|
Trong
45 năm hoằng pháp độ sinh, Đức
Phật đã du hành khắp miền Bắc Ấn
độ để giảng dạy con đường giải
thoát mà Ngài đã tìm ra. Rất
nhiều người đã quy y với Ngài,
trở thành các tu sĩ nam và nữ
hoặc các đệ tử cư sĩ. Trong một
thời gian dài như thế và với rất
nhiều đệ tử có nhiều nguồn gốc
khác nhau, Ngài đã để lại một
kho tàng các lời giảng quý báu
với nhiều chủ đề, công dụng khác
nhau. Tuy nhiên, cốt tủy của các
lời giảng đó lúc nào cũng giống
nhau:
--"Nầy chư Tỳ kheo, bây giờ
cũng như trước đây, Như Lai
chỉ dạy về Khổ và Con đường
Diệt khổ".
Đức Phật
Danh từ "Buddhism" là một danh
từ phương Tây dùng để gọi tập
hợp các lời dạy của Đức Phật, để
gọi một tôn giáo xây dựng trên
nền tảng của các lời dạy đó. Tuy
nhiên, tại các quốc gia Nam Á và
Đông Nam Á, danh từ nguyên thủy
thường dùng là "Buddha-Sasana",
có nghĩa là lời dạy của Đức Phật,
hay Phật Giáo.
"Buddha", Phật-đà, không phải là
tên riêng. Đó là một quả vị, có
nghĩa là người Giác ngộ (Giác
giả), người Tỉnh thức, hoặc là
người Biết như thật. Tên riêng
của Đức Phật là Sĩ-đạt-đa Cồ-đàm
(Siddhattha Gotama). Tuy nhiên,
ngày nay có rất ít người dùng
tên gọi nầy. Chúng ta thường gọi
Ngài là Đức Phật, hoặc Đức Phật
Cồ-đàm.
Đức Phật sống vào khoảng 25 thế
kỷ trước tại vùng Bắc Ấn độ.
Ngài sinh ra là một vị hoàng tử
của vương quốc Thích-ca (Sakya)
tại vùng chân núi Hy mã lạp sơn,
ngày nay thuộc nước Nepal. Ngài
sống trong nhung lụa, có một
thời niên thiếu cao sang, kết
hôn với công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara),
và có một người con trai tên là
La-hầu-la (Rahula).
Đời sống nhung lụa đó không che
được mắt của một người hiền
triết và thông minh như Ngài.
Mặc dù vị vua cha đã gắng công
tạo các thú vui giải trí để Ngài
đắm say vào các cảnh vui sướng
trong hoàng cung, Ngài Sĩ-đạt-đa
cũng bắt đầu nhận thức được bề
mặt đen tối của cuộc đời, nỗi
khổ đau của đồng loại và tính
chất vô thường của mọi sự việc.
Một lần nọ, khi Ngài đánh xe
ngựa dạo chơi trên đường phố,
Ngài thấy được bốn cảnh vật làm
thay đổi các tư duy của Ngài.
Ngài thấy một cụ già run rẩy,
một người bệnh rên siết, và một
tử thi sình thối. Ba cảnh nầy
khiến Ngài suy nghĩ rất nhiều và
quyết tâm tìm một phương cách để
giúp nhân loại và để tìm một ý
nghĩa chân thật của đời sống.
Cảnh vật thứ tư là cảnh của một
vị du tăng bình an tĩnh lặng đã
khiến cho Ngài có một niềm hy
vọng là đó có thể là một con
đường để tìm ra Chân Lý, thoát
khỏi hoạn khổ.
Vào lúc 29 tuổi, thái tử
Sĩ-đạt-đa rời hoàng cung, rời
gia đình vợ con, gia nhập đời
sống của một đạo sĩ khất thực
trong 6 năm, đi tìm con đường
diệt khổ. Vào đêm trăng rằm
tháng Tư, khi ngồi thiền dưới
cội cây Bồ đề ở Gaya, Ngài tìm
được lời giải đáp và giác ngộ.
