự
chết -- sắp chết, chết, sau khi
chết; nhưng, những hiệu năng của
mỗi hiệu Phật được nói đến lại
không phải chỉ như vậy. Vậy mới
biết, khi sắp chết, cái an ủi
người chết, cái để cho người
chết bám víu là danh hiệu của
Phật, nhưng danh hiệu ấy cũng là,
trước hết đã là, cái cho người
sống bám víu, và từ đó thấy rõ
cái phước được biết Phật và được
niệm Phật cần thiết đến mức nào
trong đời sống.
Phẩm 10: Trắc lượng công đức bố
thí.- Phẩm này bổ túc nhân tố
thánh thiện, đặc biệt còn chỉ
cách biến nhân tố ấy từ hữu lậu
thành vô lậu.
Phẩm 11: Thần đất hộ trì.- Phẩm
này bổ túc chi tiết phụng thờ
đức Địa tạng. Cách thức và ích
lợi của sự phụng thờ ấy, phẩm
này nói rõ. Trong phần ích lợi,
sự đất đai được màu mỡ (thứ 1)
và hay gặp dịp làm phước (thứ
10) đã đáng chú ý, nhưng đáng
chú ý hơn nữa là ở phẩm này
người nói về đức Địa tạng là một
vị Địa thần: 2 chữ Địa như vậy
không phải ngẫu nhiên mà trùng
hợp.
Phẩm 12: Ích lợi của sự thấy
nghe.- Thấy nghe là thấy hình
tượng hay nghe danh hiệu của đức
Địa tạng. Ích lợi của sự thấy
nghe như vậy là bổ túc cho sự
ích lợi nhân thiên của đức Địa
tạng. Trước khi nói ích lợi ấy,
Phật phóng ánh sáng đặc biệt, và
vị phát khởi là chính đức Quan
âm: như thế cũng đủ thấy sự ích
lợi ấy bất khả tư nghị đến mức
nào. Nên sự ích lợi nhân thiên
chính là sự bất khả tư nghị:
siêu việt và khác thường, tư
tưởng và ngôn ngữ bình thường
không thể tư duy và mô tả sự ích
lợi ấy, nhất là tư duy mô tả
theo cách thức bình thường.
Phẩm 13: Thế tôn ký thác.- Chính
văn là chúc lụy nhân thiên: đem
nhân loại và chư thiên, và bao
chúng sinh tội khổ mà chúc lụy.
Chúc, hay phó chúc, là giao phó,
căn dặn. Lụy là mối lụy, trách
nhiệm nặng nề. Chúc lụy là căn
dặn mà giao phó trách nhiệm nặng
nề. Nên tôi đổi ra chữ ký thác
cho dễ hiểu. Nội dung phẩm này
tổng kết sự ích lợi bất khả tư
nghị của đức Địa tạng, nhưng
quan trọng nhất là một lần nữa
Phật lại đem chúng ta và chúng
sinh ký thác cho ngài. Sự ký
thác này thật đặc biệt: một là
chỉ ký thác cho ngài, hai là chỉ
kinh này có sự ký thác như vậy.
Ngay như kinh Pháp hoa, sự ký
thác ở đó cũng không như ở đây.
Source:
http://buddhismtoday.com
__________________________________________________________________ |