Lúc đó, Ngài được 35 tuổi. Đấng
Giác Ngộ giờ đây được gọi là Đức
Phật. Ngài đi đến Sa-nặc (Sarnath)
gần thành phố Ba-na-lại (Benares)
và thuyết giảng bài pháp đầu
tiên - Chuyển Pháp Luân - tại
khu vườn nai (Lộc Uyển). Trong
45 năm tiếp theo, Ngài du hành
từ nơi nầy sang nơi khác, giảng
dạy về con đường giác ngộ cho
những ai hữu duyên và sẵn sàng
tu học, và Ngài thành lập một
giáo đoàn các vị tỳ kheo (nam tu
sĩ) và tỳ kheo ni (nữ tu sĩ)
thường được gọi là Tăng đoàn (Sangha).
Trong suốt cuộc đời hoằng hóa,
dù phải đối phó với nhiều trở
ngại, Đức Phật lúc nào cũng giữ
một phong thái an nhiên tự tại,
và ngay cả trong giờ phút lâm
chung, Ngài vẫn bình thản cho dù
thân xác đã suy yếu. Ngay trong
giờ phút cuối cùng đó, Ngài vẫn
tiếp tục giảng dạy và khuyên bảo
các đệ tử để họ tiếp tục tu tập
theo giáo pháp của Ngài: --"Nầy
các tỳ kheo, Như Lai khuyên quý
vị rằng mọi pháp hữu vi đều vô
thường, quý vị hãy tinh tấn với
chánh niệm". Đó là những lời
cuối cùng của đức Phật, và Ngài
nhập diệt vào năm 80 tuổi, trong
năm 543 trước Công Nguyên.
Mặc dù giờ đây đã hơn 2 500 năm
từ khi Đức Phật nhập Đại Niết
bàn, lời dạy của Ngài, hay là
Phật Pháp (Dhamma), vẫn còn hữu
ích cho chúng ta và Giáo Pháp đó
chính là vị Thầy của chúng ta.
Tăng đoàn là cộng đồng những
người quyết tâm học hỏi, thực
hành và truyền dạy Chánh Pháp,
đã nhận ngọn đuốc từ vị Thầy
khai sáng và tiếp tục truyền giữ
ngọn đuốc đó qua nhiều quốc độ
và nhiều thế kỷ. Ba yếu tố nầy
--
Đức Phật,
người khai sáng đạo;
Pháp, lời dạy
của Ngài; và
Tăng, cộng đồng
các tu sĩ -- lập thành
Tam Bảo mà các
Phật tử tôn kính, và cũng là Ba
Nơi Nương Tựa (Tam Quy Y) để
hướng dẫn người con Phật trên
Con đường đưa đến hạnh phúc và
an lành tối hậu. Mỗi năm, vào
ngày rằm tháng Tư âm lịch (ngày
Vesakha), hằng triệu tín đồ Phật
giáo -- trong truyền thống
Nguyên thủy -- trên toàn thế
giới cùng nhau cử hành đại lễ
Tam Hợp, kỷ niệm ngày sinh (Phật
Đản), ngày Thành Đạo, và ngày
Đại Niết Bàn của người Cha Lành
kính yêu.
Căn bản đạo Phật
Các ý tưởng chính yếu của đạo
Phật được thu gồm trong Bốn Sự
Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế) và Con
Đường Trung Dung (Trung Đạo) mà
Đức Phật đã giảng trong bài pháp
đầu tiên tại vườn nai sau ngày
thành đạo. Bốn sự thật đó là:
1. Sự thật về Khổ (Khổ
đế): Đây là
sự thật về các vấn đề của đời
sống, qua sinh, già, bệnh, và
chết, và những ưu sầu, thất vọng.
Dĩ nhiên những điều nầy là bất
toại ý và người ta luôn cố gắng
tránh né, không muốn dính vào
chúng. Hơn thế, tất cả những
việc gì trên đời, do các điều
kiện mà có, thường có mầm mống
đau khổ vì chúng không thường
tồn, chỉ tạm bợ, xung khắc và
giả tạo, không có một chủ thể
lâu bền. Chúng tạo sầu khổ và
thất vọng cho những ai vì vô
minh mà chấp chặt vào chúng.
Những ai muốn tự do thoát khỏi
các khổ đau cần có một thái độ
đúng đắn, một tri kiến và trí
tuệ để nhìn mọi sự vật trên đời.
Cần phải học tập để nhận định sự
vật đúng theo bản chất của chúng.
Các sự cố bất toại ý của đời
sống cần phải được quán sát,
nhận định và thông hiểu.
2. Sự thật về Nguồn gốc
của Khổ (Tập đế):
Trong sự thật nầy, Đức
Phật quán xét và giải thích sự
khởi sinh của hoạn khổ từ nhiều
nguyên nhân và điều kiện. Đây là
sự thật sâu xa về luật Nhân-Quả
và Duyên Nghiệp. Tất cả các loại
hoạn khổ trên đời đều bắt nguồn
từ lòng tham thủ, và các tham
muốn ích kỷ đều bắt nguồn từ si
mê, vô minh. Vì không biết rõ
bản chất thật sự của mọi đối
tượng trên đời nên con người
tham muốn chiếm đoạt và làm nô
lệ chấp chặt vào chúng. Vì các
tham muốn đó không bao giờ được
thỏa mãn và qua những phản ứng
không thích nghi, họ lại tạo ra
sự buồn khổ và thất vọng cho
chính họ. Từ các tham thủ biểu
hiện qua lời nói, cử chỉ hoặc
trong tâm ý, họ tạo ra các
nghiệp hành gây đau khổ cho
chính họ và cho người khác, và
đau khổ đó ngày càng chồng chất.
3. Sự thật về sự Diệt
Khổ (Diệt đế):
Đây là sự thật về mục
đích của người con Phật. Khi vô
minh hoàn toàn được phá tan qua
trí tuệ chân thật và khi lòng
tham thủ và ích kỷ bị hủy diệt
và thay thế bằng thái độ đúng
đắn của từ bi và trí tuệ, Niết
Bàn -- trạng thái của an bình
tối hậu, hoàn toàn giải thoát
khỏi mọi khổ đau và lậu hoặc --
sẽ được thực chứng. Đối với
những ai vẫn còn đang tu tập,
chưa đến giải thoát rốt ráo, họ
sẽ thấy rằng khi sự vô minh và
tham thủ được giảm thiểu thì các
phiền não cũng theo đó mà giảm
thiểu. Khi đời sống của họ được
hướng về từ bi và trí tuệ, đời
sống đó sẽ tạo ra nhiều hạnh
phúc và an lành cho chính họ và
những người chung quanh.
4.
Sự thật về
Con đường đưa đến tận diệt Khổ
đau (Đạo đế):
Đây là sự thật về con
đường hành đạo của mọi Phật tử,
là đường hướng sinh hoạt của
người con Phật, bao gồm các căn
bản chính yếu của lời Phật dạy
và đường lối thực hành để tiến
đến Niết Bạn, giải phóng khỏi
mọi ràng buộc vào cuộc sống luân
hồi trong thế gian. Con đường
nầy gọi là
Con Đường Tám Chánh
(Bát Chánh Đạo), gồm có 8
yếu tố chân chánh và chia thành
3 nhóm (Tam vô lậu học, 3 nhóm
học để diệt trừ phiền não):
-
Giới:
Chánh ngữ, Chánh nghhiệp,
Chánh mạng
-
Định:
Chánh tinh tấn, Chánh niệm,
Chánh định
-
Tuệ:
Chánh kiến, Chánh tư duy
Theo sự thật nầy, một đời sống
tốt đẹp không phải chỉ do gắng
công cải thiện các yếu tố ngoại
vi liên quan đến xã hội và thiên
nhiên. Cần phải phối hợp với sự
tu tập và cải thiện bản thân như
trình bày qua Bát Chánh Đạo, có
liên quan đến việc giữ gìn giới
hạnh, huân tập tâm ý, và khai
phát trí tuệ. Nói cách khác:
- Không làm điều gì gây đau
khổ cho mình và cho người khác;
- Nuôi dưỡng điều thiện tạo an
vui cho cá nhân và cho mọi
người; và
- Thanh lọc tâm ý, loại trừ
những bợn nhơ của tham lam,
sân hận, và si mê.
Con đường Tám Chánh nầy gọi là
Trung Đạo, vì đây là một đường
lối thăng bằng, không có những
cực đoan của sự hành hạ xác thân
hoặc nô lệ dục lạc. Đây là con
đường duy nhất để giác ngộ giải
thoát. Đức Phật dạy rằng nơi nào
các đệ tử của Ngài luôn gắng
công hành trì trên con đường nầy
thì nơi đó sẽ không bao giờ
thiếu vắng các bậc thánh trí
giác ngộ. Sự phân tích thành 8
yếu tố hoặc 3 nhóm tu học là để
cho dễ hiểu. Tuy nhiên, các yếu
tố đó cần phải được hành trì
đồng đều - không thiếu sót một
yếu tố nào - để bổ sung, hỗ trợ
cho nhau, thì con đường đó mới
trọn vẹn và mang đến ích lợi,
giải thoát thật sự.
Trên đây là một thái độ sống của
đạo Phật, một con đường rộng mở
cho tất cả mọi người, không phân
biệt màu da, giới tính, giai cấp.
Đức Phật tuyên bố rằng mọi người
đều bình đẳng, và chỉ được đánh
giá qua hành động và phong cách
của họ, qua những gì họ suy nghĩ
và thực hành, không phải qua màu
da và quê quán. Mỗi người lãnh
chịu hậu quả về hành động của
mình theo luật nhân quả. Mỗi
người là chủ của mình. Con đường
tu học là con đường tự nỗ lực,
không cần các điều cầu xin thần
linh hay mê tín dị đoan. Con
người có khả năng cải thiện cho
đời sống của chính họ và đạt đến
mục đích tối hậu qua các cố gắng
tinh tấn của chính họ. Ngay cả
Đức Phật cũng không bao giờ
tuyên bố Ngài là đấng cứu rỗi.
Ngài chỉ là người tìm ra Con
đường giải thoát, và Ngài chỉ
dạy cho chúng ta về con đường đó.
Ngài hướng dẫn và khuyến tấn
chúng ta, nhưng chúng ta phải tự
mình tiến bước trên con đường đó.
Khi ta tiến bước được trên những
chặng đường thì ta có thể khuyến
khích và hướng dẫn những người
bạn đồng hành của ta.
Cho những ai đang đi trên con
đường thanh lọc bản thân, Đức
Phật dạy rằng tri thức và trí
tuệ là chìa khóa quan yếu. Trí
tuệ chỉ có thể được khai phát
qua hành trì thiền quán. Hành
giả cần phải quán soi thâm sâu
vào nội tâm, để trạch vấn và
thông hiểu cho chính mình. Các
nguyên tắc của đạo Phật là phải
tự mình chứng ngộ, chứ không
phải những giáo điều để mù quáng
tin theo.
Phương pháp Đức Phật dạy qua Tứ
Diệu Đế có thể xem như là những
lời dạy của một vị y sĩ: định
bệnh (Khổ đế), xác định nguyên
nhân của bệnh (Tập đế), mô tả
trạng thái khi lành bệnh (Diệt
đế), và cách thức trị bệnh (Đạo
đế).
Có
rất nhiều người ưa thích bàn
luận, dò đoán, bình giải về các
lời dạy của Đức Phật, qua lăng
kính triết lý, luận lý, tâm lý,
tâm linh, v.v. Tuy nhiên, đó chỉ
là những kiến thức đầu tiên,
phiến diện, qua sách vở và suy
luận, thường gọi là Văn huệ và
Tư huệ. Thêm vào đó, đạo Phật
cần phải được thực chứng để phát
triển trí tuệ thật sự, gọi là Tu
huệ, chứ không phải chỉ để lý
luận, tranh cãi suông. Đạo Phật
là những hướng dẫn để chúng ta
thực hành, tu tập thanh lọc tâm
ý, để chúng ta thấy được lợi ích
qua kinh nghiệm thực tế của
chính bản thân trong đời sống
hằng ngày. Đức Phật đã từng dạy
rằng:
--"Giáo pháp của Như Lai được
giảng rõ ràng, để thực chứng
với kết quả hiện tiền, vượt
thời gian, mời mọi người đến
xem, đưa đến giải thoát, được
người trí thông hiểu, tự mỗi
người phải thực hiện cho chính
mình".
Tỳ kheo Bodhicitto,
"Introducing Buddhism"
(Bình Anson lược dịch, tháng
02-1999)
Source:
BuddhaSasana
__________________________________________________________________ |